1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài thực tập đại học

48 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 374,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (quy định tại khoản 2 Điều 8 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân huyết thống nuôi dưỡng phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ đối với nhau theo quy định của luật hôn nhân và gia đình hay còn gọi là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng của con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội tốt, xã hôi tốt thì gia đình tốt. Vì vậy giữa một người nam và một người nữ muốn trở thành vợ chồng, thì phải đi đến thống nhất làm giấy xin đăng ký kết hôn đến tại UBND cấp xã xin cấp giấy chứng nhận kết hôn và không vi phạm vào điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 1.1.2 Khái niệm và đăng ký kết hôn: Đăng ký kết hôn là việc của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn cho người dân tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền có hai nam, nữ tự nguyện không vi phạm điều cấm của pháp luật. Đăng ký kết hôn là biện pháp bảo đảm quyền lợi cho hai bên nam, nữ. Giấy chứng nhận kết hôn là là chứng cứ nhà nước xác nhận hai bên đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp dược nhà nước bảo hộ. 1.2. Quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn 1.2.1. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 17 Nghị số 158/NĐ-CP quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn cụ thể như sau: - Nếu hai bên kết hôn, bên nam và bên nữ đều có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, thì họ có quyền lựa chọn nơi đăng ký kết hôn là ủy ban nhân dân xã nơi bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu thường trú. - Nếu chỉ một bên nam hoặc bên nữ có nơi thường trú, bên còn lại có nơi tạm chú hộ khẩu thường chú thì việc đăng ký kết hôn sẽ thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên nam hoặc bên nữ có đăng ký hộ khẩu thường trú. - Nếu chỉ một bên nam hoặc bên nữ có nơi thường trú, bên còn lại có nơi tạm trú có hộ khẩu thường trú thì việc đăng kí kết hôn sẽ thực hiện tại UBND cấp xã nơi bên nam hoặc bên nữ có đăng kí hộ khẩu thường trú. - Nếu cả bên nam lẫn bên nữ đều không có hoặc chưa có nơi đăng kí hộ khẩu thường trú nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn thì việc đăng ký kết hôn sẽ thực hiện tại UBND xã nơi bên nam hoặc bên nữ có đăng ký tạm trú có thời hạn. Trường hợp cả hai bên nam và nữ là công dân Việt Nam đang trong thời gian công tác , học tập , lao động tại nước ngoài về nước đăng ký kết hôn đã cắt hộ khẩu thường trú trong nước thì việc đăng ký kết hôn thực hiện tại UBND xã nơi cư trú trước nơi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ. 1.2.2 Thủ tục đăng ký kết hôn: Được quy định tại điều 18 của nghị định 158/2005/NĐ-CP các giấy tờ phải có trong đăng ký kết hôn . Khi đăng ký kết hôn hai bên nam nữ phải nộp tờ khai đăng ký kết hôn ( Theo mẫu quy định chung). Giấy xác định lại tình trạng hôn nhân tùy theo từng trường hợp nam, nữ kết hôn . Nếu như trong trường hợp cả hai bên nam và nữ đến cư trú ở địa phương thì cán bộ tư pháp hộ tịch phải tự xác định tình trạng hôn nhân của họ. Còn nếu như trong trường hợp một trong hai bên nam, nữ ở xã khác thì yêu cầu phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của người đó. Trừ trường hợp người có yêu cầu đăng ký kết hôn là cán bộ , chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang.Việc xác nhận tình trạng hôn nhân thể thực hiện bằng hai cách đó là xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong trường hợp bên nam hoặc bên nữ đã có vợ hoặc chồng , nhưng hiện đang ly hôn hặc người kia chết thì khi xác nhận tình trạng hôn nhân cần xuất trình lục bản án quyết định đã có hiệu lực, pháp luật của tòa án về việc ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử. Khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn đương sự không phải xuất trình các giấy tờ nói trên nữa. Đối với người nước ngoài đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về đăng ký kết hôn thì phải có giấy xác nhận ngoại giao lãnh đạo ở nước đó về tình trạng hôn nhân của người đó. Đối với cán bộ chiến xĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của thủ trưởng đơn vị đó. Giấy tờ xuất trình: Giấy chứng minh nhân dân của hai bên nam, nữ khi đăng ký kết hôn trong trường hợp cán bộ tư pháp không biết rõ về nơi cư trú của 2 bên nam, nữ kết hôn thì phải xuất trình thêm giấy tờ về hộ khẩu để làm đăng ký kết hôn. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP so với nghị định số 82/1998/NĐ- CP là đơn giản hơn nhưng không bắt buộc người đi đăng ký kết hôn xuất trình hộ khẩu nếu cán bộ tư pháp biết rõ nơi cư trú của đương sự và đặc biệt có một số loại giấy tờ yêu cầu như giấy khai sinh, bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về việc ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử khi một bên đã chết, giấy khám sức khỏe của cơ quan trong thời hạn quy định. 1.2.3 Trình tự và thời gian giải quyết đăng ký kết hôn: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn, kiểm tra giấy tờ do 2 bên đăng ký kết hôn xuất trình, xem xét quyền đăng ký kết hôn đó đúng thẩm quyền hay không (dựa trên hộ khẩu thường trú, tạm trú) Sau khi kiểm tra hồ sơ nếu các giấy tờ chưa hợp lệ thì hướng dẫn công dân hoàn thành hồ sơ ( trong trường hợp này coi như chưa thụ lý hồ sơ và chưa tính thời gian giải quyết) và nếu phát hiện việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì trả lại hồ sơ và hướng dẫn công dân đến đăng ký kết hôn tại UBND theo đúng thẩm quyền. Thời gian đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 2 điều 18 của nghị định 158/2005/NĐ- CP như sau: Trong thời hạn là 5 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy nam, nữ 2 bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình thì UBND xã đăng ký kết hôn cho 2 bên nam, nữ.( Được sữa đổi tại nghị định 06/2012/NĐ- CP trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hộp lệ, nếu xét thấy 2 bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, thì UBND cấp xã đăng ký kết hôn cho 2 bên nam, nữ. Trong trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày) Tại nghị định so với nghị định 158/2005/NĐ-CP có những điểm mới đáng lưu ý: Điểm khác nhau cơ bản giữa nghị định 06/2012 /NĐ- CP và nghị định 158/2005/ NĐ- CP về thời gian xử lý hồ sơ xin đăng ký kết hôn. Theo nghị định 06/2012 /NĐ-CP về thời hạn thụ lý hồ sơ xin đăng ký kết hôn rút ngắn lại còn 3 ngày. Nghị định 158/2012/NĐ-CP thời hạn thụ lý hồ sơ xin đăng ký kết hôn là 05 ngày, bỏ qua quyết định về niêm yết tại UBND xã. 1.2.4. Đặc điểm đăng ký kết hôn

