ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ THANH HUYỀN TÍCH HỢP TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU VỚI QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỤ THỂ TRONG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
TÍCH HỢP TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC
Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU VỚI QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
TÍCH HỢP TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC
Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU VỚI QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Thời Tân
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lê Thời Tân chúng tôi đã thực hiện đề tài Tích hợp tri thức lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với quá trình dạy học tác phẩm văn xuôi cụ thể trong chương trình Ngữ văn 12 - Nâng cao
Để hoàn thành luận văn này, xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã
hướng dẫn, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN Xin cảm ơn các thầy cô công tác tại phòng đào tạo, Trường Đại học Giáo Dục; Thư viện - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lê Thời Tân đã tận tình, chu đáo cùng tôi trên bước đường nghiên cứu khoa học Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cám ơn Ban giám hiệu, Tổ Ngữ văn Trường THPT Lý Thường Kiệt, Long Biên, Hà Nội, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt công việc của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách tốt nhất song trong quá trình thực hiện, nghiên cứu người viết bài không tránh khỏi những
bỡ ngỡ, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy,
cô giáo và các bạn đồng nghiệp để việc nghiên cứu khoa học của tôi và luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Học viên Trần Thị Thanh Huyền
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BGD - ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
CTNV12 - NC : Chương trình Ngữ văn 12 - Nâng cao
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục biểu đồ v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.1.1 Khái niệm tích hợp 8
1.1.2 Dạy học tích hợp 9
1.2 Tri thức lí luận 15
1.2.1 Tri thức lí luận văn học 15
1.2.2 Vị trí, vai trò của tri thức lí luận văn học 17
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU TRONG CTNV12 – NC 28
2.1 Thực trạng của việc dạy học 28
2.1.1 Mục tiêu của chương trình Ngữ văn ở trường THPT hiện nay 28
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn 30
2.1.3 Hệ thống hóa tri thức lí luận văn học trong tác phẩm văn xuôi qua các phần tri thức đọc - hiểu (CTNV12 - NC) 36
2.1.4 Vài so sánh dạy học tri thức lí luận văn học ở các tác phẩm văn xuôi giữa chương trình Ngữ văn 12 cơ bản và chương trình nâng cao 42
2.2 Một số phương pháp tích hợp lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với quá trình dạy học các tác phẩm văn xuôi cụ thể trong CTNV - 12 NC…43 2.2.1 Tích hợp "xuôi chiều", từ đọc - hiểu tác phẩm tới tổng kết tri thức lí luận văn học 43
Trang 62.2.2 Tích hợp "ngược chiều", từ tri thức lí luận văn học đến bài học tác
phẩm 53
2.2.3 Tích hợp "song song", qua quá trình giảng dạy, ôn tập và hệ thống hóa 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3 – GIÁO ÁN VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 77
3.2 Những vấn đề chung của thực nghiệm 86
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 86
3.2.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 87
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 88
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 88
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm 88
3.4 Kết quả thực nghiệm 89
3.4.1 Tiến hành kiểm tra 89
3.4.2 Kết quả kiểm tra 90
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 101
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Điều tra về việc giáo viên sử dụng tích hợp tri thức lí luận văn học trong quá trình dạy học tác phẩm văn xuôi 34 Bảng 2.2 Thực trạng tổ chức giờ dạy của giáo viên 35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 15 phút 91
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiếp thu tinh thần đổi mới, dạy học - đọc văn đã có những bước chuyển
mình Giáo viên là người hướng dẫn, học sinh là người chủ động kiến tạo kiến thức trong giờ học dưới sự tác động của thầy Tuy nhiên, công cuộc đổi mới phương pháp dạy học để phát triển trí tuệ học sinh cũng không phải là công việc ngày một ngày hai có thể làm xong, nó phải được tiến hành liên tục trong suốt cuộc đời làm thầy của mỗi giáo viên Đọc văn, dạy và học văn là cuộc hành trình đi tìm cái đẹp, cái đẹp trong ngôn ngữ nghệ thuật, trong nội dung,
ý nghĩa trong mỗi tác phẩm văn chương từ đó giúp các em phát triển năng lực sáng tạo, thông minh hòa nhập với cuộc sống
Từ thực tế dạy học của Việt Nam cho thấy cách dạy học Ngữ văn theo lối bình giảng và cung cấp cho học sinh các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt không đáp ứng được nhu cầu học tập của giới trẻ ngày nay và không còn phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại Đổi mới chương trình theo hướng tích hợp và đa dạng hóa các thể loại văn bản được đưa vào nhà trường đặt cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới trong bối cảnh xây dựng chương trình phát triển năng lực nói chung
1.2 Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị
lãnh tụ kính mến của nhân dân ta, đã từng cho rằng: "Văn học là một hình thái
ý thức đặc biệt của xã hội, là nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình
và sáng tạo để nhận thức và phản ánh đời sống xã hội, để biểu hiện tâm tư con người Văn học đã trở thành công cụ để giáo dục con người, cải tạo xã hội mạnh mẽ, nó là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén có tác dụng to lớn, sâu rộng và bền bỉ mà lịch sử loài người từ trước đến nay đã xác nhận"
Văn học là nhân học (Học văn là học cách làm người), bên cạnh đó môn văn còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết một cách có hệ thống về lí luận văn học, cung cấp những hiểu biết cơ bản, sơ giản nhất về văn học, về tác phẩm văn học với các loại thể khác nhau Song như đã nói,
Trang 9dạy học không phải là quá trình nhồi nhét kiến thức mà quan trọng là giúp các
em trang bị những phương pháp nghiên cứu, học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề Mục đích cao nhất và cuối cùng của dạy học trong nhà trường là phát triển năng lực cho học sinh Tri thức lí luận văn học góp phần nâng cao trình độ và mở rộng vốn văn hóa đọc cũng như phát triển năng lực, kỹ năng
đọc văn cho học sinh "Lí luận văn học là một chuyên ngành nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống, quan hệ giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, vị trí của văn học Cùng với đó, lí luận văn học đi sâu giải phẫu, khám phá cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học với các yếu tố không gian, thời gian, nhân vật, người kể chuyện, cốt truyện, kết cấu "[28, tr.3]
Như vậy, tri thức lí luận văn học giữ vị trí quan trọng, mang tính chất tổng kết, khám phá những vấn đề cốt lõi, bản chất của văn học Chính vì thế, nắm kiến thức cơ bản của lí luận văn học là một cách giúp người học tập nghiên cứu văn học, tự trang bị cho mình một bảo bối, cẩm nang để chủ động,
tự tin trong mọi tình huống, có thể giải mã, cắt nghĩa hàng trăm hàng ngàn hiện tượng tác giả, tác phẩm văn học từ cổ chí kim, từ đông sang tây
1.3 SGK bộ nâng cao có điểm khác biệt so với SGK bộ cơ bản đó là sau mỗi
bài đọc văn có phần Tri thức đọc - hiểu Đây là mảng kiến thức lí luận văn
học mà người biên soạn muốn học sinh và giáo viên nắm bắt Qua quá trình điều tra, khảo sát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy phần lớn cả người dạy và người học đều chưa chú trọng vào phần lí luận văn học ở tri thức đọc - hiểu
và càng không biết kết nối chúng trong quá trình giảng dạy ngữ văn
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: Tích hợp tri thức lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với quá trình dạy học tác phẩm văn xuôi cụ thể trong chương trình Ngữ văn 12 Nâng cao nhằm
giúp học sinh hứng thú, say mê hơn đối với môn học này Giúp các em - người tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm; và giáo viên - những người làm cầu nối học sinh với tác phẩm, biết kết nối lí luận văn học ở phần tri thức đọc -
Trang 10hiểu trong các tác phẩm văn xuôi chương trình Ngữ văn 12 - Nâng cao với quá trình đọc - hiểu các tác phẩm văn xuôi trong và ngoài chương trình, để từ
đó có được những nhận thức đúng và không cảm thấy tri thức lí luận văn học
là một hệ thống kiến thức khô khan, xa vời mà gần gũi và sát thực Biết biến tri thức lí luận thành những chiếc chìa khóa để khai mở, khám phá, phát hiện những tầng nghĩa mới mẻ, thú vị, giàu sức thuyết phục của tác phẩm văn học Theo cách đó, chúng tôi mong muốn người tiếp nhận (giáo viên - học sinh - bạn đọc) có được lối tư duy sắc bén để có thể chiếm lĩnh tác phẩm một cách nhanh nhất và hiệu quả cao, từ đó thêm yêu, thêm say văn học, để trở thành
"những bạn đọc tri âm, tri kỉ, những người cùng tác giả đi đến những miền sâu kín nhất của cuộc đời, của trái tim, của tâm hồn, hay cũng muốn phiêu lưu trên những đoạn đường đầy mưa nắng, gập ghềnh, gai góc mà cực kì hấp dẫn" [13, tr 3]
2 Lịch sử vấn đề
