1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận cao học, Quan điểm giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa, phát triển nó trong việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

32 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới. Nói đến nền văn minh Trung Hoa không thể không nói đến một nhân vật đó là Khổng Tử. Trong thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Giê-xu, Thính-ca-mâu-ni...trong số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử. Còn đối với người Trung Quốc khi nói đến sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp thứ nhất. Mỗi con người ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử. Số kinh điển mà bậc thầy “cổ nhân thánh hiền” này san định và viết để lại cho đời sau không chỉ là trí tuệ dẫn đường, đánh thức tiềm năng của con người mà còn đại diện tiêu biểu cho nền văn hóa Trung Hoa. Người đời sau khoác cho Khổng Tử một vòng nguyệt quế “chí thánh tiên sư”, đó là bởi khi còn sống Khổng Tử là một nhà giáo, ngày nay lại gọi Người là “nhà giáo dục vĩ đại”. Sự vĩ đại đó không phải ở dáng vẻ bề ngoài mà bởi từ năm 30 tuồi – năm “nhi lập” trở đi, suốt cả cuộc đời Khổng Tử đều đeo đuổi sự nghiệp không mấy “nhộn nhịp, đua chen” này – sự nghiệp giáo dục. Khổng Tử là người đầu tiên làm nghề dạy học, ngài cũng là vị thầy cao cả nhất trong xã hội Á Đông. Khổng Tử đã dùng thực tiễn và sự tìm tòi suốt cuộc đời để kết tinh nên những tư tưởng giáo dục sáng ngời cho người đời sau. Từ những lời dạy “vi học - vi sư”, Khổng Tử đã cho người đời thấy tinh thần “phát phẫn quên ăn, vui sướng quên buồn” của mình, lại có thể hiểu những kiến thức tuyệt vời đối với việc dạy và học. Khổng Tử là một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải của riêng Trung Hoa mà còn của cả thế giới loài người. Hậu thế tôn sùng ông là bậc thầy của muôn đời bởi chủ trương, đường lối, mục tiêu, phương pháp giáo dục của ngài chứa đựng nhiều giá trị mà người đời sau phải công nhận, đề cao và học hỏi. Ngày nay, trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, giáo dục luôn là vấn đề thời sự, mối quan tâm của hầu hết các nước. Ở Việt Nam, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là “bông hoa của chế độ”. Khi cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang mở ra, hướng cả dân tộc vào kỉ nguyên tin học, kỉ nguyên khoa học - kỹ thuật thì việc học tập, giáo dục càng trở nên quan trọng với con người, là một trong những động lực phát triển xã hội, góp phần sâu sắc vào sự lớn mạnh của đất nước. Với mục tiêu cao cả và thước đo nhân văn đó, giáo dục Việt Nam luôn tìm hướng đi phù hợp với mình, tiếp cận và lực chọn những tư tưởng tiến bộ đậm nét của Khổng Tử để kế thừa. Những tư tưởng giáo dục đó là bức tranh phác thảo đa dạng cho hậu thế chắt lọc, tiếp thu và phát triển. Chính vì vậy trong tiểu luận này em xin chọn đề tài “Quan điểm giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa, phát triển nó trong việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” để nghiên cứu.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Vài nét về trường phái triết học Nho gia và thân thế Khổng Tử 3

1.1 Hoàn cảnh lịch sử 3

1.2 Nhà giáo dục vĩ đại Khổng Tử 4

Chương 2: Tư tưởng của Khổng Tử về giáo dục con người 6

2.1 Vai trò, đối tượng, mục đích giáo dục 6

2.1.1 Vai trò của giáo dục 6

2.1.2 Đối tượng của giáo dục 8

2.1.3 Mục đích giáo dục 10

2.2 Mô hình con người lí tưởng trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử 10

2.3 Nội dung giáo dục con người của Khổng Tử 12

2.3.1 Khổng Tử chú trọng giáo dục “đạo” và “đức” 12

2.3.2 Khổng Tử chú trọng giáo dục các tri thức về văn hoá, chính trị 16

2.4 Phương pháp giáo dục con người của Khổng Tử 17

Chương 3: Kế thừa, phát triển quan điểm giáo dục của Khổng Tử trong việc xây dựng con người Việt Nam với thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 20

3.1 Tính tất yếu của sự kế thừa truyền thống giáo dục Khổng Tử với việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 20

3.2 Kế thừa, phát triển quan điểm giáo dục Khổng Tử trong việc xây dựng con người Việt Nam mới thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước 22

3.2.1 Luận điểm có tính bao trùm, thể hiện nội dung cơ bản, chủ đạo trong giáo dục chính là coi trọng giáo dục đạo đức 23

3.2.2 Coi trọng giáo dục đạo đức cá nhân 24

3.2.3 Tư tưởng chú trọng kỉ cương phép nước, quy ước của cộng đồng 26

3.2.4 Giáo dục của Khổng Tử gợi mở những phương thức giáo dục đạo đức có hiệu quả 27

3.2.5 Xây dựng mẫu người lí tưởng làm mục tiêu phấn đấu cho mọi người 27 KẾT LUẬN 29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 2

MỞ ĐẦU

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớmnhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩđại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh TrungHoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Bên cạnh những phátminh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ranhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũngnhư toàn thế giới

