Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất" Ở Việt Nam, có nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Đức
HÀ NỘI- 2006
Trang 2CHUƠNG 1: CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU
1 Sơ l-ợc lịch sử của vấn đề nghiên cứu 11
2 Một số khỏi niệm cơ bản 14
3 Quản lý và quản lý nhõn sự trong giỏo dục
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIấN VÀ CễNG
Trang 3TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG PHÁP TỈNH BẮC
GIANG
1 Khát quát vị trí địa lý, tình hình kinh tế- Chính trị - Văn hoá -
Xã hội của tỉnh Bắc Giang
39
2 Khái quát sự nghiệp phát triển giáo dục THPT của tỉnh Bắc
Giang
40
3.Thực trạng hoạt động dạy học và đội ngũ giáo viên dạy tiếng
Pháp tại các trường THPT tỉnh Bắc Giang
5 Đánh giá chung (SWOT): Mạnh- Yếu- Thời cơ- Thách thức
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG PHÁP Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH
Trang 41.3 Các nguyên tắc 71
2.Một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Pháp ở các
trường THPT Bắc Giang
2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách giáo viên tiếng Pháp
2.2 Lập kế hoạch phát triển cho đôi ngũ giáo viên tiếng Pháp ở BG
72
74 2.3 Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ cho
đội ngũ giáo viên tiếng Pháp ở Bắc Giang
2.6 Tăng cường kiểm tra, đánh giá chất lượng chuyên môn và khen
thưởng đội ngũ giáo viên tiếng Pháp
89
3 Tổ chức thực hiện các biện pháp 92 3.1 Tổ chức thực hiện đồng bộ và phối hợp giữa các biện pháp 92 3.2 Khảo nghiệm tính hiện thực và tính khả thi của một số biện pháp
quản lý đội ngũ giáo viện dạy tiếng Pháp
2.2 Với các cấp quản lý GD&ĐT địa phương
Trang 5Quản lý giáo dục Quản lý phát triển Nguồn nhân lực Bồi dưỡng Công tác bồi dưỡng giáo viên Kinh tế- Xã hội
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá Chủ nghĩa xã hội
Giáo viên tiếng Pháp Đội ngũ giáo viên Phương pháp giảng dạy Giáo dục- Đào tạo
Uỷ ban nhân dân Nhà xuất bản
Sư phạm ngoại ngữ
Trang 6
MỞ ĐẦU
1-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ của nền văn minh trí tuệ, xã hội thông tin và kinh tế tri thức- thế kỉ của hội nhập khu vực và quốc tế Trong mối quan hệ toàn cầu hoá, đa phương hoá thì lợi thế cũng như những hạn chế của một dân tộc, một đất nước luôn luôn ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế của dân tộc đó trên phạm vi toàn thế giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta đã dạy” Một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng từng
khẳng định” Lợi thế sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực trí tuệ
cao” Xác định được vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt của Giáo dục và Đào
tạo trong thời kì đổi mới đất nước, Nghị quyết TW 4 khoá VII và Nghị quyết
TW 2 khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ:” Chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào việc xây dựng một đội ngũ
giáo viên năng động, sáng tạo, tinh thông nghề nghiệp, có năng lực và phẩm
chất cách mạng vững vàng”
Trong những năm qua, chúng ta đă đạt đuợc những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, cùng với những thành công về chính sách đối ngoại, Việt Nam hiện nay đã sẵn sàng và vững bước trong giai đoạn mới, giai đoạn
mà Việt Nam sẽ đóng góp tích cực vào các thể chế và hoạt động đa phương với tư cách là một chủ thể chứ không phải là một khán giả trong các cuộc hội họp quốc tế lớn Chính vì vậy mà việc sử dụng thành thạo một hay nhiều
ngoại ngữ có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự hợp tác, phát triển của đất nước Chưa bao giờ nhu cầu học tập, nghiên cứu ngoại ngữ lại cấp thiết như hịện nay Chúng ta không còn bằng lòng khi chỉ biết có tiếng mẹ đẻ, chỉ giao tiếp trong một cộng đồng duy nhất, cùng với tiếng Anh, tiếng Pháp là một trong 6 ngôn ngữ chính thức và một trong 2 ngôn ngữ làm việc của Liên hiệp quốc Việt Nam nằm trong một khu vực chủ yếu sử dụng tiếng Anh, việc sử dụng tiếng Anh là một yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
Trang 7hoá đất nước Việc sử dụng tiếng Pháp -Một di sản văn hoá tích cực- bên
cạnh tiếng Anh và các ngoại ngữ khác góp phần mở rộng khả năng của Việt Nam trong việc hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và trao đổi văn hoá với bên ngoài Phát triển giảng dạy tiếng Pháp sẽ tạo cho lớp trẻ Việt Nam tìm thấy
một“ Lợi thế bổ sung” trong chính sách đối ngoại, tự chủ, rộng mở, đa
phương hoá và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, vì hoà bình, độc lập, phát triển, góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam, đánh dấu bước trưởng thành trong hoạt động quốc tế của nước ta
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của ngoại ngữ trong thời kỳ đổi mới của
đất nước, những năm qua, trong sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, nhất là đào
tạo ngoại ngữ- chìa khoá của sự hội nhập và phát triển- đã đặc biệt được
quan tâm Cùng với tiếng Anh, tiếng Pháp( với ưu thế riêng của mình) đã hiện diện ở các cấp học trong hệ thống Giáo dục quốc dân: Trong các lớp song ngữ
(Classes billingues), ở các trường tiểu học(Ecoles primaires), THCS(
Collèges), THPT( Lycées) và trong các trường Đại học( Universités) Chương
trình giảng dạy tiếng Pháp và bằng tiếng Pháp(Programme de l’enseignement
intensif du/ en francais) có ở mọi miền của đất nước, từ miền Bắc đến miền
Nam
Bắc Giang là một tỉnh miền núi với cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn thấp Trình độ dân trí cũng như nguồn thu nhập ngân sách còn nhiều hạn chế và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp GD-
ĐT của tỉnh nhà Trên thực tế việc đầu tư cho giáo dục nói chung và bộ môn ngoại ngữ nói riêng còn rất nhiều khó khăn Hơn nữa, thói quen suy nghĩ rằng môn ngoại ngữ không quan trọng, đến tiếng mẹ đẻ còn chưa thông thì cần gì đến dạy và học ngoại ngữ ăn sâu, cắm chặt vào đầu người dân ngay cả với một số lãnh đạo đã ảnh hưởng không ít tới các nhà quản lý, đến đội ngũ giáo viên giảng dạy ngoại ngữ ở các trường THPT
Như vậy nâng cao chất luợng dạy học môn ngoại ngữ là một nhu cầu cấp thiết đòi hỏi các nhà quản lý phải có các biện pháp tích cực tác động đến
Trang 8giáo viên dạy bộ môn này để họ thực sự là những nhà sư phạm vừa có tâm,
vừa có trí, làm cho” ngọn lửa” còn đang tiềm ẩn trong mỗi học sinh sẽ rực
sáng lên như ánh đèn trong đêm hội hoa đăng
Tất cả những yếu tố trên chính là lý do khiến tôi chọn: “Một số biện
pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp tại các trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu
2-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý giáo dục, thực trạng công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ, đề xuất một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Pháp nói riêng và môn ngoại ngữ nói chung tại tỉnh Bắc Giang