Trang 1

1.2.3 Trình tự và thời gian giải quyết đăng ký kết hôn 8-9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƯ QUAN VÀ TÌNH HÌNH ĐĂNG

KÝ KẾT HÔN TẠI UBND XÃ NGỌC TRUNG GIAI

ĐOẠN 2012-2014

18-29

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã Ngọc Trung 19-20

2.1.2.2 Nhiệm vụ quyền hạn của UBND xã Ngọc Trung 20-212.1.3 Cơ cấu tổ chức của UBND xã Ngọc Trung 21-222.1.3.1 Các ban ngành, đonà thể, cơ quan xã Ngọc Trung 22-232.1.3.2 Sơ đồ hoạt động của UBND xã Ngọc Trung 242.2 Trình tự, thời gian, thủ tục đăng ký kết hôn của UBND xã 252.2.1 Trình tự và thời gian giải quyết đăng ký kết hôn 25-262.2.2 Thủ tục đăng ký kết hôn tại xã Ngọc Trung 26-2723.2.3 Những số liệu liên quan đến đăng ký kết hôn tại xã Ngọc

CHƯƠNG 3 MỘT VÀI KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN TẠI

UBND XÃ NGỌC TRUNG

29-30

3.1 Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động đăng ký kết hôn 31-32

Trang 2

tại xã Ngọc Trung

3.2 Kiến nghị về tình hình đăng ký kết hôn tại xã Ngọc Trung 32-33

3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đăng ký

kết hôn tại xã Ngọc Trung

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do trọn đề tài:

Gia đình là tế bào của xã hội Chức năng tái sản xuất ra con người là chức năngquan trọng nhất của gia đình và xã hội cong người tiếp tục tồn tại và phát triển Khởinguồn để hình thành nên một gia đình là việc xác lập mối quan hệ hôn nhân giữa haingười nam và nữ Khi nhà nước quản lý và điều chỉnh quan hệ hôn nhân thì việc nam

nữ tạo lập gia đình trở thành sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng, sự kiệnnày thể hiện dưới một khái niệm gọi là kết hôn

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình, trong mỗi giai đoạn của Cáchmạng, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn đối với vấn đề gia đình và cóchủ chương để thể hóa bằng pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng Trong từng thời

kỳ phát triển của lịch sử, pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta ngày càngđược củng cố và hoàn thiện Kế thừa và phát triển luật hôn nhân và gia đình năm 1986,luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định tương đối đầy đủ các vấn đề hôn nhân

và gia đình

Các quy định trong luật hôn nhân và gia đình đã phần nào phản ánh được thựctrạng quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình, góp phần trong việc tích cựctrong việc xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam Tuy nhiên Việt Nam đang trong giaiđoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hương xã hội chủ nghĩa Sự đổi mới tích cựctrong đời sống kinh tế, xã hội đã làm cho các quan hệ hôn nhân và gia đình có nhữngthay đổi sâu sắc, chịu nhiều ảnh hưởng tích cực và tiêu cực

Xét về mặt lý luận, nếu xem gia đình là nền tảng của xã hội, thì điều kiện kết hôn

là yếu tố pháp lý cơ sở để xây dựng nền tảng này Điều kiện kết hôn được quy địnhtrong pháp luật, và nó cũng chị tác động bởi sự chuyển mình của nền kinh tế Do đó, khi

xã hội có sự biến đổi, và khi pháp luật đã bộc lộ những thiếu sót nhất định thì việc điềuchỉnh pháp luật về điều kiện kết hôn là vô cùng cần thiết Có điều chỉnh kịp thời, chủđộng, phù hợp với thực tiễn khách quan, thì những quy định của pháp luật về điều kiện

Trang 4

kết hôn và luật hôn nhân và gia đình nói chung mới có giá trị khả thi, mới có giá trị thực

tế, giúp cho việc quản lý xã hội của Nhà nước bằng pháp luật được thực hiện

Trong đời sống xã hội các quan hệ hôn nhân và gia đình phát triển hằng ngày, vôcùng phong phú và đa dạng Chế độ hôn nhân và gia đình văn minh tiến bộ chính là mộttiêu chí để đánh giá trình đọ dân trí cũng như sự phát triển của đất nước Hôn nhân theoluật hôn nhân và gia đình Việt Nam là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn theoquy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no,bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững

Đề cao vai trò của gia đình trong dời sống xã hội, mội người nên giữ gìn và pháthuy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, nâng cao trách nhiệm của công dân,góp phần xây dựng toàn diện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, bền vững Kết hôn là

cơ sở đầu tiên và quan trọng để hình thành một gia đình, kết hôn là việc xác lập quan hệ

vợ chồng dựa trên các quy định về đăng ký kết hôn đây là điều kiện bắt buộc và cầnthiết nhằm đảm bảo một cuộc hôn nhân bền vững

Vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật làm chuẩnmực trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Quy định cụ thể các chức năng của gia đình

để gia đình thực sự trở thành tế bào của xã hội

Nhận thức được các vấn đề trên nên tôi đã chọn cho mình một đề tài để làm báo

cáo đó là “ Tình hình đăng ký kết hôn tại đại phương” Trong quá trình thực tập qua

nghiên cứu tài liệu học hỏi trong thực tế để hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp giúp tôinâng cao hiểu biết đó cũng là nền tảng, là cơ sở, trang bị kiến thức cho bản thân sau khitốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Tình hình đăng ký kết hôn đã được nhiều hội nghị của trung ương, nhiều cuộc hộithảo chủa Chính phủ bàn đến vấn đề Đăng ký kết hôn nhưng hầu hết các hội nghị, hộithảo các bài viết đó đều phân tích ở tầm vĩ mô, áp dụng chung cho cả nước hoặc cả tỉnh,còn vấn đề kết hôn ử xã lâu nay thường là những báo báo số liệu tổng kết năm hoặc cảnhiệm kỳ chưa có một nghiên cứu nào đảm bảo tính khoa học mang tính lý luận gắn vận

Trang 5

dụng vào thực tiễn Vì vậy vấn đề kết hôn ở xã Ngọc Trung mà tôi chọn nghiên cứugiúp cho lãnh đạo địa phương xem xét vận dụng trong thời gian tới.

