1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy học tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa của nguyễn minh châu cho học sinh lớp 12, trung học phổ thông theo hướng tiếp cận từ thi pháp tác giả

122 48 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN KIM HƯNG DẠY HỌC TÁC PHẨM " CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU CHO HỌC SINH LỚP 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TIẾ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KIM HƯNG

DẠY HỌC TÁC PHẨM " CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU CHO HỌC SINH LỚP 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ THI PHÁP TÁC GIẢ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KIM HƯNG

DẠY HỌC TÁC PHẨM " CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU CHO HỌC SINH LỚP 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ THI PHÁP TÁC GIẢ

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VIẾT CHỮ

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Viết Chữ, người thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Xin cảm ơn các thầy cô trong phòng đào tạo, trường Đại học giáo dục thư viện trường đại học quốc gia hà nội, thư viện trường đại học Sư Phạm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn các thầy, cô đã đem đến cho tôi tri thức , tình yêu đối với văn chương và nghề dạy học

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến BGH trường THPT Trần Quang Khải cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong khóa học

Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến bố mẹ, gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh tôi, giúp tôi cả về vật chất lẫn tinh thần, có niềm tin và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn trên con đường học tập

Hà Nội tháng 12 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Kim Hƣng

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2.1 Tình hình dạy học văn theo hướng Thi pháp học 2

2.2 Nguyễn Minh Châu - nhà văn lớn của nền văn học dân tộc 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1 Cơ sở lý luận 7

1.1 Thi pháp học 7

1.2 Thi pháp tác giả Nguyễn Minh Châu qua các thời kì 9

1.3 Vai trò của thi pháp truyện ngắn hậu chiến của nhà văn 11

2 Cơ sở thực tiễn 15

1.4 Nhà văn Nguyễn Minh Châu với “ Chiếc thuyền ngoài xa” trong lịch sử văn học 15

1.5 Nhà văn Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” trong đời sống nhà trường 17

1.6 Thực tiễn dạy học tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” 20

1.6.1.Mục đích khảo sát 20

1.6.2 Đối tượng khảo sát 20

1.6.3 Địa bàn khảo sát 21

Trang 6

1.6.5.Tư liệu khảo sát 21

1.6.6.Nội dung khảo sát 21

1.6.7 Phương pháp khảo sát 21

1.5.8 Kết quả khảo sát 25

1.5.9 Phân tích kết quả khảo sát 30

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG DẠY HỌC TÁC PHẨM “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” TỪ THI PHÁP CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN MINH CHÂU 39

2.1 Những yêu cầu vận dụng 39

2.1.1 Bám sát thi pháp của tác giả : nhân vật , không gian, thời gian , kết cấu 39

2.1.2 Bám sát đặc trưng thể loại của “ Chiếc thuyền ngoài xa” : “ Một truyện ngắn trữ tình giàu kịch tính” 55

2.1.3 Bám sát thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thời hậu chiến 59

2.1.3 Bám sát sự đột biến của tình tiết truyện qua những xung đột của tình huống đầy kịch tính 65

2.2 Những biện pháp dạy học 68

2.2.1 Đọc kết hợp với kể tóm tắt số phận từng nhân vật 68

2.2.3 Kết hợp liên môn, liên ngành để hình dung không gian nghệ thuật 72

2.2.3 Bám sát thời gian nghệ thuật diễn ra tấn bi kịch của từng nhân vật và sự biến đổi nhận thức 74

2.2.4 Liên hệ tới Phiên Chợ Gíat để làm rõ bi kịch tư tưởng nhà văn thời hậu chiến 76

2.2.5 Tạo một không gian đối thoại để học sinh bộc lộ thái độ 77

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80

3.1 Soạn giáo án từ thi pháp tác giả 80

1.1 Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu 81

1.2 Sự nghiệp văn học 82

2.1.Hướng dẫn HS đọc tác phẩm 83

2.1.1 Định hướng đọc các đoạn sau 83

Trang 7

2.1.2 Yêu cầu đọc: 84

2.2 Hướng dẫn HS tìm hiểu xuất xứ và vị trí tác phẩm 85

2.3 Hướng dẫn HS tìm hiểu kết cấu, bố cục của truyện 85

2.4 Hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung tác phẩm 86

2.4.1.Ý nghĩa nhan đề của truyện 86

2.4.2 Cái nhìn duy mĩ của nhân vật “tôi” (cũng chính là nhà văn, hay nhân vật Phùng) 86

2.4.3 Nhận thức lại để có một cái nhìn đầy khám phá và sáng tạo 94

3.2 Mục đích nghiên cứu 100

3.3 Địa bàn và đối tượng thực nghiệm 100

3.4 Kế hoạch thực nghiệm 100

3.5 Kết quả thực nghiệm 102

3.6 Thuyết minh cho giáo án thực nghiệm 102

3.6.1 Những khó khăn 103

3.6.2 Điểm mới của giáo án 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 109

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát giáo viên 26

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát học sinh 28

Bảng 3.1: Bảng điều tra lớp đối chứng 101

Bảng 3.2 Lớp đối chứng 102

Bảng 3.3 Lớp thực nghiệm 102

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Dạy học hiện đại đi “ từ khái quát đến cụ thể “ như một nguyên lí của sự sáng tạo Nếu không giải quyết được cái khái quát thì trong quá trình giải quyết cái cụ thể ta luôn gặp cái khái quát và lúc đó ta không thể nào giải quyết được

Ngành khoa học Ngữ văn cũng không nằm ngoài những nguyên lí hiện đại đó Từ khái quát một thời kì, một giai đoạn đến trào lưu , trường phái mới đến tác gia, tác phẩm

Mỗi thời kì , mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu, mỗi tác gia đều có những nét riêng tạo ra bản chất của mỗi thời kì , mỗi trào lưu đó Chẳng hạn nếu không nắm được thi pháp của văn học trung đại và thi pháp của từng thể loại thì không tài nào có thể dạy tốt được từng thể tài cụ thể như: Hịch, cáo, phú , văn tế…

Ở góc độ này, góc độ khác đã có những phát hiện và vận dụng vào thực tiễn dạy học những dấu hiệu của thi pháp như là một việc làm tự phát Đặc biệt đối với từng bộ phận văn học trong lịch sử như : Văn học dân gian, Văn học trung đại, Văn học hiện đại, Văn học nước ngoài Với từng bộ phận cụ thể

đã có những khái quát ở tầm vĩ mô nhưng đi sâu vào từng bộ phận thể tài chuyên biệt thì chưa có Văn học hậu chiến ở Việt Nam sau cuộc chiến tranh

ái quốc vĩ đại thì mảng văn học hậu chiến với từng thể tài như: văn xuôi , thơ sau kháng chiến chống Pháp, sau kháng chiến chống Mỹ có những gì gần nhau và khác nhau chưa được giải quyết Chính vì vậy mà khi tiến hành dạy học các tác phẩm văn chương của từng bộ phận văn học này cũng gặp không

ít những khó khăn : vấn đề số phận con người , vấn đề mối quan hệ giữa con người và một xã hội hậu chiến , sự phát triển của nó không phải đơn giản, dễ dàng lý giải Nhiều truyện ngắn thời hậi chiến đặt vấn đề nhiều hơn là giải quyết vấn đề Nhà văn đưa ra vấn đề như muốn bàn bạc với bạn đọc Điều

Trang 10

xúc đặt ra cho tác giả luận văn là : Thi pháp của văn học hậu chiến và đặc biệt

là thi pháp truyện ngắn sau 1975 và thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thời hậu chiến để giải quyết tốt việc dạy học “ Chiếc thuyền ngoài xa”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình dạy học văn theo hướng Thi pháp học

Thi pháp học là bộ môn khoa học cũ mà mới Cũ là vì bộ môn này xuất hiệ từ thời Hy Lạp cổ đại với tác phẩm đầu tiên” Nghệ thuật thi ca” của Aristot Nhưng Thi pháp học với tư cách là một bộ môn khoa học chỉ hình thành vào thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Âu- Mĩ và phổ biến khắp thế giới Ở Việt Nam trước năm 1975 , Thi pháp học đã thâm nhập vào miền Nam nhưng chưa có đủ điều kiện phổ biến ở miền Bắc Nhưng từ sau Đổi mới , bộ môn này nhanh chóng được chú ý và tạo mối quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu văn học