3-KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn tiếng Pháp ở các trường THPT tỉnh Bắc Giang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp tại các trường THPT tỉnh Bắc Giang
4- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Chất lượng dạy và học tiếng Pháp ở Bắc Giang còn nhiều hạn chế và bất cập do những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Nếu tìm ra nguyên nhân và đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp, sẽ góp phần khắc phục, hạn chế yếu kém, phát triển đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên tiếng Pháp qua đó góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT ở Bắc Giang, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đổi
Trang 9mới, hội nhập khu vực và quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay của đất nước
5-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định triển khai các nhiệm vụ sau:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý giáo dục nói chung và quản
lý phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng
5.2.Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp tại các trường THPT tỉnh Bắc Giang
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Pháp các trường THPT tỉnh Bắc Giang
6- PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đội ngũ giáo viên tiếng Pháp các trường THPT tỉnh Bắc Giang trong 3 năm lại đây
7- CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
7.4 Phương pháp thống kê toán học
8- CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
- Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý đội ngũ
giáo viên dạy tiếng Pháp tại các trường THPT tỉnh Bắc Giang
Trang 10- Chương 3: Một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiếng
Pháp ở các trường THPT tỉnh Bắc Giang
CHUƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thực tiễn lịch sử loài người cho thấy, từ khi con người biết hợp sức nhau lại để tự vệ hoặc mưu sinh thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện như một tất yếu khách quan những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển vv Hoạt động của mọi người nhằm thực hiện được mục tiêu chung đã
định Khi nghiên cứu về hiện trong này C Mác đã viết:“ Bất cứ lao động xã
hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định đến sự quản lý, quản lý xác lập sự tương hợp giữa công việc cá thể và hoàn thành chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” (1; tr 58) Nghiên cứu về khoa học
quản lý chúng ta đều nhận thấy khoa học quản lý có lịch sử lâu đời và phong phú, với những học thuyết quản lý được hình thành từ các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau Trong phạm vi luận văn, chúng tôi xin điểm qua một
số tác giả các học thuyết tiêu biểu, đặc biệt là các học thuyết còn ảnh hưởng tới ngày nay
*Tư tưởng quản lý phương Đông cổ đại: Ở phương Đông cổ đại, nhất là
ở Trung Hoa và Ấn độ đã sớm xuất hiện những tư tưởng về quản lý Đó là những tư tưởng về đức trị của Khổng Tử( 551- 479 TCN); Mạnh tử( 372- 289 TCN); và pháp trị của Hàn Phi Tử( 280- 233 TCN) mà theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu hiện đại những tư tưởng này vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc
và đậm nét trong phong cách quản lý và văn hoá của nhiều nước Châu Á, nhất
là ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên Trong các học thuyết về quản lý phương Đông cổ đại Khổng Tử, Mạnh Tử và một số người khác chủ
Trang 11trương dùng “ Đức trị” để cai trị dân Các học thuyết của Khổng Tử là học
thuyết trị quốc, quản lý đất nước lấy chữ “ Nhân” làm cốt lõi Còn Hàn Phi
Tử, Thương Ưởng( 390- 338 TCN) và một số người khác lại chủ trương quản
lý xã hội bằng“ Pháp trị”( tức là bằng quyền lực, bằng pháp luật) Nếu loại bỏ những yếu tố cực đoan tàn nhẫn trong học thuyết pháp trị của ông sẽ còn trong đó những tư tưởng rất sắc bén về thực tế, những biện pháp quản lý có tính khả thi
*Tư tưởng quản lý phương Tây cổ đại: Điển hình là Xôcrat và Platôn
vào cuối thế kỷ IV- III TCN nhà triết học nổi tiếng Xôcrat trong tập nghị luận của mình viết rằng: Những người nào biết cách sử dụng con ngưòi sẽ điều khiển công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Trong khi những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong việc tiến hành cả hai công việc này
Tư tưởng về quản lý con người và những yêu cầu về người đứng đầu- cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của triết học Hy Lạp Plantôn( 427-347) Theo ông, muốn trị nước phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ, ít tham vọng
về vật chất và đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng Vào thế kỷ thứ XVI ở phương Tây có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như: F.Taylor(1771- 1858) Charles Babbage( 1792- 1871); F.Taylor ( 1856- 1951) người được coi là“ Cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học”; H Fayol( 1841- 1925); Enton Mayol( 1880-1949); M Folet …
Do những lợi ích lớn lao của quản lý mà cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loại công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý Kết quả của những công trình nghiên cứu đã góp phần làm cho khoa học quản
lý ngày càng hoàn thiện
Các nhà nghiên cứu đã quan tâm giải quyết vấn đề: Quản lý là gì? Bản chất của hoạt động quản lý Tính khoa học và nghệ thuật quản lý Những
Trang 12động cơ nào dễ thúc đẩy một tổ chức phát triển? Làm thế nào để phân tích
đ-ược các sự kiện và các hoạt động trong quản lý thực hành?
*Ở phương Tây: Các nhà nghiên cứu có đóng góp tiêu biểu như: Harold
Kontz, Cyrio Donell, Heinz Weihrich, Thomasr J.Ro, Wayned Morrison,
Herog Hirsch vv Hai nhà nghiên cứu Henry Fayol( Pháp) và Max Webber(
Đức) đều khẳng định “ Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc
đẩy sự phát triển xã hội”
*Ở Đông âu cũ : Có thể kể tên các nhà nghiên cứu về quản lý như F.F
Aunapu, VI Mikheev, V G Afanaxev, A.I Kitov, E.X.Cudơmin, Voncov,
Iu.N.Êmêlianov, S.Kovalépki ….vv
*Ở các quốc gia khu vực Đông- Đông nam châu Á: Sự thành công
trong quản lý kinh tế tạo ra một hiện tượng thần kỳ của nền kinh tế châu Á
Khi nghiên cứu, người ta thấy do biết vận dụng tính nhân bản trong kinh
doanh và quản lý, phân tích sâu sắc kinh nghiệm của Trung Quốc về bản chất
thể chế, quyết sách, chiến lược và sách lược hành động trong quản lý, người
ta đã tìm ra bí quyết thành công của đất nước này trong nửa cuối thế kỷ XX
và đầu thế kỷ XXI Một trong các nhà lãnh đạo quốc gia có những thành công
nhất trong quản lý ở đất nước trong thời kỳ cải cách và mở của ở các quốc gia
khu vực Đông- Đông Nam châu Á phải nói tới Đặng Tiểu Bình( Trung Quốc)
*Ở Việt Nam: Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn
nhưng tư tưởng về quản lý cũng như “ Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời
Trong“ Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi(1380-1442) đã viết“ Việc nhân nghĩa
cốt ở yên dân” đủ thấy rằng các minh quân nước Việt Nam từ xa đã biết lấy
dân làm gốc trong quản lý đất nước.