3 Mục đích nghiên cứu đề tài.

Vấn đề cần nghiên cứu giải quyết tình hình đăng ký kết hôn với mục đích là

- Về lý luận: Qua học tập trên lớp, sách vở, tài liệu bản thân lựa chọn những lýluận cơ bản làm nền tảng cơ sở nghiên cứu đề tài

- Về thực trạng: Qua phân tích khảo sát, điều tra tìm ra những ưu điểm và bài họckinh nghiệm vấn đề tình hình đăng ký kết hôn tại xã Ngọc Trung để chứng minh phântích đề tài

Trên cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề đăng ký kết hôn ở xã Ngọc Trung, bảnthân đề ra phương hướng, giải pháp mang tính thực tế, khả thi nhằm tham mưu giúp cholãnh đạo ở cấp xã xem xét vận dụng để vấn đề tình hình đăng ký kết hôn ở xã NgọcTrung trong thời gian tới chất lượng, hiệu quả hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu để tài

Tình hình đăng ký hôn có nội dung rất rộng nhưng do thời gian và năng lực có hạnbản thân tập trung giới hạn nghiên cứu như sau:

- Về thực trạng bản thân nội dung chỉ nghiên cứu một số luật: Hôn nhân và giađình, Nghị định 158 của Chính phủ, Nghị định 06 sữa đổi một số điều Nghị định 158năm 2012 của chính phủ

- Giới hạn khảo sát nghiên cứu đề tài: khảo sát nghiên cứu qua 3 năm 2014)

2012-5 Phương pháp nghiên cứu đề tài.

- Về lý luận bản thân nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật biện chứng lịch sử,thuyết minh, phân tích đảm bảo tính lô gic chặt chẽ

- Về thực trạng: Sử dụng phương pháp khảo sát điều tra xã hội học, qua đó thống

kê, đánh giá trên quan điểm thực hiện có tính chất khả thi để thực hiện ở địa phương xãNgọc Trung

6 Bố cục chủa đề tài:

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Trang 6

1.1.1 Khái niệm đăng ký kết hôn:

Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật vềđiều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (quy định tại khoản 2 Điều 8 của luật hôn nhân vàgia đình năm 2000)

Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân huyếtthống nuôi dưỡng phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ đối với nhau theo quy định củaluật hôn nhân và gia đình hay còn gọi là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng củacon người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách góp phần xâydựng và bảo vệ tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội tốt, xã hôi tốt thì gia đình tốt

Vì vậy giữa một người nam và một người nữ muốn trở thành vợ chồng, thì phải

đi đến thống nhất làm giấy xin đăng ký kết hôn đến tại UBND cấp xã xin cấp giấychứng nhận kết hôn và không vi phạm vào điều kiện kết hôn theo quy định của phápluật hôn nhân và gia đình năm 2000

1.1.2 Khái niệm và đăng ký kết hôn:

Đăng ký kết hôn là việc của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng

ký kết hôn cho người dân tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền có hai nam, nữ tự nguyệnkhông vi phạm điều cấm của pháp luật

Trang 7

Đăng ký kết hôn là biện pháp bảo đảm quyền lợi cho hai bên nam, nữ Giấychứng nhận kết hôn là là chứng cứ nhà nước xác nhận hai bên đã phát sinh và tồn tạiquan hệ vợ chồng hợp pháp dược nhà nước bảo hộ.

1.2 Quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn

1.2.1 Về thẩm quyền đăng ký kết hôn.

Theo quy định tại Điều 17 Nghị số 158/NĐ-CP quy định về thẩm quyền đăng kýkết hôn

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng

ký kết hôn cụ thể như sau:

- Nếu hai bên kết hôn, bên nam và bên nữ đều có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú,thì họ có quyền lựa chọn nơi đăng ký kết hôn là ủy ban nhân dân xã nơi bên nam hoặcbên nữ đăng ký hộ khẩu thường trú

- Nếu chỉ một bên nam hoặc bên nữ có nơi thường trú, bên còn lại có nơi tạm chú

hộ khẩu thường chú thì việc đăng ký kết hôn sẽ thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp xãnơi bên nam hoặc bên nữ có đăng ký hộ khẩu thường trú

- Nếu chỉ một bên nam hoặc bên nữ có nơi thường trú, bên còn lại có nơi tạm trú

có hộ khẩu thường trú thì việc đăng kí kết hôn sẽ thực hiện tại UBND cấp xã nơi bênnam hoặc bên nữ có đăng kí hộ khẩu thường trú

- Nếu cả bên nam lẫn bên nữ đều không có hoặc chưa có nơi đăng kí hộ khẩuthường trú nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn thì việc đăng ký kết hôn sẽ thực hiệntại UBND xã nơi bên nam hoặc bên nữ có đăng ký tạm trú có thời hạn

Trường hợp cả hai bên nam và nữ là công dân Việt Nam đang trong thời gian côngtác , học tập , lao động tại nước ngoài về nước đăng ký kết hôn đã cắt hộ khẩu thườngtrú trong nước thì việc đăng ký kết hôn thực hiện tại UBND xã nơi cư trú trước nơi xuấtcảnh của một trong hai bên nam, nữ

1.2.2 Thủ tục đăng ký kết hôn:

Được quy định tại điều 18 của nghị định 158/2005/NĐ-CP các giấy tờ phải cótrong đăng ký kết hôn

Trang 8

Khi đăng ký kết hôn hai bên nam nữ phải nộp tờ khai đăng ký kết hôn ( Theomẫu quy định chung).