Ở miền Bắc sau 1954 cũng như cả nước , chủ nghĩa hình thức trong nghệ thuật chưa được chú ý do hoàn cảnh chính trị , xã hội Vì thế chỉ có vài công trình lẻ tẻ đề cập tới hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương mà thôi Chỉ từ sau Đổi mới nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học , Văn học dân gian và Văn học phương Tây đã mở đường cho Thi pháp học vào Việt Nam Một số nhà nghiên cứu đi tiên phong có thể kể đến như : Phan Ngọc ( dịch cuốn Nghệ thuật thơ ca của Aristot và Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Mĩ học của Hegel), Hoàng Trinh với Thi pháp Đốt- xtôi-ép-xki dưới con mắt Ba- khơ- tin, Đỗ Đức Hiểu cũng có một số bài nghiên cứu về thi pháp đáng chú ý … Đặc biệt là GS Trần Đình Sử với những nghiên cứu sâu sắc về Thi pháp học , ông đã trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu về Thi pháp học ở Việt Nam ( Thi pháp thơ Tố Hữu ( 1987) Một số vấn đề thi pháp học hiện đại ( 1993), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam ( 1999) , Thi pháp Truyện Kiều ( 2002)… Ngoài ra nhiều nhà nghiên cứu , dịch thuật đã góp phần giới thiệu Thi Pháp học ở Việt Nam như : Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn

Trang 11

Hải Hà, Cao Xuân Hạo, Lại Nguyên Ân, Phạm Vĩnh Cư, Đỗ Lai Thúy, Lê Ngọc Trà, Vương Trí Nhàn, Hoàng Ngọc Hiến…

Việc nghiên cứu Thi pháp học đã tạo thành một trào lưu ở Việt Nam những năm 1990, hàng loạt những nhà nghiên cứu Thi pháp nổi tiếng thế giới

đã được giới thiệu ở Việt Nam như: Aristote, Lưu Hiệp, Viên Mai, Bakhtin, Jakobson, Khrapchenko,Todorov, Meletinski… Số lượng các nhà nghiên cứu Thi pháp học và các công trình nghiên cứu về bộ môn này không ngừng tăng lên và đếm thời điểm hiện nay bộ môn Thi pháp học đã cơ bản trở thành một khoa học không thể thiếu trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương ở Việt Nam

Trong nhà trường Thi pháp học được giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học Trong chương trình Ngữ văn phổ thông đã quan tâm nhiều đến Thi pháp học, nội dung chương trình đã chú ý nhiều đến tri thức về thi pháp Nhiều nhà nghiên cứu và nhà phương pháp đã và đang có những công trình hướng vào việc tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường bằng con đường Thi pháp học Đi tiên phong trong vấn đề này có thể kể tới các Gíao sư Trần Đình

Sử , Phan Trọng Luận, Nguyễn Đăng Mạnh…Một số cuốn sách rất đáng tham khảo đối với đội ngũ giáo viên văn ở nhà trường phổ thông trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng thi pháp học như : Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể ( Trần Thanh Đạm), Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại ( Trần Đình Sử ) Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp ( Nguyễn Thị Dư Khánh ) , Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường ( Nguyễn Viết Chữ) , Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường ( Nguyễn Thị Dư Khánh)…

2.2 Nguyễn Minh Châu - nhà văn lớn của nền văn học dân tộc

Ông được coi là người mở đường tinh anh và tài năng , người đặt những viên gạch đầu tiên cho công cuộc đổi mới nền văn nghệ nước nhà.Trong suốt

30 năm cầm bút , Nguyễn Minh Châu đã giành được nhiều phần thưởng quý

Trang 12

báu Các sáng tác của ông luôn được bạn đọc nói nhung và các nhà nghiên cứu phê bình nói riêng say mê tán thưởng

Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học , chuyên luận, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận ánh tiến sĩ nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu

Có thể kể đếnh một số công trình nghiênh cứu như: " Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu " của Tôn Phương Lan; " Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn con người" của Nguyễn Văn Hạnh

Về góc độ truyện ngắn " Chiếc thuyền ngoài xa" có " Định hướng dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu được viết bởi tác giả Nguyễn Thị Lan Hương ( trường ĐH Sư Phạm Hà Nội , 2004) hoặc theo định hướng dạy học đề cao tiềm năng con người trong luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Văn Đoàn: " Vận dụng quan điểm dạy học phát triển trí thông minh của học sinh vào dạy học Chiếc Thuyền Ngoài Xa của Nguyễn Minh Châu ( Trường ĐHSPHN, 2006)."

Nhìn chung các công trình về phương pháp đều đã tập chung khám phá nội dung ngôn ngữ, nghệ thuật, giúp giáo viên có những định hướng khai thác sâu hơn, mới mẻ hơn giúp học sinh hiểu đúng đắn hơn về giá trị của tác phẩm Luận văn " Dạy học tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu cho học sinh lớp 12, THPT theo hướng tiếp cận từ thi pháp tác giả" Nhằm mục đích gợi ý cho những người dạy một phương pháp dạy học mới về tác phẩm ở nhà trường phổ thông

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Vận dụng quan điểm dạy học vận dụng thi pháp học vào dạy một tác phẩm văn học nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn , nâng cao hiệu quả giảng dạy qua đó góp phần bồi dưỡng năng lực nhận thức và tình yêu đối với văn học của học sinh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

Để thực hiện tốt mục đích nghiên cứu , chúng tôi xác định đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Tìm hiểu thực trạng dạy học , nội dung đổi mới của phương pháp dạy học tác phẩm văn chương

- Gỉai quyết một số vấn đề lý luận về Thi pháp học , thi pháp truyện ngắn , thi pháp truyện ngắn hậu chiến, thi pháp truyện ngắn hậu chiến của Nguyễn Minh Châu

- Đề xuất một số biện pháp dạy học truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” theo hướng vận dụng thi pháp truyện ngắn hậu chiến của Nguyễn Minh Châu

- Thiết thể nghiệm giáo án dạy học truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc trưng thi pháp truyện ngắn hậu chiến” của Nguyễn Minh Châu thể hiện trong truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”

+ Truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”

+ Học sinh lớp 12 ban cơ bản THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

+ Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 14

Nghiên cứu các tài liệu lý luận về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng Thi Pháp học Sử dụng các phương pháp như phân tích , tổng hợp , suy luận , so sánh…

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông , khảo sát thực tế dạy học truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”

+ Phương pháp thực nghiệm

Người viết tiến hành soạn giáo án và dạy thể nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn bao gồm 3 phần:

1 Phần mở đầu

2 Phần nội dung:

+ chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn

+ chương II: Vận dụng dạy học “ Chiếc thuyền ngoài xa” từ thi pháp tác giả Nguyễn Minh Châu

+ chương III: Thực nghiệm sư phạm

3 Kết luận

Trang 15

so với Thi pháp học cổ điển Nếu Thi pháp học truyền thống xuất phát từ đối tượng , từ chân lý tự nhiên khi bàn về nghệ thuật thì Thi pháp học hiện đại xuất phát từ bản chất sáng tạo của chủ thể Nếu Thi pháp học truyền thống xuất phát

từ những yếu tố nhỏ nhất rồi xem xét nghệ thuật như là sự tổng cộng của các yếu

tố đó , Thi pháp học hiện đại xuất phát từ quan niệm cấu trúc , tính chỉnh thể và tính hệ thống, xem nghệ thuật là một tổ chức siêu tổng cộng Nếu Thi pháp học truyền thống xem nghệ thuật là một hoạt động giao tiếp , một hệ thống ký hiệu

mà sản phẩm của nó là một khách thể thẩm mỹ , một sáng tạo tinh thần tồn tại vừa trong văn bản , vừa trong cảm thụ người đọc Thi pháp học truyền thống thích đưa ra lời khuyên bảo về sáng tạo nghệ thuật, nhà văn phải thế này thế kia, thì Thi pháp học hiện đại là khoa học đúc kết bản chất và quy luậy nghệ thuật từ trong bản thân các sáng tạo nghệ thuật , để hiểu nghệ thuật sâu hơn, đúng hơn Nếu Thi pháp học truyền thống xem nghệ thuật như là những nguyên lý nghìn năm bất biến thì Thi pháp học hiện đại xem nghệ thuật là sản phẩm của lịch sử , cùng vận động và phát triển lịch sử trong ngữ cảnh văn hóa Nếu Thi pháp học