Đến nay, tuy khoa học quản lý ở Việt Nam còn non trẻ nhưng là một
vấn đề được nhiều người quan tâm, suy ngẫm, tổng kết và vận dụng, luôn
mang tính thời sự đi liền với các bước thăng trầm của các doanh nghiệp, tổ
chức, nhà nuớc Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý
của các nhà nghiên cứu và các giảng viên đại học, các cán bộ Viện nghiên cứu
Trang 13dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công
bố Đó là các tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Ngô Quốc Chí, Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Đình Am, Nguyễn Bình, Nguyễn Bá Dương, Phạm Thanh Nghi, Hoàng Hữu Đạo, Nguyễn Tấn, Trần Hữu Lam, Vũ Thế Phú Các công trình trên đã giải quyết được các vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý như bản chất của hoạt động quản lý, đồng thời chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở phương diện
lý luận là chủ yếu hoặc triển khai ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh sản xuất
2 Một số khái niệm cơ bản
2.1 Quản lý
2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với xã hội loài người, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội Chính sự phân công
và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng xuất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý tức là phải có người đứng đầu- người quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật bởi quản lý nghiên cứu các luật lệ, các nguyên tắc và phải linh hoạt trước nhiều tình huống, phải đương đầu với cách ứng xử của con người: Thương lượng, thuyết phục, vận động sao cho đạt tới mục tiêu Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ
đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu, có liên quan đến hoạt động quản lý
-Thuật ngữ " Quản lý" thể hiện được bản chất hoạt động này trong
thực tiễn, nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau:" Quản" chỉ sự coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái “ổn định” và quá trình“Lý " chỉ sự sửa sang, sắp xếp,
đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “Phát triển”
- C Mác viết :”Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến
hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu cần có một sự chỉ đạo để điều hoà
Trang 14sự hoạt động Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”( 1; tr 29,30)
- F.W.Taylor khẳng định: “Quản lý là biết đựơc chính xác điều bạn
muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (36 ; tr 89)
- Còn H.Koontz thì lại khẳng định:" Quản lý làhoạt động thiết yếu bảo
đảm sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” (42;
tr31) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất"
Ở Việt Nam, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý, có thể nêu ra một số định nghĩa như sau:
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thế quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự nghiệp phát triển của đối tượng
- Hoạt động quản lý còn được định nghĩa như là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
- Quản lý là quá trình lập kế hoạch tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp
để đạt được các mục tiêu quản đã định
Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng điểm chung thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định
Nói một cách tổng quát nhất, có thể xem quản lý là một phạm trù chứa trong mình những khái niệm đặc trưng như chủ thể quản lý, khách thể quản lý
và mục tiêu quản lý Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng: Kế- Tổ-
Trang 15Chỉ- Kiểm phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau, phối hợp bổ
sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển trong đó các thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết
định quản lý ( Xem hình 1)
Trang 16Hình 1: Sơ đồ chu trình quản lý
2.1.2.Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung nhưng là một khoa học tương đối độc lập
Quản lý giáo dục là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Quản lý giáo dục còn là hoạt động lôi cuốn tất cả các thành viên trong nhà trường cùng tham gia từ Ban giám hiệu cho đến tập thể đội ngũ giáo viên, công nhân viên, học sinh và sinh viên Quản lý giáo dục là công việc chung của toàn bộ tổ chức Quá trình này diễn ra ở mọi tình huống trong nhà trường khi mọi người cùng nhau hoạt động vì mục đích chung là đạt được mục tiêu
Trang 17Theo lý luận của giáo dục hiện đại thì cụm từ quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ sở của việc ra quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt
và việc xử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời Quan hệ
cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ của ngưòi quản lý với người dạy và ngưòi học trong hoạt động giáo dục Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người( giáo viên với học sinh); giữa người với việc( hoạt động giáo dục); giữa người với vật( cơ sở vật chất, điều kiện cho giáo dục)
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay
Vậy QLGD về thực chất là quản lý quá trình giáo dục- đào tạo Quản lý quá trình GD- ĐT là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch
và chương trình GD- ĐT nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã đặt ra Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của các nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học- giáo dục theo mục tiêu đào tạo
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính pháp lý, vừa là một tổ chức xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ Nó là tế bào chủ chốt của bất cứ hệ thống quản lý giáo dục nào từ trung ương đến địa phương Như vậy, quản lý giáo dục ở trường học là quản lý mục tiêu, chương trình giáo dục đào tạo, cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục đào tạo và đặc biệt là việc quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.
Trang 182.2 Phát triển
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội
ngũ Khái niệm phát triển theo từ điển tiếng Việt là: ” Biến đổi hoặc làm
cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”( 6, tr 56) Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện
sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tượng và con người trong xã hội Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên
Quan điểm biện chứng về sự phát triển đem lại cho chúng ta một quan điểm khoa học để nhận thức thế giới khách quan, tức là phải xem xét sự vật
và hiện tượng của thế giới trong sự vận động, biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Nó chỉ cho chúng ta thấy tính chất tạm thời của cái cũ, cái mới sẽ nhất định thay thế cái cũ, dù rằng trong một lúc nào đó cái cũ còn vững chắc, đồng thời nó chỉ rõ sức sống mãnh liệt của cái mới, cái mới là cái tất thắng, dù rằng lúc đầu còn non yếu
Như vậy, phát triển là quá trình cái mới ra đời, cái cũ mất đi, cái mới chiến thắng cái cũ
Quan điểm biện chứng về sự phát triển nói rõ rằng mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng, mà cái chính là chúng luôn luôn biến đổi, chuyển hoá từ sự vật, hiện tượng này thành sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước, tạo thành quá trình phát triển tiến lên mãi mãi Nguyên nhân của sự phát triển
là ở sự liên hệ tác động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật, hiện tượng, còn hình thái, cách thức của sự phát triển là đi từ những biến đổi về lượng( tăng dần lên hay giảm đi) dẫn tới những biến đổi, chuyển hoá
