1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

ìm hiểu khái niệm hoạt động ngân hàng theo Luật tổ chức tín dụng và khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm của WTO

17 4,3K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu khái niệm hoạt động ngân hàng theo luật tổ chức tín dụng và khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm của WTO
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ìm hiểu khái niệm hoạt động ngân hàng theo Luật tổ chức tín dụng và khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm của WTO

Trang 1

MỤC LỤC :

A LỜI MỞ ĐẦU 1

B. NỘI DUNG : 2

I. VỀ KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THEO LUẬT TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ KHÁI NIỆM DỊCH VỤ TÀI CHÍNH THEO QUAN ĐIỂM CỦA WTO 2

1. Luật tổ chức tín dụng hiện hành với ghi nhận về khái niệm “hoạt động ngân hàng” 2

2. Về khái niệm “dịch vụ tài chính” theo quan điểm của WTO 4

II. MỘT SỐ NHÌN NHẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC

HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NĂM 2010 VỚI KHÁI NIỆM DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA WTO và NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NÀY TRƯỚC THỀM HỘI NHẬP 7

1. Về hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác của các tổ chức tín

dụng theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 so với khái niệm dịch vụ tài chính của WTO 7

2. Những cơ hội và thách thức đối với một số lĩnh vực trong thị trường

dịch vụ tài chính Việt Nam trước thềm hội nhập 12

a. Những cơ hội và thách thức đối với dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm 12

b. Những cơ hội và thách thức đối với dịch vụ ngân hàng 13

C. LỜI KẾT 15

Trang 2

A LỜI MỞ ĐẦU :

Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Hơn ba năm qua, trên con đường hội nhập quốc tế, nước ta đã tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mở rộng thị trường hàng hóa dịch vụ, đầu

tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể chế, đồng thời cũng dần dần hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại Đứng trước bối cảnh hội nhập, chúng ta đã kịp thời có những cơ hội hợp tác đem lại nhiều lợi ích lớn cho đất nước song cũng không khỏi gặp phải những trở ngại xuất phát từ những điểm yếu của nền kinh tế – xã hội của chúng ta Trong lộ trình hội nhập ngày một được rút ngắn đi thì sức ép và thách thức đối với nước

ta lại càng cao hơn, và nó bao trùm trên tất cả mọi phương diện

Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ kéo theo nghĩa vụ là chúng ta phải thực hiện mọi cam kết của tổ chức đối với thành viên, điều này là hoàn toàn hiển nhiên vì đã

“nhập gia” thì phải “tùy tục” Tuy nhiên để hoàn toàn hội nhập chúng ta cần có một chặng đường để điều chỉnh thì mới có thể tồn tại và phát triển trong môi trường có tình hai mặt là luôn có nhiều cơ hội và cũng luôn tiềm ẩn những thách thức, nguy cơ thất bại như vậy

Chỉ xét riêng trong lĩnh vực tài chính tiền tệ trong bối cảnh hội nhập chúng ta cũng có thể thấy rõ phần nào những điểm khó khăn hiện nay trên con đường hội nhập Ở đây chưa nói đến những quy định cụ thể về nội dung mà chỉ xét tới khái niệm của lĩnh vực này theo quan điểm của luật trong nước và quan điểm của tổ

chức Đây cũng chính là lý do em tìm hiểu về đề tài “Tìm hiểu khái niệm hoạt

động ngân hàng theo Luật tổ chức tín dụng và khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm của WTO” Sau đây sẽ là nội dung chính của bài viết.