Trang 16

truyền thống chỉ quan tâm tới các quy tắc sáng tác thì Thi pháp học hiện đại còn quan tâm tới cách đọc , cách giải mã văn bản [9; Tr 31]

Khi nghiên cứu về Thi pháp học , có rất nhiều cách hiểu khác nhau , cách tiếp cận khác nhau, có cách hiểu Thi pháp như là nguyên tắc , biện pháp chung làm cho văn bản , phát ngôn trở thành tác phẩm nghệ thuật Có cách hiểu Thi pháp như là những nguyên tắc , biện pháp nghệ thuật cụ thể , tạo thành đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm , một tác giả , thể loại, trào lưu… Nếu nhìn vào mục đích nghiên cứu nhiều người dễ nhầm Thi pháp là ngành Lí luận văn học , nhưng thực ra nó chỉ là một bộ phận của ngành lí luận văn học, bởi lí luận văn học nghiên cứu tất cả các quy luật chung của hiện tượng văn học , còn Thi pháp học chỉ nghiên cứu các nguyên tắc đặc thù tạo thành văn học như một nghệ thuật

mà thôi , phạm vi của nó thường đóng khung trong việc nghiên cứu tác phẩm, thể loại , phong cách , ngôn ngữ Tuy vậy ,Thi pháp học với tư cách khoa học ứng dụng cũng không đồng nhất với phê bình, phân tích tác phẩm văn học cụ thể , bởi vì phân tích có thể xuất phát từ nhiều quan điểm, góc độ , đặc biệt là phát hiện, đánh giá nội dung, còn Thi pháp học nghiêng về phát hiện, khám phá bản thân các quy luậy hình thức Vì thế có thể xác định Thi pháp học là một bộ phận chuyên biệt của nghiên cứu văn học , chuyên nghiên cứu tính đặc thù và các nguyên tắc nghệ thuật của văn học Tuy nhiên , dù nhiều người nói về Thi pháp học , song định nghĩa Thi pháp học là gì thì những ý kiến đưa ra đều chưa thống nhất Nhà Lí luận , phê bình văn học Nga V.Girmunxki định nghĩa : “ Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học với tư cách là một nghệ thuật” [8;Tr32] , còn M Bakhatin trong công trình “ Những vấn đề thi pháp Đốt- tôi- ép- xki” tuy không nêu ra định nghĩa về Thi pháp học , nhưng nội dung nghiên cứu của ông

là “ Nhà nghệ sĩ Đôt-tôi-ep-xki” với “ cái nhìn nghệ thuật độc đáo”; và “ hình thức tiểu thuyết đa thanh” ; “ Ngôn từ đa giọng” đã xác nhận nội dung thi pháp của nó Nhà nghiên cứu Roman Giacopson trong công trình “ Ngôn ngữ và thi pháp học “ (1960) định nghĩa: "thi pháp là một bộ phận của ngôn ngữ học , chuyên nghiên cứu, chức năng thơ của phát ngôn thơ”, tức là nghiên cứu cách

Trang 17

thức làm cho phát ngôn thơ trở thành lời thơ Nhà nghiên cứu Pháp TS Todorop trong công trình Thi pháp học ( 1975) định nghĩa thi pháp là “ những quy tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra tác phẩm cụ thể ” Cụ thể hơn là nghiên cứu tính văn học , chất văn học của tác phẩm văn học nói chung Viện sĩ người Nga V.V.Vinogradop xác định : “ Thi pháp học là một khoa học nghiên cứu các hình thức , các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ , các kiểu cấu trúc, các thể loại tác phẩm nhằm nắm bắt không chỉ là hiện tượng của ngôn từ văn học mà còn là bản thân các phương diện hình tượng khác nhau nhất của cơ cấu tác phẩm văn học và sáng tác dân gian” ( Phong cách học, Lí luận ngôn từ văn học , Thi pháp học M , 1963) Tổng hợp ý kiến trên GS Trần Đình Sử đã đưa ra định nghĩa về thi pháp học như sau: “ Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật , mọi quy tắc, phương tiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động , phát triển lịch sử của chúng” 9;Tr32]

Từ điển thuật ngữ văn học ( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) định nghĩa : “ Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện , thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự cấu thành thế giới nghệ thuật ,

ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật”[10; Tr304]

1.2 Thi pháp tác giả Nguyễn Minh Châu qua các thời kì

-Thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Minh Châu : Thi pháp tiểu thuyết qua“ Cửa sông”; “ Dấu chân người lính” ) của ông người đọc dễ dàng nhận ra một không gian nghệ thuật đặc biệt với những con người giàu chất sử thi của một lòng yêu nước thiết tha tràn đầy vẻ đẹp lạc quan, thông minh, trí tuệ, dí dỏm trong cả những hoàn cảnh khốc liệt nhất của lịch sử

- Thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu:

+ Về thi pháp truyện ngắn kháng chiến ( Mảnh trăng cuối rừng, Những

Trang 18

đẹp, cái mất mát, cái anh hùng bên sự xa thẳm của niềm lạc quan trong sự hi sinh, sự nghiệt ngã của cuộc kháng chiến mà con người vẫn ngẩng cao đầu thách thức với hiện tại gần như sự bất chấp với số phận Nhân vật nào cũng mang những hơi thở của lịch sử

+ Còn thi pháp truyện ngắn hậu chiến ( Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa…) với những Nhĩ, người đàn bà hàng chài…

Những tàn dư sau chiến tranh đầy chất trữ tình nếu chỉ nhìn nó bàng quan qua con mắt của nghệ sĩ

Nhưng nếu đi sâu vào đời sống hậu chiến thì con người đang phải đương đầu với những bi kịch thầm lặng mọi giá trị ở đây cần được nhìn nhận lại và lý giải theo những góc độ khác nhau từ số phận con người Bi kịch đâu phải đã hết, giá trị sâu sắc nhất của con người là gì? Đây là điều mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã trăn trở khi cňn sống qua bŕi phę běnh “ Hăy đọc lời ai điểu cho một nền văn nghệ minh họa” Vấn đề những bi kịch tâm trạng, những vẻ đẹp hình hài…

Các tác phẩm hậu chiến của Nguyễn Minh Châu hay đi vào biểu tượng như: Phiên chợ Giát, Chiếc thuyền ngoài xa… mà không đi vào những vấn đề gay cấn, dữ dằn như ở “Ly Dị”( Nguyễn Khải); “ Con chuồn chuồn nước” của

Lê Văn Hội; “ Cây táo ông Lành” ( Hoàng Cát); “ Sẹo đất” ( Ngô Văn Phú) ; “ Vành trắng khăn tang” của Phạm Tiến Duật… mà nhà văn lí giải cuộc sống theo một cách riêng của mình Sự lí giải ấy không dừng lại ở những lời kêu than mà

là cố tìm một sự xây dựng, cứu rỗi với một sự chịu đựng thầm lặng nhưng ít nhiều cũng thể hiện sự bất lực và không ít điều chưa lí giải được để bạn đọc phải suy nghĩ ( kiến trúc tác phẩm của ông là một kiến trúc mở ) Bao giờ thì người đàn bà vạn chài được thoát khỏi nỗi đau này ? Bao giờ thằng Phác sẽ thôi hận thù cha nó ?

Bức thông điệp mà Nguyễn Minh Châu gửi đến cho bạn đọc ở văn học hậu chiến không hề đơn giản chút nào mà tác phẩm của ông dường như có nhiều

Trang 19

tầng nghĩa cho nhiều tầng độc giả Vì vậy nếu vận dụng sâu sắc thi pháp của Nguyễn Minh Châu chúng ta rất cần một sự khơi gợi vừa hợp tác, vừa lí giải Đặc biệt là những vấn đề Nguyễn Minh Châu đặt ra không nên chỉ dừng lại

ở câu chữ Tác phẩm không chỉ dừng lại ở những lời “ai điếu” như ông đã từng nói

1.3 Vai trò của thi pháp truyện ngắn hậu chiến của nhà văn

Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thời hậu chiến có nhiều đổi mới:

- Đề tài và phạm vi phản ánh: Truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu tập trung vào đề tài đời tư, thế sự nhà văn hướng ngòi bút của mình vào số phận nhỏ nhoi, âm thầm, lặng lẽ sống trong một góc khuất nào đó của cuộc đời với bao cảnh ngộ éo le, những bi kịch khủng khiếp hằn sâu trong từng số phận một cách da diết đau đớn như: cuộc sống thường nhật của gia đình ngư dân

