1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẮP XẾP LẠI LAO ĐỘNG VÀ GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG DÔI DƯ KHI THỰC HIỆN CPH DNNN

20 945 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về sắp xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện cph dnnn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 31,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế: Bao gồm những trong độ tuổi lao động có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp đang có nhu

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẮP XẾP LẠI LAO ĐỘNG VÀ GIẢI QUYẾT CHẾ

ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG DÔI DƯ KHI THỰC HIỆN CPH DNNN

I Lao động và vai trò của lao động

1 Các khái niệm

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, lao động tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người.Chính vì tầm quan trọng đó của lao động mà các vấn

đề lao động luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm giải quyết Để hiểu rõ về lao động và giải quyết tốt các vấn đề lao động trong doanh nghiệp chúng ta cần nắm được khái niệm lao động và các khái niệm liên quan khác như: Lực lượng lao động, người lao động và lực lượng lao động trong doanh nghiệp

Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là một hành động diễn

ra giữa con người và giới tự nhiên Trong khi lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật trong tự nhiên, biến đổi vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình Lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người

Lực lượng lao động (hay dân số hoạt động kinh tế): Bao gồm những trong

độ tuổi lao động có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân

và những người thất nghiệp đang có nhu cầu tìm việc làm

Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động

Lực lượng lao động trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc cho doanh nghiệp đó Lực lượng lao động trong doanh nghiệp được xem xét về mặt quy mô (số lượng) và kết cấu (chất lượng) Việc sử dụng lao động có hiệu quả sẽ mang lại thành công cho doanh nghiệp

2 Phân loại lao động

Trong thực tế có rất nhiều tiêu chí để phân loại lao động nhưng để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài thì lao động ở đây được chia thành lao động có việc làm, lao động thiếu việc làm và lao động thất nghiệp

2.1 Lao động có việc làm

Trang 2

Người lao động có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra:

+ Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật

+ Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công, hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình

+ Đã có công việc trước đó song trong tuần lễ trước điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ việc

2.2 Lao động thiếu việc làm.

Lao động thiếu việc làm bao gồm những người có việc làm bấp bênh hoặc đang có việc làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định cho người đủ việc làm (làm việc 40 giờ trong 5 ngày trở lên trong tuần lễ), tham gia không đủ thời gian trong ngày, trong năm và hưởng thu nhập rất thấp không đủ sống từ việc làm đó

2.3 Lao động thất nghiệp.

Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc

+ Có hoạt động đi tìm việc trong 4 tuần qua, hoặc không có hoạt động đi tìm việc trong 4 tuần qua vì các lý do không biết tìm việc ở đâu hoặc tìm mãi mà không được việc

+ Hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc

Ngoài việc phân loại lao động như trên trong thực tế người ta còn phân loại lao động căn cứ vào vai trò của từng bộ phận lao động hoặc căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không người ta có thể phân biệt lực lượng lao động và nguồn lao động Tuy nhiên phân loại lao động theo các tiêu chí như trên là phù hợp nhất để nghiên cứu vấn đề sắp xếp lao động và giải quyết lao động dôi dư trong doanh nghiệp DNNN

3.Vai trò của lao động

Trong mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp có rất nhiều các nguồn lực khác nhau, trong đó có nguồn nhân lực Nguồn nhân lực chính là nguồn lực về con người, đây là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển và lớn mạnh

Trang 3

của tổ chức Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp hay chính là những người lao động sẽ quyết định hiệu quả của các nguồn lực khác Trong quá trình sản xuất kinh doanh máy móc trang thiết bị công nghệ hiện đại quyết định rất nhiều đến năng suất và hiệu quả nhưng chúng ta không thể phủ nhận được vai trò chủ đạo của người lao động Một doanh nghiệp muốn thành công và phát triển phải sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Điều này cho thấy vai trò quan trọng của người lao động đối với doanh nghiệp, vì vậy bất kỳ một tổ chức, một doanh nghiệp nào cũng phải coi trọng người lao động và có những chính sách hợp lý đối với người lao động để họ yên tâm làm việc và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và tổ chức

II Sự cần thiết phải sắp xếp lại lao động và giải quyết chế độ chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN.

