Đây là một định nghĩa tương đối hợp lý cho những nghiên cứu hiện nay, tuy nhiên vẫn còn có những quan điểm cho rằng nếu một phương pháp chỉ được phát triển dựa trên các nguyên tắc toán
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BÙI THỊ THÚY ĐÀO
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN TRONG ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TIỀM NĂNG TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CHO MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG - LÂM NGHIỆP TỈNH KON TUM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BÙI THỊ THÚY ĐÀO
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN TRONG ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TIỀM NĂNG TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CHO MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG - LÂM NGHIỆP TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác
Tác giả luận án
Bùi Thị Thúy Đào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Trần Cầu và GS.TSKH Phạm Hoàng Hải - Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các
thầy - những người đã luôn tận tâm dạy bảo, động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận án
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được những chỉ bảo và góp ý quý báu của các thầy, cô trong và ngoài trường: GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, PGS.TS Phạm Quang Tuấn, GS.TS Trương Quang Hải, GS.TS Nguyễn Cao Huần, PGS.TS Đặng Văn Bào, GS.TS Nguyễn Khanh Vân, PGS.TS Nguyễn An Thịnh, PGS.TS Nhữ Thị Xuân, PGS.TS Đinh Thị Bảo Hoa, PGS.TS Phạm Văn Cự, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch, PGS.TS Nguyễn Đình Minh, PGS.TS Đinh Văn Thanh, PGS.TS Nguyễn Thị Cẩm Vân, PGS.TS Phạm Quang Vinh, PGS.TS Trần Văn Ý, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm, PGS.TS Nguyễn Thị Sơn, PGS.TS Nguyễn Đăng Hội, PGS.TS Uông Đình Khanh, TS Bùi Quang Thành, TS Nguyễn Thị Thúy
Hằng, TS Nguyễn Đức Tuệ, TS Nguyễn Đình Thành v.v Tác giả xin chân thành
cảm ơn những chỉ bảo và góp ý quý báu của quý thầy, cô
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả cán bộ, thầy cô giáo trong Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Phòng Sau Đại học, Khoa Địa lý, Bộ môn Bản đồ - viễn thám & GIS đã tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến các anh chị và cán bộ UBND tỉnh Kon Tum,
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum và người dân địa phương trong tỉnh đã hợp tác, giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian tác giả tiến hành nghiên cứu thực địa
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả cán bộ, thầy cô giáo
và đồng nghiệp Khoa Trắc địa – Bản đồ và Thông tin địa lý, Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Toàn cầu (CARGC) trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cũng như bạn bè và gia đình đã động viên tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Bùi Thị Thúy Đào
Trang 51
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN vi
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
Chương 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 12
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu ứng dụng phân tích không gian 12
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu, đánh giá theo hướng tổng hợp 23
1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu phát triển bền vững nông – lâm nghiệp 30
1.1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đã thực hiện ở tỉnh Kon Tum 36 1.2 CƠ SỞ PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN TRONG ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG - LÂM NGHIỆP 40
1.2.1 Những vấn đề chung về lý luận phân tích không gian trong đánh giá tổng hợp 40 1.2.2 Cơ sở tiếp cận đánh giá tổng hợp cho mục tiêu phát triển bền vững nông - lâm nghiệp 44
1.2.3 Cơ sở xác lập mô hình đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội trên quan điểm phân tích định lượng 46
1.2.4 Xác lập mô hình tích hợp phân tích không gian và phân tích định lượng trong đánh giá tổng hợp phục vụ phát triển bền vững nông - lâm nghiệp tỉnh Kon Tum 48
1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 53
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 53
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 56
1.3.3 Quy trình nghiên cứu 61
Tiểu kết chương 1 62
Chương 2: 63
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH KON TUM 63
Trang 62.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 63
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 63
2.1.2 Địa chất 64
2.1.3 Địa hình, địa mạo 66
2.1.4 Khí hậu 69
2.1.5 Thủy văn 73
2.1.6 Thổ nhưỡng 74
2.1.7 Thảm thực vật 76
2.2 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN 80
2.2.1 Hệ thống phân loại cảnh quan 80
2.2.2 Bản đồ cảnh quan 82
2.2.3 Đặc điểm phân hóa cảnh quan 83
2.2.4 Chức năng cảnh quan 88
2.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 89
2.3.1 Dân cư và nguồn lao động 89
2.3.2 Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật 90
2.3.3 Khát quát phát triển kinh tế 91
2.3.4 Hiện trạng phát triển các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp 92
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 96
2.4.1 Thuận lợi 96
2.4.2 Khó khăn 97
Tiểu kết chương 2 99
Chương 3 100
PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN TRONG ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG - LÂM NGHIỆP TỈNH KON TUM 100
3.1 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NHÂN TỐ TRONG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH HỢP CHO PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP 100
3.1.1 Đánh giá mức độ thích hợp cho phát triển nông nghiệp 100
3.1.2 Đánh giá mức độ ưu tiên cho phát triển lâm nghiệp 109
Trang 73
3.1.3 Tổng hợp kết quả đánh giá và phân cấp mức độ thích hợp 114
3.1.4 Kiểm tra kết quả đánh giá mức độ thích hợp với hiện trạng phân bố 115
3.2 ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN NÔNG – LÂM NGHIỆP 118
3.2.1 Xu thế biến động không gian trong quy hoạch phát triển nông – lâm nghiệp 118
3.2.2 Xác định không gian ưu tiên phát triển nông – lâm nghiệp theo điều kiện tự nhiên 123
3.3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN NÔNG – LÂM NGHIỆP 129
3.3.1 Cơ sở thực tiễn về điều kiện sinh kế cơ bản của các hộ gia đình nông thôn 129
3.3.2 Tích hợp GIS với phân tích đa biến trong phân nhóm các xã theo điều kiện sinh kế hộ gia đình 133
3.3.3 Xây dựng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững nông – lâm nghiệp 141
3.3.4 Các giải pháp ưu tiên phát triển nông – lâm nghiệp 151
Tiểu kết chương 3 158
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 160
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
PHỤ LỤC 177
Trang 8EFA (Exploratory Factor Analysis) : Phân tích nhân tố khám phá
GIS (Geographic Information System) : Hệ thông tin địa lí
Trang 95
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hệ thống chỉ tiêu phân loại sinh khí hậu tỉnh Kon Tum 72
Bảng 2.2 Hệ thống phân loại cảnh quan tỉnh Kon Tum 80
Bảng 2.3Phân hoá của các lớp CQ tỉnh Kon Tum 84
Bảng 2.4Bảng dân số và tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Kon Tum 89
Bảng 2.5Diện tích một số loại/nhóm cây trồng giai đoạn 2010 – 2015 93
Bảng 2.6 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chủ lực 94
Bảng 3.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá riêng cho phát triển nông nghiệp 103
Bảng 3.2 Ma trận thành phần chính cây trồng lâu năm đã đƣợc quay Varimax 105
Bảng 3.3 Ma trận thành phần chính cây trồng hàng năm đã đƣợc quay Varimax 105
Bảng 3.4 Bảng điểm phân cấp mức độ thích hợp CQ cho cây trồng lâu năm 106
Bảng 3.5Kết quả đánh giá mức độ thích hợp đối với cây trồng lâu năm 107
Bảng 3.6 Bảng điểm phân cấp mức độ thích hợp CQ cho cây trồng hàng năm 108
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá mức độ thích hợp đối với nhóm cây trồng hàng năm 108
Bảng 3.8 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá riêng đối với rừng sản xuất 111
Bảng 3.9 Ma trận thành phần chính đối với rừng sản xuất đã đƣợc quay Varimax 112
Bảng 3.10 Bảng điểm phân hạng mức độ ƣu tiên CQ cho rừng sản xuất 112
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá mức độ ƣu tiên phát triển rừng sản xuất 112
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá mức độ thích hợp đối với phát triển NLN 114
Bảng 3.13Kiểm tra kết quả đánh giá cảnh quan với hiện trạng phân bố 116
Bảng 3.14 Kết quả xác định không gian ƣu tiên phát triển NLN 125
theo điều kiện tự nhiên 125
Bảng 3.15Bảng mô tả dữ liệu sử dụng 133
Bảng 3.16 Quy mô mỗi nhóm 136
Bảng 3.17 Giá trị trung bình của điểm nhân tố đối với từng nhóm 137
Bảng 3.18Kết quả phân tích nhân tố khám phá dữ liệu 143
Bảng 3.19Các khái niệm, trọng số nhân tố, độ tin cậy của dữ liệu 146
Bảng 3.20Các quan hệ giả thuyết 150
Bảng 3.21 So sánh cặp trong nhóm các giải pháp phát triển nông – lâm nghiệp 155
Bảng 3.22 Ma trận sau khi đã chuẩn hóa và trọng số các nhóm giải pháp phát triển nông – lâm nghiệp 156
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ các tuyến khảo sát thực địa tại tỉnh Kon Tum 62 aHình 1.2 Sơ đồ các bước nghiên cứu 62 bHình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Kon Tum 63 aHình 2.2 Bản đồ phân tầng độ cao tỉnh Kon Tum 68 aHình 2.3 Bản đồ địa mạo tỉnh Kon Tum 68 bHình 2.4 Bản đồ sinh khí hậu tỉnh Kon Tum 72 aHình 2.5 Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Kon Tum 75 aHình 2.6 Bản đồ thảm thực vật tỉnh Kon Tum 79 aHình 2.7 Bản đồ cảnh quan tỉnh Kon tum 82 aHình 2.8 Chú giải bản đồ cảnh quan tỉnh Kon Tum 82 bHình 3.1 Bản đồ phân cấp mức độ thích hợp trồng cây lâu năm tỉnh Kon Tum 113 aHình 3.2 Bản đồ phân cấp mức độ thích hợp trồng cây hàng năm tỉnh Kon Tum 113 bHình 3.3 Bản đồ phân cấp mức độ ưu tiên trồng rừng sản xuất tỉnh Kon Tum 113 cHình 3.4 Bản đồ xác định không gian ưu tiên phát triển NLN theo điều kiện tự nhiên tỉnh Kon Tum 128 aHình 3.5 Sơ đồ các bước phân tích đa biến theo điều kiện sinh kế hộ gia đình 134Hình 3.6 Bản đồ phân nhóm xã theo điều kiện sinh kế hộ gia đình tỉnh Kon Tum 140 aHình 3.7 Mô hình kết quả phân tích CFA theo hệ số chuẩn hóa 148Hình 3.8 Mô hình kết quả phân tích SEM (theo hệ số chuẩn hóa) 149
Trang 117
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức rõ tính bức xúc và tầm quan trọng của vấn đề khai thác, sử dụng hợp
lý tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên (TNTN), điều kiện kinh tế - xã hội (KTXH) cho mục đích phát triển bền vững (PTBV), Nhà nước và các địa phương đã