“Chiếc thuyền ngoài xa” ,tâm trạng day dứt của người đàn ông với quê hương

“Bến quê”….bộn bề những thứ vụn vặt của cuộc sống đời thường nhưng đầy ý nghĩa Đọc Nguyễn Minh Châu ta thấy “Những cái tưởng như bình thường, lặt vặt trong cuộc sống hàng ngày dưới ngòi bút và con mắt của Nguyễn Minh Châu đều trở thành những gợi ý đáng suy nghĩ và có tầm triết lý” [20; Tr178]

Nguyễn Minh Châu với ý thức đưa văn học về với đời sống để thể hiện chủ đích “Mỗi truyện tôi nêu ra một trường hợp cụ thể và xen kẽ vào mạch kể chuyện, tôi bàn bạc và quan niệm cuộc sống hoặc báo động một điều gì đó”

“Ngòi bút của ông đã lôi ra và làm sáng tỏ trước mặt người đọc không biết bao nhiêu những điều thuộc về lương tâm, về đời sống tinh thần của con người ” [20; Tr194]

Xây dựng cốt truyện: Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đầy những chi tiết vụn vặt, nhỏ nhặt bình thường của cuộc đời thường nhật Hệ thống

sự kiện chính luôn bị đứt đoạn bởi sự chêm xen của mạch suy tưởng, triết lý, của các sự kiện hồi tưởng ….làm cho cốt truyện cứ bị đứt gãy như hiện thực cuộc sống vốn thế Khung cốt truyện được nới lỏng đến mức dường như không còn

Trang 20

truyện mà chỉ còn là những mảnh đời vụn vặt, những trạng thái tâm lý như là vu

vơ, những xung đôt chỉ phác ra mà không giải quyết

Cốt truyện về sinh hoạt thế sự là loại truyện về những sự việc đơn giản, bình thường vẫn hằng diễn ra Mỗi truyện giống như một mảnh của bức tranh đời sống, loại cốt truyện này không có mở đầu hay kết thúc thiếu vắng những tình tiết Những truyện ngắn có kiểu cốt truyện này đều hướng vào chiêm nghiệm lẽ đời, hướng tới sự cảnh tỉnh kín đáo với những lối sống, thói quen tự nhiên vô ý thức Cốt truyện dựa vào những số phận đời tư là dạng cốt truyện chủ yếu tái hiện những thăng trầm uổn khúc trong số phận cá nhân như “Người đàn

bà trên chuyến tàu tốc hành ” “Phiên chợ Giát”

Cốt truyện xây dựng trên những nguyên tắc luận đề Đây là cốt truyện viết dựa vào sự nhận thức lại của nhà văn khi mà rất nhiều quan niệm lối sống, suy nghĩ đã trở thành thói quen thành chuẩn mực của một thời Đổi mới xây dựng tình huống truyện: Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 thường xây dựng ba kiểu tình huống sau: tình huống tự nhận thức, tình huống thắt nút; tình huống tự nhận thức và tình huống thắt nút

Đổi mới về nghệ thuật trần thuật bao gồm: Điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật

Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu có những đặc điểm nổi bật sau:

Ngôn ngữ được nuôi trong lòng tiếng nói đời sống với tư duy nghệ thuật hướng vào đời tư khám phá con người bên trong con người, nên truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sử dụng nhiều ngôn ngữ hiện thực đời thường Nghĩa là thứ ngôn ngữ không “cách điệu gọt dũa” rất gần khẩu ngữ làm cho văn chương dung

dị hơn, dân dã hơn Chúng ta nghe nhà văn đặt vào miệng lão Khúng ngôn ngữ nông dân rất cọc cằn, bỗ bã: “một anh nông dân suốt đời đi sau mông con bò thì

là cái thá gì… cái lão Khúng thiết đếch gì?” có lẽ đây là một đóng góp đem đến sức hấp dẫn riêng cho các sáng tác văn học, góp phần làm cho văn học ngày một chân thực hơn, dân chủ hơn

Trang 21

Ngôn ngữ tăng cường tính tốc độ, mang lượng thông tin cao, có tính triết luận sâu sắc Tính tốc độ của ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thể hiện

rõ ở lối vào truyện nhanh, mạch truyện dồn dập những đối thoại trực tiếp Đó là kết quả của của sự quan sát, suy ngẫm thấu đáo trước những vấn đề đang diễn ra Nguyễn Minh Châu cũng rất có ý thức nâng cấp nghệ thuật cho ngôn ngữ truyện ngắn của mình Cùng với ngôn ngữ bình dị, đời thường, gần gũi là ngôn ngữ giàu hình ảnh được chọn lọc, gọt giũ, chau chuốt

Điểm nhìn nghệ thuật Nguyễn Minh Châu chọn phương thức trần thuật với

đa dạng hóa điểm nhìn nghệ thuật Trong mỗi truyện ngắn của ông, nhà văn không còn là người phán xét cuối cùng mà người đọc cảm nhận nhân vật bằng chính con người bên trong con người của mình Điểm nhìn nghệ thuật luôn được nhà văn thay đổi để tạo ra hệ thống giá trị khác nhau về cùng một vấn đề một con người

Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thật phong phú Nó như sự phỏng nhại âm thanh đa dạng, đa sắc thái của cuộc sống đời thường Ở truyện này là giọng điệu đùa vui hóm hỉnh ở truyện kia là giọng chú chất đến xót xa, truyên khác lại là giọng hoài nghi chất vấn đay đả hoặc từng trải

….giọng điệu trần thuật chủ đạo trùm lên những sáng tác của nhà văn vẫn là giọng trữ tình, trầm lắng đượm nhiều trắc ẩn, suy tư day dứt như trong truyện ngắn “Bức tranh”, “Phiên chợ Giát”

Đổi mới trong việc xây dựng biểu tượng nghệ thật và chi tiết nghệ thật: Biểu tượng nghệ thuật thực sự là một hiện tượng thẩm mỹ đa nghĩa, đa chức năng góp phần thể hiện thế giới nhân vật, vừa góp phần gia tăng tính triết lí, tính chữ tình cho tác phẩm, vừa tạo lên những nét độc đáo trong phong cách trần thuật Mỗi biểu tượng nghệ thuật được xây dưng trong chuyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là một tấm gương phản chiếu số phận nhân vật, là bức tranh nội tâm,

là góc khuất tâm linh của nhân vật Những biểu tượng ấy vừa thấm đẫm chất triết

lí vừa đầy chất chữ tình Nó không chỉ là tín hiệu thẩm mĩ, là hình tượng có tầm

Trang 22

khái quát triết học để thể hiện tư tưởng nghệ thuật mới của nhà văn mà còn góp phần làm tăng chất thơ cho tác phẩm

Nhận thức lại mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống Nguyễn Minh Châu đến với văn học vào một thời điểm lịch sử đặc biệt

Cuộc sống con người là khúc tráng ca vô tận khơi nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo nghệ thuật Nghệ thuật bước ra từ cuộc sống, nghệ thuật là sự thăng hoa những cảm xúc từ cuộc sống con người của nhà nghệ sỹ Bởi vậy, nó phải gắn chặt với cuộc sống và phải vì cuộc sống Nếu xa rời cuộc sống nghệ thuật đã rũ

bỏ cội nguồn của mình Chính nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng nói “Cuộc đời thì đa sự, con người thì đa đoan” Với “Chiếc thuyền ngoài xa”, nhà văn đã nhìn thấy và miêu tả được những cái “đa sự”, “đa đoan” của cuộc đời và con người Vì vậy, có thể nói, “Chiếc thuyền ngoài xa” là tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống Nhận thức lại trách nhiệm của người nghệ sĩ

Quan niệm nghệ thuật có vai trò quan trọng Nó là ý thức hệ đặc biệt gắn liền với sự miêu tả của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật đổi mới cách nhìn con người và cuộc sống

Nguyễn Minh Châu được coi là “nhà văn mở đường tinh anh” cho công cuộc đổi mới văn học Sở dĩ có sự đổi mới như vậy trong cách nhìn con người và cuộc sống là bởi Nguyễn Minh Châu quan niệm: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Ông phát biểu: “Người viết nào

mà lại không mang nặng trong mình một tình yêu cuộc sống, nhất là tình yêu thương con người? tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một nỗi quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những con người chung quanh mình”