Giấy xác định lại tình trạng hôn nhân tùy theo từng trường hợp nam, nữ kết hôn Nếu như trong trường hợp cả hai bên nam và nữ đến cư trú ở địa phương thì cán bộ tưpháp hộ tịch phải tự xác định tình trạng hôn nhân của họ Còn nếu như trong trường hợpmột trong hai bên nam, nữ ở xã khác thì yêu cầu phải nộp giấy xác nhận tình trạng hônnhân của người đó

Trừ trường hợp người có yêu cầu đăng ký kết hôn là cán bộ , chiến sĩ đang côngtác trong lực lượng vũ trang.Việc xác nhận tình trạng hôn nhân thể thực hiện bằng haicách đó là xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng giấy xác nhận tìnhtrạng hôn nhân

Trong trường hợp bên nam hoặc bên nữ đã có vợ hoặc chồng , nhưng hiện đang

ly hôn hặc người kia chết thì khi xác nhận tình trạng hôn nhân cần xuất trình lục bản ánquyết định đã có hiệu lực, pháp luật của tòa án về việc ly hôn hoặc bản sao giấy chứng

tử Khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn đương sự không phải xuất trình các giấy tờ nói trênnữa Đối với người nước ngoài đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về đăng

ký kết hôn thì phải có giấy xác nhận ngoại giao lãnh đạo ở nước đó về tình trạng hônnhân của người đó

Đối với cán bộ chiến xĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì phải có giấyxác nhận tình trạng hôn nhân của thủ trưởng đơn vị đó

Giấy tờ xuất trình: Giấy chứng minh nhân dân của hai bên nam, nữ khi đăng kýkết hôn trong trường hợp cán bộ tư pháp không biết rõ về nơi cư trú của 2 bên nam, nữkết hôn thì phải xuất trình thêm giấy tờ về hộ khẩu để làm đăng ký kết hôn

Nghị định số 158/2005/NĐ-CP so với nghị định số 82/1998/NĐ- CP là đơn giảnhơn nhưng không bắt buộc người đi đăng ký kết hôn xuất trình hộ khẩu nếu cán bộ tưpháp biết rõ nơi cư trú của đương sự và đặc biệt có một số loại giấy tờ yêu cầu như giấykhai sinh, bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về việc ly hôn hoặc bản

Trang 9

sao giấy chứng tử khi một bên đã chết, giấy khám sức khỏe của cơ quan trong thời hạnquy định.

1.2.3 Trình tự và thời gian giải quyết đăng ký kết hôn:

Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn, kiểm tra giấy tờ do 2 bên đăng ký kết hôn xuất

trình, xem xét quyền đăng ký kết hôn đó đúng thẩm quyền hay không (dựa trên hộ khẩu thường trú, tạm trú)

Sau khi kiểm tra hồ sơ nếu các giấy tờ chưa hợp lệ thì hướng dẫn công dân hoàn

thành hồ sơ ( trong trường hợp này coi như chưa thụ lý hồ sơ và chưa tính thời gian giải quyết) và nếu phát hiện việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì trả lại hồ

sơ và hướng dẫn công dân đến đăng ký kết hôn tại UBND theo đúng thẩm quyền

Thời gian đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 2 điều 18 của nghị định158/2005/NĐ- CP như sau:

Trong thời hạn là 5 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy nam, nữ

2 bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình thì UBND xã

đăng ký kết hôn cho 2 bên nam, nữ.( Được sữa đổi tại nghị định 06/2012/NĐ- CP trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hộp lệ, nếu xét thấy 2 bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, thì UBND cấp xã đăng

ký kết hôn cho 2 bên nam, nữ Trong trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày)

Tại nghị định so với nghị định 158/2005/NĐ-CP có những điểm mới đáng lưu ý:Điểm khác nhau cơ bản giữa nghị định 06/2012 /NĐ- CP và nghị định 158/2005/NĐ- CP về thời gian xử lý hồ sơ xin đăng ký kết hôn Theo nghị định 06/2012 /NĐ-CP

về thời hạn thụ lý hồ sơ xin đăng ký kết hôn rút ngắn lại còn 3 ngày Nghị định158/2012/NĐ-CP thời hạn thụ lý hồ sơ xin đăng ký kết hôn là 05 ngày, bỏ qua quyếtđịnh về niêm yết tại UBND xã

1.2.4 Đặc điểm đăng ký kết hôn

- Phải thể hiện ý trí của mỗi bên mong muốn được kết hôn với nhau.

Trang 10

Yếu tố quan trọng đầu tiên là hai bên nam, nữ phải tỏ rõ ý chí của mình là mongmuốn được xác lập quan hệ vợ chồng, sự bày tỏ ý chí phải thống nhất với ý chí trong tờkhai đăng ký kết hôn và trước cơ quan đăng ký kết hôn hai bên nam, nữ thể hiện rằng

họ hoàn toàn mong muốn được đăng ký kết hôn với nhau

Nam, nữ kết hôn là mong muốn được gắn bó với nhau trong quan hệ vợ chồng vàcùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Vì vậy sự

tự nguyện của nam, nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện đảm bảo trong hôn nhân cógiá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ sở xây dựng gia đình bền vững Đối với nhữngtrường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn có sự lừa dối, cưỡng ép để được kết hôn hoặckết hôn giả tạo thì nhà nước không thừa nhận việc kết hôn đó là hợp pháp

- Phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được pháp luật thừa nhận:

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình( Điều 64 của hiến pháp năm 1992) hônnhân chỉ được nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy

định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn “ không ai bị buộc phải đăng ký kết hôn nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người

đó kết hôn… hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kết hôn mà trái lại sự tùy tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân”.

Để việc kết hôn được phù hợp với quy định của pháp luật cơ quan đăng ký kếthôn sau khi nhận hồ sơ đăng ký kết hôn của hai bên kết hôn phải tiến hành điều tra, xácminh về những vấn đề mà các bên nam nữ đã khai Nếu những điều mà các bên nam, nữ

đã khai là đúng sự thật và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kếthôn tiến hành đăng ký việc kết hôn cho họ theo đúng nghi thức do pháp luật quy định.Khi việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn và ghi vào sổ kết hôn thìgiữa các bên nam, nữ phát sinh quan hệ hôn nhân Như vậy đăng ký kết hôn là sự kiệnpháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Điều đó có nghĩa là giữa các bên nam, nữ phátsinh các quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo luật định

Như vậy, muốn được kết hôn với nhau nam, nữ phải tuân thủ các điều kiện kếthôn và đăng ký kết hôn Pháp luật của nhà nước ta quy định điều kiện kết hôn và đăng

Trang 11

ký kết hôn thể hiện tính khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế văn hóa xã hội, đồngthời cũng phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân Thông qua việc đăng ký kếthôn, nhà nước đã công nhận hôn nhân của đôi nam, nữ Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lýghi nhận rằng hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng Sự kiện này có

ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể của quan hệ giữa vợ và chồng , giữa cha

mẹ và con và xác định rõ thời điểm làm phát sinh các quan hệ đó

1.2.5 Điều kiện đăng ký kết hôn

- Phải đủ tuổi kết hôn:

Đây là một điều quan trọng để việc kết hôn có giá trị pháp lý

Theo quy định tại khoản 1 điều 9 luật hôn nhân vfa gia đình đó là các điều kiệnbắt buộc phải có và không có Cụ thể:

“Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ tuổi từ 18 tuổi trở lên”

Đây là quy định về độ tuổi kết hôn Quy định đó được đưa ra dựa vào sự pháttriển tâm sinh lý của con người và căn cứ vào các điều kiện về kinh tế văn hóa xã hội ởnước ta

Căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người khi nam nữ đạt tuổi trưởngthành sẽ có những suy nghĩ đúng đắn và nghiêm túc trong việc đăng ký kết hôn đó cũng

là một trong những yết tố đảm bảo cho quan hệ hôn nhân có thể tồn tại bền vững

Trong thực tế ở nước ta pháp luật hôn nhân và gia đình đề cập đến vấn đề độ tuổi

là cơ sở đẻ xác lập hôn nhân Sự tồn tại và phát triển của gia đình phải phù hợp với quyluật vận động của xã hội tự nhiên và nhân loại Điều kiện về độ tuổi cũng là yếu tố quantrọng trong việc tồn tại của xã hội

Vì gia đình có hai chức năng cơ bản đó là: Là tế bào của xã hội, là đơn vị kinh tếtrong nền kinh tế hiện nay Ngoài ra gia đình còn có chức năng sinh đẻ nhằm duy trì nòigiống Quy định này thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với sức khỏe của nam, nữ,đảm bảo cho họ đảm đương trách nhiệm làm vợ, chồng, cha, mẹ Đồng thời đảm bảocho con cái sinh ra được khỏe mạnh về vật chất lẫn trí tuệ để trở thành công dân tốt, cóích cho xã hội

Trang 12

Vì vậy, nhà nước đã quy định về điều kiện độ tuổi rất quan trọng trong việc đăng

ký kết hôn của đôi nam, nữ

- Phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ khi kết hôn:

Theo quy định tại khoản 2 điều 9 luật hôn nhân và gia đình quy định

“ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào đước ép buộc, lừa dối bên nào không ai đước cưỡng ép hoặc cản trở”.

Hai bên nam, nữ mong muốn trở thành vợ chồng phải xuất phát từ tình yêu chânchính của hai bên tạo nên Để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững, có sựgiúp đỡ của nhà nước

Những người mong muốn kết hôn thì phải đến UBND xã, phường nơi hai bênnam, nữ thường trú để xin đăng ký kết hôn Trước khi giao giấy kết hôn, nười có thẩmquyền đăng ký kết hôn luôn luôn phải hỏi nam, nữ nếu họ hoàn toàn tự nguyện khi đếnđăng ký kết hôn Còn ngược lại nếu hai bên không tự nguyện đăng ký kết hôn hay dongười khác cưỡng ép kết hôn thì người có thẩm quyền đăng ký kết hôn sẽ không traogiấy chứng nhận kết hôn cho đôi nam, nữ này

Pháp luật quy định việc kết hôn phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ lànhằm đảm bảo cho nam, nữ được thực hiện tình cảm, ý chí của mình khi kết hôn Luậthôn nhân và gia đình năm 2000 quy định phải có sự tự nguyện thật sự của hai bên khikết hôn nhằm xóa bỏ hoàn toàn thủ tục lạc hậu của chế độ phong kiến cũ “ cha mẹ đặtđâu con ngồi đó” phụ thuộc vào cha mẹ, trái nguyện vọng của hai bên, nhằm hướng đếnmột xã hội mới Kết hôn trên nguyên tắc tự nguyện tiến bộ một vợ, một chồng bìnhđẳng

Nếu hai bên nam, nữ kết hôn tuy có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 vàkhoản 3 điều 9, nhưng họ không tự nguyện quyết định mà thuộc các trường hợp sau:

+ Một bên bị ép buộc

+ Một bên bị lừa dối

+ Không có khả năng sinh lý nhưng cố tình dấu nên bị lừa dối kết hôn

+ Một bên hoặc cả hai bên nam, nữ bị người khác cưỡng ép kết hôn

Trang 13

1.2.6 Không rơi vào trường hợp cấm kết hôn.

- Người đã có vợ, có chồng: Người đang có vợ, có chồng đã kết hôn với ngườikhác theo đúng quy định của phấp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn

- Người chung sống với người khác như vợ chồng trước ngày 31/01/1987 vàđang chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn

- Người chung sống với người khác như vợ chồng trước ngày 31/01/1987 đếntrước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng có đủ điều kiện kếthôn nhưng không đăng ký kết hôn ( trường hợp này chỉ áp dụng từ nghị quyết này cóhiệu lực cho đến trước ngày ngày 01/01/2003)

- Nhưng có trường hợp đặc biệt theo Nghị quyết số: 02/HĐ BT – TANDTC banhành ngày 26/11/2000 Có quy định với những trường hợp kết hôn vị phạm khoản 1-Điều 10 của luật hôn nhân và gia đình Cần lưu ý những trường hợp sau:

- Những cán bộ, bộ đội miền nam tập kết ra Bắc từ năm 1945 đến trước ngày25/3/1977 thì vẫn xử lý theo thông tư 60 của TANDTC ngày 22/2/1978 công nhận là vợchồng hợp pháp

Để đảm bảo hôn nhân theo nguyên tắc mội vợ, một chồng các cơ quan nhà nướcchịu trách nhiệm đăng ký kết hôn phải hết sức thận trọng Phải thẩm tra chính xác vềđiều kiện kết hôn trước khi công nhận việc đăng ký kết hôn Đồng thời phải xử lýnghiêm khắc đối trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn

- Người mất năng lực hành vi dân sự:

Khoản 2 Điều 10 luật hôn nhân và gia đình “ Cấm kết hôn trong những trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự”.

Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình khi nam, nữ phải thực hiện nghĩa vụđối với nhau, với vợ với chồng, với con cái, Nếu hôn nhân giữa những người mất nănglực hành vi dân sự, người đang mắc bệnh tâm thần, hoặc mắc các bệnh khác làm mấtlàm mất khả năng nhận thức không làm chủ được hành vi của mình Như vậy họ khôngthể nhận thức, thực hiện trách nhiệm làm chồng, làm vợ, làm cha mẹ, đối với trườnghợp như vậy họ kết hôn sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ hoặc chồng, của con cái

Trang 14

họ Một trong những điều kiện kết hôn quan trọng là bảm bảo hôn nhân có giá trị phápluật là phải có sự tự nguyện giữa hai bên nam, nữ.