1 Những vấn đề chung về CPH DNNN

1.1 Khái niệm và mục tiêu của CPH DNNN

Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã được hình thành và phát triển tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ Trước tình hình đó đòi hỏi các DNNN phải đổi mới, sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường Một trong những giải pháp được lựa chọn khi sắp xếp, đổi mới DNNN là CPH DNNN

CPH là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành công ty cổ phần, một loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu CPH

có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty liên doanh và tại các doanh nghiệp Nhà nước Cổ phần hoá sẽ làm đa dạng hoá sở hữu tại doanh nghiệp

CPH DNNN là việc chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty cổ phần; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

CPH DNNN khác với tư nhân hoá DNNN Tư nhân hoá DNNN là quá trình chuyển toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu tài sản trong DNNN sang các cá nhân hay tổ chức khác không phải là Nhà nước Quá trình tư nhân hoá có thể là quá trình đa dạng hoá sở hữu cũng có thể không phải Như vậy, CPH DNNN và

Trang 4

tư nhân hoá DNNN là hai quá trình khác nhau CPH DNNN nhằm thực hiện các mục tiêu sau:

Thứ nhất: Chuyển một phần quyền sở hữu tài sản của Nhà nước thành sở

hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy mục tiêu của cổ phần hoá là chuyển một phần quyền sở hữu cho các cổ đông chứ không phải là quyền sử dụng và tài sản ở đây được thể hiện dưới hình thức tổng hợp là vốn Mục tiêu cao nhất của CPH là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng nếu duy trì sở hữu Nhà nước thì nhất định sẽ dẫn đến hiệu quả kém Vì vậy mục tiêu số 1 của CPH là phải giải quyết vấn đề quyền sở hữu, tức là phải đa dạng hoá quyền sở hữu thì mới

có thể nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ hai: Phải huy động được một khối lượng vốn nhất định ở trong và

ngoài nước để phát triển sản xuất kinh doanh Các DNNN thiếu vốn nghiêm trọng vì vậy CPH chính là một hình thức huy động vốn cho đầu tư phát triển thông qua bán cổ phần

Thứ ba: CPH nhằm mục tiêu tạo điều kiện để người lao động thực sự làm

chủ doanh nghiệp, tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thông qua việc sở hữu cổ phần (hay phần vốn góp) của doanh nghiệp Tạo động lực làm việc và nâng cao vai trò làm chủ thực sự của người lao động

Như vậy việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần sẽ mang lại sức sống mạnh hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn cho doanh nghiệp Công ty cổ phần là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã hội hoá và nền kinh tế thị trường phát triển Vì vậy, CPH DNNN thực sự là một cuộc cách mạng triệt để thay đổi cách thức tổ chức hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, thay đổi cơ bản mối quan hệ doanh nghiệp - Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp thích ứng với hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường

1.2 Ảnh hưởng của CPH dối với doanh nghiệp và người lao động

Thông qua các mục tiêu của CPH chúng ta có thể thấy được những ảnh hưởng rõ rệt của CPH đối với doanh nghiệp và người lao động CPH sẽ làm thay đổi cơ cấu sở hữu trong doanh nghiệp, làm cho sở hữu đối với doanh nghiệp trở nên đa dạng do đó giải quyết triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN Mặt khác CPH sẽ huy động được một khối lượng vốn nhất định ở trong và

Trang 5

ngoài nước để phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường CPH được coi là nhân tố kích thích sự phát triển của các thị trường vốn, thị trường chứng khoán và khi thị trường vốn, thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cổ phần phát triển

từ đó làm nâng cao tính năng động và hiệu quả của doanh nghiệp

Đối với người lao động CPH có tác động rất lớn Khi chuyển DNNN thành công ty cổ phần người lao động sẽ trở thành người đồng sở hữu doanh nghiệp, được tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp CPH sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó thu nhập của người lao động cũng được cải thiện Tuy nhiên CPH sẽ làm cho công việc của người lao động bị xáo trộn do thay đổi hình thức sở hữu sẽ kèm theo việc bố trí, sắp xếp lại lao động Quá trình sắp xếp lại lao động sẽ dẫn tới một bộ phận lao động bị dôi dư do doanh nghiệp không bố trí được việc làm Bộ phận lao động này sẽ phải dời khỏi doanh nghiệp điều này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người lao động Vì vậy khi thực hiện CPH doanh nghiệp phải đảm bảo giải quyết tốt các chính sách cho cả người lao động tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần và người lao động dôi dư nhằm đảm bảo mục tiêu và phát huy hiệu quả của CPH