Nguyễn Minh Châu được coi là vị khai quốc công thần của triều đại văn học đổi mới Nhà văn ý thức rất rõ nhu cầu của mình và nhu cầu của văn học Ông từ giã chính ông, truy đuổi những cách khám nghiệm đời sống dưới góc nhìn và phương tiện mới

Trang 23

Năm 1983, khi “Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời, đất nước vẫn chưa thoát khỏi dư chấn của chiến tranh, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Số phận cá nhân nằm im dưới lớp băng hà của “giấc mơ đại tự sự” Với những dự cảm thời cuộc sắc bén và tài năng nghệ thuật của mình ,Nguyễn Minh Châu đã giúp lớp băng hà kia có những vết nứt cần thiết Vết nứt để nhìn ra vùng tối, và có thể, đón nhận vùng sáng

Cho đến nay, hầu như giới nhà văn và giới nghiên cứu phê bình văn học đều coi “Chiếc thuyền ngoài xa” là tác phẩm tiêu biểu, mang dấu ấn rõ nhất phong cách Nguyễn Minh Châu ở thể loại truyện ngắn

Trước 1975, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Nguyễn Minh Châu được bạn đọc biết đến và yêu mến qua các tiểu thuyết: Cửa sông, Dấu chân người lính và truyện ngắn giàu chất sử thi như " Mảnh trăng cuối rừng "… đã góp phần dựng lên bức tượng đài về sức mạnh và vẻ đẹp của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Trong những tác phẩm này, ý thức cộng đồng và tình yêu Tổ quốc là một hệ quy chiếu duy nhất và cao cả nhất để định giá mọi quan hệ từ gia đình đến xã hội, mọi tình cảm

từ riêng đến chung của con người, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh cần

có sự đồng lòng nhất trí cao độ thì điều này là tất yếu Trong dòng chảy mãnh liệt của lịch sử thời đại chống Mỹ thì ngọn lửa kháng chiến đã tôi luyện ngòi bút Nguyễn Minh Châu

Trang 24

Sau 1975 khi hoàn cảnh xã hội thay đổi, nền văn học mang âm hưởng sử thi dần dần bộc lộ tính sơ lược công thức, có phần giản đơn phiến diện về con người, lúc này khó có thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống mới với những vấn đề phức tạp, bức xúc bộn bề Trong cuộc đấu tranh lâu dài giữa đời thường, bao vấn đề nhân sinh đã đặt ra cho mỗi người nói chung và cho các nhà văn như Nguyễn Minh Châu nói riêng Nguyễn Minh Châu đã có sự chuyển hướng về tư duy nghệ thuật: từ cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc, nhà văn cùng đất nước chuyển sang cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người

Là một nhà văn tâm huyết suốt đời trăn trở, băn khoăn như ngọn nến tự đốt thân mình để cháy sáng; Nguyễn Minh Châu đã sớm ý thức được yêu cầu phải đổi mới tư duy văn học và đã âm thầm tự đổi mới và tự tìm hướng đi cho chính mình với một loạt truyện ngắn đậm chất đời tư - thế sự: Cỏ lau, Cơn giông, Bến quê, Bức tranh…

Những tác phẩm của ông giai đoạn này hấp dẫn người đọc bởi sự giản dị

mà chứa đựng chiều sâu nhân bản Tâm điểm khám phá nghệ thuật của ông là những con người bình thường trong cuộc mưu sinh và trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách Đặc biệt những năm cuối đời, dòng mạch văn chương của ông xót xa trầm lắng trong bến bờ sâu thẳm của nó – nơi ông hằng ám ảnh và manh nha tìm kiếm vấn đề số phận con người Thực tế văn học cho thấy: quá trình đổi mới ý thức nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu là quá trình trở về cội nguồn chủ nghĩa nhân văn, nối lại truyền thống văn học trung đại thấm đẫm tình người tình đời, và là sự khơi nguồn cảm hứng nhân văn cho những sáng tác trong những thập kỷ sau này Đánh giá về những tác phẩm của ông được viết vào những năm đầu của thập kỷ 80 nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét : Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn mở đường tinh anh

và tài năng nhất của văn học nước ta thời kì sau 1975

Các tác phẩm của ông trong mấy thập kỷ qua đã thu hút sự tìm tòi, nghiên cứu một cách khoa học, sâu sắc và khách quan của các nhà phê bình và nghiên cứu trong nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn

Trang 25

Minh Châu ở phương diện nội dung và nghệ thuật để thấy được những tìm tòi đổi mới trong cách viết của Nguyễn Minh Châu

1.5 Nhà văn Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” trong đời sống nhà trường

Là tác phẩm độc đáo về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu cho phong cách nhà văn Nguyễn Minh Châu, và cũng tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp ông nhận ra đời sống con người bao gồm cả những quy luật tất yếu, lẫn những ngẫu nhiên may rủi khó bề lường hết Ông day dứt về việc con người phải chấp nhận những nghịch lý không đáng có Gánh nặng mưu sinh đã

đè trĩu trên đôi vai cặp vợ chồng hàng chài, giam hãm họ trong cảnh tăm tối đói khổ, bấp bênh Phía sau câu chuyện buồn này, trái tim nhân hậu của Nguyễn Minh Châu vẫn ấm áp niềm tin yêu, sự trân trọng trước vẻ đẹp của tình mẫu tử,

sự can đảm và bao dung của người phụ nữ Đó không phải là kiểu vẻ đẹp chói sáng, hào hùng; mà là những hạt ngọc khuất lấp, lẫn trong cái lấm láp, lam lũ của đời thường

Truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" là một tác phẩm hay, có sức hấp dẫn,

lôi cuốn người đọc Tác phẩm đưa ra những vấn đề nhân sinh rất gần gũi, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 - lứa tuổi gần hoàn thiện về mọi mặt những vấn đề thường xảy ra trong cuộc sống hàng ngày để học sinh cùng suy nghĩ, tìm cách lý giải Để từ đó học sinh tự nhận thức, tự giáo dục và tự phát triển

Những đặc sắc trong đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong cách viết của ông đã được một số bài viết đề cập đến ở nhiều khía cạnh Tuy nhiên , dạy học tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” vẫn còn xa rời thi pháp văn học hậu chiến của nhà văn Thực hiện đề tài này, tôi mong tìm hiểu sâu sắc hơn và giúp học sinh phân tích, thảo luận các tầng ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm đầy đủ hơn Chương trình thay sách Ngữ văn THPT phân ban bắt đầu được thực hiện thí điểm từ năm học 2003 – 2004 ở một số trường trong phạm vi toàn quốc Đến

Trang 26

2005 – 2006 chương trình đã “chạy” được một vòng, có nghĩa đây là năm đầu tiên lớp 12 học bộ sách mới Và như vậy, nếu đi vào thực hiện đại trà bắt đầu từ năm 2006 – 2007 ở lớp 10 trong toàn quốc thì phải ba năm sau, tức năm học

2008 – 2009 mới đến lớp 12 Nói như thế để sơ bộ hình dung ra những khó khăn

và thuận lợi khi tiến hành điều tra việc dạy học tác phẩm này như thế nào trong thời điểm hiện nay ở trường THPT

Thuận lợi

- Về phía tác giả và tác phẩm

Nguyễn Minh Châu là tác giả các em đã từng biết đến khi học truyện ngắn

“Bến quê” ở lớp 9 Những đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn này trong thời kì đổi mới nền văn học không phải là xa lạ với các em Đây là thuận lợi lớn cho các em trong việc tiếp nhận truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa"

Dù nhiều triết lí, nhiều khái quát nghệ thuật nhưng tác phẩm này rất gần gũi với ngôn ngữ thời đại và cuộc sống đời thường Vẻ đẹp nổi bật của tác phẩm chính là sự trong sáng, giản dị nhưng vẫn rất khái quát, đa nghĩa

Truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" được Nguyễn Minh Châu viết vào năm 1983 Vì gần cũng thời đại nên không có khoảng cách quá lớn giữa nhà văn, tác phẩm, bạn đọc và học sinh về mặt ngôn ngữ, tư duy nghệ thuật, hoàn cảnh và môi trường sống… Do đó, sẽ có những đồng nhất thẩm mĩ cần thiết tạo sự sáng tạo cho học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm

Tác phẩm mới, chương trình, sách giáo khoa mới, phương pháp dạy học hiện đại sẽ tạo ra những kích thích mạnh mẽ, làm tăng hứng thú dạy của giáo viên và hứng thú tiếp nhận của học sinh Hứng thú sẽ dẫn đến say mê, say mê sẽ giúp cả giáo viên và học sinh làm việc hiệu quả hơn