- Cấm kết hôn giữa hai người có cùng dòng máu trực hệ (Cùng dòng máu trongphạm vi 3 đời)

- Cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa những người đã làm cha mẹnuôi của con nuôi, giữa bố chồng với con dâu, giữa mệ kế với con rể, giữa bố dượngvới con riêng của vợ, giữa mẹ kế với cong riêng của chồng Pháp luật cấm kết hôn giữamối quan hệ sau nhằm tránh môi quan hệ au này dược trong sáng

- Cấm kết hôn với những người cùng giới tính vì gia đình có chức năng sinh đẻ

đẻ duy trì nòi giống tái sản xuất ra lao động cho xã hội Những người cùng giới tính sẽkhông thực hiện được chức năng này nên thuộc trường hợp cấm kết hôn

1.2.7 Các nguyên tắc khi kết hôn.

Quy định tại Điều 2 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khi đôi bên nam , nữđăng ký kết hôn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Dưới chế độ phong kiến nhà nước ta từ xưa việc ké hôn của con cái do cha mẹquyết định, cưỡng ép hôn nhân của con cái, cho dù cuộc hôn nhân do cha, mẹ cưỡng épcon cái kết hôn tría với nguyện vọng của con cái Nhưng vì chế độ phong kiến ép đặtcon người thời đó, buộc con cái phải tuân theo lời cha mẹ dù con cái họ không muốnkết hôn Bởi vậy, không tình yêu không thể là cơ sở đi đến hôn nhân được, trên nguyêntắc đó hôn nhân chỉ được tự do xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và

nữ, nghĩa là không bị những toan tính vật chất hay địa vị xã hội chia cắt

Trang 15

- Với chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, khi đã xóa bỏ được xác lậpnên chế đọ mới nghĩa là XHCN chúng ta hiện nay, thì mới có điều kiện đảm bảo hônnhân tự do thực sự Nghĩa là hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính giữa một người nam

và một người nữ Điều 64 hiến pháp 1992 quy định “ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và giađình, theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ cấm kết hôn giả tạo lừa dối để kết hôn” hônnhân tự nguyên, tự do cũng đồng thời tự do trong ly hôn

- Hôn nhân tự do không phải là sự kiện ly hôn theo ý muốn chủ quan của mình( Khoản 2 Điều 85 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định) Trong trườnghợp người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không cóquyền yêu cầu xin ly hôn Việc ly hôn phải đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước trongmọi trường hợp xin ly hôn tòa án phải tiến hành điều tra và hòa giải đoàn tụ vợ chồngkhông để đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng sống chung không thể kéo dài, mụcđích hôn nhân không thể đạt được

* Nguyên tác hôn nhân một vợ một chồng:

- Trong chế độ phong kiến chưa thừa nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ chồngnày, trong chế độ XHCN với việc đảm bảo quyền con người được tốt hơn Đảm bảomục đích hôn nhân, chawnm sóc giáo dục con cái và quan hệ các thành viên trong giađình, trong xã hội chủ nghĩa bền vững, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã đượcchú trọng

- Nguyên tăc được xây dựng trên cơ sở tình yêu nam, nữ là hôn nhân một vợ, mộtchồng, đảm bảo tình yêu của họ thật sự bền vững

- Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình yêu nam, nữ là hôn nhân một

vợ một chồng, đảm baaor tình yêu của họ thật sự bền vững, bình đẳng, duy trì và củng

cố gia đình

Luật hôn nhân và gia đình năn 2000 quy định cấm người đang có vợ có chồng kếthôn Nguyên tắc này là sự kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trong lĩnh vựchôn nhân và gia đình trước kia Để đảm bảo chế độ một vợ một chồng được thực hiệntrong thực tế cuộc sống, luật hôn nhân và gia đình năm 200 còa quy định cấm người

Trang 16

đang có vợ chồng chung sống với người khác như vợ chồng Tuy nhiên, việc thực hiệnnguyên tắc này không phải là điều kiện đơn giản, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố kháccủa mỗi người nhất là điều diện về văn hóa, xã hội, tư tưởng và nhận thức của mỗingười.

* Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng.

Nguyên tắc này dựa trên cơ sở bình đẳng được nghi nhận trong hiến pháp

Điều 62 hiến pháp năm 1992 quy định: Phụ nữ nà năm giới có quyền ngang nhau

về mọi mặt chính trị, văn hóa, xã hội, gia đình vợ chồng bình đẳng Điều 19 luật hônnhân và gia đình năm 2000 quy định “ Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhânphẩm, uy tín cho nhau”

Cấm vợ chồng có hành vi ngược đải, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhânphẩm, uy tín của nhau Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, thời

kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta đã hình thành xác lập quan hệ bình đẳnggiữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, được nghi nhận trên các văn bản pháp luật nhà nước

Do đó về mặt pháp lý, địa vị xã hội của phụ nữ đã bình đẳng với nam giới, tuy nhiên lênin đã chỉ rằng, nhưng như thế là chưa đủ, bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưa bìnhtrong thực tế cuộc sống, cho nên chúng ta làm sao cho nữ công dân dành được quyềnbình đẳng với nam công dân, không chỉ về mặt pháp luật mà còn trong thực tế cuộcsống

Vì vậy để nguyên này thực sự đi vào thực tế cuộc sống thì phải có sự quan tâmcủa cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và toàn xã hội

* Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em.

Pháp luật thừa nhận nguyên tắc này là sự thừa kế của luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 đồng thời xác định đay là nguyên tắc độc lập

Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ bà mẹ thực hiện chức năngcao quý của người phụ nữ, nguyên tắc này nhằm khẳng định thêm bản chất tốt đẹp củanhà nước đồng thời quy định này phù hợp với pháp luật quốc tế

Trang 17

Để thực hiện tốt nguyên tắc này nhà nước đã có chính sách như việc tổ chức tiêmchủng vác xin cho trẻ em và bà mẹ đang mang thai.