Muốn nâng cao trình độ văn hóa giáo dục cho thế hệ trẻ Việt Nam trong nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế để họ phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đất nước trước ngưỡng cửa hiện đại hóa không có gì tốt hơn là phải dạy họ biết tự học, học mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm, học suốt
đời, bởi mỗi chúng ta đều nhận thức được "học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" là một mục tiêu đúng đắn Nắm rõ
được vấn đề này, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đề cập tương đối đầy đủ, sâu sắc
Bộ sách Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên – NXB Đại học Sư phạm, được coi là cuốn giáo trình ở đại học về Lí luận văn học Trong đó cuốn sách cũng đã chỉ rõ vị thế của phân môn Lí luận văn học trong quá trình giảng dạy môn văn là một bộ môn chính trong khoa nghiên cứu văn học Trong cuốn Lí luận văn đọc và đổi mới đọc hiểu tác phẩm của TS Nguyễn Văn Tùng cũng cho ta thấy Lí luận văn học là một chuyên ngành nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống, quan hệ giữa
Trang 11văn học với các loại hình nghệ thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, vị trí của văn học
Cùng với đó, lí luận văn học đi sâu giải phẫu, khám phá cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học với các yếu tố không gian, thời gian, nhân vật, người kể chuyện, cốt truyện ; đặc trưng các thể loại như thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn
Nhìn chung, kiến thức lí luận văn học mang tính chất tổng kết, khám phá những vấn đề cốt lõi, bản chất của văn học [28, tr.3] Những bài viết của giáo
sư Phan Trọng Luận "Lí luận văn học - kiến thức siêu kiến thức" [36] đã giúp người đọc thấy được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của bộ môn lí luận văn học Trong luận văn của mình, Th.S Đoàn Thị Vân đã giúp người yêu văn có được cái nhìn sâu, rộng về Phương pháp khai thác các kiến thức Lí luận văn
học trong đọc- hiểu văn bản văn học lớp 11- Nâng cao như khai thác các yếu
tố lí luận văn học để định hướng cho việc đọc - hiểu; khai thác các yếu tố lí luận văn học để đi sâu đọc hiểu các tác phẩm văn học tự sự
Như vậy có thể thấy tầm quan trọng của kiến thức lí luận văn học đối với việc dạy - học văn, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu văn bản cũng chỉ rõ vấn đề, định hướng để từ đó giúp học sinh tự khai mở
kiến thức "Thầy giáo là yếu tố quyết định của việc dạy học thành công Hơn bất cứ nghề nào, nghề dạy học luôn luôn đòi hỏi người thầy giỏi, uyên bác, biết cập nhật thông tin Dạy học yêu cầu đào tạo thế hệ công dân tương lai, cho nên người thầy phải là người có đạo đức, yêu thiết tha đất nước, tiếng nói dân tộc mình Thầy biết yêu nhân dân, yêu quý và tôn trọng học trò Thầy phải là người có trách nhiệm với công việc trồng người, không thể là kẻ ba hoa, dạy học qua quýt, chuộng thành tích hơn thực tế Một người thầy có đủ phẩm chất là điều cần thiết để đảm bảo dạy học thành công" Những tâm sự của GS Trần Đình Sử trong cuốn Lý luận và phê bình văn học của mình
(NXB Giáo dục), đã có định hướng tốt, giúp cho người giáo viên dạy văn biết cách đi cho đúng, biết xác định rõ vai trò của tri thức lí luận văn học
Trang 12Năm 1998, NXB Đại học Quốc gia tái bản lần thứ 4 cuốn sách Phương pháp dạy học văn do giáo sư Phan Trọng Luận làm chủ biên đã khẳng định tầm quan trọng của lí luận văn học đối với chất lượng học văn của học sinh THPT Nhiều em hiểu sai lệch nội dung tác phẩm, hoặc học vẹt, khiên cưỡng
mà chưa biết cách mở những tác phẩm văn chương Tác giả đã khẳng định:
"Không nên nói chuyện xếp lý luận văn học lại, trước hết là phải giúp cho học sinh cảm nhận được chất văn! Làm gì có chuyện đối lập giữa việc cảm và hiểu, giữa hiểu biết lí luận và cảm thụ thẩm mỹ Trình độ am hiểu lí luận chỉ tăng cường hỗ trợ thêm cho khả năng cảm thụ thẩm mỹ mà thôi Nhấn mạnh khả năng thưởng thức mà coi nhẹ nâng cao trình độ lí luận văn học chính là
vô tình đã duy trì trình độ của học sinh ở mức độ thấp nhất của kiến thức Nói như Papslop: Có bao nhiêu khái niệm về sự vật là có được bấy nhiêu hiểu biết
về bản chất của sự vật Có trăm ngàn ấn tượng xúc cảm văn chương, có trăm ngàn hiện tượng văn học mà kiến thức chưa được nâng lên thành những khái niệm vững chắc thì kiến thức vẫn là kiến thức vụn vặt cảm tính, mang tính tư
liệu Rõ ràng là lí luận sẽ giúp học sinh có khả năng tự mình ứng dụng và bổ sung kiến thức mới"
Tuy nhiên trong quá trình dạy học và khảo sát, chúng tôi chưa bắt gặp tài liệu nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ về hoạt động tích hợp lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với quá trình dạy học tác phẩm văn xuôi ở trường phổ thông, hầu hết các giáo trình và các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò, tầm quan trọng của kiến thức lí luận trong việc giảng dạy bộ môn Các công trình cũng đã đưa ra được những biện pháp
để giúp việc giảng dạy gần hơn với thực tiễn nhưng chưa có tác giả nào đi sâu vào kết nối, tích hợp lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với quá trình giảng dạy tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn 12, Nâng cao Các tác giả chỉ mới đi rất rộng về kiến thức lí luận nói chung mà chưa bàn tới kiến
thức lí luận cụ thể trong phần tri thức đọc hiểu của SGK Ngữ văn 12 Nâng cao Bởi vậy khi lựa chọn nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn góp một
Trang 13phần nhỏ nhằm gợi mở những giải pháp đem lại hiệu quả cho hoạt động dạy học tích hợp tri thức lí luận văn học ở phần đọc - hiểu với quá trình dạy học tác phẩm văn xuôi ở trường phổ thông nói chung và học sinh trường THPT
Lý Thường Kiệt nói riêng để tạo được sự hứng thú, lòng say mê của học sinh trong khám phá tác phẩm và góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
+ Nhận diện và hệ thống hóa toàn bộ tri thức lí luận văn học liên quan đến tác
phẩm văn xuôi trình bày phân tán trong các phần Tri thức đọc - hiểu đặt kèm
sau các bài học nhất định trong SGK Ngữ văn 12, Nâng cao
+ Xác định đường hướng và cách thức tích hợp các tri thức lí luận văn học đó vào quá trình dạy học tác phẩm đọc - hiểu cụ thể trong chương trình dạy học ngữ văn nói chung, chương trình ngữ văn 12 nâng cao nói riêng
+ Giúp người dạy - người học nhận thức sâu sắc hơn mối quan hệ giữa lí luận văn học (lí thuyết văn chương) và thực tiễn sáng tác cũng như quan hệ giữa tri thức lí luận với việc tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung
+ Giúp các em hình thành kĩ năng tự đọc, tự nghiên cứu, biết cách chiếm lĩnh tác phẩm văn học trong và ngoài nhà trường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến:
+ Lí luận dạy học;
+ Tri thức lí luận văn học trong phần đọc - hiểu của sách giáo khoa Ngữ văn 12 nâng cao;
+ Hoạt động dạy và học trong trường phổ thông
3.2.2 Điều tra thực trạng dạy và học lí luận văn học trong phần tri thức đọc - hiểu tác phẩm văn xuôi 12 nâng cao
3.3.3 Phân tích nội dung kết nối lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu với qúa trình dạy học tác phẩm văn xuôi 12 nâng cao
Trang 143.3.4 Đề xuất quá trình dạy học tích hợp trong giờ Ngữ văn
3.3.5 Triển khai thực nghiệm, đánh giá kết quả thực nghiệm và hoàn thiện các tiến trình dạy học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vai trò công cụ của tri thức lí luận văn học trong quá trình dạy học đọc
- hiểu tác phẩm văn xuôi và cách tích hợp vào nhau giữa hai nội dung dạy học này trong chương trình Ngữ văn 12, Nâng cao
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Được sử dụng để tìm, đọc, phân loại tư liệu trong nước và ngoài nước nhằm hình thành cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Tìm hiểu, phân tích số liệu giúp các vấn đề được sáng tỏ
5.5 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, tổng hợp, khái quát
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương
Chương 1 – Cơ sở lí luận của đề tài
ở phần tri thức đọc - hiểu trong CTNV12 - NC
Chương 3 – Giáo án và thực nghiệm sư phạm
Trang 15Theo Từ điển tiếng Việt, tích hợp là "Lắp ráp, nối kết các thành phần của
một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ" [24, tr 981] Như
vậy, tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành
phần khác nhau thành một khối chức năng
Tuy nhiên vấn đề quan trọng là tích hợp cái gì và tích hợp như thế nào? Ở
đây, Bộ giáo dục cũng chỉ rõ "Tích hợp là sự phối hợp những tri thức gần gũi,
có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau, nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và
vững chắc" [47, tr 35] Bên cạnh đó "Tích hợp là sự phối hợp các tri thức
thuộc một số môn học có những nét tương đồng vào một lĩnh vực chung, thường là quanh những chủ đề" [48, tr 25] Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là "integration" một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là "whole" hay "toàn
bộ, toàn thể" Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành
phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục
tiêu hoạt động của hệ thống ấy
Mỗi nhà sư phạm có một cách thể hiện về tích hợp nhưng họ đều đi đến một điểm chung là sự phối kết hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hoặc các phân môn khác nhau nhằm hình thành kiến thức liên thông, rèn luyện bốn kĩ năng nghe - nói - đọc - viết cho học sinh, hướng các em biết cách
Trang 16chiếm lĩnh và sử dụng kiến thức trong thực tiễn cuộc sống Không chỉ ở Việt
Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng coi tích hợp là xu hướng dạy học chung như Pháp, Trung Quốc, Philippines
Vậy, nên hiểu dạy học tích hợp là gì?