Trang 3

B. NỘI DUNG :

I VỀ KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THEO LUẬT TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ KHÁI NIỆM DỊCH VỤ TÀI CHÍNH THEO QUAN ĐIỂM CỦA WTO

1) Luật tổ chức tín dụng hiện hành với ghi nhận về khái niệm “hoạt động ngân hàng” :

Việc đưa ra một khái niệm của một sự vật hiện tượng là hết sức cần thiết, bở lẽ nó là cơ sở trước tiên nhất để nhận dạng và phân biệt nó với các sự vật hiện tượng khác Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, có thể thấy hoạt động ngân hàng là những hoạt động có tính nghiệp vụ và nó có những đặc thù so với các hoạt động khác trong nền kinh tế vì vậy việc tổng quát các hoạt động đó lên thành một khái niệm để nhận dạng và phân biệt với các hoạt động khác

Theo khoản 12 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có giải thích : “Hoạt

động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây :

a; Nhận tiền gửi;

b; Cấp tín dụng;

c; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

Trước hết cần phải nhận định rõ khái niệm “hoạt động ngân hàng” hoàn toàn khác với cụm từ chỉ hoạt động của ngân hàng (hay hoạt động của các tổ chức tín dụng) Theo đó, có thể nhận dạng hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này bằng các đặc điểm đó là :

Thứ nhất, hoạt động ngân hàng là việc “kinh doanh, cung ứng một cách thường

xuyên”, như vậy có thể hiểu rằng đây là một hoạt động kinh doanh trong nền kinh

tế nhằm mục đích sinh lời từ việc buôn bán, cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua việc thực hiện các công việc có tính chuyên môn Hoạt động này phải được diễn ra một cách liên tục, ổn định và phải được thực hiện bởi các tổ chức tín dụng theo đúng các quy định của pháp luật, đầy đủ điều kiện để

có thể kinh doanh, cung ứng các nghiệp vụ đặc thù Đây là một lĩnh vực kinh doanh tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế, các chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng đặc biệt tới nhau, sự sụp đổ của một chủ thể có kinh doanh các hoạt động này có thể đồng thời kéo theo sự ảnh hưởng nghiêm trọng tới các chủ thể khác và tới nền kinh tế của đất nước

Trang 4

Thứ hai, đối tượng của hoạt động kinh doanh, cung ứng này có thể là một hoặc một số các nghiệp vụ : nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Có thể thấy rằng, đây là một hoạt động kinh doanh có những đặc trưng khác biệt so với các hoạt động kinh doanh dịch vụ đời sống, sản xuất hàng hóa khác bởi đây là những hoạt động mang tính chuyên môn Đối tượng của lĩnh vực kinh doanh này tập trung tới một đối tượng đặc biệt nhất của nền kinh tế, đó chính là tiền tệ, những hoạt động mang tính chuyên môn đó đều xoay quanh nhu cầu sử dụng tiền tệ của khách hàng trên thị trường với ba hoạt động nghiệp vụ đã được liệt kê rõ ràng Cũng theo tinh thần của Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì các hoạt động nghiệp vụ đó được hiểu là:

Hoạt động nhận tiền gửi được hiểu là : là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá

nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.( khoản 13 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)

Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền

hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh

toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.( khoản 15 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)

Hoạt động ngân hàng được pháp luật ghi nhận là một trong những hoạt động được phép tiến hành kinh doanh, cung ứng của các tổ chức tín dụng bên cạnh những hoạt động khác Có thể thấy rằng, so với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2007, khái niệm về hoạt động ngân hàng đã được trình bày một cách khái quát, ngắn gọn hơn song vẫn bao hàm được các nội dung về hoạt động chính yếu của loại hình kinh doanh này của các tổ chức tín dụng Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật Ngân hàng Nhà

nước 1997 thì hoạt động ngân hàng được ghi nhận như sau : “ Hoạt động ngân

hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán” Với định nghĩa này, mặc dù có thể khiến người tiếp cận nó thấy rõ

Trang 5

được phạm vi và đối tượng hoạt động chính đã được ghi nhận Tuy nhiên với thời điểm hiện tại, khi các hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường ngày một đa dạng thì hoạt động ngân hàng cũng đòi hỏi phải có những thay đổi và

mở rộng để bảo đảm có thể là chất xúc tác thúc đẩy được các hoạt động kinh doanh, sản xuất khác Với cách giải thích như luật hiện hành, có thể thấy nhiều vấn đề đã được mở rộng hơn so với các văn bản trước đó