và đang triển khai nhiều nghiên cứu mang tính tổng thể và tính chiến lược lâu dài Tuy nhiên, để giải quyết một cách đầy đủ, đồng bộ các vấn đề quan trọng nảy sinh trong PTBV, trước hết cần làm rõ những quy luật chung của tự nhiên, các điều kiện KTXH, đồng thời, cũng cần có những nghiên cứu cụ thể về diễn biến, thực trạng khai thác tài nguyên và môi trường trên cơ sở tiếp cận tổng hợp và toàn diện
Nằm ở vùng cao biên giới phía bắc Tây Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam và đặc biệt phía Tây giáp với hai nước Lào và Campuchia, Kon Tum được đánh giá là tỉnh có vị thế địa lý - chính trị, địa lý - kinh tế quan trọng đối với vùng Tây nguyên, Duyên hải miền Trung và cả nước Ngoài ra, Kon Tum còn là một trong những tỉnh giàu tiềm năng để phát triển như tài nguyên rừng và tài nguyên đất Theo số liệu thống kê hiện trạng rừng năm 2016, độ che phủ rừng của tỉnh đạt 58,50% (bao gồm diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng), nếu tính cả diện tích cây cao su, cây cao sản thì độ che phủ rừng của tỉnh đạt 62,20%; trong khi độ che phủ rừng toàn quốc chỉ có 41,19% Như vậy, Kon Tum là một trong
số ít tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất của cả nước Bên cạnh đó, nhóm đất xám của tỉnh chiếm tới 92,78% tổng diện tích tự nhiên (DTTN), phân bố hầu hết trên địa bàn các huyện với ưu thế rất lớn cho việc phát triển trồng rừng, bảo vệ rừng và các loại cây công nghiệp Ngoài ra, tài nguyên lao động của tỉnh cũng có những thay đổi tích cực
cả về lượng và chất Theo số liệu niên giám thống kê năm 2016 số người trong độ tuổi lao động chiếm 58,26% dân số, trong đó có 37,6% được đào tạo nghề.Dựa trên những tiềm năng này, nông – lâm nghiệp (NLN) luôn được xác định là lĩnh vực then chốt và
là thành phần kinh tế thế mạnh của tỉnh Tuy nhiên, theo kết quả điều tra tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020, cho thấy Kon Tum là một trong số các tỉnh nghèo nhất của cả nước, cụ thể, dẫn đầu khu vực Tây Nguyên về tổng số hộ nghèo với 23,03%, xếp thứ 10 cả nước về tỷ lệ hộ nghèo với 26,12% và đặc biệt đồng bào dân
Trang 12tộc tại chỗ có đời sống gắn liền với rừng và rẫy
Để NLN thực sự trở thành thế mạnh của Kon Tum, cần tiến hành những nghiên cứu mang tính tổng hợp lãnh thổ và muốn giải quyết vấn đề này, một loạt các phương pháp khác nhau đã được đề xuất và phân tích không gian (PTKG) với trọng tâm là các kỹ thuật phân tích định lượng là một trong những phương pháp được đặc biệt quan tâm Bởi theo các nhà địa lý, khi mô hình hóa toán định lượng một cách thích hợp thì những bài toán ứng dụng PTKG sẽ được tiến hành dễ dàng hơn và tính phương án của các nghiên cứu tổng hợp, các giải pháp địa lý được thực hiện sẽ có hiệu quả Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hiện nay theo hướng định lượng chủ yếu tập trung đánh giá các đối tượng KTXH hoặc trên từng hợp phần tự nhiên riêng
lẻ Trong đó, nghiên cứu đánh giá các địa tổng thể có liên quan đến các qui luật sinh thái thì hiện nay có rất ít công trình
Tại địa bàn tỉnh Kon Tum, các đề tài và dự án theo hướng nghiên cứu tổng hợp cũng đã được triển khai khá đồng bộ Tuy nhiên, số lượng các công trình vẫn còn ít, chủ yếu được điều tra, xây dựng trước khi tách tỉnh hoặc nghiên cứu chung cho toàn vùng Tây Nguyên nên tỷ lệ nghiên cứu còn nhỏ, chưa phản ánh được rõ nét sự phân hóa không gian của các tiềm năng tự nhiên cũng như KTXH của tỉnh
Từ những luận giải trên đây, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Phương pháp
phân tích không gian trong đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội cho mục đích phát triển bền vững nông - lâm nghiệp tỉnh Kon Tum„ làm định hướng
nghiên cứu của luận án
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu: Xác lập luận cứ khoa học trên cơ sở phân tích không gian và phân tích
định lượng phục vụ đề xuất không gian ưu tiên và các giải pháp phát triển nông – lâm nghiệp tỉnh Kon Tum theo hướng bền vững
* Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đã thực hiện các
nhiệm vụ chính sau đây:
- Xác lập cơ sở lý luận phân tích không gian và phân tích định lượng trong đánh giá tiềm năng tự nhiên, KTXH cho phát triển NLN tỉnh Kon Tum theo hướng bền vững
Trang 13- Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển NLN theo hướng bền vững
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận án được giới hạn trong các phạm vi sau đây:
Luận án tập trung nghiên cứu lãnh thổ tỉnh Kon Tum ở tỷ lệ nghiên cứu 1:100.000
- Luận án đề cập và xác lập luận cứ khoa học không phải cho PTKG trong đánh giá từng hợp riêng lẻ mà cho ĐGTH theo hướng tiếp cận định lượng trên cơ sở một tập hợp biến số về điều kiện tự nhiên, KTXH cho mục đích phát triển NLN
- Luận án tập trung phân tích định lượng trong đánh giá thích nghi sinh thái các loại CQ, phân nhóm các xã theo đặc điểm điều kiện sinh kế hộ gia đình nông thôn, xây dựng mô hình cấu trúc các yếu tố tác động đến tính bền vững và đề xuất các giải pháp phát triển NLN tỉnh Kon Tum
4 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cơ sở lý
luận, cách tiếp cận nghiên cứu PTKG trong ĐGTH cho mục đích phát triển NLN gắn với sử dụng hợp lý TNTN và BVMT ở quy mô cấp tỉnh
* Ý nghĩa thực tiễn: Khẳng định khả năng nâng cao độ chính xác và tin cậy cho
kết quả ĐGTH tiềm năng tự nhiên, KTXH bằng phương pháp PTKG Đồng thời, cung cấp thêm thông tin tham chiếu đối với hiện trạng sử dụng CQ và thông tin các yếu tố tác động đến tính bền vững NLN hiện nay, giúp các nhà quản lý có thêm cơ sở khoa