về chất và ngược lại: Con đường xu hướng của sự phát triển không phải theo đường thẳng tắp, cũng không theo vòng tròn khép kín mà theo đường“ xoáy ốc”, tạo thành xu thế phát triển tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến
Trang 19cao, từ kém hiệu hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn Phát triển chính là qúa trình càng hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn của tự nhiên, xã hội
và tư duy
Có tác giả cho rằng“ Phát triển là làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên một hệ thống bền vững”
Thuật ngữ ” Phát triển" xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX,
với cách hiểu đơn giản là phát triển kinh tế, khái niệm này được bổ sung thêm nội hàm và ngày nay được hiểu một cách toàn diện hơn Phát triển nhằm vào
3 mục tiêu cơ bản: Phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, tạo ra hoà bình và ổn định chính trị Sự phát triển giáo dục không những bao chứa các đặc thù tương tự mà còn bao hàm cả ý nghĩa chính trị và liên quan mật thiết với thể chế chính trị quốc gia
Mọi sự vật hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến
số lượng thay đổi chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng tiến đều được coi là phát triển Xét đặc trưng của phát triển là cơ sở nền tảng cho một chu kỳ mới, chu kỳ mới chính là sự lặp lại một số đặc điểm
của chu kỳ trước đó" Phát triển là một quá trình nội tại, bước chuyển từ thấp
đến cao trong cái thấp đã chứa đựng dưới nền tảng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển”
2.3 Phát triển đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên là nhân lực của ngành giáo dục: Phát triển đội ngũ
giáo viên là phát triển nguồn nhân lực trong ngành giáo dục
Có rất nhiều khái niệm về phát triển nguồn nhân lực, hiểu theo nghĩa
hẹp mà giáo sư Nguyễn Minh Đường đã định nghĩa: “ Phát triển nguồn nhân
lực là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc để tìm một việc làm mới”(32, tr 12) Theo
GS- TS Trần Kiều, PGS- TS Nguyễn Viết Sự, khái niệm phát triển nguồn
Trang 20nhân lực được hiểu với ý nghĩa rộng lớn hơn:” Phát triển nguồn nhân lực
được hiểu là làm tăng giá trị con người về mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và
có phẩm chất mới cao hơn”( 37, tr 243; 244)
Một ý kiến khác của GS- TS Đỗ Minh Cương, PGS- TS Nguyễn Thị
Doan: ” Phát triển nhân lực là việc tạo ra sự tăng trưởng bền vững về hiệu
năng của mỗi thành viên người lao động và hiệu quả chung của tổ chức gắn liền với việc không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng của đội ngũ”
( 24; tr 7)
Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, nước ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá, nhân tố quyết định thắng lợi chính là chất lượng nguồn nhân lực, như vậy phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục- phát triển đội ngũ giáo viên chính là tạo ra một đội ngũ( một tổ chức) các nhà giáo,
đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng( có trình độ, được đào tạo theo quy định, có phẩm chất đạo đức trong sáng lành mạnh, có năng lực trong các hoạt động dạy học- giáo dục) , trên cơ sở đó đội ngũ giáo viên đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của giáo dục- đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục trong từng giai đoạn, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta hiện nay
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực chính là tăng giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức và giá trị thể chất của con người làm cho họ có năng lực, thái độ lao động tốt hơn phục vụ cho mục tiêu của tổ chức
2.4 Quản lý phát triển
Trong giai đoạn hiện nay có nhiều sự biến đổi để tăng tiến số lượng hay chất lượng diễn ra trong nhà trường Sự phát triển này có thể do yêu cầu của nhà nước và xã hội đặt ra cho nhà trường, cũng có thể do tự bản thân nhà trường thấy muốn tồn tại được thì phải thay đổi và phát triển Ví dụ như việc tăng số biên chế và nâng cao chất lượng giờ dạy vừa là để đáp ứng được với việc số học sinh và số lớp học cứ tăng lên hàng năm trong nhà trường, vừa là
Trang 21do yêu cầu của các cấp quản lý, sự tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng tiến Dù sự phát triển xuất phát từ đâu thì vẫn gây áp lực lên vai người
quản lý bởi vì chức năng chính của một người quản lý phát triển là làm sao
để phát triển đó diễn ra một cách hiệu quả nhất và ít bị xáo trộn nhất và phải
là sự phát triển một quá trình nội tại, bước chuyển từ thấp đến cao về cả số
và chất lượng Quản lý sự phát triển thực chất là kế hoạch hoá, điều hành và
chỉ đạo triển khai phù hợp với qui luật khách quan để đạt được mục tiêu đề ra cho sự phát triển đó Sự phát triển có thể có cả sự tăng lên hay giảm đi về mặt
số lượng nhưng không loại trừ khả năng chúng luôn biến đổi, chuyển hoá từ
sự vật hiện tượng này thành sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước và dẫn đến sự biến đổi về chất theo chiều hướng tăng hoặc giảm Khác với việc lập kế hoạch quản lí thông thường, quy trình quản lý phát triển diễn ra theo xu hướng của sự phát triển, không phải theo đường thẳng tắp, cũng không phải theo vòng tròn khép kín
mà theo đường" xoáy ốc" Cũng lưu ý rằng QLPT không phải là " Phát triển quản lý", tuy nhiên muốn quản lý sự phát triển cần phải đi từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn theo hướng đi lên trong mối hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên một hệ thống bền vững
2.5 Quản lý nguồn nhân lực
2.5.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Trong tất cả các nguồn nhân lực thì nguồn lực con người là quan trọng nhất vì nó tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Bởi vì thông qua hoạt động của con người các nguồn lực khác mới có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực
Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng
lao động xã hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và cao
Trang 22đẳng, đại học Nói đến nguồn nhân lực là mới nói đến tiềm lực; còn khi tiến hành đào tạo, sử dụng, phát huy, phát triển nguồn nhân lực mới trở thành lực tác động tới phát triển kinh tế- xã hội
Nói đến nguồn lực con người tức là nói đến những gì cấu thành khả năng, năng lực, sức mạnh sáng tạo của con người Nhưng điều quan trọng nhất trong nguồn lực con người là chất lượng chứ không phải số lượng Nói đến chất lượng nguồn lực con người là nói đến hàm lượng trí tuệ trong đó( Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có đạo đức tốt đẹp)
Theo quan điểm của Đảng ta thì“ Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực” Nguồn lực con người có trí tuệ là nguồn tài nguyên quý giá nhất
Nguồn lực con người là sự kết hợp hài hoà giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống Nói cách khác, nguồn lực con người là một tập hợp các chỉ số phát triển con người và được xem xét ở hai phương diện: Cá nhân và xã hội
Cấu trúc nguồn nhân lực bao gồm ba yếu tố: Thể lực- Trí lực- Đạo
đức Cấu trúc này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển kinh tế, xã
hội
Phát triển nguồn nhân lực( Human Resource Development) được hiểu
cơ bản là làm gia tăng giá trị của con người về mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ; làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mới, cao hơn Phát triển nguồn nhân lực chịu tác động bởi năm
nhân tố là: Giáo dục và đào tạo; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường; việc