Nói đến nền văn minh Trung Hoa không thể không nói đến một nhânvật đó là Khổng Tử Trong thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả Mỹ đãxếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Giê-xu, Thính-ca-mâu-ni trong

số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử Còn đối với người Trung Quốckhi nói đến sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp thứ nhất Mỗi conngười ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử Số kinh điển

mà bậc thầy “cổ nhân thánh hiền” này san định và viết để lại cho đời saukhông chỉ là trí tuệ dẫn đường, đánh thức tiềm năng của con người mà còn đạidiện tiêu biểu cho nền văn hóa Trung Hoa

Người đời sau khoác cho Khổng Tử một vòng nguyệt quế “chí thánhtiên sư”, đó là bởi khi còn sống Khổng Tử là một nhà giáo, ngày nay lại gọiNgười là “nhà giáo dục vĩ đại” Sự vĩ đại đó không phải ở dáng vẻ bề ngoài

mà bởi từ năm 30 tuồi – năm “nhi lập” trở đi, suốt cả cuộc đời Khổng Tử đềuđeo đuổi sự nghiệp không mấy “nhộn nhịp, đua chen” này – sự nghiệp giáodục Khổng Tử là người đầu tiên làm nghề dạy học, ngài cũng là vị thầy cao

cả nhất trong xã hội Á Đông Khổng Tử đã dùng thực tiễn và sự tìm tòi suốtcuộc đời để kết tinh nên những tư tưởng giáo dục sáng ngời cho người đờisau Từ những lời dạy “vi học - vi sư”, Khổng Tử đã cho người đời thấy tinhthần “phát phẫn quên ăn, vui sướng quên buồn” của mình, lại có thể hiểunhững kiến thức tuyệt vời đối với việc dạy và học Khổng Tử là một nhà giáo

Trang 3

dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải của riêng Trung Hoa mà còncủa cả thế giới loài người Hậu thế tôn sùng ông là bậc thầy của muôn đời bởichủ trương, đường lối, mục tiêu, phương pháp giáo dục của ngài chứa đựngnhiều giá trị mà người đời sau phải công nhận, đề cao và học hỏi.

Ngày nay, trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, giáo dục luôn là vấn đề thời sự,mối quan tâm của hầu hết các nước Ở Việt Nam, giáo dục là sự nghiệp củatoàn dân là “bông hoa của chế độ” Khi cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang

mở ra, hướng cả dân tộc vào kỉ nguyên tin học, kỉ nguyên khoa học - kỹ thuậtthì việc học tập, giáo dục càng trở nên quan trọng với con người, là một trongnhững động lực phát triển xã hội, góp phần sâu sắc vào sự lớn mạnh của đấtnước Với mục tiêu cao cả và thước đo nhân văn đó, giáo dục Việt Nam luôntìm hướng đi phù hợp với mình, tiếp cận và lực chọn những tư tưởng tiến bộđậm nét của Khổng Tử để kế thừa Những tư tưởng giáo dục đó là bức tranhphác thảo đa dạng cho hậu thế chắt lọc, tiếp thu và phát triển Chính vì vậy

trong tiểu luận này em xin chọn đề tài “Quan điểm giáo dục của Khổng Tử

và sự kế thừa, phát triển nó trong việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” để nghiên cứu

Trang 4

đối với dân tộc Trung quốc mà còn cả với các khu vực lân cận

Nhà triết học Hờghen từng núi: “Triết học là sự phản ỏnh tư tưởng củathời đại”, thực chất chớnh là triết học sinh ra từ thời đại nào sẽ phản ỏnh thời đại

đú Núi như thế để thấy được rằng: lịch sử và tư tưởng bao giờ cũng cú mốiquan hệ chặt chẽ, kết dớnh nhau, sự tồn tại của cỏi này bao giờ cũng lấy sự tồntại của cỏi kia làm tiền đề

Triết học Trung Quốc cổ đại nảy sinh trong thời kỡ xã hội rất đặc biệt: thờiXuõn Thu – Chiến Quốc Thời kỡ này đỏnh dấu bước chuyển của xã hội TrungQuốc từ chế độ chiếm hữu nụ lệ sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền.Đõy là giai đoạn với những biến động xã hội to lớn: Trung Quốc đang nằm trong

sự chuyển giao hỡnh thỏi kinh tế xã hội, sự thống trị của chế độ Tụng phỏp nhàChu đang suy tàn Chớnh thời đại lịch sử đặc biệt này cú ý nghĩa vạch đường, tạotiền đề cho sự nảy sinh, phỏt triển vụ cựng rực rỡ của cỏc trường phỏi triết họckhỏc nhau, là tấm gương phản chiếu sự biến đổi của đời sống xã hội

Gúp phần vào quỏ trỡnh thay đổi xã hội ấy, trường phỏi triết học Nho gia

mà đại biểu là Khổng Tử đã đưa ra những tư tưởng giỏo dục với con người vỡmục tiờu cao cả: dạy cho con người đến bậc “Nhõn”

Trang 5

1.2 Nhà giỏo dục vĩ đại Khổng Tử

Khổng Tử ngời làng Xơng Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ôngsinh năm 551 mất năm 479 TCN, tờn Khõu, tự Trọng Nhi, sinh ra trong một giađỡnh quý tộc nhỏ ở nước Lụ̃ Khổng Tử có tới 3000 môn sinh, trong đó nổi lênNhan Hồi và Tăng Sâm Khổng Tử rất chịu khú học, học bất cứ ai, bất cứ lỳcnào Thời trẻ, ụng mở trường dạy học, sau đú ra làm quan Vỡ khụng đượctrọng dụng, ụng đi chu du thiờn hạ truyền bỏ đạo lớ Cuối đời ụng trở về nướcLụ̃ dạy học, sau định chỉnh lớ cỏc thư tịch cổ như Ngũ kinh: Thi,Thư, Lễ, Nhạc,Dịch và viết kinh Xuõn Thu Luận ngữ là bộ sỏch quan trọng được học trũKhổng Tử ghi lại những lời núi, việc làm của Người