2) Về khái niệm “dịch vụ tài chính” theo quan điểm của WTO :

Dịch vụ tài chính( Financial Services) được xem là một hệ thống cấu thành của loại hình dịch vụ mang tính chất thương mại, nói cách khác, đây là loại dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, tư vấn đầu tư… Tuy nhiên trên thế giới hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác thống nhất nào về dịch vụ tài chính mặc dù thuật ngữ này

đã được sử dụng rất phổ biến và có tính quy phạm

Năm 1997 các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đã ký kết một thoả thuận về dịch vụ tài chính như là một phần trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) Trong phần các nghĩa vụ và quy định chung, Hiệp định điều chỉnh thương mại tất cả các loại dịch vụ Như vậy, GATS được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ được trao đổi trên thế giới, chẳng hạn như các dịch vụ ngân hàng, viễn thông, du lịch, các dịch vụ chuyên nghiệp Hiệp định cũng định nghĩa 4 phương thức trao đổi dịch vụ:

- Một nước cung ứng dịch vụ cho một nước khác (chẳng hạn các cuộc gọi quốc tế), được gọi tên chính thức là “cung ứng dịch vụ qua biên giới” (hay “phương thức 1” theo ngôn từ của WTO)

- Người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như du lịch), được gọi tên chính thức là “tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài” (“phương thức 2”)

- Doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hoặc công ty con tại một nước nhằm cung ứng dịch vụ tại nước đó (chẳng hạn các giao dịch của ngân hàng nước ngoài tại một nước), được gọi tên chính thức là “hiện diện thương mại” (“phương thức 3”)

Trang 6

- Các cá nhân rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như hoạt động của người mẫu thời trang hoặc nhà tư vấn), được gọi tên chính thức là “hiện diện của tự nhiên nhân” (“phương thức 4”)

Trong hiệp định, WTO đã thừa nhận và giải thích thuật ngữ “dịch vụ tài chính”

như sau : “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một

nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm) Dịch vụ tài chính bao gồm các dịch vụ sau đây: ” trong phụ lục cũng giải thích rõ “nhà cung cấp dịch vụ” ở đây không phải

là một “tổ chức công” Cho nên phụ lục cũng quy định rõ hiệp định không áp dụng đối với các dịch vụ được cung cấp nhằm thực thi quyền lực của chính phủ đối với

hệ thống tài chính, ví dụ như các dịch vụ do các ngân hàng trung ương cung cấp, các “dịch vụ công” được loại ra khỏi hiệp định Theo phụ lục về dịch vụ tài chính thì các chính phủ có toàn quyền áp dụng các biện pháp phòng ngừa, chẳng hạn để bảo vệ các nhà đầu tư, người gửi tiền và người mua bảo hiểm, để đảm bảo tính thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính bởi sự bất ổn của hệ thống ngân

hàng có thể làm phương hại tới toàn bộ nền kinh tế Theo cách tiếp cận của GATS

đối với các cam kết, các nước thành viên không bị buộc phải đưa ra cam kết về tất

cả các ngành dịch vụ Một chính phủ có thể không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh nước ngoài trong một ngành nhất định, bởi họ cho rằng đó là một chức năng

cơ bản của chính phủ hoặc vì bất cứ lý do gì khác Trong trường hợp này, các chính phủ chỉ tuân thủ những nghĩa vụ tối thiểu như đảm bảo sự minh bạch trong cách thức điều tiết ngành dịch vụ này và không được phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau

Theo cách giải thích như trên của WTO về “dịch vụ tài chính”, có thể thấy rằng đây chưa phải là một khái niệm mà là sự mô tả nội hàm của thuật ngữ dịch vụ tài chính với cách liệt kê các nội dung hoạt động trong loại hình dịch vụ này

Trong Hiệp định chung về thương mại của WTO, dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 của bảng danh mục phân loại bao gồm :

a – Dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm bao gồm :

 dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, tai nạn y tế;

 Dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ;

 Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;

Trang 7

 Các dịch vụ bổ trợ bảo hiểm như tư vấn, đánh giá xác xuất và rủi ro, giải quyết khiếu nại; Dịch vụ trung gian bảo hiểm, như dịch vụ môi giới và đại lí

b – Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể dịch vụ bảo hiểm).