1.1.2 Dạy học tích hợp
1.1.2.1 Bản chất của dạy học tích hợp
Quan điểm về nội dung và phương pháp giáo dục của nhà nước ta là giáo
dục toàn diện Luật Giáo dục đã chỉ rõ: "Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính
cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống" (Điều 5) nhằm phát huy
tính tích cực, tự giác, tính tích cực, chủ động và phát huy tư duy sáng tạo của người học Quan điểm dạy học đó được cụ thể hóa trong việc xây dựng chương trình sách giáo khoa theo hướng tích hợp, đây là một phương pháp dạy học đúng đắn và mang lại hiệu quả cao Dạy học tích hợp hướng giáo viên
và học sinh tới cách dạy và cách học chủ động, sáng tạo nhằm hình thành và phát triển năng lực
Như vậy, có thể hiểu dạy học tích hợp là lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một hay nhiều môn khoa học Ví dụ khi dạy môn sinh học, người giáo viên có thể lồng ghép những kiến thức về địa lí, môi trường, giáo dục bảo vệ sức khỏe sinh sản Khi dạy môn Ngữ văn có thể lồng ghép những kiến thức về lí tưởng sống, lòng yêu nước hay những kiến thức của môn địa lí, lịch sử, giáo dục công dân Cũng có thể khi dạy phân môn nhỏ tiếng Việt người giáo viên có thể cùng các em tìm hiểu ngôn từ, tài năng, phong cách nghệ thuật của tác giả
Dạy học tích hợp cũng chính là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học Cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp, mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng yêu cầu người gặp phải giải quyết theo hướng tích hợp Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại
Trang 17không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau Rèn được khả năng tích hợp sẽ giúp học sinh học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau của cuộc sống hiện đại, giúp các em khi ra cuộc sống luôn chủ động
tự tin và hòa nhập với môi trường mới
1.1.2.2 Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn
Phương pháp dạy học tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc học Tiểu học và Trung học cơ sở Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp mới chỉ thực hiện ở mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức kĩ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng dạy Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng đổi mới chương trình và SGK bậc THPT Các môn học trong nhà trường đều lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp Đây là phương pháp có khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, họ phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình; người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề nghiệp để rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá học để hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức
Trang 18cho bản thân, phát triển năng lực làm việc nhóm
Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm, đây
là xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống Trong lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy học, vấn đề đang đặt ra cho bộ môn Ngữ văn
là làm thế nào để tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng phương pháp tích hợp vào dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực cho học sinh một cách hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông với những đặc trưng riêng rất thuận lợi trong việc dạy học tích hợp Bởi nội dung, kiến thức, mục tiêu ở các phân môn đều liên quan mật thiết với nhau và đều hướng tới đích chung là biết cảm thụ văn chương, biết hướng tới cái hay cái đẹp của ngôn từ, hiểu và biết sử dụng tiếng Việt đúng ý nghĩa nhất Văn bản của cả ba phân môn (Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) đều chứa đựng những mức độ khác nhau của tính khoa học, tính nghệ thuật, tính xã hội và tính sáng tạo của nó Đó cũng là cơ
sở chung để suy nghĩ về sự quy tụ những giao điểm của quá trình tích hợp Việc tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn được thể hiện trên các phương diện cụ thể như :
+ Tích hợp các nội dung dạy học của phần Văn học với nội dung dạy học của các phần Tiếng Việt và Làm văn; tích hợp tri thức lí luận văn học với các bài giảng, tích hợp với nội dung các phần trong bài đọc hiểu;
+ Tích hợp dạy kiến thức với thực hành luyện tập các kĩ năng quan sát, nghe, nói, đọc, viết và rèn luyện tư duy;
+ Tích hợp dạy các kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các kiến thức kĩ năng thuộc các ngành khoa học, nghệ thuật khác và thực tiễn đời sống;
+ Tích hợp việc dạy của giáo viên với việc học của học sinh
Khi tiến hành tích hợp người giáo viên đã góp phần giải quyết những vấn
đề của giáo dục như: Mâu thuẫn giữa lượng kiến thức, kĩ năng cần đưa vào nhà trường với quỹ thời gian có hạn, mâu thuẫn giữa việc tiếp nhận lí thuyết
và sử dụng trong thực tiễn, đặc biệt là mâu thuẫn giữa sự tiếp nối hệ thống
Trang 19kiến thức và sự trùng lặp kiến thức, người học thường gặp kiến thức quen quen, và như vậy chương trình đã bị lặp lại
Đích của việc dạy học tích hợp Ngữ văn còn nhằm hình thành, vận dụng bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá, cảm thụ văn học một cách chủ động, sáng tạo Giúp các em có thể sử dụng kiến thức mình ra thực tiễn cuộc sống, trong lao động và công tác
Tích hợp trong môn Ngữ văn cũng còn hướng tới đích tích hợp với nhiều môn học khác trong chương trình, giúp học sinh làm chủ kiến thức và biết vận dụng chúng trong đời thường
Tích hợp trong môn Ngữ Văn được hiểu là sự kết nối tri thức và kỹ năng giữa ba phần: Văn - Tiếng Việt - Làm văn và trong từng phân môn, trong từng vấn đề cụ thể Đó chính là cách tiếp cận tri thức từ việc sử dụng hiệu quả các tri thức công cụ
Tuy nhiên không phải lúc nào việc sử dụng phương pháp dạy học tích hợp đối với bộ môn Ngữ văn cũng mang lại hiệu quả cao Bởi nhiều giáo viên chưa thật sự chú ý đến dạy tích hợp, các bài giảng thiếu chiều sâu, chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa phát huy được thế mạnh của môn học Như khi dạy
tác phẩm Những đứa con trong gia đình của nhà văn - chiến sĩ Nguyễn Thi,
giáo viên chưa đẩy sâu được khuynh hướng sử thi, nỗi đau của cả dân tộc qua con mắt của tác giả Nguyễn Thi, đồng nghĩa với việc chưa làm nổi bật được đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn 1945- 1975 với khuynh hướng sử thi
và cảm hứng lãng mạn Ở bài dạy này, người giáo viên có thể tích hợp với
những bài khác trong chương trình: Rừng xà nu, Vợ chồng A Phủ, để thấy
được vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu Trong quá trình học, người dạy có thể cho học sinh thấy rõ nét đặc trưng trong phong cách sáng tác của tác giả đó là nghệ thuật khắc họa diễn biến tâm lí nhân vật, là lời ăn tiếng nói của người nông dân Nam Bộ Từ đó, học sinh có thể thấy được nghệ thuật đặc sắc khi khắc họa nhân vật và giúp cho việc tìm hiểu tác phẩm khác trong chương trình cũng như ngoài nhà trường được dễ dàng hơn, qua việc tích hợp
Trang 20học sinh cũng thấy được nét đặc sắc riêng của tác giả so với các nhà văn khác, thấy được điểm độc đáo của mỗi tác phẩm
1.1.2.3 Dạy học tích hợp tri thức lí luận văn học ở phần Tri thức đọc - hiểu
với quá trình dạy học Ngữ văn
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật mà còn xuất phát
từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều, khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh
sẽ gặp sau này
Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học, cách gọi phân môn văn
trong nhà trường phổ thông cũng có nhiều thay đổi Chúng ta đều biết ở nước
ta môn học này từ lâu có những tên gọi khác nhau Trước Cách mạng tháng
Tám và sau đó ở miền Nam người ta thường dùng chữ môn Quốc văn hay Việt văn Ở miền Bắc trước đây có khi gọi là môn Văn học, có khi gọi là Tiếng Việt và Văn học và gần đây nhất thì gọi là Ngữ văn Đây có thể
hiểu là cách rút gọn của Tiếng Việt và Văn học và có lẽ những người ủng hộ cách gọi này cho rằng ngoài tiện lợi của sự ngắn gọn, tên gọi này phản ánh được sự thống nhất của Ngữ và Văn mà mục tiêu dạy tích hợp đang đặt ra [40] Ngày nay ta nên hiểu phân môn văn trong nhà trường là phân môn Đọc văn, dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc - hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Dạy đọc là dạy cho học sinh một hoạt động phải làm việc với con
Trang 21chữ, với câu văn, với dấu phẩy, dấu chấm của văn bản để hiểu đúng, hiểu sâu văn bản đó Các cuốn SGK nâng cao có điểm đặc biệt hơn các cuốn SGK cơ
bản đó là sau phần lớn các bài đọc văn đều có phần tri thức đọc – hiểu
Vậy phần Tri thức đọc - hiểu là gì?