Khổng Tử khụng những được đỏnh giỏ là một nhà hiền triết tiờu biểu củaTrung Quốc mà cũn được tụn vinh là người thầy của muụn đời “vạn thế sưbiểu” Tư tưởng giỏo dục của Khổng Tử tuy cũn mặt hạn chế bởi xã hội đươngthời, nhưng Người đã để lại cho hậu thế những quan điểm, cõu núi bất hủ trongvấn đề giỏo dục con người, đối nhõn xử thế… rất mẫu mực

Vỡ Nhõn, vỡ Đạo, nhà hiền triết đã dành cả cuộc đời mỡnh tỡm tũi khổluyện để cống hiến cho đời sau biết bao tư tưởng giỏo dục sỏng ngời NhanHồi - người học trũ xuất sắc của Khổng Tử đỏnh giỏ “Đạo của thầy càngtrụng càng thấy cao, đục vào càng đục càng thấy rắn” (Luận Ngữ) Khổng Tửrất coi trọng việc giỏo dục, coi đú là cỏi gốc sõu xa lõu bền để đào tạo ra conngười: nhõn, lễ, trớ, tớn, nghĩa (ngũ thường) thực hiện được mối quan hệ “tamcương” là cho đạo trời, đạo người hũa nhập một cỏch thanh bỡnh Việc giỏodục con người của Khổng Tử lấy đức làm gốc, trớ dục làm ngọn Cỏi gốc cúbền chặt thỡ cỏi ngọn mới tươi tốt Khổng Tử dạy học trũ chủ yếu khụng phảitruyền thụ tri thức mà bồi dưỡng đức hạnh để con người tự mỡnh bỏ cỏi xấu,đặc biệt cao nhất là đức “Nhõn”, lũng “Nhõn”, biểu hiện là “Khắc kỉ phục lễ

vi nhõn” (sửa mỡnh theo lễ tức là Nhõn) Đõy là một phương cỏch gõy dựngnờn những nề nếp tốt trong xã hội đương thời Khổng Tử là một nhà giỏo dục,người đầu tiờn mở trường tư trong lịch sử phỏt triển của Trung Hoa Nhỡn

Trang 6

tổng quát vấn đề, giáo dục của Khổng Tử là bồi dưỡng đức Nhân cho ngườiquân tử, bồi dưỡng tư cách đạo đức người quân tử, dạy cho người ta thànhngười nhân nghĩa trung chính để ra làm quan cứu đời, đưa xã hội từ “loạn”thành “trị”, phục vụ cho mục đích chính trị Quan điểm giáo dục con ngườicủa Khổng Tử có nhiều nét tiến bộ, tích cực Đó là sự phản ánh kinh nghiệmcũng như thực tiễn dạy học của cả một đời hy sinh cho sự nghiệp giáo dụccon người Những nhà Nho đã kế thừa hợp lí những tư tưởng giáo dục củaKhổng Tử để phát triển nền giáo dục như: Chu Văn An, Ngô Thì Nhậm…Đặc biệt hơn, những quan điểm giáo dục của Khổng Tử đã có ảnh hưởng tới

hệ thống tư tưởng giáo dục của các nhà triết học ngoài Nho giáo, góp phầnđưa giáo dục thâm nhập rộng, sâu vào xã hội, trở thành vấn đề quốc sách củacác nước, nhất là các nước phương Đông

Trang 7

Chương 2

TƯ TƯỞNG CỦA KHỔNG TỬ VỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI

2.1 Vai trò, đối tượng, mục đích giáo dục

2.1.1 Vai trò của giáo dục

Cái chủ đích của Khổng Tử là dạy cho con người ta thành người nhânnghĩa trung chính – tức quân tử, nên Khổng giáo lấy học và dạy là một điềutrọng yếu, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng với sự hình thành và pháttriển con người

Trong tư tưởng Nho giáo, quan niệm về “tính người” có một vị trí quantrọng Một mặt, nó thể hiện quan điểm về bản chất con người, mặt khác nó là

cơ sở nền tảng để xây dựng hệ thống lí luận tương đối hoàn chỉnh về giáo dụccon người, lấy đó làm phương tiện cơ bản đưa xã hội loài người từ “vô đạo” về

“hữu đạo”, xây dựng một xã hội có trật tự đẳng cấp, thái bình thịnh trị

Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên tư tưởng “tính người” trong “Luậnngữ” Đó là tư tưởng cơ bản, đặt nền tảng ban đầu cho hệ thống các quan điểmgiáo dục sau này kế thừa và phát triển Khổng Tử đưa ra quan điểm rất xácđáng: khẳng định vai trò của giáo dục và môi trường sống với con người, bảntính con người vốn đều gần giống nhau nhưng do sự khác nhau của điều kiệnmôi trường giáo dục, tập quán…mới làm cho đạo đức, tri thức và năng lực giữamọi người khác xa nhau Người nói “tính tương cận dã, tập tương viễn dã”(Dương Hóa) Quan điểm trên khẳng định: con người hiện thực chịu sự tácđộng của các yếu tố tự nhiên bẩm sinh và yếu tố xã hội, tức là đã thừa nhận haimặt tự nhiên và xã hội của con người Và quan trọng hơn mặt xã hội ở đâychính là vai trò to lớn của giáo dục, chính giáo dục là chìa khóa khám pháphẩm chất đạo đức của con người, đánh thức tiềm năng đang ngủ say của conngười Và nỗ lực vận dụng công tác giáo dục một cách rộng rãi là phương diệntrọng yếu nhằm nâng cao tố chất con người, thay đổi bộ mặt xã hội Vì vậy,ông nói “Từ người đem một gói nem trở lên đến xin học, ta chưa từng không

Trang 8

dạy một ai” Nói như thế để thấy được giáo dục có vai trò quan trọng then chốtvới con người.