- Về phía giáo viên và học sinh :

Giáo viên là những bạn đọc lí tưởng nên có điều kiện và ý thức khi tiếp nhận tác phẩm Họ đã được tìm hiểu và từng giảng dạy về tác giả và tác phẩm Nguyễn Minh Châu, lại có kiến thức sâu rộng làm nền tảng cơ sở nên cũng

Trang 27

không gặp nhiều khó khăn đáng kể khi hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm này

Sự đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nói chung, truyện ngắn

“Chiếc thuyền ngoài xa” nói riêng đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu, tạo cơ sở tư liệu tham khảo phong phú cho giáo viên Những tư liệu đó là những gợi ý quý giá giúp cho quá trình định hướng của giáo viên sát đối tượng hơn Đồng thời người giáo viên cũng định hình được cách thức, phương pháp để dạy học tác phẩm này đạt mục đích giáo dục

Bản thân truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm hay, có sức hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc Tác phẩm đưa ra những vấn đề nhân sinh rất gần gũi, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 Điều đó dễ khắc phục được

“khoảng cách thẩm mĩ” cũng như có khả năng nâng cao “tầm đón nhận” cho học sinh Qua tác phẩm, nhà văn trao đổi với học sinh, ở lứa tuổi 18, lứa tuổi tương đối hoàn thiện nhân cách, về mọi mặt vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày để các em cùng suy nghĩ, tìm cách lí giải các vấn đề của đời sống, để từ đó các em tự nhận thức, tự giáo dục và tự phát triển

* Khó khăn

Về phía tác giả, tác phẩm

- Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sáng tác sau 1975 Trong nhà trường phổ thông, việc tiếp cận với những cái mới mẻ, chệch khỏi thói quen xưa nay vốn không phải là chuyện dễ dàng

Tác phẩm này mới được đưa vào chương trình Ngữ văn 12 nên còn nhiều ý kiến khen chê khác nhau Giá trị đích thực của tác phẩm vẫn là một ẩn số lớn đối với người đọc Tác phẩm có dung lượng dài, nhưng thời lượng dành cho giảng dạy trên lớp quá hạn hẹp, chỉ với 2 hoặc 3 tiết dạy, nếu giáo viên khai thác rộng

sẽ không sâu, ngược lại, chỉ đi sâu vào một số nội dung trọng tâm sẽ phá vỡ tính chỉnh thể của tác phẩm và dễ trượt ra khỏi ý đồ nghệ thuật của nhà văn

Trang 28

Khi truyện ngắn này được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn 12 mới, rất nhiều giáo viên tiếc cho “Mảnh trăng cuối rừng” và bỡ ngỡ trước “ Chiếc thuyền ngoài xa” Vẫn biết rằng việc tiếp nhận cái mới, đặc biệt là cái mới trong nghệ thuật là cả một vấn đề nan giải Tuy nhiên, tâm lí này của một số giáo viên đã vô tình tạo nên sự khó khăn cho quá trình tiếp nhận tác phẩm này, bởi nếu giáo viên không thật sự chú tâm và cẩn thận thì dễ dẫn học sinh đi đến những dị ứng hoặc phản tiếp nhận

Trên đây là những thuận lợi và khó khăn khi dạy học “Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu Khó khăn không phải là rào cản không thể vượt qua với những người ham hiểu biết và thực sự có ý thức trong học tập Thuận lợi không phải để chúng ta đơn giản hóa vấn đề Điều quan trọng là cả giáo viên và học sinh phải biết vượt qua khó khăn, tận dụng những thuận lợi để đạt được hiệu quả cao trong dạy và học tác phẩm này

1.6 Thực tiễn dạy học tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa”

Việc dạy học chiếc thuyền ngoài xa vẫn còn xa rời hệ thống thi pháp truyện ngắn hậu chiến của nhà văn Chúng tôi tiến hành dạy học tác phẩm dựa vào việc vận dụng thi pháp hậu chiến của nhà văn Nguyễn Minh Châu với mong muốn góp thêm một cách dạy học về tác phẩm.Khảo sát về thực trạng dạy học truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” trong nhà trường phổ thông

1.6.1.Mục đích khảo sát

Khảo sát nhằm hiểu rõ thực tế giảng dạy của giáo viên và khả năng nắm bắt, cảm thụ, tiếp nhận truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của HS THPT hiện nay Đồng thời phát hiện ra những mặt tích cực cũng như hạn chế của các em trong quá trình tiếp nhận

Thông qua việc kiểm tra kết quả thực tiễn, người viết tìm ra các biện pháp dạy học phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học văn từ việc vận dụng thi pháp của tác giả

1.6.2 Đối tượng khảo sát : HS THPT lớp 12

Trang 29

GV giảng dạy môn Ngữ văn lớp 12, SGK Ngữ Văn ban cơ bản, SGK Ngữ Văn nâng cao; SGV, các tài liệu tham khảo về Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”

1.6.3 Địa bàn khảo sát:

Chúng tôi điều tra, thăm dò ý kiến của GV và HS ở 2 trường THPT Trần Quang Khải, huyện Kinh Môn , tỉnh Hải Dương và trường THPT Nhị Chiểu , huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

1.6.4 Thời gian khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát việc dạy của giáo viên và học của học sinh đối với tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” trong học kỳ II của năm học 2012-2013

1.6.5.Tư liệu khảo sát

SGK Ngữ văn lớp 12 cơ bản- tập 2

Tìm hiểu sách giáo viên, sách hướng dẫn, sách tham khảo

Tìm hiểu các bài soạn của GV THPT, vở ghi của HS

1.6.6.Nội dung khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học cụ thể trong tiết dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của GV Và HS lớp 12

Tìm hiểu nhận thức của GV về vấn đề vận dụng thi pháp tác giả trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Tìm hiểu HS về hứng thú học tập, mức độ tiếp nhận tác phẩm cũng như khả năng vận dụng, thực hành nhãng kĩ năng hành văn của học sinh

Tìm hiểu biện pháp, các bước tiến hành mà GV sử dụng khi tổ chức hướng dẫn HS trong quá trình tiếp nhận

Xác định những khó khăn cơ bản ảnh hưởng đến việc vận dụng thi pháp tác giả trong dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

1.6.7 Phương pháp khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra đối với GV và HS; xem vở ghi HS và giáo án của GV; dự các buổi thảo luận giữa GV – HS, GV –

Trang 30

GV, HS – HS cũng như chấm bài kiểm tra của HS để từ đó rút ra được kết quả khách quan nhất về việc dạy và học “Chiếc thuyền ngoài xa” ở THPT

Cụ thể:

* Đối với GV

Tác giả của luận văn đã có những cuộc phỏng vấn trực tiếp đối với một số

GV đã và đang dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” ở nhà trường THPT Hầu hết các cuộc trao đổi đó đều xoanh quanh việc “GV hiện nay tiếp nhận, cảm thụ và dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” như thế nào?” Câu trả mà chúng tôi nhận được cũng rất đa dạng, phong phú, phần nào phản ánh đúng với thực tế dạy và học Chiếc thuyền ngoài xa nói riêng và truyện ngắn nói chung Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra bằng cách ghi sẵn câu hỏi để có được kết luận tương đối xác thực về phương pháp dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Các câu hỏi được đưa ra như sau:

Câu 1: Khi dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, thầy (cô) dựa vào những yếu tố nào sau đây: Văn bản tác phẩm và câu hỏi trong SGK; hướng dẫn trong sách giáo viên (SGV); Kết hợp các tài liệu khác có liên quan với văn bản tác phẩm; Các ý kiến khác (GV lựa chọn và đánh dấu vào các ô vuông bên cạnh)

Câu 2: Khi dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, thầy (cô) yêu cầu

HS làm những việc gì: Đọc văn bản tác phẩm và trả lời câu hỏi trong SGK;

Soạn thêm những câu hỏi về lịch sử xã hội, về tác giả; Tìm hiểu trước về tác phẩm và nêu cảm nhận, suy nghĩ riêng của bản thân về nhân vật, về các chi tiết; Ý kiến khác (GV lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Câu 3: Biện pháp chủ yếu khi dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

là gì: GV thuyết giảng, HS tiếp nhận; GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản qua

hệ thống câu hỏi gợi mở; GV tổ chức cho HS đối thoại để tìm hiểu tác phẩm; Các biện pháp khác (GV lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Trang 31

Câu 4: Trong dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, thầy (cô) chú ý đến mối quan hệ nào: Quan hệ giữa GV – HS; Quan hệ giữa HS – tác phẩm; Quan hệ giữa GV – HS – tác phẩm; Ý kiến khác (GV lựa chọn và đánh dấu vào

ô vuông bên cạnh)

Câu 5: Khi dạy học “Chiếc thuyền ngoài xa” các thầy cô có bao giờ vận dụng thi pháp của tác giả Nguyễn Minh Châu vào dạy học hay chưa: có vận dụng ; chưa bao giờ vận dụng; có nhưng chưa kĩ; ( ý kiến được tích vào ô vuông bên cạnh)

Câu 6 Thi pháp hậu chiến của Nguyễn Minh Châu ?