làm và sự giải phóng con người Trong đó giáo dục và đào tạo là nhân tố cốt
lõi, là cơ sở quan trọng nhất cho sự phát triển nền kinh tế- xã hội bền vững
2.5.2 Quan niệm chung về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực có thể coi là một lĩnh vực của" quản lý
nguồn nhân lực" với các thành tố ở sơ đồ sau: (Xem hình 2)
Trang 23Quản lý Nguồn nhân lực
Dinh dưỡng và sức
khoẻ
Tuyển dụng Mở rộng chủng loại việc
làm Giáo dục và đào tạo Sàng lọc Mở rộng qui mô việc làm Dân số và KHH gia
để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, để duy trì sự đáp ứng yêu cầu về kinh tế và xã hội
Vấn đề phát triển NNL trong chiến lược CNH, HĐH đất nước bao gồm đồng bộ cả 3 mặt chủ yếu: giáo dục- đào tạo con người, sử dụng con người, tạo môi trường việc làm và đãi ngộ thoả đáng cho con người trong đó GD-
ĐT được coi như là cơ sở để sử dụng con người có hiệu quả và để mở rộng và cải thiện môi trường làm việc
Trang 24Kế hoạch hoá nhân lực về cơ bản xem xét làm thế nào để bảo đảm sự tương thích cung và cầu lao động trong phạm vi quốc gia nói chung và ở các vùng, miền, lĩnh vực, ngành kinh tế- xã hội Mục tiêu của kế hoạch hoá nhân lực là trách nhiệm dư thừa hoặc thiếu hụt lao động chuyên môn kỹ thuật so với nhu cầu dẫn đến phá vỡ mục tiêu phát triển chung
Phát triển nguồn nhân lực gắn liền với sự phát triển của kinh tế- xã hội, đặc biệt là với thị trường lao động mới có hiệu quả
Ngày nay, ở các nước đang phát triển vấn đề việc làm không chỉ giải quyết ở khu vực chính quy( formal sector) mà còn cả ở khu vực không chính quy( no- formal), nơi đang thành một lĩnh vực đầy tiềm năng tạo ra việc làm, thu hút nhiều nhân lực tương lai Vì vậy, GD- ĐT và phát triển nguồn nhân lực ngày nay không chỉ giới hạn ở các chương trình đào tạo chính quy mà còn phát triển thêm các chương trình đào tạo ngoài chính quy, đào tạo từ xa ngày càng được mở rộng ở nhiều nước nhằm phát triển nguồn nhân lực có hiệu quả tốt hơn
2.6 Giáo viên và đội ngũ giáo viên
2.6.1 Khái niệm giáo viên
Hiện nay, có nhiều quan niệm về người giáo viên Theo Tiến sĩ Philip
Jachson “ Giáo viên là người ra quyết định có hiểu biết, hiểu được học sinh
và có khả năng cấu trúc lại nội dung giảng dạy để học sinh có thể tiếp thu ược nội dung đó, đồng thời trong khi dạy biết khi nào phải dạy cái gì” ( 20, tr
đ-25)
Theo từ điển tiếng Việt: “ Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông
hoặc tương đương”( 6, tr 243) Người giáo viên là nhân vật trung tâm của nhà
trường, người chỉ đạo, điều khiển quá trình sư phạm Người được nối liền với
xã hội bằng hàng ngàn mối liên hệ, với những quan hệ xã hội cụ thể là thành phần của tập đoàn nghề nghiệp có tính chất quần chúng nhất của giới trí thức
Trang 25Người giáo viên là chuyên gia đặc biệt với lối sống, nội dung và ương hướng lợi ích tinh thần, với những mối quan hệ đặc biệt giữa cá nhân, với đạo đức nghề nghiệp và hàng loạt những nét khác biệt vốn có của họ Giáo viên là người công chức thuộc ngành giáo dục, là nhà giáo Theo điều 16- Luật giáo dục năm 2005
ph Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác
- Nhà giáo phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
+ Phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
+ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp
của những người được xã hội tôn vinh bởi tên gọi : Giáo viên
- Giáo viên THPT là những người giảng dạy tại các cơ sở, đơn vị giáo dục cấp TPHT( Cấp 3 )
Tóm lại: Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục bởi “
Không có Thày giỏi thì không có trò giỏi” và được xã hội tôn vinh Giáo viên
phải hội tụ đầy đủ 2 yếu tố: Đức- Tài Vì vậy cần thực hiện các biện pháp để
huy động tối đa tiềm lực của đội ngũ giáo viên đã có và từng bước phát tiển đội ngũ giáo viên về số lượng và chất lượng đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là truyền tải tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ sảo, xây dựng và hình thành nhân cách cho người học, đáp ứng yêu cầu của mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục, của sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 262.6.2 Khái niệm đội ngũ giáo viên
+ Đội ngũ:
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về đội ngũ:
- Theo Webster: Đội ngũ là một nhóm người công nhân hoặc người làm công cụ thể Ví dụ như: Đội ngũ giáo viên, đội ngũ nhà báo
-Từ điển tiếng Việt có ghi:“Đội ngũ là một khối đông người cùng chức
năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”( 6, tr 38)
Theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ: “Đó là một tổ chức gồm nhiều
người, tập hợp thành một lực lượng để chiến đấu hay bảo vệ” Như vậy, có
thể thống nhất ” Đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành
một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, và đều cùng một mục đích nhất định”
Ngày nay khái niệm đội ngũ được sử dụng rộng rãi cho các tổ chức trong xã hội như đội ngũ tri thức, đội ngũ công nhân viên chức, đội ngũ bác sĩ
Khi đề cập đến khái niệm đội ngũ giáo viên, một số tác giả nước ngoài
đã nêu lên quan niệm: “ Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực
giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào
và có khả năng công hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục”
Đối với các tác giả trong nước, vấn đề này được qua niệm như sau:“ Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý theo giáo dục ”( 9;
tr 10)
Dựa trên quan điểm đã nêu của các tác giả trong và ngoài nước, ta có thể hiểu đội ngũ giáo viên như sau:“ Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học- giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng( có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục Họ làm
Trang 27việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội Họ chính là nguồn nhân lực quan trọng trong lĩnh vực giáo dục”
+ Đội ngũ giáo viên
Trên cơ sở khái niệm đội ngũ, chúng ta có thể nói : Đội ngũ giáo viên là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường phổ thông, cao đẳng và đại học, họ gắn kết với nhau bằng hệ thống mục tiêu giáo dục, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên, cùng chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và Nhà nước
Từ những khái niệm chung về đội ngũ giáo viên, có thể quan niệm về đội
ngũ giáo viên tiếng Pháp như sau: Đội ngũ giáo viên tiếng Pháp bậc THPT
là những người được đào tạo trong các trường Đại học- chuyên ngành tiếng Pháp Đội ngũ này bao gồm toàn bộ các thày giáo, cô giáo môn tiếng Pháp của các trường THPT trên toàn tỉnh có cùng một nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện học sinh, giúp các em có đủ trình độ về môn học để tiếp tục theo học ở các bậc cao hơn, đồng thời cũng giúp các em hiểu thêm về một nên văn hoá khác qua môn học Như vậy, đội ngũ giáo viên tiếng Pháp THPT gắn bó với mục đích, mục tiêu đào tạo của tổ chức nhà trường
Đội ngũ giáo viên được xác định qua tiêu chí về chất lượng và số lượng Chất lượng của đội ngũ có quan hệ mật thiết với số lượng của nó Các chỉ số
về cơ cấu đội ngũ có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của đội ngũ
Các khái niệm đội ngũ này có khác nhau nhưng đều phản ánh một điều: Đây là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để cùng thể hiện một hay nhiều chức năng; họ có thể có cùng một nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng có chung một lý tưởng, mục đích nhất định và gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất, tinh thần