Là một nhà giáo dục, Khổng Tử đặc biệt chú ý hướng con người tới cáiThiện Hướng Thiện để xa rời cái xấu, vươn tới “Nhân”, tạo lập các quan hệđạo đức tốt đẹp Bởi thế, vai trò của giáo dục lại càng to lớn hơn bao giờ hết.Giáo dục hướng con người tới tính Thiện, thay đổi bản chất con người Khổng

Tử nói “Ngã phi sinh nhi tri chi giả, hiếu cổ, mần dĩ cầu chi giả dã” (ThuậtNhi), nghĩa là: ta không phải là người thượng đẳng sinh ra đã có tri thức, ta chỉ

là người yêu thích văn hóa cổ đại, thông qua việc cần cù, nhẫn nại học tập mà

có được tri thức đó thôi Hay: “Nếu không học thì dù có thiện tâm, nhân đức,trung tín đến đâu cũng bị cái ngu muội, phản loạn che mờ”…(Luận Ngữ -Dương Hóa) Hoặc: “Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư,

vô ích, bất như học dã” (Luận Ngữ - Vệ Linh Công), nghĩa là: ta suốt ngàykhông ăn, suốt đêm không ngủ, chỉ suy nghĩ đều chẳng thu lợi ích gì, khôngsao bằng đi học

Tuy nhiên, Khổng Tử vẫn chưa thoát ra khỏi được “cái nhìn thời đại”.Dưới quan điểm đẳng cấp nghiệt ngã vẫn còn ngự trị, tư tưởng của Khổng Tửvẫn không tránh khỏi hạn chế, thậm chí có mâu thuẫn nhau: ông cho rằng giáodục là chiếc chìa khóa hun đúc nên con người, thay đổi con người nhưng bêncạnh đó có một số bộ phận không chịu ảnh hưởng của giáo dục: ông căn cứ vàonăng lực nhận thức chia con người thành ba hạng: “Thánh là bậc sinh ra đã biết– bậc Thượng trí Quân tử là người học thì biết Tiểu nhân thì không học được.Tiểu nhân gồm dân và chúng Dân là hạng không học được nhưng có thể saikhiến được Chúng là hạng học cũng không được, sai khiến cũng không được -gọi là Hạ Ngu” (Quý Thị 9) Khổng Tử không chú ý đến Thượng Trí và HạNgu bởi “Duy Thượng Trí, dị Hạ Ngu bất di” (chỉ có bậc Thượng Trí và kẻ HạNgu là không đổi nết của mình) Ông chỉ chú ý đến việc học của người quân tử,chú trọng đến giáo dục người quân tử

Trang 9

Nhưng xét đến cùng, Khổng Tử rất coi trọng vai trò của giáo dục đúngnhư học giả Nguyễn Hiển Lê nhận xét: “Hầu hết các nhà Nho dù chủ trươngthiện hay ác, hay vừa thiện vừa ác…đều đưa ra một quy kết chung là rất coitrọng giáo dục” Thừa nhận đánh giá cao vai trò của giáo dục, của các yếu tố xãhội vào sự hình thành, phát triển con người, đó là khuynh hướng đúng củaKhổng Tử, là công lao của Khổng Tử được đa số các nhà nghiên cứu hiện đạithừa nhận Đây là quan điểm khởi thủy xây dựng nên học thuyết “đức trị” vànối tiếp sau là là học thuyết “nhân chính” của Nho Gia - lí luận bình ổn xã hộichủ yếu dựa vào giáo hóa Xác định vấn đề cơ bản là vai trò của giáo dục nhưvậy nên Khổng Tử phát triển các vấn đề tiếp theo của giáo dục một cách logic,khoa học, đặt nền tảng cho các tư tưởng nối tiếp sau này.

2.1.2 Đối tượng của giáo dục

Xuất phát từ đức trị, Khổng Tử chủ trương “ hữu giáo vô loại”, nghĩa là:không phân biệt xuất thân giàu nghèo, sang hèn, không phân biệt nơi ở đều cóthể tiến hành giáo dục, đả phá sự lũng đoạn của quý tộc: giáo dục con ngườiđược coi như một thứ xa xỉ, đặc quyền, đặc lợi dành riêng cho tầng lớp quý tộc,tầng lớp thứ dân chỉ là những người ngu dốt, không học hành