Không gian sau chiến tranh,con người, số phận ; Thời gian quá khứ , hiện tại , tương lai ở 1 truyện ngắn trữ tình thế sự ; kết cấu truyện ngắn ; tất cả các ý kiến trên ( gv lực chọn đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Chúng tôi cũng đã tham gia những buổi thảo luận nhóm, sinh hoạt chuyên

đề của tổ bộ môn về cách giảng dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” sao cho phù hợp nhất với yêu cầu hiện nay Phần đa GV nhất trí với hướng triển khai trong SGV chương trình chuẩn (vì hiện tại chủ yếu các trường THPT đang dạy theo bộ SGK chương trình chuẩn) Bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ các GV

đã mạnh dạn đề xuất những cách dạy học mới đối với truyện ngắn này Theo chúng tôi đây là những tín hiệu đáng mừng trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học mà chúng ta đã và đang thực hiện

Bên cạnh đó chúng tôi đã tiến hành tham khảo một số giáo án về truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của GV năm học 2011, 2012 và năm học 2013 cũng như dự giờ tại lớp Qua đây, chúng tôi nhận thấy, các giáo án của GV đã cung cấp đầy đủ lượng kiến thức cơ bản đến HS trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật như: nhan đề, tình huống truyện, hệ thống nhân vật, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, vài nét nghệ thuật đặc sắc; một vài giáo án cũng đã có sự thay đổi hướng khai thác đối với tác phẩm nhưng hầu như các GV cũng mới chỉ dừng lại ở một số hướng tiếp cận nhất định về nội dung hoặc một số khía cạnh về hình

Trang 32

thức mà chưa có một giáo án nào vận dụng thi pháp của tác giả trong dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” ở nhà trường THPT hiện nay

* Đối với HS

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các em HS trước và sau khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” để nắm được sự chuẩn bị bài cũng như đánh giá được mức độ tiếp nhận tác phẩm của các em Thực tế cho thấy nhiều HS chưa có hứng thú với môn học, học một cách chống đối, hiểu bài chưa sâu, chưa đạt được mục đích dạy học mà GV đề ra

Khi xem vở ghi của HS, phần đa các em tuân thủ theo giáo án GV đã dạy, song còn một số em ghi chép tùy tiện, sơ sài, chưa làm rõ nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” Kết quả cho thấy HS chỉ chú trọng phân tích các nhân vật trong truyện chứ tuyệt nhiên chưa biết vận dụng thi pháp của tác giả vào trả lời các câu hỏi , cũng như tìm hiểu tác phẩm

Chúng tôi cũng đã dự buổi thảo luận của các em HS xoay quanh truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” Ý kiến nhận được từ các em là những nhận định, đánh giá vừa khách quan nhưng cũng có nhiều yếu tố chủ quan trong đó Điều này cho thấy các em HS cũng đã phần nào dám bộc lộ chính kiến của mình trước những hiện tượng văn học trong nhà trường

Khảo sát các bài làm văn của HS (gồm các bài thu hoạch sau tiết học, bài kiểm tra 15 phút, bài viết 2 tiết) cũng đã thu nhận được những kết quả nhất định

Có một số HS đã cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm, biết vận dụng kiến thức vào làm các bài làm văn nhưng cũng không ít HS chưa đáp ứng được yêu cầu mà đề bài đặt ra, chưa biết phân tích và cắt nghĩa vấn đề một cách thấu đáo dẫn đến hiệu quả dạy học còn thấp

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã phát phiếu điều tra cho các em HS để tìm hiểu kĩ hơn về thực trạng dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Các câu hỏi được đặt ra như sau:

Câu 1: Trước mỗi giờ học văn, anh (chị) thường chuẩn bị gì khi lên lớp: Đọc và tìm hiểu trước tác phẩm cũng như tài liệu liên quan; Chuẩn bị theo

Trang 33

những câu hỏi trong SGK; Không chuẩn bị gì cả; Ý kiến khác (HS lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Câu 2: Trong khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, anh (chị) chú ý đến yếu tố nào nhất: Những yếu tố bên ngoài văn bản; Những yếu tố trong văn bản; Những yếu tố do bản thân mình tâm đắc; Cả ba yếu tố trên (HS lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Câu 3: Khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” anh (chị) thấy có khó khăn gì ? Tác phẩm viết về những vấn đề quá khứ; Có nhiều tình tiết hay, hấp dẫn nhưng khó nắm bắt; Thời lượng học trên lớp ít; Ý kiến khác (HS lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Câu 4: Trong giờ học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” anh (chị) có cách học như thế nào: Nghe GV giảng kết hợp ghi chép; Ghi chép theo những phần chốt kiến thức của GV; Trao đổi, thảo luận để khám phá giá trị của tác phẩm; Ý kiến khác (HS lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Câu 5: Hình ảnh tác giả với nội dung tác phẩm hiện lên qua hình dung của

em ( hình ảnh Nguyễn Minh Châu ở đầu và cuối tác phẩm có giống nhau không? : Không giống nhau, có giống nhau, lo âu, buồn ( đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Câu 6 : Về hệ thống nhân vật có được giải thoát không?

có , không, chưa biết ( đánh dấu vào ô vuông bênh cạnh)

Câu 7 : Về tình huống chi phối toàn truyện?

Bi kịch đời thường, không bi kịch, bi kịch đã được giải thoát , chưa giải được ( đánh dấu vào ô vuông bên cạnh )

Phát phiếu hỏi, dự giờ, quan sát các hoạt động dạy của GV, và học của HS Kháo sát giáo án của GV, vở ghi và vở soạn của HS

Tổng hợp đánh giá, kết quả khảo sát

1.5.8 Kết quả khảo sát

Về phía GV

Trang 34

Một GV ở trường THPT Trần Quang Khải khi được phỏng vấn đã tâm sự:

“Chiếc thuyền ngoài xa” hay nhưng để chuyển tải cái hay đó đến HS là điều rất khó Để HS nắm bắt được mọi khía cạnh của tác phẩm chúng tôi đã cố gắng tận dụng thời gian tối đa trên lớp xong kết quả chưa thực sự được như mong muốn Một GV khác cũng cho biết: Khi học “Chiếc thuyền ngoài xa” và những truyện ngắn khác, HS vẫn còn lười đọc văn bản, soạn bài chống đối, chưa phát huy vai trò chủ thể của các em trong quá trình lĩnh hội kiến thức bài học

Xoay quanh hướng tiếp cận tác phẩm cũng có những ý kiến khác nhau Có

GV vẫn duy trì hướng tiếp cận tồn tại bấy lâu nay đó là tiếp cận duy văn bản; chỉ một số ít quan tâm đến vận dụng thi pháp của tác giả vào dạy học tác phẩm mà điều này đối với GV không phải dễ thay đổi