2 Lao động dôi dư và các chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN

2.1 Lao động dôi dư

2.1.1 Khái niệm lao động dôi dư

Trong quá trình CPH nói riêng hay sắp xếp, đổi mới DNNN nói chung sẽ

có một bộ phận lao động bị dôi dư điều này là không thể tránh khỏi và là hậu quả tất yếu Vậy lao động dôi dư là gì và những đối tượng nào sẽ được xếp vào diện dôi dư là điều chúng ta cần quan tâm

Trước hết để hiểu thế nào là lao động dôi dư ta cần xác định được lượng lao động dôi dư: Lượng lao động dôi dư là số lao động có tên trong danh sách của doanh nghiệp lớn hơn số lao động cần thiết được sử dụng để sản xuất một lượng hàng hoá nhất định tương ứng với công nghệ được áp dụng và được tính trên cơ

sở các định mức kinh tế kỹ thuật, trong đó có định mức lao động

Số lao động có tên trong danh sách của doanh nghiệp bao gồm:

Trang 6

- Lao động đang làm việc tại doanh nghiệp: loại lao động này có thể có việc làm thường xuyên, không có việc làm thường xuyên, làm theo thời gian được rút ngắn hoặc làm việc luân phiên do không có đủ việc làm

- Lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động để đi làm nghĩa vụ quân

sự hoặc nghĩa vụ công dân khác theo luật định, tạm hoãn hợp đồng lao động do hai bên thoả thuận hoặc các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động khác

- Lao động do không có việc làm để bố trí nên phải nghỉ việc từ lâu nhưng chưa được giải quyết theo luật định, vẫn có tên trong danh sách của doanh nghiệp chờ giải quyết chế độ

Trong thực tế không phải lúc nào, doanh nghiệp nào cũng sử dụng hết số lao động có tên trong danh sách, mà số lao động cần thiết được sử dụng căn cứ vào điều kiện sản xuất và công nghệ, yếu tố thị trường, giá cả, sản phẩm cũng như năng lực của doanh nghiệp, dẫn tới có thể sẽ có một bộ phận lao động bị dôi dư Như vậy có thể hiểu lao động dôi dư là những người lao động có tên trong doanh nghiệp, có nguyện vọng làm việc, đang làm việc trong doanh nghiệp, hoặc không làm việc tại doanh nghiệp nhưng người sử dụng lao động không bố trí được việc làm, đồng thời cũng chưa giải quyết chính sách được cho

họ theo quy định của pháp luật Những người lao động này tuy vẫn đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh nhưng do yêu cầu của thị trường doanh nghiệp bắt buộc phải giảm bớt lao động để nâng cao sức cạnh tranh Lao động dôi dư cũng bao gồm cả những người lao động mà doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng do những hạn chế về mặt sức khoẻ, tuổi tác, trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ

Theo Điều 2 chương I của Nghị định 41/2002/NĐ-CP của chính phủ thì lao động dôi dư bao gồm:

- Người lao động đang làm việc, khi sắp xếp lại, doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp tạo việc làm, nhưng vẫn không bố trí được việc làm

- Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp nhưng không có việc làm, tại thời điểm sắp xếp lại, doanh nghiệp vẫn không bố trí được việc làm