Quan niệm giáo dục của Khổng Tử là chủ trương khá tiến bộ trong bốicảnh bấy giờ Đây là bước chuyển biến tư tưởng lớn Trong hơn 3000 môn sinhcủa Khổng Tử, Luận Ngữ ghi lại khoảng 30 người, trong số đó chỉ có NamCung Quát và Tư Mã Canh thuộc giới quý tộc, số còn lại đều thuộc nhữngngười bình dân Điều này khác xa thời Tây Chu chỉ có trường công để dạy con

em quý tộc, con quan mà thôi

Khổng Tử cho rằng, trong thiên hạ có bậc Thượng Trí và kẻ Hạ Ngunhưng là số ít “Thượng Trí ấy không có trong thực tế, còn kẻ Hạ Ngu khôngchịu học thì không thể thay đổi và loại người như vậy cũng chẳng nhiều”, phầnlớn là hạng trung nhân có thể dạy bảo được Vậy nên, “hữu giáo vô loại”, dạykhông phân biệt chủng loại, chú ý đến giáo hóa của Khổng Tử là rất tiến bộ.Mục đích giáo hóa là dạy con người đến bậc Nhân Người không có Nhân thì

Trang 10

tất phải Trung Nhân với Trung là hai mục đích cơ bản Muốn đạt mục đích ấy,phải gây nên những tính cảm rất hậu và giữ hành vi có chừng mực Đặc biệt,Khổng Tử không chỉ đề xuất tư tưởng giáo dục cho mọi người bằng lời nói màcòn bằng hành động Suốt cuộc đời dạy học, ông không màng danh lợi, bổnglộc mà chỉ chuyên tâm đào tạo cho được lớp người hữu đạo Ông đã thực sự hếtlòng vì “Đạo”.

Khổng Tử cũng đề cập đến giáo hóa dân chúng, thu phục dân chúngbằng cách giáo dục cho họ những điều phải Đạo, hợp Lễ Như vậy, đối tượnggiáo dục của Khổng Tử là tất cả mọi loại người Song, xét đến cùng đối tượnggiáo dục của Khổng Tử gồm hai loại: loại thứ nhất là tầng lớp quý tộc thống trị

Họ là những người cai trị dẫn dắt dân chúng nên phải được đào tạo cẩn thận vàđầy đủ, hợp với “Nhân, Lễ, Nhạc” của giới mình Và loại thứ hai là dân chúng.Những người này được giáo dục để vâng lời tầng lớp trên, nghe theo sự cai trịcủa tầng lớp trên Giáo dục là làm cho dân biết nghĩa vụ và quyền lợi, trọng lễnghĩa Làm vua, làm quan có giáo dục thì biết rõ trức trách của mình, khônglàm điều tàn bạo ZhouNanthao đã nhận định rằng: “trong lí thuyết về giáo dụccủa đạo Khổng, người cai trị học cách chăm sóc người dân, còn người dân thìhọc cách vâng lời người cai trị”

Có một số quan điểm cho rằng: tư tưởng giáo dục “hữu giáo vô loại” củaKhổng Tử thể hiện quan điểm thân dân, yêu dân nhưng không phải Khổng Tửvẫn đứng trên quan điểm giai cấp, đứng trên ý thức hệ của giai cấp phong kiến,quý tộc, và giáo dục cũng là bộ phận phục vụ cho tư tưởng giai cấp ấy, phục vụcho mục đích chính trị: giữ yên trật tự ngàn đời của xã hội phong kiến: kẻthống trị - người bị trị Tuy vậy, ta cũng không phủ nhận công lao của Khổng

Tử với sự nghiệp giáo dục dân chúng Nhờ đề xướng của Khổng Tử mà giáodục được mở mang, trình độ dân chúng được nâng lên rõ rệt,văn hiến nhờ vậy

mà càng rực rỡ

Trang 11

2.1.3 Mục đớch giỏo dục

Mục đớch giỏo dục bao trựm của Khổng Tử là tạo ra những con ngườithớch nghi với địa vị của họ Xã hội tiến bộ theo quan điểm của Nho Giỏo là xãhội cú thể thống, kỉ cương, lễ nghĩa, luõn thường đạo lớ Để giữ cỏi nền dựngnước cho chắc chắn phải cú tầng lớp thống trị cai trị tầng lớp dưới (người quõntử) và tầng lớp địa vị dưới chịu sự cai trị của tầng lớp trờn (kẻ tiểu nhõn) Cỏichủ đớch cuối cựng của Khổng giỏo là dạy con người ta thành người nhõn nghĩatrung chớnh, cú nhõn cỏch - tức người quõn tử Như vậy, học trước hết để làmngười quõn tử với chớ khớ của bậc đại trượng phu – hỡnh mẫu con người lớtưởng của xã hội phong kiến Mục đớch của học theo Khổng Tử khụng chỉ đểbiết đạo “người quõn tử học để hiểu rừ cỏi đạo” (Luận Ngữ - Tứ Trương) màxột đến tận cựng, học chớnh là để làm quan, tham gia chớnh sự quốc gia, “tronglỳc xã hội rối ren, khụng ra làm quan, khụng phải là người nhõn” (Luận Ngữ -Dương Hoỏ) Giỏo dục của Khổng Tử cũng nhằm mục đớch phục vụ đường lốichớnh trị: đào tạo lớp người kế tục xứng đỏng, duy trỡ củng cố trật tự xã hội đã

cú từ thời Chu Khổng Tử cũng cho rằng học là ứng dụng, để có ích với đời, vớixã hội, chứ không phải để làm quan sáng, bổng hậu Tiếp sau đó, học để hoànthiện nhân cách Thứ ba mới là học để tìm tòi điều lý, lý đó là của đất trời vạnvật rất phức tạp Khi tìm ra đợc hệ thống điều lý thì có thể hiểu đợc sự khácnhau của sự vật