3 Quản lý và quản lý nhân sự trong giáo dục
3.1 Chức năng của quản lý
Trang 28Bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của xã hội cũng cần đến hoạt động quản
lý Quản lý ngoài việc được xem là một khoa học, một nghệ thuật, còn được xem là công nghệ- công nghệ điều hành, phối hợp và sử dung các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-1010 công tác quản lý được xem là khâu đột phá trong việc đề
ra mục tiêu và giải pháp phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là khâu then chốt Muốn đạt được các mục tiêu trên cần hết sức xem trọng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, đây là một hoạt động rất quan trọng đảm bảo cho sự phát triển của nhà trường thông qua việc quy hoặch về cơ cấu số lượng, trình độ ngành nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ sư phạm, thái độ nghề nghiệp, đáp ứng mục tiêu giáo dục
Quản lý GD là hoạt động quản lý đặc biệt mà thông qua đó chủ thể quản
lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định gọi
là chức năng quản lý Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý Ở nước
ta trong quá trình quản lý người ta thường sử dụng các chức năng: Lập kế
hoặch, tổ chức, biên chế cán bộ, chỉ đạo và kiểm tra
+ Lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản
lý nhằm xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với thành tựu tổ chức đạt được những mục tiêu đó Nói cách khác, lập kế hoặch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó
+ Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức và xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận sao cho nhờ cấu trúc đó chủ thể quản
lý tác động lên đối tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện được mục tiêu của kế hoạch Nói về sức mạnh của tổ chức, V.I.LêNin đã chỉ rõ:“
Trang 29Liệu một trăm có mạnh hơn một nghìn không? Có chứ! Khi một trăm được tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên mười lần”
+ Biên chế cán bộ: Là việc sắp xếp các cương vị trong cơ cấu tổ chức
Qua việc xác định những đòi hỏi về nhân lực cần tuyển chọn, sắp xếp, đề bạt, đánh giá, bồi dưỡng và đào tạo con người Việc định biên luôn gắn chặt với tổ chức
+ Chỉ đạo và kiểm tra: Khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy đã
được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng và sắp xếp thì phải có người đứng ra lãnh đạo và dẫn dắt tổ chức Chỉ đạo là quá trình tác động đến con người để họ hoàn thành những nhiệm vụ được phân công, đạt được các mục tiêu của tổ chức
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Lãnh đạo
mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo Kiểm tra là đánh giá, phát hiện và điều chỉnh nếu cần thiết những kết quả hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị, hoàn thành kế hoạch đã đề ra
3.2.Nội dung quản lý
Mục tiêu, phương pháp, nội dung, hình thức tổ chức giáo dục, người dạy, người học, cơ sở vật chất, thiết bị, môi trường, kết quả giáo dục là các
thành tố trong nội dung quản lý giáo dục, một hệ thống toàn vẹn
Quản lý giáo dục:
1- Quản lý mục tiêu giáo dục
2- Quản lý nội dung giáo dục
3- Quản lý phương pháp giáo dục
4- Quản lý hình thức tổ chức giáo dục
5- Quản lý giáo viên, cán bộ
6- Quản lý học sinh
7- Quản lý cơ sở vật chất
8- Quản lý môi trường giáo dục
9- Quản lý kết quả giáo dục
Trang 30Tất cả các hình thức trên có thể tác động đến tổ chức Đặc điểm nổi bật tích cực của phương pháp là có căn cứ pháp lý, trên cơ sở các văn bản chính xác, cụ thể Đồng thời có sự phân công, phân nhiệm, phân cấp, phân quyền giữa các tổ chức và các thành viên của nó, tác động trực tiếp đến đối tượng, dứt khoát và có hiệu lực nhanh, có tính chất bắt buộc phải chấp hành, đồng loạt
Khi vận dụng phương pháp này vào thực tiễn, nhà quản lý phải nắm vững chỉ thị pháp quy, nhận thức được quyền hạn trách nhiệm của mình theo luật định khi đưa ra văn bản; các quyết định hành chính phải có những điều chỉnh kịp thời
Tóm lại đây là phương pháp rất cần thiết trong công tác quản lý và được xem là phương pháp cơ bản nhất chứ không phải là duy nhất
3.3.2 Nhóm phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là các cách thức tác động gián tiếp lên đối tượng quản lý bằng sự kích thích lợi ích vật chất để tạo ra động lực thúc đẩy con người hoàn thành tốt nhiệm vụ, phục vụ cho lợi ích cá nhân và tập thể
Lợi ích kinh tế bao giờ cũng là một kích thích cơ bản, có tác dụng lâu bền Không nên xem nhẹ vai trò của kinh tế vì như thế dễ dẫn đến duy ý chí,
Trang 31không động viên được người lao động Bởi trong mọi quan hệ thì quan hệ kinh tế có tính cơ bản, chi phối các quan hệ khác
Nhóm phương pháp kinh tế có một số đặc trưng sau:
- Hình thức của phương pháp này là thông qua các cơ chế kinh tế để tác động và đối tượng quản lý như lương- thưởng- phạt- chế độ ưu đãi đối với người có thành tích cao
- Đặc điểm của phương pháp này là sự tác động gián tiếp lên khách thể quản lý nhóm cá nhân) nhằm tạo ra động lực, kích thích đối tượng quản lý hoạt động có hiệu quả cao
- Phương pháp kinh tế có tác động mạnh đến đối tượng quản lý Tuy nhiên nếu tuyệt đối hoá những phương pháp này sẽ sinh ra chủ nghĩa thực dụng làm tha hoá tính nhân văn của con người Do vậy khi áp dụng biện pháp kinh tế phải đảm bảo tính công bằng trong phân phối, phải quan tâm đến các quan hệ nội bộ, môi trường tâm lý xã hội bên trong và bên ngoài
3.3.3 Nhóm các phương pháp giáo dục
Là phương pháp mà chủ thể quản lý dùng các hình thức, biện pháp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi của đối tượng quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ của tổ chức giao
Các hình thức giáo dục thường là trao đổi trực tiếp, học tập sinh hoạt tư tưởng, chính trị, thời sự, giáo dục cá biệt, nêu gương tốt vv thông qua việc sinh hoạt trong các tổ chức quần chúng, đoàn thể xã hội, môi trường xã hội bằng nhiều hình thức sinh động
Đây là phương pháp ít tốn kém mà có tác dụng sâu sắc và bền vững nhưng cần tránh tư tưởng xem phương pháp giáo dục là vạn năng
3.3.4 Nhóm phương pháp tâm lý - xã hội
Phương pháp tâm lý xã hội là biện pháp, cách thức lôgíc và tâm lý xã hội nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo quản lý đề ra thành nghĩa vụ,
tự giác, động cơ bên trong và những nhu cầu của người thực hiện Đây là
Trang 32phương pháp chủ thể quản lý vận dụng các quy luật tâm lý xã hội để tạo nên môi trường tích cực, lành mạnh bên trong tổ chức, có tác động tốt với mối
quan hệ và hành động của tổ chức
Từ những phân tích trên ta thấy: đặc điểm của phương pháp tâm lý xã hội là sự kích thích đối tưọng quản lý sao cho họ luôn toàn tâm, toàn ý cho công việc, coi mục tiêu, nhiệm vụ quản lý là những mục tiêu và công việc của
họ Hơn thế, khách thể quản lý luôn học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm để ngày càng đáp ứng tốt hơn; đoàn kết với nhau hơn để hoàn thành tốt mọi việc
Phương pháp tâm lý xã hội, chủ thể quản lý có những tác động đến khách thể quản lý nhằm kích thích đối tượng quản lý ngày càng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tạo tiền đề nâng cao chất lượng giảng dạy Không những thế, bầu không khí làm việc ngày càng được cải thiện, mọi thành viên đoàn kết, gắn bó thực sự tin yêu lẫn nhau, mọi người gắn bó với tập thể, yên tâm công tác Đồng thời ai cũng phát huy tối đa sở trường của mình và có vị trí vai trò nhất định trong tập thể, được mến và kính trọng, được học tập và bồi dưỡng