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát giáo viên

Câu

hỏi Kết quả tổng hợp

Số phiếu %

Câu 1

Số GV dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” dựa

vào văn bản tác phẩm và câu hỏi trong SGK 4 26.7

Số GV dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” dựa

Số GV dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” dựa

vào việc kết hợp có liên quan với văn bản tác phẩm 1 6.6

Câu 2

Số GV khi dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

yêu cầu HS đọc văn bản và trả lời câu hỏi trong SGK 13 86.8

Số GV dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” yêu

cầu HS soạn thêm những câu hỏi về lịch sử xã hội,

về tác giả

Số GV dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” yêu

cầu HS tìm hiểu trước về tác phẩm và nêu cảm nhận, 1 6.6

Trang 35

suy nghĩ riêng của bản thân về nhân vật, về các chi

tiết

Câu 3

Số GV dùng biện pháp chủ yếu khi dạy truyện ngắn

“Chiếc thuyền ngoài xa” là: GV thuyết giảng – HS

tiếp nhận

10 66.7

Số GV dùng biện pháp chủ yếu khi dạy truyện ngắn

“Chiếc thuyền ngoài xa” là: GV hướng dẫn HS tìm

hiểu qua hệ thống câu hỏi gợi mở

3 20.1

Số GV dùng biện pháp chủ yếu khi dạy truyện ngắn

“Chiếc thuyền ngoài xa” là: tổ chức cho HS đối thoại

để tìm hiểu tác phẩm

Câu 4

Số GV dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Số GV dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

chú ý đến mối quan hệ giữa GV – tác phẩm 1 6.6

Số GV dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

chú ý đến mối quan hệ giữa GV – HS – tác phẩm 2 13.4

Câu 5

Số GV dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Số GV dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Số GV dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

Câu 6 Không gian sau chiến tranh, con người, số phận 5 33

Trang 36

Thời gian, quá khứ, hiện tại tương lai ở 1 truyện

Một HS khác cho biết: Chúng em khi học truyện ngắn này chủ yếu dựa vào SGK và các sách tham khảo để soạn và viết bài Việc đọc tác phẩm nhiều lần trước khi lên lớp là không nhiều thậm chí rất ít Đọc chỉ mang tính chất bắt buộc Việc thảo luận bài học cũng chỉ mang tính h́nh thức, chưa đạt hiệu quả cao Khi hỏi về kết quả thu được sau bài học, nhiều học sinh đã chia sẻ: Chúng

em chủ yếu chỉ nắm được những cái cơ bản về các nhân vật; nghệ thuật đặc sắc của truyện cũng như thi pháp của tác giả thể hiện trong truyện chúng em chưa thực sự hiểu hết một cách thấu đáo

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát học sinh

phiếu %

Câu 1

Số HS trước mỗi giờ văn thường đọc và tìm hiểu

trước tác phẩm và những tài liệu liên quan 20 22.2

Số HS trước mỗi giờ văn thường chuẩn bị theo

Số HS trước mỗi giờ văn thường không chuẩn bị gì

Câu 2 Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” 10 11.1

Trang 37

chú ý đến những yếu tố bên ngoài văn bản

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

chú ý đến những yếu tố trong văn bản 60 66.7

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

chú ý đến những yếu tố do bản thân mình tâm đắc 10 11.1

Câu 3

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

thấy khó khăn là: tác phẩm viết về những vấn đề

quá khứ

15 16.7

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

thấy khó khăn là: có nhiều tình tiết hay, hấp dẫn

nhưng khó nắm bắt

25 27.8

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

thấy khó khăn là: thời lượng học trên lớp ít 45 50

Câu 4

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

có cách học: nghe GV giảng kết hợp ghi chép 25 27.8

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

có cách học: ghi chép theo những phần chốt kiến

thức của GV

45 50

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

có cách học: trao đổi thảo luận để khám phá giá trị

của tác phẩm

12 13.3

Câu 5

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

nắm bắt được: về tác giả và nội dung tác phẩm 55 61.1

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

nắm bắt được: về hệ thống nhân vật 16 17.8

Trang 38

Số HS khi học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”

nắm bắt được: về tình huống chi phối toàn truyện 13 14.4

1.5.9 Phân tích kết quả khảo sát

Trang 39

Tác phẩm có cấu trúc mạch lạc, được trình bày rõ ràng nên GV và HS đều dễ đọc, dễ hiểu

Về khó khăn: bên cạnh những thuận lợi trên, khi dạy “Chiếc thuyền ngoài xa” GV gặp không ít những khó khăn, trở ngại Đây là tác phẩm khá dài, bởi vậy quỹ thời gian để lên lớp (2 tiết) chưa đủ cho một truyện ngắn hay và đa nghĩa Nhiều GV cho rằng hiểu văn đã khó, làm cho người khác hiểu như mình (thậm chí hơn mình) là điều không dễ

Khảo sát cho thấy số lượng HS thực sự đam mê, thích học văn và có ý định theo học ngành có liên quan đến văn không nhiều Ngoài việc học tập bộ môn này, các em còn phải thực hiện nhiều yêu cầu của các bộ môn khác nên khó đòi hỏi người đọc sự chuyên tâm tuyệt đối Trong quá trình dạy học, nếu chỉ có sự

nỗ lực từ phía GV mà HS không tích cực thì quá trình này khó mang lại kết quả cao

+ Hầu hết các GV khi dạy đều khai thác tác phẩm theo định hướng trong SGK tức là cắt ngang tác phẩm Cụ thể, các GV thường tập trung vào các vấn đề: Cảnh bình minh trên biển; Câu chuyện ở tòa án huyện

Một bộ phận GV lại tiến hành khai thác theo hướng bổ dọc tác phẩm, tức là phân tích theo: Tình huống truyện; Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh; Hình tượng người đàn bà hàng chài; Tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy + Bên cạnh những hướng khai thác trên, trong khi dạy học một số GV cũng

đã đang tìm tòi thêm những hướng khai thác giúp HS có điều kiện tiếp cận với tác phẩm để đạt hiệu quả tiếp cận cao nhất

Từ thực tế dạy của GV như trên, chúng tôi nhận thấy:

Về hiện tượng “Chiếc thuyền ngoài xa” có một số cách khai thác khác nhau như trên theo chúng tôi cũng là điều bình thường Bởi vì tác phẩm văn chương

có phẩm chất nghệ thuật cao, thường mang tính đa nghĩa nên tạo ra khả năng khơi gợi nhiều hướng tiếp cận ở bạn đọc Điều quan trọng đặt ra là cần tìm tòi hướng khai thác nào để đảm bảo tối ưu nhất, khai thác có trọng tâm, trọng điểm

Trang 40

nhưng phải đảm bảo tính chỉnh thể, phù hợp với năng lực HS lớp mình phụ trách

Cần khai thác kết hợp cả nội dung và hình thức, kết hợp nhiều hướng tiếp cận trong dạy học thì mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất

- Thứ hai: Khảo sát qua các phiếu điều tra đối với GV, kết quả thu được như sau:

+ Số lượng GV đi theo hướng khai thác trong tài liệu hướng dẫn SGK và SGV chiếm tỉ lệ nhiều hơn cả (66,7%) Điều này xuất phát từ chỗ SGK và SGV

là một tài liệu chuẩn đáng tin cậy (trong nhà trường phổ thông) Thứ hai, khi soạn SGK hay làm sách GV, nhóm biên soạn thường dựa trên mặt bằng chung của nhận thức HS, vì vậy “dạy theo hướng dẫn của SGK và SGV là đạt yêu cầu” – không ít GV quan niệm như vậy Tuy nhiên, tính vừa sức trong dạy học cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là nên kết hợp giữa hướng dẫn trong SGK, SGV với những tìm tòi, sáng tạo của người dạy và đặc điểm HS mình phụ trách thì hiệu quả sẽ cao Mỗi người thầy lại có những thế mạnh, hạn chế khác nhau và chính người GV đứng lớp chứ không phải bất kì ai khác phải nắm vững

về sở trường, sở đoản của HS mình… từ đó đưa ra phương pháp dạy học sao cho hợp lí “vừa sức” với HS nhất

- Trong việc yêu cầu HS chuẩn bị bài trước khi tới lớp, phần đa GV mới chỉ dừng lại ở việc yêu cầu các em đọc văn bản tác phẩm và trả lời câu hỏi trong SGK chứ chưa đề cao việc tìm hiểu thêm những kiến thức về tác giả, hoàn cảnh

xã hội chi phối đến sự ra đời của tác phẩm Hơn nữa, việc phát huy vai trò chủ thể của HS chưa nhiều cho nên khi học tác phẩm HS thường rơi vào trạng thái tiếp nhận thụ động, một chiều Mọi kiến thức về bài học chỉ đơn thuần là kiến thức mà người GV đã chuẩn bị từ trước và nhiệm vụ cuối cùng cũng là dạy lại

HS

+ Biện pháp chủ yếu mà người GV sử dụng khi dạy “Chiếc thuyền ngoài xa” vẫn được nhiều GV áp dụng mang tính hệ thống đó là GV thuyết giảng – HS tiếp nhận Cho dù phương pháp dạy học mới đã được thực hiện từ vài năm trước

Ngày đăng: 29/09/2020, 13:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w