2.2 Mụ hỡnh con người lớ tưởng trong tư tưởng giỏo dục của Khổng Tử

Cú thể núi, trong văn hoỏ Trung Quốc, nhõn cỏch người quõn tử của Nhogia là sự thể hiện quan trọng tinh thần nhõn văn Trung Quốc, mà mụ hỡnh bậc

kẻ sĩ, người quõn tử của Khổng Tử lại là cơ sở và hạt nhõn của nhõn cỏch Nhogia Bậc kẻ sĩ, người quõn tử là mẫu người cú tớnh lý tưởng, cú tớnh hiện thực.Trờn lý thuyết Nho giỏo xõy dựng con người huyền thoại “nội thỏnh ngoạivương” làm gương cho mọi người noi theo Và nú được chuyển hoỏ vào thực tế

là hỡnh tượng người quõn tử, bậc kẻ sĩ Kẻ sĩ là những người cú học, được giỏodục và trưởng thành lờn từ tầng lớp thứ dõn, nhờ hết lũng học đạo, học giỏi,thụng qua thi cử mà ra làm quan Tiờu chớ cơ bản để phõn biệt kẻ sĩ với dõn

Trang 12

thường đó là sự chuyên tâm học đạo, tu dưỡng tinh thần, không chú ý mưu cầulợi ích vật chất Thế nhưng không phải kẻ sĩ nào cũng làm trọn bổn phận “tuthân”, không ít những kẻ giả danh “kẻ sĩ” hay “giả danh đạo lí” làm lợi “vinhthân, phì gia” đã làm xơ cứng, biến chất cái hay, cái nhân bản trong ý nghĩagiáo dục kẻ sĩ.

Đặc biệt, giáo dục người quân tử là vấn đề cốt yếu Có thể hiểu “quântử” là người có địa vị trong xã hội cổ xưa Đến Khổng Tử, ngoài địa vị cònphải có nhân cách, có vai trò to lớn trong xã hội, được mọi người thừa nhận vàkính trọng

Người quân tử hướng tới giá trị tinh thần mà quên đi các nhu cầu vậtchất “Quân tử mưu đạo bất mưu thực Canh dã, nỗi tại kì trung hĩ Học giã, lộctài kì trung hĩ Quân tử ưu đạo bất ưu bần” ( Luận Ngữ - Vệ Linh Công), nghĩalà: người quân tử chỉ suy tới học thuật mà không chú ý đến ăn mặc Đi càyruộng khó tránh khỏi đói rét Học tập sẽ có hy vọng được bổng lộc Điều lolắng của người quân tử là không học được chân lí, chứ không sợ bị đói nghèo.Tuy nhiên, Khổng Tử đã hạn chế khi chưa nhìn ra vai trò quyết định của hoạtđộng sản xuất vật chất Muốn đạt đến nhân cách người quân tử thì từ bên trongphải “học rộng theo văn” – bác học vu văn, mượn trí tuệ của cổ nhân để bổsung bên trong của mình, làm thanh tĩnh nội tâm của mình Từ bên ngoài thìphải “lấy lễ mà chế ước nó” - ước chi di lễ, làm một người hiểu phép tắc, giữđúng trật tự Làm như vậy là làm theo cái nhân trong lòng

Mục đích cao nhất của giáo dục Khổng Tử là tạo nên những bậc kẻ sĩ,người quân tử ham hiểu biết, kinh bang tế thế, có nhân cách, có ý thức tráchnhiệm với cộng đồng, nhằm bổ sung cho giai cấp quý tộc thực thi “chính sách”

an nước lợi dân Họ là những lực lượng hạt nhân trong cuộc sống đời thườngcùng các thế lực cầm quyền duy trì trật tự phong kiến ôn hoà Đây chính là môhình trác tuyệt về con người lí tưởng: người quân tử, bậc kẻ sĩ Song, chính họ

về phương diện nào đó lại là lực lượng bảo thủ, hạn chế, kéo dài sự trì trệ, trầmkha của chế độ phong kiến phương Đông

Trang 13

2.3 Nội dung giáo dục con người của Khổng Tử

Sử cũ chép lại, xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc loạn lạc

đẫm máu, các thế lực giành giật quyền lực, người dân sống trong cảnh lầm thankhổ cực Cảnh “con giết cha, tôi giết vua” diễn ra thường xuyên Mấy trămnước chư hầu thời Chu lần lượt bị tiêu diệt, còn lại vài chục nước vào thờiXuân Thu và còn bảy nước vào thời Chiến Quốc Bối cảnh xã hội bấy giờ xuấthiện nhiều nhà tư tưởng, đưa ra nhiều học thuyết tìm cách lý giải và đề xuấtbiện pháp ổn định trật tự xã hội Nho giáo giáo dục “đạo làm người” cho tất cảmọi người, để xã hội từ “loạn” thành “trị” Khổng Tử từng nói “thiên hạ hữuđạo Khâu bất dữ dịch giã”

“Thiên hạ chi đạt đạo ngũ, sở dĩ hành chi giả tam, viết quân thần dã, phụ tử dã,phu phụ dã, côn đệ giãm bằng hữu chi giao dã” (Trung Dung), nghĩa là: cái đạtđạo của thiên hạ có năm điều mà mọi người thường làm được ba điều Nămđiều đạt đạo là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em và tình bầu bạn tương giao