1.2.8 Việc từ chối việc đăng ký kết hôn.

Trước khi thực hiện việc đăng ký kết hôn cho người dân, người đảm nhiệm côngtác tư pháp luôn cẩn thận, kiểm tra giấy tờ liên quan, đến nhân thân người dân Luônbám sát vào pháp luật để thực thi nhiệm vụ của mình được xác lập công bằng Đặc biệtluôn tìm hiểu quan sát tình hình người dân sinh sống tại địa bàn

Nếu xã định một bên hoặc cả hai bên nam, nữ không đủ điều kiện kết hôn trongcác trường hợp sau:

- Nam không đủ 20 tuổi, nữ không đủ 18 tuổi

- Đang mắc bệnh da liễu, tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi củamình

- Việc kết hôn cưỡng ép, cưới giả

- Giữa những người cùng dòng máu, trực hệ: Cha mệ đối với con, Ông bà đói vớicháu nội, cháu ngoại, giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹkhác cha, giơax những người khác họ trong phạm vi ba đời

- Giữa những người cùng giới tính

Trong thời hạn 05 ngày UBND xã phải mời hai bên nam, nữ đến UBND để thôngbáo về việc từ chối việc đăng ký kết hôn là 05 ngày, việc quy định này nhằm giảm bớt

sự chồng chéo về thực hiện và giải quyết công việc khác

Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy địnhviệc từ chối việc đăng ký kết hôn

1.2.9 Nghi thức đăng ký kết hôn.

Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn Đại diện cơquan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bênđồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao giấy chứng nhận đăng ký kếthôn ( quy định tại Điều 14 luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Trang 18

Mọi trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hụn yờu cầu hai bờn nam, nữ phải cúmặt để làm thủ tục đăng ký kết hộ, thỡ việc kết hụn đú mới được coi là cú giỏ trị phỏp

lý Cũn nếu vỡ lý do khỏch quan mà đụi bờn nam, nữ khụng cú mặt trong khi xin đăng

ký kết hụn, chỉ do một bờn nam hoặc nữ tổ chức đăng ký kết hụn thỡ việc kết hụn đúkhụng được xem là là tổ chức đăng ký theo nghi thức cú mặt của hai bờn nam, nữ Tuynhiờn, trờn thực tế cho thấy rằng cú một số trường hợp vỡ lý do khỏch quan hay chủquan mà khi tổ chức đăng ký kết hụn đó làm đầy đủ thủ tục giấy tờ theo khoản 1 Điều

13 luật hụn nhõn và gia đỡnh qquy định: “ Sau khi nhận gấy tờ hợp lệ theo quy định củaphỏp luật về hộ tịch , cơ quan đăng ký kết hụn hồ sơ đăng ký kết hụn tổ chức đăng kýkết hụn” Sau khi tiến hành đăng ký kết hụn đú vẫn được coi là cú giỏ trị phỏp lý theonghi thức quy định tại Điều 14 luật hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000

Như vậy để đảm bảo kết hụn hoàn toàn tự nguyện đỳng với mong muốn của haibờn nam, nữ người đại diện cơ quan đăng ký kết hụn phải hỏi ý kiến của đụi bờn nam,

nữ nếu họ đồng ý thỡ cơ quan đại diệ đăng ký kết hụn cấp giấy chứng nhận đăng ký kếthụn cho họ và cú trỏch nhiệm giải thớch cho đụi bờn nam, nữ biết về quyền lợi , nghĩa

vụ vợ chồng của đụi bờn

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ QUAN VÀ TèNH HèNH ĐĂNG Kí KẾT

HễN TẠI UBND XÃ NGỌC TRUNG GIAI ĐOẠN 2011-2013.

2.1 Tổng quỏt về xó Ngọc Trung

2.1.1 Vị trớ địa lý

Ngọc Trung nằm cỏch trung tõm kinh tế huyện Ngọc Lặc 10 km về phớa Tõy.Cỏch thành phố Thanh Húa 70 km về phớa đông Cách trung tâm huyện Ngọclặc 10 km về phía nam, Cú ranh giới tiếp giỏp với

- Phớa bắc giỏp xó Ngọc Liờn và Lộc Thịnh

- Phớa Nam giỏp xó Lam Sơn

- Phớa Đụng giỏp xó Cao Thịnh

- Phớa Tõy giỏp xó Minh Sơn và Ngọc Sơn

Trờn địa bàn xó cú 3,5 km tuyến đường nhựa an toàn khu DH16 chạy qua, nốiliền từ thị trấn Thống Nhất huyện Yờn Định Tuyến đường này cú vị trớ tương đối thuận

Trang 19

lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và giao lưu các mặt kinh tế, văn hóa,

xã hội, khoa học kỹ thuật vv, với các vùng miền xung quanh

2.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu

2.1.2.1 Địa hình

Xã Ngọc Trung là một xã trung du miền núi, địa bàn phân bố dân cư, làng bảnnằm rải rác không tập trung, có địa hình nghiêng từ tây bắc xuống Đông Nam, dọc theotuyến đường an toàn khu DH16 từ thị trấn Thống Nhất huyện Yên Định là những dãyđồi núi chay dọc hai bên đường

2.1.2.2 Khí hậu

Ngọc Trung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa: mùa hè nóng ẩm,mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng (gió Lào), mùa đông lạnh ítmưa

Do nằm ở trung phần khí hậu trung du miền núi (vùng II) nên mức độ các ảnhhưởng trên giảm hơn so với các huyện vùng cao và vùng biển

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,20C Tổng tích ôn trong năm 81000C –

85000C

- Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8,

lường mưa trung bình 298mm/tháng; tháng mưa ít nhất là tháng 12, lượng mưa khoảng16mm/tháng Tổng lượng mưa trong năm 1600 - 1700 mm/năm Mùa mưa kéo dài 6tháng, từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 6 đến tháng 9 chiếm62% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc vào mùa Đông, gió Đông - Nam vào mùa

hè, tốc độ gió yếu trung bình 1 - 1,5m/s, ảnh hưởng của bão ít, tốc độ không quá 30m/s

- Độ ẩm không khí, theo số liệu quan trắc Đài khí tượng thuỷ văn, Ngọc Lặc có

độ ẩm không khí trung bình 86%, các tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2 đến tháng 4 là89%

2.1.2.3 Núi, đồi trên địa bàn xã

Trên địa bàn xã chủ yếu là diện tích đồi phân bố như sau:

- Thôn Minh Lâm có Đồi Cao, Đồi Chay, Đồi Cò Túp, Đồi Cây U, Đồi LỏngChỏng

- Thôn Thọ Phú có Đồi Cây Lai, Đồi Rừng Mu, Đồi Tắc Kẹ

- Thôn Xuân Minh có Đồi Cao

- Thôn Ngọc Tân có Đồi Ngọc Phở, Đồi Trùng, Đồi Mốc Đa, Đồi Mã Giao, Đồi

Trang 20

- Thôn Minh Xuân có Đồi Tát.