( Bao gồm: nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của

công chúng)

(i) cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế

chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại

(ii) thuê mua tài chính

(iii) mọi dịch vụ thanh toán chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán

và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng

(iv) bảo lãnh và cam kết

(v) kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch

và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về:

 công cụ thị trường tiền tệ (gồm séc, hóa đơn, chứng chỉ tiền gửi)

 ngoại hối

 các sản phẩm tài chính phái sinh,bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kì hạn(futures) hoặc hợp đồng chọn (options)

 các sản phẩm dựa trên tỉ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như hoán vụ (swarps), hợp đồng tỉ giá kì hạn

 Chứng khoán có thể chuyển nhượng

 Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản tài chính, kể cả kim khí đá quý

(vi) tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát

hành và các chào bán như đại lý ( dù công khai hoặc theo thỏa thuận riêng ) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó

(vii) Môi giới tiền tệ

(viii) Quản lý tài sản, như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư, mọi hình

thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác

(ix) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng

khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác (x) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lí dữ liệu tài chính và phần

mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác

(xi) Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tìa chính phụ

trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu từ điểm (v) đến (xv), kể cả

Trang 8

tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn mua sắm và về cơ cấu lại hoặc chiến lược doanh nghiệp

c – Các mục khác.

Qua cách giải thích cũng như việc bố trí phân ngành trên cho thấy: trong ngành dịch vụ tài chính theo quan điểm của WTO, ngoài 2 nhóm ngành khác cụ thể là

dịch vụ ngân hàng và dịch vụ bảo hiểm, sự có mặt của “các mục khác” đã cho thấy

tính đa dạng, phong phú và phức tạp của dịch vụ tài chính Đồng thời nói lên cách phân ngành mang tính chất mở của WTO nghĩa là: bất kỳ dịch vụ nào đang tồn tại hoặc các dịch vụ mới sẽ xuất hiện trong tương lai dù không được liệt kê trong danh mục WTO cũng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS nếu những dịch vụ này được cung cấp trên cơ sở thương mại và đươc cung cấp bởi các nhà cung cấp tài chính Điều này nhằm tạo cơ hội dễ dàng cho các nước khi tham gia vào WTO

II. MỘT SỐ NHÌN NHẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC

HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NĂM 2010 VỚI KHÁI NIỆM DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA WTO và NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NÀY TRƯỚC THỀM HỘI NHẬP.

1 Về hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác của các tổ chức tín dụng theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 so với khái niệm dịch vụ tài chính của WTO :

Qua việc tìm hiểu hai khái niệm về “hoạt động ngân hàng” và “dịch vụ tài chính”

ở trên, có thể nhận thấy biểu hiện rõ nhất đó là về số lượng các hoạt động, các loại dịch vụ được liệt kê tới trong phạm vi của hai khái niệm này là không tương đồng, trái lại còn thấy có sự khác nhau rõ rệt về số lượng các loại dịch vụ đã được liệt kê theo quan điểm của WTO so với các nghiệp vụ được liệt kê trong khái niệm hoạt động ngân hàng