Trang 14học tin cậy trong việc định hướng sử dụng không gian ưu tiên phát triển các ngành kinh tế chủ lực tỉnh Kon Tum
5 Những điểm mới của luận án
- Tích hợp phương pháp PTKG và phân tích nhân tố đã xác định được sự phân hóa không gian của các CQ và không gian ưu tiên phát triển NLN phù hợp với điều kiện tự nhiên và KTXH tỉnh Kon Tum
- Đã tích hợp hệ thông tin địa lý (GIS) với phương pháp phân tích đa biến trong phân nhóm các xã theo điều kiện sinh kế hộ gia đình và xây dựng mô hình cấu trúc các yếu tố tác động đến tính bền vững làm cơ sở cho đề xuất và phân cấp các giải pháp phát triển NLN
6 Các luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Kết quả PTKG và phân tích nhân tố trong đánh giá điều kiện
tự nhiên kết hợp với đối sánh hiện trạng khai thác, sử dụng lãnh thổ là cơ sở khoa học cho định hướng không gian ưu tiên phát triển NLN theo hướng bền vững tỉnh Kon Tum
- Luận điểm 2: Kết quả PTKG và phân tích đa biến trong phân nhóm các xã
theo điều kiện sinh kế hộ gia đình và xây dựng mô hình cấu trúc các yếu tố tác động đến tính bền vững là cơ sở cho đề xuất và phân cấp các giải pháp phát triển NLN tỉnh Kon Tum
7 Cơ sở tài liệu
Ngoài những kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn trong và ngoài nước, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của luận án, nghiên cứu sinh đã sử dụng một số tài liệu sau:
- Kết quả nghiên cứu thực địa: Thông qua 5 tuyến thực địa (xem hình 1.1), nghiên cứu sinh đã thu thập các số liệu sơ cấp, thứ cấp; tài liệu; ảnh về hiện trạng khai thác lãnh thổ cho phát triển KTXH; kiểm chứng đặc điểm và sự phân hoá không gian các yếu tố tự nhiên, KTXH trên thực địa
- Cơ sở dữ liệu bản đồ nền và chuyên đề:
+ Bản đồ địa mạo tỉnh Kon Tum tỷ lệ 1:100.000; Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Kon Tum tỷ lệ 1:100.000; Bản đồ cảnh quan khu vực Tây nguyên tỷ lệ 1:250.000 và Bản
Trang 1511
đồ sinh khí hậu Tây nguyên tỷ lệ 1:250.000 do Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 mã số TN3/03 cung cấp
+ Bản đồ hành chính tỉnh Kon Tum tỷ lệ 1:100.000 (thành lập năm 2015); Bản
đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Kon Tum năm 2015 tỷ lệ 1:100.000 và Bản đồ quy hoạch sử dụng đất tỉnh Kon Tum đến năm 2020 tỷ lệ 1:100.000 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum cung cấp
- Các bản đồ chuyên đề đã được nghiên cứu sinh xây dựng, chỉnh hợp và biên tập lại
- Số liệu niên giám thống kê tỉnh Kon Tum trong giai đoạn 2010 – 2015 do Cục Thống kê tỉnh Kon Tum cung cấp
- Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2011 trên địa bàn tỉnh Kon Tum do Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê - Tổng Cục Thống kê cung cấp
- Báo cáo kết quả thực hiện các đề tài, dự án; báo cáo khoa học về điều tra ĐKTN, KTXH và môi trường tỉnh Kon Tum theo các năm (từ 2011 đến 2015) do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum cung cấp
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước thuộc Chương trình Tây Nguyên 3
“Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên
và xác lập các mô hình kinh tế - sinh thái bền vững cho một số vùng địa lý trọng điểm khu vực Tây Nguyên” (2011), mã số TN3/03 mà nghiên cứu sinh là thành viên tham gia
8 Cấu trúc luận án
Nội dung luận án được trình bày trong 152 trang A4; trong đó có 28 bảng số liệu; 18 hình vẽ, sơ đồ, bản đồ; 146 danh mục tài liệu tham khảo và 49 trang phụ lục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum
Chương 3: Phân tích không gian trong đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội phục vụ phát triển bền vững nông - lâm nghiệp tỉnh Kon Tum
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chỉ có thể lựa chọn được các phương pháp nghiên cứu một cách đúng đắn và phù hợp khi dựa trên một cơ sở lý luận vững chắc về đối tượng nghiên cứu Chính vì thế, việc tìm hiểu những khái niệm và bản chất của các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu, trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây cả về lý thuyết, phương pháp tiếp cận và ứng dụng là rất quan trọng và cần thiết 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu ứng dụng phân tích không gian
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu lý thuyết về phân tích không gian và phân tích định lượng
a Các quan điểm trong phân tích không gian
PTKG là công cụ định lượng của khoa học địa lý, đã nhận được nhiều sự quan tâm trong các cuộc thảo luận chuyên sâu thời gian qua Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các nghiên cứu gần đây tập trung vào việc xem xét các quy tắc vận động không gian của các hiện tượng tự nhiên, KTXH từ dữ liệu không gian đã được ứng dụng để mô phỏng, dự báo và kiểm soát mang tính khoa học PTKG là một khái niệm đa dạng và là phương pháp nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khác nhau như địa lý học, xã hội học, thống kê học, dịch tễ học, dân tộc học hay sinh vật học v.v Trên cơ sở các cách tiếp cận không gian khác nhau, có thể thấy các định nghĩa sau đây được sử dụng phổ biến hơn cả:
Theo Robert Haining (1994)“PTKG là một thuật ngữ chung dùng để mô tả các
phương pháp toán học sử dụng các thông tin định vị để giải thích rõ hơn quy trình tạo
ra các giá trị thuộc tính được quan sát” Xuất phát từ các công cụ phân tích truyền