- Người lao động trong doanh nghiệp bị giải thể, phá sản

Trang 7

Tóm lại lao động dôi dư là lôgic của sự vận động các yếu tố đặc trưng cho phát triển doanh nghiệp (đổi mới công nghệ, hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, đổi mới chất lượng lao động…), lao động dôi dư là hậu quả tất yếu của quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN, nghiên cứu vấn đề lao động dôi dư

là là cần thiết để thúc đẩy tiến trình CPH DNNN

2.1.2 Phân biệt lao động dôi dư với thất nghiệp và thiếu việc làm

Chúng ta cần phân biệt giữa lao động dôi dư với thất nghiệp và thiếu việc làm Trước tiên, xét cho cùng lao động dôi dư cũng chính là một dạng của thất nghiệp nhưng phạm vi mà thất nghiệp đề cập đến rộng hơn phạm vi người lao động dôi dư Thất nghiệp bao gồm cả lao động xã hội, những người muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm như sinh viên mới tốt nghiệp ra trường, bộ đội xuất ngũ… Nhưng nếu xét trong phạm vi một doanh nghiệp thì lao động dôi

dư cũng đồng nghĩa với thất nghiệp

Khi phân biệt lao động dôi dư với thiếu việc làm ta nhận thấy thiếu việc làm không phải là lao động dôi dư nhưng thiếu việc làm chính là một nguyên nhân dẫn đến dôi dư lao động khi sắp xếp lại lao động

2.2 Các chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện CPH DNNN

2.2.1 Quan điểm giải quyết lao động dôi dư

Khi thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới DNNN chúng ta không chỉ quan tâm giải quyết những vấn đề kinh tế thuần tuý mà còn phải đảm bảo những yêu cầu xã hội Trong đó quan trọng nhất là giải quyết vấn đề lao động dôi dư Lao động dôi dư không chỉ vấn đề của riêng doanh nghiệp mà còn là vấn đề của toàn

xã hội, chính vì vậy cần phải thống nhất quan điểm trong quá trình giải quyết lao động dôi dư từ đổi mới các DNNN Những quan điểm quan trọng hàng đầu cần thống nhất là:

Thứ nhất: Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động đều có trách nhiệm

giải quyết tình trạng lao động dôi dư Tình trạng thất nghiệp cao có thể gây nên

sự bất ổn về kinh tế - xã hội Do đó giải quyết công ăn việc làm là một trong những mục tiêu của phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mặt khác, cần thấy rằng, tình trạng thất nghiệp dưới những dạng thức khác nhau là hiện tượng không thể tránh được của nền kinh tế theo hướng thị trường Nhà nước và doanh nghiệp không thể giải quyết được tình trạng lao động dôi nếu không có sự tham gia tích cực của bản thân người lao động

Trang 8

Thứ hai: Đặt giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ đổi mới DNNN

trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Coi việc chuyển lao động từ các DNNN sang các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dưới những hình thức khác nhau như một định hướng chủ yếu để giải quyết lao động dôi dư

từ DNNN và tận dụng khả năng của lực lượng lao động này Tạo lập sự bình đẳng về các chính sách xã hội với người lao động làm việc ở DNNN và doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Thứ ba: Giải quyết lao động dôi dư phải bảo đảm người lao động bị mất

việc làm có thể duy trì được điều kiện sinh hoạt bình thường trong thời gian nhất định để tìm kiếm việc làm mới hoặc học thêm nghề mới Khi mất việc làm cuộc sống vật chất và tinh thần của người lao động và gia đình họ bị đảo lộn Bản thân người lao động có nỗ lực cao trong việc tìm cách ổn định cuộc sống, nhưng Nhà nước và doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ người lao động vượt qua khó khăn

Thứ tư: Giải quyết quyền lợi cho số lao động dôi dư phải dựa trên những

quy định đã có của pháp luật hiện hành, đồng thời có sự vận dụng linh hoạt một

số chế độ chính sách trong phạm vi pháp luật cho phép

Thứ năm: Doanh nghiệp chịu trách nhiệm chính trong giải quyết quyền lợi

cho người lao động, nhưng những doanh nghiệp gặp khó khăn thì sẽ nhận được

sự hỗ trợ về tài chính của cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý, sau đó là Chính phủ