Quản lý nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý Muốn đạt được các mục tiêu quản lý cần dựa vào kết quả lao động của tập thể Vì thế việc động viên, thuyết phục mọi người trong tập thể tự giác hăng hái tham gia lao động là điều hết sức quan trọng, có tính quyết định đến sự thành bại của tổ chức
*Bốn phương pháp vừa nêu là những phương pháp quản lý cơ bản để chủ thể quản lý đạt được mục tiêu quản lý Tuỳ từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng đối tượng mà vận dụng phương pháp quản lý thích hợp bởi không
có phương pháp nào là vạn năng Người quản lý phải có ý chí sáng suốt và trái tim nhân hậu, phải có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm quản lý phong phú, phải tài năng và bản lĩnh thì mới lựa chọn phương pháp hữu hiệu
áp dụng cho từng đối tượng
Trang 33So với các loại hình quản lý khác, quản lý giáo dục phải có những phương pháp, những đặc trưng riêng bởi quản lý giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội
Quản lý giáo dục mang tính xã hội rất cao vì thế mà phương pháp quản
lý đòi hỏi phải có tính khoa học, tính chính xác cao nhưng lại phải rất mềm dẻo, linh hoạt để cho tất cả mọi người trong xã hội đều thấy mình có liên quan
và đều có trách nhiệm tham gia vào hoạt động này, đặc biệt là ở nước ta giáo dục đã phổ cập đến bậc THPT và tất nhiên nhà nước, các tổ chức xã hội, các
tổ chức tư nhân đều phải cùng nhau tham gia các hoạt động giáo dục thì công tác giáo dục mới có hiệu quả như mong muốn
Phương pháp quản lý giáo dục phải mang tính sáng tạo thì mới phát huy được sự sáng tạo của mọi người vì đối tượng của quản lý giáo dục là con người với các mối quan hệ phức tạp đa chiều của nó ở nhiều phạm vi, mức
Nhân sự" được hiểu là" Tất cả thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức,
khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển
tổ chức"(34, tr 19) Như vậy khái niệm nhân sự không chỉ là nhân lực mà bao
gồm tất cả các tiềm năng nhân lực trong một tổ chức
3.4.2 Quản lý nhân sự trong giáo dục
Mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội đều cần đến hoạt động quản lý Quản lý nhân sự trong giáo dục cũng không nằm ngoài qui luật đó, nó được xem là một khoa học, một nghệ thuật và là công nghệ- công nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một
Trang 34tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, chính vì vậy việc tuyển dụng và quản lý nhân sự đòi hỏi phải thu hút được nhân tài bằng các chế độ đãi ngộ Để sử dụng đúng người, đúng việc đòi hỏi người quản lý cần chú ý đến định mức biên chế cho phép để sắp xếp phân công nhân sự cho phù hợp năng lực từng cá nhân và khai thác tốt tiềm năng mỗi cá nhân, thực hiện tốt chức năng quản lý nhân sự thông qua việc lập kế hoạch của người lãnh đạo
Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý nhân sự còn là tổng thể các mặt từ tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển nhân sự, đánh giá, khen thưởng và định hướng theo mục tiêu phát triển giáo dục Đây là một khâu hết sức quan trọng đảm bảo cho sự phát triển của nhà trường phổ thông qua việc quy hoạch về cơ cấu số lượng nhân sự, trình độ ngành nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn, trình độ sư phạm, thái độ nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức để đáp ứng mục tiêu giáo dục trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước
3.5.Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Vấn đề phát triển giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm Bác đã nhấn mạnh
rằng:” Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” Người còn chỉ rõ vai
trò và ý nghĩa quan trọng của nghề dạy học:“ Có gì vẻ vang hơn là đào tạo
những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”( 2, tr 41) Thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch, suốt nửa thế
kỷ qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên
Xuất phát từ những tư tưởng có tính định hướng đó, nhiều công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên đã được triển khai Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ đạo nhiều công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của giáo viên của các bậc học, cấp học
3.5.1 Mục tiêu, nguyên tắc, quan điểm phát triển đội ngũ giáo viên
* Mục tiêu:
Trang 35Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên chính là quản lý phát triển nguồn nhân lực sư phạm trong nhà trường
Trong điều kiện xã hội hiện nay- xã hội có nhiều biến động và phát triển không ngừng, việc quản lý phát triển nguồn nhân lực trong nhà trường là yêu cầu hết sức cấp bách và cần được ưu tiên
Mục tiêu của việc quản lý nhân lực là huy động khả năng làm việc tốt nhất của mỗi giáo viên và làm cho họ hài lòng, yên tâm công tác Mục tiêu của mọi nhà quản lý giáo dục là nhằm hoàn thành một mục tiêu mà trong đó con người có thể phát huy được khả năng của mình để đạt được mục tiêu của đơn vị với chi phí ít nhất
Để nâng cao hiệu quả việc quản lý nguồn nhân lực, người quản lý cần xây dựng mục tiêu phát triển toàn diện đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường; cụ thể là phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng lẫn chất lượng; bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giáo viên, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường và của hệ thống, trên cơ sở nâng cao trình độ năng lực của giáo viên, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển đội ngũ giáo viên
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý, trong giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội, nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục; trong việc phát triển đội ngũ giáo viên đó là sự tác động của các nhà quản lý giáo dục đến đội ngũ giáo viên và các lực lượng khác nhằm thực hiện mục tiêu tăng tiến cả về số lượng và chất lượng đội ngũ
Về bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý
* Nguyên tắc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên:
Trang 36Phát triển đội ngũ giáo viên là một quá trình Quá trình này bao gồm hàng loạt các hoạt động từ khâu tuyển dụng đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng Nguyên tắc trước tiên là Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý
Nhà trường không đứng ngoài chính trị mà phục vụ chính trị Nội dung, phương pháp và việc tổ chức quá trình giáo dục đào tạo phải bảo đảm nguyên
lý giáo dục và đường lối chính sách giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước
Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong việc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên là quản lý bằng chế độ, công tác quản lý phải đúng kế hoạch và các quy định của nhà nước về phát triển đội ngũ Trong bối cảnh thế giới mới, trước nhu cầu bức bách tái cấu trúc toàn bộ công tác giáo dục cho thế kỷ mới, người giáo viên đòi hỏi phải có một khuôn mẫu sư phạm mới với một mức độ chuyên môn cao hơn và một sự liên tục trau dồi tài năng để đương đầu với các thử thách mới Vì vậy mà họ phải luôn luôn" tái đào tạo" thông qua các khoá bồi dưỡng
Nguyên tắc thứ hai của QLPT đội ngũ giáo viên là phải đảm bảo sự phát triển vừa mang tính bền vững, ổn định, lâu dài, vừa phải năng động để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ giáo viên đã tăng nhanh về