 Theo tinh thần của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, với cách liệt kê ba

hoạt động nghiệp vụ : huy động vốn; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán

qua tài khoản, thì hoạt động ngân hàng nổi bật lên với các đặc điểm mang tính

nghiệp vụ chuyên môn Đây là một trong những hoạt động của các tổ chức tín dụng, bên cạnh việc được kinh doanh, cung ứng và thực hiện các hoạt động

khác theo luật định ( theo các quy định của Chương IV: Hoạt động của tổ chức

tín dụng, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010) các tổ chức tín dụng còn được

tiến hành kinh doanh và cung ứng các dịch vụ khác như :

Trang 9

- Đầu tư tài chính ra bên ngoài dưới các hình thức góp vốn, mua cổ phần Mức góp vốn mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong tất cả cách doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng Ngoài ra, tổ chức tín dụng nếu thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định còn có thể tham gia thị trường tiền tệ để thực hiện hoạt động kinh doanh

- Tổ chức tín dụng được kinh doanh ngoại hối và vàng ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

- Tổ chức tín dụng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lí tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng; được cung ứng các dịch vụ tư vấn tại chính, tiền tệ cho khách hàng; được làm các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ

có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

- Tổ chức tín dụng được thành lập công ty để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật Riêng ngân hàng có thể được cung ứng các dịch vụ bảo hiểm Theo quan điểm của WTO, dịch vụ tài chính là một loại hình dịch vụ rất đa dạng không chỉ bao gồm các dịch vụ đã được liệt kê cụ thể mà quan điểm về dịch vụ tài chính còn mang tính “mở” với quy định “ các mục khác”, ghi nhận này khiến cho việc liệt kê trên của WTO có ý nghĩa như mới chỉ định danh và công nhận được một số các loại dịch vụ tài chính đã và đang tồn tại ở thời điểm chưa có loại hình dịch vụ tài chính mới nào được hình thành Đồng thời có ý nghĩa rằng những loại hình dịch vụ không có trong bảng liệt kê nhưng “có tính tài chính” hoặc trong tương lai sẽ được hình thành các loại hình dịch vụ mới mang tinh tài chính thì quan điểm này của WTO sẽ ghi nhận tất cả những loại hình dịch vụ đó thuộc về dịch vụ tài chính

 Như vậy có thể thấy, hoạt động ngân hàng theo cách thể hiện của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 mới chỉ chứa đựng một số hoạt động nhất định theo quan điểm về dịch vụ tài chính và trong bảng phân loại ngành cụ thể của WTO Hoạt động ngân hàng trong Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 theo đó chỉ

nằm trong khu vực “dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo

hiểm)” mà không nằm trong khu vực “ dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm” hay không thuộc “các mục khác” mà WTO công nhận Tuy nhiên, như

đã trình bày ở trên về các hoạt động khác ngoài hoạt động ngân hàng mà các tổ chức tín dụng có thể thực hiện ta thấy rằng, nhiều loại dịch vụ tài chính theo

Trang 10

quan điểm của WTO được liệt kê nằm trong các hoạt động khác của các tổ chức

tín dụng, rõ nhất đó là loại hình “dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm”

và các hoạt động khác Luật các tổ chức tín dụng có quy định cụ thể tại các mục

trong chương IV của luật này, cụ thể là trong từng loại hình tổ chức tín dụng, luật quy định rõ loại hình tổ chức tín dụng nào thì được thực hiện các loại hình

dịch vụ cụ thể bên cạnh việc thực hiện hoạt động ngân hàng Ví dụ: đối với tổ

chức tín dụng là Ngân hàng thương mại, ngoài các hoạt động ngân hàng mà

công ty tài chính được thực hiện theo Điều 98: Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại:

1 Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.

2 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.

3 Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:

a) Cho vay;

b) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;

c) Bảo lãnh ngân hàng;

d) Phát hành thẻ tín dụng;

đ) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;

e) Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

4 Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.

5 Cung ứng các phương tiện thanh toán.

6 Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:

a) Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ;

b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Ngoài các hoạt động ngân hàng được ghi nhận như trên thì các ngân hàng thương

mại còn có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như quy định tại các Điều

105: Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh; Điều 106:

Ngày đăng: 31/10/2012, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w