thống, Robert Haining cho rằng các nguyên tắc PTKG hiện tại được dựa trên cơ sở của
phân tích thống kê (Statistics analysis), phân tích đồ họa (Graphical analysis) và mô hình toán học (Mathematics model) Trong đó, các kỹ thuật phân tích thống kê được
nhấn mạnh hơn cả và đặc điểm chính của nó so với các mô hình thống kê truyền thống
đó là sử dụng đơn vị không gian - những nơi mà các sự kiện địa lý xảy ra và được xem xét trong quá trình phân tích Mặt khác, cũng theo Haining dựa trên cơ sở có hệ thống
Trang 1713
của các thông tin định lượng, mục tiêu của PTKG bao gồm: (1) mô tả sự kiện một cách chính xác về mặt không gian địa lý; (2) thăm dò có hệ thống các đối tượng, hiện tượng địa lý và sự liên kết giữa chúng; (3) dự đoán và kiểm soát các quá trình có thể xảy ra trong không gian v.v Đồng quan điểm với Haining còn có Berry & Marble (1968), Hagerstrand (1973), Unwin (1981), Upton & Fingleton (1985), Goodchild (1987), Fotheringham & cộng sự (2000), Bailey (1994), Bailey & cộng sự (1995), Gregory &
cộng sự (2011), Fotheringham & Rogerson (2013) v.v… Tuy nhiên, các tác giả cho
rằng trong nhiều nghiên cứu, sự thay đổi không gian, sự phụ thuộc không gian và
tính bất định không gian đôi khi không được hiểu đúng bản chất và thường bị bỏ qua
[54, 56, 57, 63, 67, 73, 80, 93, 124, 128]
Một định nghĩa khác của Li Deren (1993) cho rằng“PTKG là một tập hợp công
cụ phân tích các đối tượng, hiện tượng địa lý trên cơ sở các thông tin liên quan đến nơi chốn (vị trí) và mối quan hệ về mặt không gian” Mục đích của phân tích là sự mô
tả định lượng tập trung vào các tính năng được tạo ra để có thể trả lời các câu hỏi như
“cái gì?”, “ở đâu?”, “như thế nào?”, “làm thế nào?” và “tại sao?” Tác giả chú trọng đến vai trò của hoạt động truy vấn liên quan đến bốn loại dữ liệu và thông tin thuộc tính của chúng trên không gian bản đồ Cùng chung quan điểm với Li Deren, các tác giả Chorley & Haggett (1965) và Burrough (1986) cũng cho rằng PTKG là công cụ định lượng được định nghĩa dựa trên nền tảng của hệ thống quản lý dữ liệu, được phân loại theo cấu trúc và có chức năng truy vấn dữ liệu Trên quan điểm này, các tác giả đã phát triển một loạt các kỹ thuật và các nguyên tắc PTKG để phục vụ cho các hoạt động
truy vấn không gian (Spatial query); phân tích vùng đệm (Buffer region analysis); phân tích địa lý (Geography analysis); phân tích kiểm chứng không gian (Spatial
muster analysis) [45, 92]
PTKG đôi khi được định nghĩa là một bộ sưu tập có hệ thống liên quan đến cả phương pháp thống kê và phương pháp phi thống kê với chức năng thăm dò để tìm kiếm những mô tả tốt nhất về dữ liệu (như bất kỳ phân tích truyền thống nào) Từ đó giúp kiểm định giả thuyết cũng như lựa chọn các mô hình nghiên cứu phù hợp Xuất phát từ quan điểm này, các tác giả khuyến cáo cần phải xem xét đến tính bất định (sự không chắc chắn) trong các PTKG và mô hình địa lý tương ứng với mục đích của từng
Trang 18nghiên cứu, từng loại dữ liệu không gian và các đặc trưng thuộc tính của chúng [46, 110] Theo đó, các nguồn khác nhau gây nên sự bất định có thể được phân loại thành bốn nguồn chính: (1) sự bất định về dữ liệu đầu vào; (2) sự bất định về tham số mô hình; (3) sự bất định về cấu trúc mô hình; và (4) sự bất định về giải pháp kỹ thuật Do
đó, tính bất định này cần được định lượng và thông tin cho các nhà ra quản lý để họ có thể thực hiện một cách có hiệu quả việc lựa chọn hoặc ra các quyết định có liên quan đến các chiến lược tổ chức không gian lãnh thổ phục vụ cho các mục đích thực tiễn
Các PTKG cơ bản được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng cho đến nay, các quan điểm nghiên cứu về PTKG vẫn chưa đi đến thống nhất Nhiều tác giả cho rằng PTKG nếu chỉ được thực hiện dựa trên các mô hình toán học và các nguyên tắc thống kê sẽ không đủ để cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc về các hiện tượng và quy trình trong không gian Do đó, các nguyên tắc và kỹ thuật PTKG từ quan điểm của trường dữ liệu không gian đã được đề xuất và phát triển trong một số nghiên cứu liên quan đến sự thoái hóa của đất Trong các nghiên cứu này, tác giả đã đưa khái niệm
trường (Field) vào các trường số (Number fields) và mỗi một đối tượng dữ liệu (Data
object) có thể được coi là một hạt (Granule) với trọng lượng nhất định trong không
gian n chiều Các trường xung quanh các hạt này tác động lên các hạt khác mà không
cần có tiếp xúc trực tiếp và tổng các hiệu ứng của các trường mở rộng trong không gian tạo thành một trường dữ liệu không gian Trường dữ liệu này bao gồm các tính
năng cơ bản như sự hoạt động (Activity); tính độc lập (Independence) và sự phân rã khoảng (Distance decay); khả năng chồng xếp (Overlapping) và sự đồng nhất (Homogeneity) Các tính này được dùng để mô tả và đo lường trường dữ liệu không
gian [138]
Ngoài ra, PTKG còn được định nghĩa là một chức năng quan trọng của môi
trường GIS trong tiến trình khai thác thông tin các sự kiện địa lý - nơi mà kết quả phân
tích phụ thuộc vào sự sắp xếp không gian của các sự kiện này Ở đây, thuật ngữ “sự kiện địa lý” có nghĩa là tập hợp các đối tượng điểm, đường hoặc vùng có kèm theo đó
là một tập hợp (một hoặc nhiều) các giá trị thuộc tính [46, 47, 78, 88]
Cũng xuất phát từ quan điểm nghiên cứu các thực thể không gian, các nhà địa