số lượng và chất lượng Tuy nhiên sự lớn mạnh ấy nếu không được quản lý, được kiểm soát thì sẽ rơi vào sự thừa thiếu giả tạo về giáo viên Đó là chưa kể đến sự phát triển mất cân đối, tự phát không có kế hoạch, chỉ mang tính đối phó, chắp vá.Thậm chí tạo ra sự lãng phí giữa đào tạo và sử dụng khi không
có sự quy hoạch phát triển đội ngũ ở từng địa phương.Vì thế QLPT đội ngũ đòi hỏi phải đảm bảo sự phát triển lâu dài, ổn định cần tính đến sự năng động trong phát triển
Nguyên tắc thứ ba trong QLPT đội ngũ giáo viên chính là nguyên tắc tập trung dân chủ
Trang 37Đội ngũ giáo viên là tập hợp những tinh hoa trí tuệ.Trong công tác quản
lý giáo dục thì công tác phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm
vụ cực kỳ quan trọng đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, cả nước đang thực hiện CNH- HĐH đất nước Để thực hiện tốt chiến lược phát triển giáo dục thì việc phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên THPT dạy ngoại ngữ nói riêng mang tính chất cấp bách, việc chỉ đạo phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục Việc tăng cường biên chế, tổ chức tuyển dụng, phân bổ điều chuyển giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục hàng năm, sự thay đổi về kinh tế- xã hội, đảm bảo chất lượng giáo dục, cân đối đồng bộ giữa các bộ môn, giữa các trường, giữa các địa phương phải được quy định một cách cụ thể nhằm tạo ra sự phát triển ổn định đội ngũ giáo viên của ngành
Đội ngũ giáo viên được xác định qua các tiêu chí về chất lượng và số lượng Chất lượng của đội ngũ có quan hệ mật thiết với số lượng của nó Các chỉ số về cơ cấu đội ngũ có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của đội ngũ
* Nội dung công tác phát triển đội ngũ giáo viên ngoại ngữ THPT
Đại hội Đảng lần thứ X đã nhấn mạnh quan điểm" Chiến lược xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước liên quan chặt chẽ với nhau Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc sử dụng các nguồn lực khác như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, thành tựu khoa học và công nghệ, v.v " Quan điểm này thể hiện
tư tưởng là phát triển nguồn nhân lực cần phải đặt trong nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực và được thể hiện ở mối quan hệ của 3 yếu tố: Đào tạo, sử dụng và việc làm
Giải quyết tốt mối quan hệ này đồng nghĩa với việc giải quyết tốt nhiệm vụ phát triển ĐNGV từ phạm vi vĩ mô như nhu cầu toàn xã hội về nguồn nhân lực từng ngành nghề, từng địa phương đến phạm vi vi mô khả
Trang 38năng đào tạo, khả năng sử dụng nguồn nhân lực của từng cơ sở, trình độ của từng cá nhân được đào tạo, nhu cầu đào tạo
Như vậy công tác phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục đào tạo hay
cụ thể là phát triển ĐNGV phải được đặt trong mối quan hệ liên kết gắn bó
của 3 yếu tố : Đào tạo- sử dụng- việc làm
Phát triển ĐNGV phải mang tính đón đầu chứ không phải phản ứng nhất thời Điều đó có nghĩa là một mặt phải củng cố kiện toàn ĐNGV về số lượng,
về cơ cấu, nâng cao chất lượng đội ngũ ấy đảm bảo yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trước mắt cũng như lâu dài Công tác phát triển ĐNGV nói chung và phát triển đội ngũ giáo viên ngoại ngữ nói riêng là phải chăm lo làm sao cho ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu loại hình, vững mạnh về trình độ,
có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề để thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục- đào tạo của nhà trường
Mục tiêu cho phát triển ĐNGV nhằm tăng cường hơn nữa sự phát triển toàn diện của người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp Ngoài mục tiêu
đó ra còn phải làm cho ĐNGV biết đoàn kết và đủ điều kiện để sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất mục tiêu của nhà trường, tìm thấy ích lợi cá nhân trong mục tiêu của tổ chức Họ thấy được sự phát triển của cá nhân gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của nhà trường Nói cách khác phát triển ĐNGV là tạo
sự gắn bó giữa đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng hợp lý và tạo môi trường cho đội ngũ phát triển
Tóm lại: Nội dung phát triển ĐNGV là gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng
với tuyển dụng và môi trường việc làm để có được ĐNGV lớn mạnh về quy
mô, chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu
- Về qui mô của đội ngũ: Được thể hiện bằng số lượng- chất lượng
+ Về số lượng: Theo qui định của Bộ Giáo dục- Đào tạo tại thông tư 48/TT/GD về việc" Hướng dẫn thi hành quyết định 243/CP của Hội đồng Chính phủ về tổ chức bộ máy, tiêu chuẩn biên chế của các trường phổ thông"
Về số lượng giáo viên đối với cấp THPT
Trang 39+ Về chất lượng: Chất lượng là cải tạo nên phẩm chất giá trị của con
người hay sự vật Chất lượng đội ngũ giáo viên được thể hiện ở 3 mặt: Phẩm
chất- trình độ- năng lực
Phẩm chất của người giáo viên được thể hiện ở đạo đức, tư tưởng tốt Có nhân cách xã hội chủ nghĩa, có tâm hồn cao thượng, thiết tha yêu nghề mến trẻ, có lý tưởng nghề nghiệp, trung thành với tổ quốc, trung thực, giản dị Trình độ phải được đào tạo theo quy định chuẩn mà Luật Giáo dục 2005
đã đề ra Giáo viên bậc THPT phải là những nhà giáo có bằng tốt nghiệp Đại học hệ chính qui trở lên
Năng lực phải là năng lực của một nhà khoa học đó chính là mức độ tinh thông nghề nghiệp, sự hiểu biết của họ về lĩnh vực chuyên sâu, năng lực chuyên môn của giáo viên không chỉ có sự hiểu biết và tinh thông về nghề nghiệp, mà còn là khả năng truyền thụ tri thức đó cho thế hệ sau, những năng lực đó gọi là năng lực sư phạm Ngoài ra, người giáo viên dạy ngoại ngữ nói chung và giáo viên dạy tiếng Pháp nói riêng chỉ thực sự dạy được ngoại ngữ
có chất lượng nếu họ đạt được trình độ kỹ năng nghe, nói, đọc, viết về ngoại
ngữ, hay là tạm gọi là năng lực tiếng nhất định Năng lực tiếng của giáo viên
về cơ bản phải cao hơn hai Bậc so với trình độ ngoại ngữ cần đạt tới của học
sinh mà các giáo viên đó dạy ( Xem chi tiết bảng 1)
Bảng 1: Yêu cầu về năng lực tiếng Pháp của giáo viên
dạy ngoại ngữ đối với các bậc học
Tiểu học
THCS THPT ĐH
không chuyên
ĐH không chuyên yêu cầu cao
ĐH chuyên ngữ
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG PHÁP TỈNH BẮC GIANG
1 Khát quát vị trí địa lý, tình hình kinh tế- Chính trị- Văn hoá- Xã hội của tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên khoáng sản Địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn có nhiều vùng đất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu Bắc Giang nằm cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh Diện tích tự nhiên 3882,2 km2( Trung du chiếm 10,5%, miền núi chiếm 89,5%) Toàn tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố trong đó
có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao( Sơn Động) ; 229 xã, phường, thị trấn
Năm 2005, dân số toàn tỉnh khoảng 1,58 triệu người Số người ở độ tuổi lao động là 980.000 người( chiếm 62% dân số) Bắc Giang có 27 dân tộc anh
em, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 12,9% Dân số sống ở nông thôn 92%, trẻ em dưới 16 tuổi là 626 719 em chiếm 42% dân số Số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 830.000 người, trong đó tham gia trong ngành công nghiệp xây dựng là 8,86%; dịch vụ là 14,57%; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản là 76,58% tổng số lao động
Cơ cấu kinh tế: Năm 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Giang là 9,3%( Cao nhất trong 5 năm qua) Nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực trong đó tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm từ 45%