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, tri thức đọc - hiểu được hiểu là
thành quả do con người tạo ra, là toàn bộ thế giới vật chất và thế giới tinh thần của con người, mà thế giới đó lại bao la sâu thẳm…Việc cung cấp tri thức đọc
- hiểu cho học sinh là khâu quan trọng, từ việc xác định những tri thức ngoài tác phẩm như cuộc đời tác giả, phong cách sáng tác… cho đến những tri thức cần cung cấp trong tác phẩm như chủ đề, đề tài, hình tượng nhân vật, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật Như vậy, đây là những kiến thức cơ bản, xuyên suốt bài học và là mảng kiến thức lí luận đã được đúc rút
Trong quá trình lên lớp, việc khắc sâu cho học sinh những tri thức đọc - hiểu sẽ góp phần giúp các em chủ động chiếm lĩnh tác phẩm và hơn thế các
em có thể đi từ trang sách ra cuộc đời Trong phần tri thức đọc - hiểu ở SGK, người giáo viên cần biết cách sử dụng tri thức lí luận văn học để tạo được những hiệu quả cao Bởi tri thức lí luận văn học là một chuyên ngành nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống, quan hệ giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, vị trí của văn học, đi sâu khám phá cấu trúc nội tại của tác phẩm, lí luận văn học là những chiếc chìa khóa giúp cả học sinh và giáo viên chiếm lĩnh những đơn vị kiến thức một cách khoa học và đạt hiệu quả cao nhất Nhà văn sáng tác tác phẩm theo loại thể thì người học cũng cảm thụ theo loại thể và người dạy tác phẩm cũng tìm hiểu tác phẩm theo loại thể Dạy học lí luận vốn khô khan, hơn thế trong chương trình phân môn lí luận văn học không nhiều, các nhà biên soạn sách nâng cao đã giúp giáo viên có được những hạt giống tốt để gieo trồng và thu hoạch những vụ mùa bội thu Chính vì thế biết cách tích hợp lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu là cách giúp người học tự nghiên cứu và trang bị cho mình cẩm nang quý để chủ động, tự tin bước vào cuộc sống
Trang 22Cũng cần nhận thức được học sinh THPT ở nước ta chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 16- 18 tuổi, đó là lứa tuổi các em đã có được vốn sống, sự trải nghiệm tuy chưa nhiều, song đã biết tổng hợp kiến thức, kĩ năng, có thể điều khiển được hoạt động của mình Tuy nhiên, các em vẫn cần có được sự định hướng của giáo viên để con đường đi được đúng hướng và về đích nhanh nhất
Tích hợp kiến thức lí luận văn học ở phần tri thức đọc - hiểu trong quá trình dạy học tác phẩm là quá trình lâu dài và nên thực hiện đồng bộ ở các khối lớp, ở học sinh học chương trình nâng cao; từ đó có thể áp dụng với học sinh THPT nói chung Các khái niệm lí luận văn học chỉ có thể được học sinh nắm vững và vận dụng một cách có ý thức thông qua con đường đọc - hiểu văn bản văn học Như vậy, việc học lí luận văn học mới không khô cứng, đồng thời giúp các em hướng tới giá trị đích thực của văn học một cách hiệu quả nhất Ở đây chúng tôi đề xuất một số phương pháp để tích hợp một cách hiệu quả nhằm khai thác tác phẩm văn xuôi 12 trong chương trình Ngữ văn 12 Nâng cao trên nền tảng của các tri thức lí luận văn học
1.2 Tri thức lí luận
1.2.1 Tri thức lí luận văn học
Định nghĩa về Lí luận văn học, Từ điển Bách khoa tập II có viết: "Lí luận
văn học là hệ thống những quan điểm và lập luận chỉ ra cội nguồn, bản chất, chức năng và sự phát triển của văn học trong đời sống xã hội, nói một cách cụ thể, lí luận văn học nghiên cứu quan điểm, nguyên lý và nguyên tắc sáng tạo, phương pháp biểu hiện, miêu tả, đánh giá, cảm thụ tác phẩm văn học và các
sự kiện, trào lưu văn học, nhằm phát hiện những vấn đề có tính quy luật trong quá trình phát triển của từng nền văn học dân tộc và cả nền văn học thế giới"
Theo Bách khoa toàn thư: Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn
học ở bình diện lý thuyết khái quát, bao gồm trong đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội - thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học
Trang 23"Lí luận văn học là một chuyên ngành nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống, quan hệ giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, vị trí của văn học
Cùng với đó lí luận văn học đi sâu giải phẫu, khám phá cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học với các yếu tố không gian, thời gian, nhân vật, người kể chuyện, cốt truyện, kết cấu ; đặc trưng các thể loại như thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn
Lí luận văn học còn tìm hiểu quá trình vận động hay còn gọi là tiến trình văn học và đặc trưng thi pháp nghệ thuật của các xu hướng, các trường phái, trào lưu văn học qua các thời kì lịch sử xã hội
Nhìn chung, kiến thức lí luận văn học mang tính chất tổng kết, khám phá những vấn đề cốt lõi, bản chất của văn học" [28, tr 3] Như vậy, lí luận văn
học có nhiệm vụ tổng kết ở lý thuyết những quan điểm, kiến thức và phương pháp chung nhất từ sáng tác, phê bình đến việc nghiên cứu văn học sử và trở lại chỉ đạo cho các ngành nghiên cứu văn học sử
Việc giảng dạy văn học trong nhà trường hiện nay đang đòi hỏi một sự đổi mới về phương pháp, về chương trình, về sách giáo khoa và một sự bổ túc kiến thức lí luận văn học cho giáo viên để khắc phục được những khuynh hướng không đúng, còn khá phổ biến trong nhà trường, mà nguyên nhân quan trọng, chính là trình độ non yếu về lí luận văn học của người giảng dạy
Những tri thức lí luận văn học cung cấp cho học sinh "chìa khoá" để đọc
- hiểu tác phẩm Đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy - học văn Mục đích đào tạo của quá trình dạy học văn là hình thành và phát triển văn hoá đọc cho học sinh Nói cách khác là đào tạo bạn đọc học sinh thực sự trở thành những bạn đọc năng động và sáng tạo Với học sinh THPT, dẫu rằng giữa cảm tính và lý thuyết thì cái quan trọng trước nhất vẫn là cảm tính Điều đó có nghĩa, trong giảng dạy văn chương trước hết phải làm sao tạo nên ở các em những rung động thẩm mỹ để các em biết yêu, ghét, biết chia sẻ, đồng cảm trước những trang văn để nhận thức rõ hơn về
Trang 24cuộc đời Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ Bởi lẽ những cảm xúc ấy sẽ trở nên nông cạn, hời hợt, chợt loé sáng rồi chợt tắt nếu các em không cảm nhận một cách có ý thức Tác phẩm văn chương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, bức thông điệp thẩm mỹ, đứa con đẻ tinh thần của nhà văn đã đi trọn vòng đời của mình khi đến với độc giả Khi sáng tác, nhà văn luôn mong muốn sẽ tìm được tiếng nói tri âm ở người đọc Không thể phủ nhận rằng, kiến thức lí luận đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp độc giả đọc, cảm thụ, đánh giá và phê bình một tác phẩm văn chương cụ thể Với học sinh THPT, yêu cầu được đặt ra cho việc cung cấp kiến thức lí luận văn học không phải là để bồi dưỡng tư duy lí luận mà là để tiếp nhận văn học một cách có lí luận, tiếp nhận văn học một cách văn học có nghĩa là sử dụng lí luận văn học như một công cụ Như vậy, có thể thấy những kiến thức
lí luận là những kiến thức cơ bản, giúp cho học sinh tìm hiểu, phân tích những tác phẩm văn chương cụ thể Có thể xem đây là kiến thức nhập môn có tính chất mở đường, hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm một cách hiệu quả, từ
đó, học sinh mới khám phá được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm cũng như tài năng của nhà văn Việc giúp học sinh vận dụng tri thức lí luận sẽ tạo cho các
em tiếp cận giải mã tác phẩm một cách khoa học
1.2.2 Vị trí, vai trò của tri thức lí luận văn học