lý và các nhà bản đồ cũng đã ứng dụng phương pháp PTKG theo quan điểm riêng của
Trang 1915
họ nhưng có thể thống kê và phân chia khái niệm PTKG thành ba nhóm: nhóm 1 chỉ
khái niệm PTKG theo nghĩa phân tích hình học không gian (Spatial - graphical
analysis) (bao gồm phân bố không gian, hình thái không gian, khoảng cách không
gian, hướng không gian, tương quan không gian v.v…); nhóm 2 chỉ khái niệm PTKG
theo nghĩa phân tích dữ liệu không gian (Spatial data analysis) (tập trung vào các giá
trị liên quan đến các thuộc tính, bao gồm các thuộc tính danh nghĩa, thứ tự, khoảng và
tỷ lệ) và nhóm 3 theo hướng mô hình hóa không gian (Spatial modeling) (tập trung
vào phân tích quy trình và cơ chế không gian)
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ GIS, phương pháp PTKG được đề xuất dựa trên các nguyên tắc và cách thức hoạt động của cả 3 nhóm trên Đồng thời, có tác dụng phát hiện và định hướng cho các nghiên cứu chuyên sâu, định lượng các quá trình trừu tượng hoá của các đối tượng tự nhiên, đặc biệt là đánh giá các địa tổng thể (bao gồm cả đánh giá các đối tượng tự nhiên và KTXH) có liên
quan đến các qui luật sinh thái dựa trên cơ sở của kỹ thuật thống kê (Statistics), lý thuyết đồ thị (Graph theory), hình học tính toán (Computational geometry) [56, 65, 87,
123, 125, 140]
Như vậy, dù được định nghĩa bằng cách này hay cách khác, rõ ràng có thể
nhận thấy sự khác nhau chính là chức năng phân tích và mục tiêu phân tích của
phương pháp PTKG Điểm đặc biệt của phương pháp PTKG là sự đa dạng của công
cụ định lượng thông qua thống kê không gian và mô hình hóa không gian Về bản
chất, PTKG được coi là công cụ phân tích định lượng nhằm mục đích tiên đoán những quy luật địa lý và dự báo sự phát triển của các hiện tượng không gian Một cách đơn giản có thể hiểu phương pháp PTKG nhằm cắt nghĩa các mô hình định lượng như: mô hình cấu trúc, mô hình quan hệ lẫn nhau và mô hình động thái phân
bố (phát triển) của các hiện tượng
Do đó, có thể thấy rằng định hình cho phương pháp PTKG không phải đơn thuần chỉ là dựa vào các chức năng phân tích, mục tiêu phân tích mà còn phải dựa vào nhu cầu sử dụng PTKG trong các bối cảnh không gian khác nhau của các nghiên cứu cụ thể Có thể nhận thấy, các nghiên cứu sử dụng nhiều phạm trù PTKG nhưng không định nghĩa rõ nội hàm của nó Trong vô số các loại hình PTKG như thế,
Trang 20mỗi nhà nghiên cứu có thể sử dụng hay xác định một số loại/phạm trù PTKG nhất định
để phân tích về những vấn đề nghiên cứu của mình Tuy nhiên, họ có thể định nghĩa hoặc không định nghĩa một cách rõ ràng các khái niệm của phương pháp PTKG nên hầu hết các nghiên cứu đều cố tránh đưa ra một khái niệm chung duy nhất cho tất cả các loại hình PTKG Thay vào đó, việc xác định hay phân loại thành những kỹ thuật PTKG cụ thể và làm rõ nội hàm của từng quy mô không gian để phân tích và diễn giải các vấn đề nghiên cứu lại tỏ ra hữu ích hơn
b Các quan điểm phân tích định lượng
Trong lịch sử của địa lý học, các phương pháp định lượng đã được đặt nền móng từ thế kỷ 19 với những nhà địa lý vĩ đại như Alexander Von Humboldt (Đức), Carl Ritter (Đức), Arnold Henry Guyot (Mỹ) v.v Sự can thiệp của các công cụ định lượng không chỉ là cuộc cách mạng trong phương pháp nghiên cứu, mà còn làm lay chuyển cả nền tảng phương pháp luận của khoa học địa lý và đương nhiên là không dễ
gì khi chúng ta phải thay đổi, thậm chí phải loại bỏ khỏi kho tàng tri thức của khoa học địa lý những điều gần như đã được mặc nhiên thừa nhận [10] Cuộc cách mạng định lượng đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong các phương pháp điều tra với sự chuyển
đổi từ địa lý mô tả (Deseriptive geography) sang địa lý thực nghiệm (Empirical
geography) [62, 118]
Có nhiều quan điểm về địa lý định lượng và đã được đề cập trong các nghiên cứu của Cole & King (1968), Taylor (1977), Wrigley & Bennett (1981) [89, 96, 108] Tuy nhiên, các quan điểm hiện nay về địa lý định lượng thường được nhìn nhận dưới
các khía cạnh khác nhau như “Phân tích không gian” [100]; “Phân tích thống kê” [50, 97]; “Phân tích địa điểm” (Locational analysis) [112] Theo họ, các kỹ thuật
phân tích này đã phần nào tạo nên một cuộc cách mạng định lượng trong các nghiên cứu địa lý Đây cũng là lý do cho rằng PTKG có nguồn gốc từ sự phát triển của địa lý định lượng và khoa học thống kê vào những năm 1950 Cụ thể, ban đầu PTKG được
áp dụng dựa trên việc phân tích thống kê có sẵn cho các dữ liệu không gian [100] và sau đó, chúng được tiếp tục mở rộng thêm các hợp phần thiết kế xây dựng mô hình
toán học và nghiên cứu thực tiễn (Operations research) [77, 89]
Trang 2117
Fotheringham & cộng sự (2000) đã phát biểu về Địa lý định lượng như là “…một
hoặc nhiều hoạt động phân tích liên quan đến dữ liệu không gian; lý thuyết không gian; xây dựng và thử nghiệm các quy trình không gian trên cơ sở ứng dụng các mô hình toán học” [72] Đây là một định nghĩa tương đối hợp lý cho những nghiên cứu
hiện nay, tuy nhiên vẫn còn có những quan điểm cho rằng nếu một phương pháp chỉ được phát triển dựa trên các nguyên tắc toán học, kỹ thuật thống kê khi nghiên cứu các đối tượng không gian, có đủ điều kiện để xem như các phương pháp định lượng trong khoa học địa lý hay không [127] Mặc dù vậy, không thể phủ nhận rằng các mô hình toán học và kỹ thuật thống kê cổ điển đã góp phần vào sự thành công của lĩnh vực khoa học địa lý định lượng ngày nay