Trong quan hệ gia đình, cơ bản nhất là phải có đạo Hiếu Có thể nói đạoHiếu là gốc cơ bản của con người, bởi ai sinh ra mà không có cha mẹ Tìnhcảm với cha mẹ có tính tự nhiên huyết thống, mạnh mẽ như những nhu cầu bảnnăng Người biết hiếu thảo với cha mẹ thì sẽ không trái ngược với bậc bề trên

Từ đó, cho r»ng người “biết giữ gìn nết hiếu là biết nắm cái gốc đó” Khổng

Tử nói nhiều về đạo Hiếu “Lập ái tự thân thỉ, giáo dân mục giã Lập kính tựtrưởng thỉ, giáo dân thuận giã Giáo dĩ từ mục, nhi dân quý hữu thân giáo dĩkính trưởng, nhi dân quý dụng mệnh Hiếu dĩ sự thân thuận dĩ thính mệnh, thốchủ thiên hạ vô sở bất hành” (Lế ký: Tế nghĩa, XXIV) Nghĩa là: dựng lòng ái

Trang 14

khởi đầu từ cha mẹ, là dạy dân hoà mục vậy Dựng lòng kính khởi đầu từ ngườihuynh trưởng, là dạy dân biết quý cha mẹ Lấy kính người huynh trưởng màdạy dân, thì dân biết quý sự theo mệnh người trên Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận

là để vâng mệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ thìkhông có điều gì là không làm được

Cái lễ cuối cùng của sự Hiếu là lấy Hiếu gây thành đạo Nhân, vì người

có hiếu tức là có nhân Nhân với hiếu đi liền với nhau, cho nên người có địa vịtrọng yếu trong xã hội phải chú ý về đạo hiếu lắm Tư tưởng của Khổng Tử vềHiếu là phương tiện để cột chặt con người vào gia đình Từ tình cảm có tínhnhân bản tự nhiên là tình cảm của con cái với cha mẹ, Khổng Tử đã khéo léolồng vào trong đó những nội dung mang tính chất xã hội, tính chính trị để điềuchính con người đi vào trật tự, kỉ cương của xã hội phong kiến

Khổng Tử luôn luôn đề cao đạo “trung” của bề tôi với vua Tuy nhiên,ông cũng nhấn mạnh “vua nhân tôi trung” hay “quân xử thần dĩ lễ, thần sựquân dĩ trung” Làm “tôi” nhất thiết phải trung, nhưng chỉ trung thành với cácbậc “vua xứng là vua” mà thôi Cả đời Khổng Tử bôn ba khắp các nước chưhầu, gặp nhiều khốn khó, chỉ mong tìm được vị “vua đáng làm vua” nhưng đềuthất bại Ông ước mong ngày nào đó có “vua sáng” để thiên hạ thái bình Vàlàm tôi thì phải đem tài, đức của mình ra giúp vua hoàn thành nghiệp lớn,không kể đến bổng lộc, danh dự

Ngoài nội dung giáo dục “đạo”, Khổng Tử còn chú trọng giáo dục “đức”cho con người “Đức” là cái sở đắc do hành đạo mà ra Bởi vậy, “đạo gắn liềnvới “đức” Đạo làm người có nội dung cơ bản dựa vào quan hệ “ngũ luân”, đức

là sự khái quát cái giá trị cơ bản của con người gọi là “ngũ thường” Dạy conngười “đạo” và “đức” cũng chính là dạy “luân thường” Giáo sư Trần VănGiàu có nhận xét rất hợp lí về nội hàm của đức: “Khổng dạy điều đạt đức lànhân, trí, dũng Ưa học là gần trí, cố làm là gần nhân, biết xấu hổ là gần dũng”.Đức “nhân” là đức quan trọng nhất của con người “Lập nhân chi đạo, viếtnhân dữ nghĩa” (Kinh Dịch) Đức nhân là đức cơ bản, vì nó là nội dung lớn,

Trang 15

bao chứa trong nó các đức khác “Nhân” vừa là tu thân, vừa là ái nhân, vừa là

sở kỷ, vừa là tiếp vật Nó là trung tâm của đạo đức Theo Khổng Tử từ đó màphát ra các đức khác, và các đức khác tụ cả ở nó Cho nên, Phùng Hữu Lan gọi

nó là “toàn đức”, Lâm Ngữ Đường gọi đó là sự minh triết lí tưởng

Điều căn bản ở nhân chính là thái độ, cách đối nhân xử thế với người vàvới mình Đối với người phải khoan dung, nhân ái, song đó không phải là nhân

ái khoan dung vô bờ như lòng từ bi của Phật giáo, lòng bác ái của Kitô giáo,không phân biệt như Mặc gia Ở Khổng Tử, sự khoan dung nhân ái nằm trongtrật tự, tiết chế của Lễ Với cha mẹ, anh em có lòng hiếu đễ Với vua giữ lòngtrung, với dân chúng thì “khiên, cung, mẫn, huệ” thi hành nhân chính Đối vớimình phải “khắc kỷ, phục lễ, vi nhân” Nhìn chung trong mọi biểu hiện củanhân đều được chế định rõ ràng bởi Lễ, bởi “người không có đức nhân thì lễ

mà làm gì”