1.2.2.1 Tri thức lí luận văn học với nghiên cứu văn học
Khoa nghiên cứu văn học là ngành khoa học nghiên cứu về quan điểm, nội dung, nghệ thuật, phương pháp, tư liệu trong việc mô tả, giải thích, đánh giá những sự kiện văn học từ bản chất đến quá trình, quy luật của từng nền văn học dân tộc và cả nền văn học thế giới
Theo cách nhìn truyền thống thì ba bộ môn chính của khoa nghiên cứu văn học như sau: Lịch sử văn học, Lí luận văn học và Phê bình văn học Lịch
sử văn học cũng như Phê bình văn học đều lấy những hiện tượng văn học cụ thể, xác định làm đối tượng; còn Lí luận văn học, ngược lại, lấy phương diện cấu trúc, những đặc điểm rất chung của văn học, hoặc những đặc điểm của
Trang 25hiện tượng văn học phát triển đến mức điển hình làm đối tượng chủ yếu Nếu trong lịch sử văn học và phê bình văn học, những hiện tượng văn học cụ thể là những cái đích cần khám phá; thì trong lí luận văn học, chúng lại là những phương tiện nhằm dẫn đến những khái quát trừu tượng
Văn học với chỉnh thể là một tác phẩm, tự bản thân nó, cũng là một cấu trúc nội tại, mà sự xuyên thấu qua lại giữa nội dung và hình thức là một mối liên hệ biện chứng cơ bản Ở đây, ta bắt gặp những yếu tố về nội dung sẽ được chuyển hóa ra hình thức như: đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đề, tính cách, cốt truyện và những yếu tố về hình thức sẽ được chuyển hóa vào nội dung như: kết cấu, biện pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, loại thể
Tri thức lí luận văn học là tri thức công cụ, tri thức phương pháp, là kiến thức siêu kiến thức, giúp cho việc đọc văn có phương pháp, phù hợp với bản chất đặc trưng của văn học, đồng thời giúp phân tích, lí giải tác phẩm văn chương một cách đầy đủ và sâu sắc Nếu không, những kiến thức mà học sinh
có được cũng chỉ là những kiến thức vụn vặt, cảm tính, mang tính tư liệu Mục đích cuối cùng và cao nhất của dạy học trong nhà trường hiện đại là phát triển toàn diện học sinh Mục đích của dạy đọc hiểu văn bản là rèn luyện và phát triển khả năng tự học, tự đọc và tạo lập văn bản ở các em Tri thức lí luận văn học góp phần nâng cao trình độ trong việc tiếp nhận văn học, củng cố và mở rộng vốn văn hóa đọc cũng như phát triển năng lực, kĩ năng đọc văn cho học sinh Như vậy, lí luận văn học trong nhà trường phổ thông giữ một vị trí quan trọng, then chốt
1.2.2.2 Tri thức lí luận văn học trong việc đào tạo giáo viên giảng dạy bộ môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông
Trong chương trình khoa tiếng Việt và văn học ở các trường Đại học Sư phạm, bộ môn Lí luận văn học được xem như bộ môn mang hai chức năng: vừa là bộ môn khoa học cơ bản, vừa là bộ môn khoa học cơ sở Với tư cách là
bộ môn khoa học cơ bản, lí luận văn học trang bị cho sinh viên những tri thức khoa học về văn học để thực hiện mục tiêu đào tạo họ thành giáo viên giảng
Trang 26dạy; với tư cách là bộ môn giảng dạy khoa học cơ sở, lí luận văn học có nhiệm
vụ giúp sinh viên biết sử dụng những kiến thức cơ bản về lí luận văn học đã được học
Muốn trở thành người học tốt môn văn ở trường đại học và là người giáo viên giảng dạy tốt sau khi ra trường, người sinh viên phải học tốt môn lí luận văn học, điều này đã trở thành một nguyên lý Hiểu vai trò của bộ môn nhưng
để trở thành một sinh viên giỏi, chúng ta gặp không ít khó khăn, trở ngại Đó
là làm sao chiếm lĩnh được đầy đủ, sâu sắc hệ thống kiến thức và biết cách vận dụng chúng trong những bài học cụ thể, những tình huống thực tiễn? Như vậy, bản thân người học đã có được những kiến thức cơ bản về quan điểm, kiến thức và phương pháp Họ sẽ trở thành người làm chủ được tri thức lí luận văn học và biết sử dụng chúng hiệu quả trên bục giảng
Hơn thế nữa, với vai trò là "chiếc chìa khóa" lí luận văn học không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức mà còn giúp người giáo viên có được khả năng tự nghiên cứu, rèn luyện và chiếm lĩnh tác phẩm văn học trong tương lai, không còn thụ động mà chủ động khai phá những mạch ngầm của văn bản Đó cũng sẽ là những con người biết chuyển giao chiếc chìa khóa hữu hiệu ấy cho những thế hệ sau, giúp các em thông minh, chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức và nghiên cứu khoa học
Với tư cách là một môn học cơ bản, Lí luận văn học có một tác động rất quan trọng đối với mô hình dạy học văn ở nhà trường phổ thông qua nhân tố trung gian là nhận thức của người thầy Chương trình Lí luận văn học trong các trường đại học Sư phạm cần được dạy như là những chiến lược đọc đa dạng, linh hoạt Trong bài viết "Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học", Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng, bước đột phá quan trọng trong dạy học văn ở nhà trường hiện nay là chuyển từ mô hình giảng văn, phân tích văn sang đọc văn Giảng văn chú trọng đến vai trò của người thầy, phân tích văn học nhấn mạnh vai trò của văn bản, đọc văn nhằm trang bị cho người học những kĩ năng đọc hiểu (reading skill) Các kĩ năng
Trang 27đọc được hình thành dựa trên việc người đọc được trang bị và nắm vững các chiến lược đọc hiểu (reading strategy) Như vậy, việc trang bị các chiến lược đọc được coi là khâu then chốt trong mô hình dạy đọc văn [38, tr 112]
1.2.2.3 Tích hợp tri thức lí luận văn học trong việc dạy học văn ở trường
Người giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản để không choáng ngợp
và sa lầy trong giảng dạy Trong các giờ đọc văn, nếu có sự bổ sung, minh họa bằng các kiến thức lí luận, học sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với những khái niệm vốn nằm im lặng trong những mệnh đề: đề tài, chủ đề, hình tượng nghệ thuật, thời gian, không gian nghệ thuật…
Trang 28Việc giảng dạy lí luận văn học không thể chỉ quy vào một số kiến thức lí luận có tích chất lí thuyết thuần túy Cách giảng dạy đó đã vô tình cướp mất nội dung cụ thể, sinh động của các khái niệm và học sinh sẽ khó mà tiếp thu được Gắn liền việc học tập khái niệm lí luận văn học với việc nghiên cứu các sáng tác và sự kiện văn học là một nguyên tắc quan trọng Bên cạnh đó trong quá trình giảng dạy, người giáo viên cần biết tích hợp các đơn vị kiến thức, sâu chuỗi để nội dung bài học đến gần hơn với chủ thể tiếp nhận Thực hiện tích hợp linh hoạt tri thức lí luận văn học trong dạy học văn là một xu hướng của đổi mới dạy học Không chỉ riêng ở môn Ngữ văn, mà ở tất cả các môn học khác, việc tích hợp phù hợp, khoa học sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn trong dạy và học Vấn đề này không cần phải tranh cãi Xét ở phân môn Văn, với sự góp mặt của các bộ phận như: Đọc hiểu văn bản, Văn học sử, Lí luận văn học, người giáo viên cần biết giải quyết mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận bằng cách tích hợp Lấy văn bản văn học làm trung tâm, điều quan trọng giáo viên phải làm được là định hướng cho học sinh những con đường có thể tiếp cận với văn bản Nói như vậy cũng có nghĩa dạy Lí luận văn học không thể tách rời phần đọc - hiểu văn bản và ngược lại Thực hiện tích hợp giữa Lí luận văn học và đọc - hiểu tác phẩm một mặt làm cho bài viết của học sinh trở nên sắc sảo hơn, hấp dẫn hơn; mặt khác cũng tránh cho học sinh rơi vào trường hợp bị giáo viên nhận xét là bài viết sơ sài, thiếu sự thuyết phục, sự khái quát chưa cao Hơn thế nữa trong chương trình Ngữ văn nâng cao ở cuối các bài học,
sách giáo khoa có mảng tri thức lí luận văn học ở phần Tri thức đọc - hiểu,