Các phương pháp định lượng đã được áp dụng bởi các nhà địa lý và các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau khi tiến hành nghiên cứu các đối tượng, các thực thể, các quá trình và các hiện tượng ngoài tự nhiên và trong xã hội làm cơ sở đề xuất các giải pháp liên quan đến không gian Trong đó, các nhà địa lý khi tiến hành nghiên cứu các địa tổng thể tự nhiên hay các hệ thống lãnh thổ KTXH đã dựa vào phần lớn các công cụ định lượng cổ điển, đồng thời họ cũng đã phát triển thêm các chi nhánh mới khá quan trọng góp phần mở ra trào lưu "toán học hoá địa lý" Đặc biệt là các nhà địa lý phương Tây, họ đã tiên phong trong việc xây dựng hướng địa lý định lượng như Brian J.L.Berry, William Bunge và Richard Morill v.v
Mặc dù nhận được sự quan tâm rất lớn của rất nhiều tác giả nhưng những nghiên cứu theo hướng định lượng trong địa lý học gặp không ít những khó khăn khi mà các
công cụ định lượng không cung cấp một đối số hoàn hảo (Flawless argument) bởi các
kết quả từ những phân tích định lượng và các mô hình địa lý thường không phải là các kết quả chính xác do các sai số dữ liệu đầu vào và các thông số của mô hình Tuy nhiên, việc áp dụng cả phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thông qua các thử nghiệm áp dụng định lượng đã phần nào cho thấy những nghiên cứu địa tổng thể hay hệ thống KTXH được tiến hành dễ dàng hơn và tính phương án của các nghiên cứu, các giải pháp địa lý được thực hiện có hiệu quả [10, 72]
Khi địa lý học càng đi gần tới thực tiễn, thâm nhập vào cuộc sống thì mục tiêu chung của nhiều nhà địa lý định lượng là tiến hành các PTKG để các kết quả mang
Trang 22tính định tính có chất lượng cao hơn nhờ đã đúc kết từ nhiều quá trình xử lý định lượng khách quan, trên cơ sở cắt nghĩa các mô hình định lượng PTKG đã đạt được những tiến bộ trong việc hướng tới mục tiêu này trong vài thập kỷ qua với sự trợ giúp của công nghệ 3S (Hệ thông tin địa lý - Geographic Information System – GIS; Công nghệ viễn thám - Remote Sensing – RS và Hệ thống định vị toàn cầu - Global Positioning System - GPS) Qua các cuộc khảo cứu cho thấy, với sự trợ giúp của những tiến bộ công nghệ, PTKG đã thâm nhập và trở thành một phương pháp nghiên cứu phổ biến của rất nhiều lĩnh vực như: sinh thái học [120], kinh tế học [101], khoa học xã hội [68] và dịch tễ học [111]
Đối với địa lý học, một khoa học nghiên cứu các địa tổng thể tự nhiên hay các hoạt động KTXH và sự tương tác giữa các hệ thống này, thì các phương pháp định lượng có ý nghĩa rất lớn Các chỉ tiêu để đo các quá trình tự nhiên và KTXH diễn ra trên lãnh thổ thường có bản chất khác nhau và không thông ước với nhau Do đó, cần phải lựa chọn các công cụ toán thích hợp mới có thể tiến hành những nghiên cứu mang tính tổng hợp thực sự Mặc dù vậy, không thể nói “định tính” đồng nghĩa với cái gì đó thiếu cơ sở khoa học hay là kết quả của phương pháp nghiên cứu cổ điển và
“định lượng” không phải là mục tiêu cuối cùng của các nghiên cứu địa lý
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu ứng dụng phân tích không gian gắn với quy hoạch
sở các phép phân tích thống kê không gian nhiều chiều mà trọng tâm chính là các kỹ thuật với mục đích làm giảm sự phức tạp của dữ liệu, phát hiện các cấu trúc, ước lượng hoặc tiên đoán giá trị kỳ vọng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực liên quan đến sử dụng, quản lý TNTN nhằm đưa ra các giải pháp để sử dụng hợp lý lãnh thổ, đặc biệt là trong phát triển các ngành sản xuất NLN
Trang 2319
a Trên thế giới
Với sự phát triển của các nghiên cứu liên ngành giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, phương pháp PTKG đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau Theo đó, các nhà nghiên cứu đặc biệt lưu tâm đến hướng ứng dụng phương pháp PTKG trong đánh giá các hợp phần tự nhiên nhằm sử dụng hợp lý TNTN, đặc biệt là phục vụ cho mục đích phát triển NLN ở các quy mô không gian lãnh thổ khác nhau Các ứng dụng này chủ yếu tập trung vào phân tích định lượng và không gian hóa các thông tin không gian, bao gồm sự biến đổi không gian, các mối quan hệ không gian, sự
suy luận không gian và tính bất định (uncertainty quantification) về không gian của
một số biến liên quan đến mô hình sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng – vật nuôi, mô hình trang trại, hệ thống canh tác, kinh tế hộ gia đình hay vấn đề môi trường trong các hoạt động nông nghiệp Trong đó, đáng chú ý là các nghiên cứu được thực hiện thông qua một loạt các kỹ thuật thống kê không gian như phân tích dữ liệu thăm dò
(Exploratory data analysis), phân tích hồi quy (Regression analysis), phân tích nhân tố (Factor analysis), phân tích cụm (Cluster analysis), thống kê Bayes (Bayesian
statistics) v.v…
Trong nghiên cứu của Aviva Peeters và cộng sự (2012) một mô hình tích hợp GIS và phương pháp thống kê không gian đã được đề xuất, cho phép đánh giá ảnh hưởng và sự biến đổi không gian của một tập hợp các biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, đồng thời mô phỏng các kịch bản quản lý trong phát triển hệ thống hỗ trợ quyết định không gian Đây sẽ là cơ sở lựa chọn các không gian ưu tiên cho phát triển các ngành sản xuất có thể được áp dụng bởi các nhà ra quyết định [51]