Khổng Tử vốn nổi tiếng là người giỏi lễ Ông không bao giờ sao nhãngdạy cho con người đức lễ Bởi lễ là một phạm trù cơ bản, nó là hình thức thểhiện trật tự kỉ cương, nề nếp ở con người và xã hội Nó phổ biến ở mọi conngười, trong gia đình và xã hội Chữ lễ trước tiên dùng để nói cách thờ thầncho được phúc, nó chỉ nghĩa thuộc phần cúng tế mà thôi Sau dùng rộng ra gồm

cả những quy củ mà phong tục tập quán xã hội thừa nhận…Sau cùng chữ lễ lạibao gồm cả quyền bính của nhà vua và cách tiết chế hành vi của dân chúng

Khổng Tử nói rất nhiều về những quy định cụ thể của lễ và cả nhữngcông cụ của lễ Giáo dục lễ là dạy cho con người những quy định về cách ứng

xử, đi đứng, giao tiếp, ăn mặc…đúng với danh vị Dạy cho con người ta tiếtchế hành động phù hợp với chuẩn mực xã hội Về tác dụng của lễ, Khổng Tửnói “Lễ quý ở chỗ dứt bỏ mọi sự xấu khi nó chưa mọc mầm, làm nảy nở lòngcung kính khi nó còn rất nhỏ bé Làm cho dân ngày càng gần với điều lành, xavới điều ác mà không biết” (Đại đái lễ kí - Lễ Tế)

Bên cạnh đó, Khổng Tử chú trọng giáo dục nhạc “nhạc giả âm chi sở dosinh giã”, nghĩa là: nhạc do âm mà sinh ra Âm khởi phát ra tự lòng người

Trang 16

Lòng người cảm ở ngoại vật mà động, cho nên mới hình thành ra cái thanh.Những thanh tương ứng với nhau rồi biến ra thành thương, tức là thành cungbậc cao thấp, gọi là âm Âm chia ra làm năm bậc: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ.Đem các âm so vào nhạc khí đánh ra tiếng Vậy, nhạc chính là nói chung cảchuông trống, đàn hát, múa…

Nhạc với lòng người cảm hoá lẫn nhau Lòng người cảm xúc trước cảnh

mà thành ra nhạc Tiếng nhạc cảm lòng người khiến lòng người theo Ngoạicảnh đau đớn lòng người thương xót, âm thanh tiêu sái Ngoại cảnh tốt lành thìtất trong lòng tốt lành, vui vẻ, âm thanh thong thả, êm đềm

Thánh nhân biết nhạc có thế lực mạnh về đường đạo đức nên mới chếnhạc để dạy người, “nhạc giã giả, thánh nhân chi sở lạc giã, nhi khả dĩ thiệndân tâm, kỳ cảm nhân thân, kỳ di phong dịch tục, cố tiên vương trứ kỳ giaoyên” (Nhạc ký) Nghĩa là: nhạc là cái vui vẻ của thánh nhân, mà khiến cho lòngdân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch tục được,cho nên tiên vương muốn đặt ra dạy nhạc”

Nhạc cũng như lễ, có ảnh hưởng về chính trị, “thanh âm chi đạo, dữchính thông hỹ” (Nhạc ký) Nghĩa là: đạo thanh âm thông với chính trị vậy Hễchính trị hay thì nghe tiếng nhạc hay, chính trị dở thì nghe nhạc dở Âm nhạcđời trị thì nghe yên tĩnh, vui vẻ, âm nhạc đời loạn thì nghe oán giận tức tối, âmnhạc lúc mất nước thì nghe bi ai, sầu thảm…Vì thế “thẩm nhạc dĩ tri chính”(Nhạc ký), nghĩa là: xét cho kỹ âm nhạc để biết chính trị hay dở

Lễ nhạc quan hệ đến luân lí, phong tục và chính trị mật thiết, cho nênKhổng Tử tìm cái căn nguyên trong đạo của trời đất, cho lễ là cái trật tự củatrời đất, nhạc là cái điều hoà của trời đất

Như vậy, nội dung bao trùm giáo dục Khổng Tử là dạy cho con ngườinhân cách làm người là “đạo” và “đức” Ông coi đó là cái thanh cao, cái

“thiện” mà con người cần hướng tới

2.3.2 Khổng Tử chú trọng giáo dục các tri thức về văn hoá, chính trị

Ngày đăng: 30/09/2020, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Ngọc Ái: Trí tuệ Khổng Tử , Nxb Văn hóa thông tin, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ Khổng Tử
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
2. Khoa Triết học - Học Viện Báo chí và Tuyên truyền: Lịch sử triết học Trung Quốc ( tháng 8/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết họcTrung Quốc
3. Trần Trọng Kim: Nho giáo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
4. Phùng Hữu Lan: Lịch sử triết học Trung Quốc , Nxb Khoa học và xa hội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Khoa học và xahội
5. Nguyễn Thị Tuyết Mai (Luận văn Thạc sĩ): Quan niệm Nho giáo về con người và đào tạo con người, Tài liệu Viện Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm Nho giáo về conngười và đào tạo con người
7. Ts. Nguyễn Thị Nga – Ts. Hồ Trọng Hoài: Quan điểm của Nho giáo về giáo dục con người, Nxb Chính trị quốc gia, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Nho giáo vềgiáo dục con người
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Lê Văn Quán: Bác Hồ với học thuyết Nho giáo, Tạp chí cộng sản, số 12, tháng 6 – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với học thuyết Nho giáo
6. TS. Bùi Thị Thanh Hơng - Nguyễn Văn Đại: Khái niệm LS Triết học Nxb Chính trị hành chính, 2011 Khác
10. Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa (nghiên cứu xa hội học), Nxb Chính trị quốc gia, 2005 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w