nếu người giáo viên biết cách tích hợp kiến thức lí luận ở nội dung này của SGK với các tác phẩm có nghĩa là đã giúp các em biết cách khai mở kho tàng tri thức thành công Đây cũng là một cách làm rất khoa học, bởi quan niệm hãy cho các em chiếc cần câu chứ không phải con cá là một quan niệm đúng đắn, hợp lí
Để việc tích hợp không mang tính chất khiên cưỡng, áp đặt, bản thân giáo viên phải có ý thức tích hợp, đồng thời phải nắm bắt đúng thời điểm,
Trang 29chọn nội dung thích hợp, cách làm như thế nào? chứ không phải tích hợp một cách tùy tiện, cơ học
Giáo viên có thể lựa chọn cách tích hợp ngang, dọc, tích hợp xuôi chiều, ngược chiều hoặc kết hợp cả hai cách trong suốt quá trình giảng dạy Tích hợp
có thể tiến hành liên tục, xuyên suốt không phải chỉ trong một thời gian, một giai đoạn nhất định Hơn thế nữa có thể tích hợp đa chiều, với nhiều môn học; tích hợp ra ngoài cuộc sống Tuy nhiên, khi quyết định cách làm nào, giáo viên cũng cần chú ý đến chủ đề chung giữa đối tượng tác phẩm, kiến thức đọc
- hiểu và vấn đề lí luận văn học Không thể tích hợp nếu hai đối tượng này không có điểm đồng quy hay tiếp xúc với nhau
Có một thực tế là không phải ở bất cứ bài học nào về tác phẩm cũng lồng
lí luận vào mà chỉ chọn những ý trọng tâm Nếu tích hợp không đúng lúc, đúng ý sẽ làm bài dạy trở nên nặng nề, thậm chí mang tính lối mòn Thế nhưng, điều đó cũng không có nghĩa là thỉnh thoảng mới tích hợp cho có, cho phù hợp với sự đổi mới trong phương pháp dạy học; không ít giáo viên chỉ khi
có người dự mới chú ý đến tích hợp chính vì vậy học sinh có cảm giác khiên cưỡng, không quen nên gượng ép, phô, chênh; không làm chủ kiến thức; không tạo thành một cách học khoa học Ngược lại, giáo viên phải tiến hành thường xuyên việc tích hợp này Có như vậy, học sinh mới có thói quen cảm nhận văn học không chỉ bằng cảm tính mà còn là nhận thức lí tính Những nỗ lực của giáo viên trong qúa trình dạy phải tỉ lệ thuận với sự cố gắng của người học trong quá trình học Có vậy, mới có thể nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là trong giảng dạy môn ngữ văn Việc nắm được nguyên tắc trong giảng dạy sẽ phần nào giúp giáo viên vượt qua các khó khăn, rào cản trong chuyên môn và tâm lí
Chương trình Ngữ văn 12 bộ nâng cao có điểm ưu việt hơn bộ cơ bản,
trong đó chúng tôi đặc biệt chú ý tới mảng Tri thức đọc - hiểu ở cuối mỗi bài
đọc văn Đây là mảng tri thức được người biên soạn sách tổng hợp dưới dạng các tri thức về lí luận Nắm bắt được lợi thế của chương trình, chúng tôi đã
Trang 30tiến hành tích hợp kiến thức lí luận văn học ở phần này với quá trình dạy học các tác phẩm văn xuôi cụ thể trong chương trình và để giúp học sinh chủ động, dễ nắm bắt kiến thức trong các giờ học, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị kĩ bài ở nhà trước khi lên lớp, các em có thể xâu chuỗi các kiến thức đã có, giúp giờ học thu được hiệu quả cao hơn
1.2.2.4 Tri thức lí luận văn học trong quá trình hình thành năng lực cho học sinh
Công việc giảng dạy và học tập môn văn học là một hoạt động nhận thức mang tính khoa học Ở đây thường có sự nhầm lẫn trong việc hiểu biết về tính
tự phát và tính tự giác của việc trang bị cho học sinh những kiến thức văn học Chính vì vậy, chưa có một chương trình thật hiệu quả để trang bị những kiến thức cơ bản cho học sinh Lí luận văn học là một bộ môn của khoa nghiên cứu văn học, có nhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ, quy luật phát triển của sáng tác văn học, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học Phân môn Lí luận văn học sẽ góp phần trang
bị cho các em, giúp bồi dưỡng năng lực văn cho học sinh trong chương trình phổ thông Khi kiểm tra bài, người giáo viên nhận thấy nếu học sinh nào nắm tốt phần kiến thức lí luận, thì học sinh đó sẽ có cách triển khai vấn đề trội hơn,
ưu việt hơn so với những học sinh khác
Thông thường người giáo viên chỉ lo giảng dạy cho đủ những đơn vị kiến thức, ít chú ý đến kiến thức lí luận văn học Đây là một thiếu sót lớn Tri thức đọc - hiểu thể hiện rõ ý đồ của nhà soạn sách (sách giáo khoa Ngữ văn bộ nâng cao) tạo cơ sở cho việc đọc hiểu văn bản Như vậy giáo viên tập cho học sinh có khả năng tư duy trên khái niệm - thuật ngữ khoa học, thuật ngữ văn học Tức là hiểu nội hàm một cách đầy đủ và sử dụng nó trong việc lí giải các vấn đề văn học
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài nói chuyện với giáo viên dạy văn cấp III năm 1973, cũng đã bày tỏ quan điểm về nhiệm vụ của bộ môn văn trong nhà trường là trang bị năng lực văn cho học sinh Năng lực văn được
Trang 31hiểu một cách khái quát gồm ba mặt năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực tư duy và năng lực diễn đạt; ba năng lực ấy gắn chặt, bổ sung cho nhau làm thành một trình độ tổng hợp cho con người Cái hay, cái đẹp của văn, sức mạnh tổng hợp của văn chỉ được tiếp nhận khi con người có năng lực văn ở một trình độ nhất định Về thực chất, năng lực văn chính là năng lực người, bởi lẽ nó toàn diện và cần thiết đối với việc hình thành trình độ tối thiểu của một con người
có ích cho xã hội, làm giàu cho bản thân và làm đẹp cho cuộc đời, mang lại vẻ đẹp chung cho mọi người[30, tr 271]
+ Năng lực cảm thụ thẩm mỹ là năng lực cảm thụ cái đẹp Không phải chỉ khi
học văn học sinh mới biết cảm thụ cái đẹp, các em đã biết cảm thụ cái đẹp ngay từ khi còn nhỏ, khi xem một bộ phim, khi ngắm một bức tranh, khi nghe một bài thơ, ngẫm một câu chuyện các em đã có những cảm nhận rất riêng
của mình Những câu thơ trong bài Tiếng hát con tàu của tác giả Chế Lan
Viên đã mang lại những suy ngẫm cho mỗi người, đó là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là tình yêu là những khao khát bỏng cháy được trở về gặp lại những gì thân thuộc nhất, đó cũng là những khao khát góp công sức của mình cho
kháng chiến, cho cách mạng, cho đất nước
Song tùy sự cảm nhận và trình độ, mỗi người có thể cảm và hiểu tác phẩm ở các góc độ khác nhau Đó là nhận thức và rung cảm ở văn học một cách tự phát Khi tới trường các em sẽ được uốn nắn, sửa chữa, định hướng, bồi dưỡng, nâng cao hơn nữa khả năng đã có của mình, và như vậy từ tự phát
đã chuyển sang tự giác, một cách khoa học, không còn cảm tính Đó là nhiệm
vụ đầu tiên, chẳng những góp phần phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ mà còn tạo cơ sở để bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực sống cho học sinh
+ Việc dạy tri thức lí luận văn học ở trường phổ thông còn có khả năng bồi
dưỡng năng lực tư duy cho học sinh Năng lực tư duy là năng lực phát hiện
vấn đề, đặt vấn đề trước một đối tượng, một hiện tượng của cuộc sống hiện thực, trong nhà trường, đó là những hiện tượng khoa học, văn học Năng lực
tư duy sẽ trở thành phương tiện để giúp các em học tốt môn văn, và quan
Trang 32trọng hơn sẽ trở thành hạt nhân trong sự phát triển tính cách của các em, đặc biệt là xây dựng ý thức làm chủ trong học tập và sinh hoạt; xây dựng khả năng tìm tòi, phát hiện; có lí lẽ để bảo vệ ý kiến đúng đắn của mình
Khi đọc tác phẩm Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, các em không
chỉ biết rung cảm trước những vấn đề tác giả đưa ra mà các em còn biết nhìn nhận cái đúng, cái sai, biết định hướng hành động, biết chia sẻ và sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi cần Như vậy từ tác phẩm cụ thể học sinh đã biết khái quát