- Thôn Minh Thành có Đồi Vọ, Đồi Đầm, Đồi Tát, Đồi Mốc Lươn

- Thôn Quang Thành có Đồi Tròn, Đồi Mốc Lươn

- Thôn Yên Thắng có Đồi Cò Được, Đồi Cò Dài, Đồi Cò Giếng, Đồi Giếng Ẹng,Đồi Cò Láo

- Thôn Tân Mỹ

2.1.2.4 Sông, suối, mương, hồ đập, mó, trên địa bàn xã

Sông: Trên địa bàn xã có sông Cầu Chày dài 2,5km chạy dọc theo phía Tây Nam,

đầu nguồn của sông là từ làng Đệch của thôn Minh Xuân cuối nguồn là làng Vực Lồicủa thôn Minh Lâm

Ngoài ra còn có sông Hép dài 1,5km chạy dọc theo phía Bắc Sông bắt nguồn từ

Vó Mái của xã Ngọc Liên chảy về Ngọc Trung

Suối: Có suối Khe Mạ chảy từ làng Ch¸i của thôn Minh Thành đến cuối làng

Bến Cải của thôn Quang Thành Ngoài ra trên địa bàn xã còn nhiều khe suối nhỏ khác.Bai tr¶y, bai si th«n Xu©n Minh

Mương: Trên địa bàn toàn xã hiện tại có 2 tuyến mương chính là:

- Tuyến mương từ đập Minh Hòa đi Minh Xuân dài 2,0km, rộng 1m

- Tuyến mương từ hồ Minh Lâm đi gò Cay dài 0,6km, rộng 1m

Ngoài ra còn có 6,0km kênh Mương nằm rải rác ở các thôn

Hồ đập: Hiện tại xã có 4 đập ở các thôn: thôn Minh Thành, thôn Tân Mỹ, thôn

Quang Thành, thôn Xuân Minh

Những mương hồ đập này đã được nhân dân xây kiên cố đảm bảo cơ bản hệthống nước tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt có tuyến kênh mương được sửdụng nguồn nước từ đập Minh Hoà đã xây dựng kiên cố hoá

Vó: Trước đây có vó Tròn ở làng Tròn (nay thộc thôn Quang Thành) nhưng nay

không còn nữa

2.1.2.5 Rừng trên địa bàn xã

Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 341,35 ha chiếm 22,90% diện tích đất tự nhiên,

là đất trồng rừng sản xuất, hiện trạng rừng trồng chủ yếu là cây luồng, cây keo lá chàm,

và cây cao su Trong những năm gần đây Đảng, chính quyền, MTTQ các đoàn thể ở địaphương luôn quan tâm chỉ đạo tuyên truyền vận động nhân dân chăm sóc bảo vệ rừngmột có cách hiệu quả Do đó diện tích rừng sinh trưởng và phát triển tốt, hiệu quả kinh

tế cao, trong năm qua đã trồng được thêm 64,0 ha cây cao su và keo lá tràm

Trang 21

Theo số liệu thống kê tại thời điểm tháng 10/2010, dân số xã Ngọc Trung là 5490người, tương ứng với 1226 hộ gia đình Xã là địa bàn cư trú của hai dân tộc Kinh,Mường Trong đó:

Người Mường là 933 hộ

Người Kinh là 293 hộ

Về mặt hành chính, hiện nay Ngọc Trung có 9 thôn làng đó là: thôn Minh Lâm,thôn Thọ Phú, thôn Ngọc Tân, thôn Yên Thắng, thôn Xuân Minh, thôn Tân Mỹ, thônMinh Xuân, thôn Minh Thành, thôn Quang Thành Ở các thôn làng mọi người sốngđoàn kết với nhau tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc riêng của xứ Mường Trongnày

Bảng 1: Sự phân bố dân cư xã Ngọc Trung năm 2012 (tính đến ngày 15 tháng 12)

(Đ/V: Hộ gia đình)

2.1.4.1 Cơ cấu đất đai

Theo số liệu thống kê năm 2010 về hiện trạng sử dụng đất của xã Ngọc Trung thìtoàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là: 1490,65 ha Trong đó:

- Diện tích đất nông nghiệp là: 1135,98 ha

Bao gồm:

+ Đất lúa nước: 219,79 ha

+ Đất trồng cây hàng năm: 231,63 ha

+ Đất trồng cây lâu năm: 321,26

+ Đất rừng sản xuất: 341,35 ha

+ Đất nuôi trồng thủy sản: 21,95 ha

Trang 22

- Diện tích đất phi nông nghiệp: 187,53 ha.

Bao gồm:

+ Đất ở nông thôn: 92,22 ha

+ Đất quốc phòng: 24,87 ha

+ Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp: 0,31 ha

+ Đất sông suối và nước mặt chuyên dùng: 15,42 ha

+ Đất nghĩa trang nghĩa địa: 6,36 ha

+ Đất phát triển cơ sở hạ tầng: 48,35 ha

1 Đất giao thông: 39,9 ha

2 Đất thủy lợi: 3,85 ha

3 Đất công trình bưu chính viễn thông: 0,02 ha

4 Đất cơ sở văn hóa: 1.05 ha

Việc khai thác tài nguyên rừng trồng và trồng rừng ở địa phương sớm được pháttriển Đến năm 2010 diện tích đất trồng rừng sản xuất là 341,35 ha, hiện trạng rừngtrồng chủ yếu là cây luồng cây keo lá tràm, ngoài ra trên địa bàn xã còn có vùng trồngcây cao su tập trung với diện tích 64,0 ha mới trồng (tính đến năm 2010) Kinh tế đồirừng, vườn rừng đang từng bước phát triển

Bảng 2: Tình hình sản xuất ngành trồng trọt năm 2010 của xã Ngọc Trung

Trang 23

IV Cây công nghiệp hàng năm 276,5 620 12663,0

Kết quả đạt được về số lượng và trọng lượng đàn gia súc, gia cầm ở địa phươngnăm 2010 là:

Tổng số trâu: 928 con

Tổng số bò: 210 con

Tổng số lợn: 2544 con

Tổng số gia cầm các loại: 30,000 con

Tổng giá trị chăn nuôi năm 2010 ước đạt 1,300,000,000 đồng

Bảng 3(a): Thực trạng phát triển đàn gia súc của xã Ngọc Trung năm 2010.

Ngày đăng: 30/09/2020, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w