Thứ sáu: Người lao động không bố trí được việc làm do sắp xếp, đổi mới

doanh nghiệp được coi là người lao động bị mất việc làm theo quy định tại điều

17 Bộ luật Lao động

Thứ bảy: Nhà nước cần có cơ chế quản lý việc tuyển dụng lao động đầu vào

đối với các doanh nghiệp đã giải quyết xong số lao động dôi dư để không lặp lại tình trạng như cũ Trong đó cơ chế tuyển dụng, định biên, định mức lao động, quỹ lương phải gắn với năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.2.2 Chính sách đối với lao động dôi dư

Chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN được quy định tại Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11/04/2002 của Chính phủ và sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10/08/2004; được hướng dẫn thi

Trang 9

hành theo Thông tư số 19/2004/TT-BLĐTBXH ngày 22/11/2004 của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội và một số Thông tư khác như Thông tư số 18/2005/TT-BLĐTBXH ngày 11/05/2005 và Thông tư số 13/2005/TT-BLĐTBXH ngày 25/02/2005 Quy định cụ thể như sau:

2.2.2.1 Đối với lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không

xác định thời hạn

a Người lao động đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên được nghỉ hưu, không phải trừ phần trăm lương hưu trước tuổi theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội, ngoài ra còn được hưởng thêm các khoản trợ cấp sau:

- Được trợ cấp 3 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng cho mỗi năm (đủ 12 tháng) nghỉ hưu trước tuổi Trường hợp

có tháng lẻ được tính trợ cấp như sau:

+ Nếu đủ 6 tháng trở xuống được trợ cấp 1 tháng tiền lương cấp bậc, chức

vụ, phụ cấp lương (nếu có)

+ Nếu trên 6 tháng đến dưới 12 tháng được trợ cấp 2 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có)

- Trợ cấp 5 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng cho 20 năm đầu công tác có đóng bảo hiểm xã hội

- Từ năm thứ 21 trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) Trường hợp có tháng lẻ được tính theo nguyên tắc trên 6 tháng được tính

1 năm, đủ 6 tháng trở xuống không được tính

b Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật Lao động nhưng còn thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối đa một năm (12 tháng), thì được Nhà nước hỗ trợ kinh phí đóng bảo hiểm xã hội một lần cho những tháng còn thiếu với mức 15% tiền lương tháng tại thời điểm

đủ tuổi nghỉ hưu và giải quyết nghỉ hưu theo chế độ hiện hành, bao gồm các trường hợp sau:

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 14 năm đến dưới 15 năm

Trang 10

- Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi có đủ 15 năm làm các nghề nặng nhọc độc hại hoặc đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên hoặc đủ 10 năm công tác thực tế ở chiến trường B, C trước ngày 30/04/1975, chiến trường K trước ngày 31/08/1989 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 19 năm đến dưới 20 năm

- Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 19 năm đến dưới 20 năm mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

- Người lao động (không phụ thuộc vào tuổi đời) có ít nhất 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, đặc biệt độc hại đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 19 năm đến dưới 20 năm mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

c Người lao động dôi dư không thuộc đối tượng quy định tại điểm a và b nêu trên, thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và hưởng chế độ như sau:

- Trợ cấp mất việc làm được tính theo thời gian thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) được trợ cấp 1 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương, phụ cấp lương đang hưởng

- Được trợ cấp thêm 1 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng cho mỗi năm (đủ 12 tháng) thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước và được trợ cấp với mức 5 (năm) triệu đồng

Thời gian thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước là thời gian người lao động thực tế làm việc tại DNNN, cơ quan, đơn vị thuộc khu vực Nhà nước, đơn

vị thuộc lực lượng vũ trang, được tính đến thời điểm có quyết định cho người lao động nghỉ việc

- Trợ cấp một lần đi tìm việc làm là 6 tháng tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng Nếu có nhu cầu học nghề thì được học nghề miễn phí tối đa là 6 tháng Cơ sở học nghề do Sở Lao động -Thương binh và Xã hội chỉ định

Ngoài các chế độ quy định tại điểm c trên, người lao động còn được hưởng chế độ chờ nghỉ hưu, bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định hiện hành

Ngày đăng: 20/10/2013, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w