để đi đến những tầng sâu hơn của kiến thức Đó chính là những lợi ích không nhỏ từ tri thức lí luận, từ việc học văn Tùy từng trình độ và khả năng tư duy của học sinh mà đưa những nội dung khác nhau: Từ cụ thể đến trừu tượng, từ phân tích các bài văn, bài thơ, tác phẩm, tác giả, sự kiện văn học, vấn đề văn học đến tìm hiểu khái quát những thông điệp tiềm ẩn Nếu biết kết nối kiến thức học sinh có thể đặt tác phẩm vào bối cảnh ra đời của nó để thấy được những khao khát, hành động của một thế hệ trong thời đại lịch sử cụ thể, trước những biến động của xã hội
+ Nếu hiểu, cảm mà không nói nên lời thì sự cảm nhận ấy cũng chưa đến đích, công việc của người dạy văn qua hệ thống tri thức lí luận còn giúp học sinh có
năng lực diễn đạt Đây cũng là một trọng trách của việc dạy văn trong thời
điểm hiện nay Học sinh có thể cảm, hiểu vấn đề song để diễn đạt cho mạch lạc, lôgic, cho thoát ý thì lại không dễ Năng lực diễn đạt về thực chất, là một loại năng lực tổng hợp, nó bao gồm cùng một lúc toàn bộ năng lực văn của học sinh Chúng ta cần giúp các em bộc lộ suy nghĩ, tính cách của bản thân qua các giờ văn để từ đó ta có được những định hướng đúng đắn
Tri thức lí luận văn học sẽ giúp các giáo viên dạy văn ở trường phổ thông trong việc trang bị cho các em học sinh những phương tiện và công cụ quan trọng để hình thành năng lực văn, đó là những khái niệm và kiến thức cơ bản của bộ môn Những năng lực văn bổ sung cho nhau và cùng hướng tới cái đích chung là phát triển năng lực người học
Trang 33Rèn năng lực cho học sinh theo chúng tôi là một mục tiêu quan trọng của
bộ môn Ngữ văn bậc trung học phổ thông Để đến được mục tiêu đó, mỗi chúng ta có thể lựa chọn cho mình nhiều con đường và nhiều cách đi khác nhau Điều quan trọng là giáo viên phải có kế hoạch và kiên trì từng bước thực hiện Cần đánh giá năng lực của các em qua từng bài viết, qua từng biểu hiện, qua mỗi cơ hội, qua từng năm học để thấy được sự trưởng thành của các em
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận để triển khai đề tài, chúng tôi nhận thấy việc dạy học tích hợp lí luận văn học trong quá trình dạy học Ngữ văn là có nhiều ưu điểm, đặc biệt đối với sách giáo khoa trong chương trình nâng cao lại
có mảng kiến thức lí luận văn học ở phần Tri thức đọc - hiểu Đây là hướng
dạy học phù hợp với yêu cầu đào tạo của nhà trường hiện đại, của ngành giáo dục và đào tạo trong thời điểm hiện nay cũng như tương lai, đó là công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, đưa đất nước hội nhập với khu vực và quốc tế Nhưng với phương pháp dạy học này giáo viên và học sinh phải làm việc thực
sự, phải biết tích hợp tri thức lí luận văn trong giờ học, nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ khoa học không còn cảm tính thông thường
Đây là phương pháp giúp học sinh dễ dàng nắm bắt tri thức một cách khoa học, bài bản, có hệ thống với lượng kiến thức trong các văn bản Dùng kiến thức lí luận liên hệ chặt chẽ với thực tiễn phân tích tác phẩm nhằm tích cực hóa việc cảm thụ tác phẩm văn chương, thức dậy ở các em những cảm xúc mới, rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ; đồng thời giúp người học biết vận dụng ra thực tiễn cuộc sống Nhận thức được rõ điều này chúng tôi tiến hành
đi vào nghiên cứu thực trạng của việc dạy học và đề xuất một số phương pháp tích hợp cụ thể sau
Trang 35
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP
LÍ LUẬN VĂN HỌC Ở PHẦN TRI THỨC ĐỌC – HIỂU TRONG CTNV12 – NC
2.1 Thực trạng của việc dạy học
2.1.1 Mục tiêu của chương trình Ngữ văn ở trường THPT hiện nay
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã được UNESCO xác định là: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" Đó là 4 trụ cột của Giáo dục thế kỷ XXI mà bất kì chương trình đào tạo nguồn nhân lực nào cũng hướng đến Trong đó nhân tố giao tiếp, hợp tác quản lý làm việc và khả năng học tập suốt đời là các mục tiêu nhân văn cơ bản bên cạnh những mục tiêu giáo dục truyền thống Ở nước ta, mục tiêu giáo dục phổ thông đã được xác định rõ trong Luật Giáo dục (2005) Điều 27 Luật Giáo dục đã chỉ
rõ "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Điều 28, Luật yêu cầu về nội dung, phương pháp
giáo dục phổ thông: Phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông, ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh Trong đó nhấn mạnh đến phương pháp giáo dục phổ thông là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, đồng thời rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhằm tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
Trang 36Để đạt được những mục tiêu chung đó, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản và toàn diện về văn học Hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, khả năng tiếp nhận văn học, phương pháp học tập tư duy, năng lực đọc - hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản Hướng các em từ việc học văn tới gần hơn với cuộc sống, văn không chỉ là văn, văn là người để từ đó bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa nhân loại Điều quan trọng của việc dạy học văn là đánh thức ở học sinh khả năng cảm thụ cái đẹp của tác phẩm văn học, qua đó giúp các em hiểu những điều mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm, nhận thức được những thông điệp và từ đó có những hành động thiết thực hơn Giúp học sinh rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống một cách phù hợp Học sinh không chỉ được trang
bị những tri thức về văn học Việt Nam mà còn được cung cấp những tri thức văn hóa, văn học, về lý luận độc đáo mang đậm chất nhân văn trong văn chương nhân loại Thông qua đó rèn luyện tư duy, kỹ năng sống, giúp các em hiểu hơn về văn học Việt Nam trong cách nhìn đối sánh với nền văn hóa, văn học của các dân tộc trên thế giới
Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông với những đặc trưng riêng rất thuận lợi trong việc dạy học tích hợp Bởi nội dung, kiến thức, mục tiêu ở các phân môn đều liên quan mật thiết với nhau và đều hướng tới đích chung là biết cảm thụ văn chương, biết hướng tới cái hay cái đẹp của ngôn từ, hiểu và biết sử dụng tiếng Việt đúng ý nghĩa nhất Văn bản của cả ba phân môn (Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn) đều chứa đựng những mức độ khác nhau của tính khoa học, tính nghệ thuật, tính xã hội và tính sáng tạo của nó Trong phân môn Đọc văn, kiến thức lí luận văn học từ trước đến nay chuyển đến học sinh chủ yếu vẫn là tiến hành theo phương pháp truyền thống: thầy truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức; đây là phương pháp ít tích cực và
Trang 37chưa thật sáng tạo Các phương pháp dạy học tích cực ít được sử dụng hoặc chủ yếu chỉ sử dụng trong các giờ thao giảng Điều đó dẫn tới tình trạng dạy học theo lối áp đặt, giờ học khô khan, và học sinh không mấy hứng thú với môn học, khả năng vận dụng kém Vì thế, việc nghiên cứu cách sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại vào dạy học lí luận văn học nhằm phát huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh, tạo cho các em có cơ hội để tìm tòi độc lập nhận thức là hết sức cần thiết
Giáo dục nói chung và dạy học Ngữ văn trong nhà trường nói riêng đang phải hướng tới những mục tiêu mới để thích ứng với bối cảnh xã hội của thời đại bùng nổ thông tin, toàn cầu hóa, đa văn hóa Mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục giờ đây là phát triển các kĩ năng cho người học, đặc biệt là kĩ năng tư duy sáng tạo, phê phán, cách giải quyết vấn đề một cách linh hoạt Trong công cuộc đổi mới đó, bộ môn Lí luận văn học trong các trường Đại học Sư phạm
có một vai trò quan trọng, giúp mở rộng khung tri thức, từ đó phát triển các kĩ năng tiếp cận thông tin một cách có hệ thống, cách giải quyết vấn đề một cách
đa dạng Để làm vậy, Lí luận văn học cần phải được trình bày như một cuộc đối thoại giữa nhiều tư tưởng và cách tiếp cận văn học khác nhau thay vì một phán quyết duy nhất đúng Lí luận văn học cần được trình bày như là sự đa dạng của nhiều chiến lược mà người học có thể sử dụng để tạo nghĩa văn bản, qua đó phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phê phán Như vậy, lí luận văn học không chỉ là một công cụ nhận thức mà còn có thể trở thành một công cụ giáo dục giúp người học đạt được những mục tiêu mới của giáo dục thế kỉ XXI và còn xa hơn nữa
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn
Hiện nay, chúng ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế hội nhập toàn cầu Trước sự cạnh tranh về trí tuệ đòi hỏi nền giáo dục phải thay đổi, trong đó sự đổi mới căn bản là đổi mới về phương pháp dạy và học nhằm tạo ra những con người năng động sáng tạo, có tư duy
Trang 38khoa học, có năng lực giải quyết vấn đề để đáp ứng được những nhu cầu của
xã hội
Với sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, lượng tri thức ngày càng tăng nhanh, trung bình cứ 4 - 5 năm, lượng tri thức lại tăng gấp đôi Nhà trường không thể dạy học sinh tất cả mọi tri thức mà phải dạy cho các em cách học như thế nào để người học có thể tự học tập để chiếm lĩnh tri thức suốt đời, học sinh không chỉ tiếp nhận tri thức trong quá trình học mà còn vững tâm bước ra cuộc sống Vì vậy, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan Đứng trước yêu cầu cấp thiết đó người giáo viên nói chung và người giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói riêng cần khắc phục những khó khăn và thuận lợi riêng trong quá trình dạy học
Môn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội góp phần giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Ngữ văn còn là môn học công cụ góp phần hình thành những con người có tri thức, có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, giáo dục những tình cảm cao đẹp với gia đình, bạn bè, với Tổ quốc, đất nước
Trong đó dạy học đọc - hiểu là quá trình dạy học dùng những biện pháp, thủ thuật, thao tác được sử dụng một cách có kế hoạch, có mục đích giúp người đọc giải mã văn bản một cách chủ động, hiệu quả hướng tới những tình cảm tốt đẹp Với mỗi thể loại văn học, mỗi mục đích, mỗi lĩnh vực chuyên môn khác nhau lại cần có một chiến lược đọc khác nhau Việc nắm vững các chiến lược đọc khiến cho giáo viên trở thành những người đọc tích cực, nhờ thế, họ dễ dàng chiếm lĩnh các thông tin và ý nghĩa của tác phẩm Mỗi chiến lược đọc khác nhau sẽ giúp chúng ta tiếp cận một phương diện nào đó của văn học Bởi chiến lược đọc có một vai trò quan trọng trong kĩ năng đọc của học sinh, nên trong các công trình nghiên cứu về dạy học văn cũng như các sách giáo khoa trong các nhà trường phổ thông, đây được coi là một yếu tố then chốt, được nghiên cứu hết sức tỉ mỉ Người giáo viên dạy văn cần xác định được vai trò của bộ môn Lí luận văn học như là một cầu nối, bước trung gian chuyển hóa những kiến thức về các trường phái lí thuyết văn học trên thế giới
Trang 39thành những chiến lược đọc cụ thể được sử dụng trong nhà trường phổ thông thích ứng với sự thay đổi chung của xã hội
Trong quá trình áp dụng dạy học tích hợp lí luận văn học ở phần Tri thức đọc - hiểu với quá trình dạy học tác phẩm văn xuôi cụ thể trong CTNV12 -
NC người giáo viên gặp những thuận lợi và khó khăn như sau:
* Về thuận lợi:
Thứ nhất, giáo viên đã được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng phương
pháp dạy học, có được nhận thức và xác định tính cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học Chương trình được xây dựng thành một chỉnh thể nên việc vận dụng phương pháp tích hợp sẽ thuận lợi hơn, hiệu quả cao hơn Sách giáo khoa cũng có những đổi mới để kịp thời đáp ứng Bên cạnh những hướng cải tiến chung như giảm tải, tăng tính thực hành, gắn với đời sống, thì nét nổi bật nhất của chương trình và sách giáo khoa là hướng tích hợp Biểu hiện rõ nhất là việc sát nhập ba phân môn: Đọc văn - Tiếng Việt - Làm văn thành một chỉnh thể dạy học là bộ môn Ngữ văn
Thứ hai, sau khi được trang bị kiến thức về phương pháp dạy học tích
hợp, phần lớn giáo viên đã áp dụng phương pháp dạy học tích hợp vào quá trình soạn bài và lên lớp Bản thân giáo viên thấy rõ được vai trò của mảng lí luận văn học nên định hướng và khai thác tốt kiến thức này trong SGK nâng cao ở cả phần kiến thức lí luận văn học nói chung và ở cả phần kiến thức đọc - hiểu của các tác phẩm văn xuôi 12 cụ thể
Thứ ba, ngoài những phương tiện dạy học truyền thống, giáo viên đã tích
cực sử dụng các phương tiện dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng (máy vi tính, projecto, bảng, tài liệu học tập)
Thứ tư, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường ngày càng hiện
đại, đáp ứng yêu cầu giảng dạy cho giáo viên, giúp người học thích thú, say
mê, các em có sân chơi trí tuệ để thể hiện khả năng của mình
Có thể nói, những thuận lợi trên đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh trong nhà
Trang 40trường Song trước những thuận lợi đó, bản thân mỗi giáo viên cũng gặp không ít những khó khăn
* Về hạn chế:
Thứ nhất, do thói quen thụ động trong quá trình dạy và học cả giáo viên
và học sinh đều chậm đổi mới Đã từ lâu, trong các tiết học lí luận, hình ảnh người thầy thuyết trình một cách say sưa từ đầu đến cuối buổi, học sinh thì nghe giảng và chép bài một cách thụ động đã thành một dấu ấn trong mỗi người Bản thân học sinh chưa có thói quen vận dụng, kết hợp vốn hiểu biết của nhiều phân môn, nhiều môn học để nắm bắt kiến thức từng môn học; hoặc
có thói quen học đâu bỏ đó, không biết vận dụng hiểu biết của môn học này để giải quyết các yêu cầu của môn học khác Gần đây, học sinh lại chuyển từ nghe chép sang nhìn chép, bởi sự phát triển của công nghệ thông tin; như vậy
mô hình chung cả giáo viên và học sinh đều mệt mỏi và ít sáng tạo
Thứ hai, hiện nay, không phải người giáo viên nào cũng nhận thức được
tầm quan trọng của kiến thức lí luận văn học ở phần kiến thức đọc - hiểu trong sách giáo khoa nâng cao, và không phải trường phổ thông nào cũng học chương trình nâng cao Do vậy, kiến thức này bị bỏ ngỏ, thậm chí còn né tránh Ở bậc học phổ thông, những bài học chuyên biệt cho phần kiến thức lí luận văn học không nhiều, và chỉ tập trung ở cấp trung học phổ thông
Bên cạnh đó những đề thi để kiểm tra, đánh giá thì gần như không có kiến thức
về mảng này Tuy nhiên trong các bài học kiến thức lí luận văn học luôn tồn tại
Chẳng hạn trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một, NXB Giáo dục với bài dạy về
tác phẩm Chí Phèo của tác giả Nam Cao, ở phần kiến thức cần đạt đã yêu cầu học
sinh hiểu và phân tích được các nhân vật, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo, qua đó thấy được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm Nói đến nhân vật cũng có nghĩa là chạm đến nhân vật văn học, một vấn đề quan trọng của lí luận văn học, và như vậy lí luận văn học đã rất gần với chúng ta, có mặt ở các bài học và các cách khai thác tác phẩm cụ thể