Fraisse và cộng sự (2001) cho rằng có nhiều phương pháp khác nhau để tiến hành phân chia các vùng quản lý tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp như phương pháp chồng xếp các lớp bản đồ chuyên đề hoặc có thể sử dụng phương pháp phân tích thống kê không gian Theo đó, nhóm tác giả đã áp dụng thuật toán phân cụm không thứ bậc – một trong những phương pháp phân tích thống kê không gian nhiều chiều để gộp nhóm các đối tượng nghiên cứu vào các lớp nhất định để tiến hành nhận dạng và đánh giá, xem xét sự phân bố cũng như quan hệ của chúng trong không gian trên cơ sở sử dụng một tập hợp các biến số liên quan đến các điều kiện sinh thái nông
Trang 24nghiệp để phát triển ngành trồng trọt Mặt khác, sau khi thiết lập trên cơ sở định lượng
về nhận diện số cụm, đặc điểm phân bố của từng cụm, các tác giả tiến hành phân tích
cơ chế động lực phía sau các cụm đã được xác nhận thông qua hai phương pháp thống
kê không gian là hồi quy trọng số không gian (Geographically Weighted Regression -
GWR) và bình phương tối thiểu thông thường (Ordinary Least Squares - OLS) [132]
Köbrich và cộng sự (2003) khi tiến hành đánh giá các hệ thống canh tác làm cơ
sở cho việc tái thiết mô hình trang trại điển hình ở vùng ven biển của Chile đã sử dụng
phương pháp phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis - PCA) với
mục đích làm giảm số chiều thường rất lớn của dữ liệu đầu vào với 25 biến liên quan
đến hệ thống canh tác khác nhau đã được tổ hợp tuyến tính thành 7 nhân tố (Factor)
mới Cuối cùng, phân tích cụm thứ bậc được áp dụng trên bảy nhân tố này và đã lựa chọn được 5 cụm phục vụ việc tái thiết các mô hình trang trại đại diện cho khu vực nghiên cứu [58]
Phân tích thống kê không gian Bayes cũng được Ia Rosa & cộng sự (2004)
áp dụng để ước lượng các hiệu ứng không gian và dự báo khả năng sản xuất của đất Đồng thời, cho phép đánh giá ảnh hưởng tính dễ tổn thương của đất đối với các hoạt động lựa chọn hệ thống canh tác trong phát triển nông nghiệp ở khu vực Địa Trung Hải [64]
Những năm gần đây, nhiều học giả đã nỗ lực nghiên cứu sử dụng thuật toán K-Means với bài toán phân cụm dữ liệu để phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng nhất trên cơ sở sự biến đổi không gian và các thông tin vị trí giúp xác định các khu vực quản lý canh tác tối ưu [135]; khoanh định các vùng đất nhiễm mặn ở khu vực ven biển [99] hay nghiên cứu khả năng biến đổi và cấu trúc biến đổi để phục
vụ phân định không gian khu vực quản lý và sử dụng đất [85] Ngoài ra, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn các công trình nghiên cứu phục vụ sử dụng tài nguyên đất và nước hợp lý cho PTBV bằng các phương pháp thống kê không gian cũng gia tăng nhanh chóng Điển hình là nghiên cứu phân tích các khía cạnh không gian liên quan đến những thay đổi sử dụng đất và hệ thống canh tác [113], điều tra các tác động của đặc trưng lưu vực đối với chất lượng và số lượng nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp [84, 137] v.v
Trang 2521
Những nghiên cứu trên đây phần nào đã cho thấy khả năng của phương pháp PTKG mà trọng tâm là các kỹ thuật thống kê không gian trong định lượng và không gian hóa mối quan hệ phức tạp giữa các hợp phần tự nhiên Từ đó, cho thấy kết quả PTKG chính là cơ sở tin cậy để đưa ra các chính sách phát triển phù hợp cho từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực kinh tế hay từng giống cây trồng dự định bố trí trên lãnh thổ nghiên cứu
Nhận xét:
- Số lượng các nghiên cứu ứng dụng PTKG dưới khía cạnh thống kê không gian xuất hiện ngày càng nhiều, điều này cho thấy đây luôn là một hướng quan trọng của địa lý học hiện đại, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay ở tất cả các quốc gia Đây chính là hệ thống tư liệu rất quan trọng để nghiên cứu sinh hình thành hướng tiếp cận
và phương pháp luận nghiên cứu phù hợp cho luận án
- Nhiều nghiên cứu đã cho rằng, để PTKG trở thành phương pháp tin cậy trong nghiên cứu ĐGTH các nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở giải quyết các vấn đề thực tiễn, cần thiết phải sử dụng các công cụ toán thích hợp thì những bài toán PTKG sẽ được tiến hành dễ dàng hơn và tính phương án của các nghiên cứu, các giải pháp địa lý được thực hiện mới có hiệu quả Luận điểm này được vận dụng vào luận án khi ĐGTH tiềm năng tự nhiên, KTXH tỉnh Kon Tum cho mục tiêu phát triển bền vững NLN
b Tại Việt Nam
Nghiên cứu địa lý trên cơ sở áp dụng các phương pháp định lượng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu với những đóng góp mới về hướng tiếp cận và phương pháp đánh giá các hợp phần tự nhiên hay các hoạt động KTXH phục vụ quy hoạch phát triển các ngành sản xuất, sử dụng hợp lý TNTN Điển hình là công trình của các tác giả Nguyễn Thơ Các (1984), Nguyễn Kim Chương (1996), Nguyễn Viết Thịnh &
Đỗ Thị Minh Đức (1998), Nguyễn Cao Huần & Nguyễn An Thịnh (2005) v.v…
Với hướng tiếp cận định lượng, các tác giả Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm đến ứng dụng phương pháp phân tích thống kê không gian trong một số nghiên cứu và thu được kết quả khả quan Tiêu biểu là các công trình của các tác giả Nguyễn Thơ Các (1984), Nguyễn Viết Thịnh (1987a, 1987b), Lê Thanh Bình (1996), Nguyễn
Trang 26Cao Huần & Nguyễn An Thịnh (2005) với mục đích nghiên cứu sử dụng phương pháp PTKG nhiều chiều (trong thống kê gọi là phân tích đa biến) trên cơ sở bộ chỉ tiêu liên quan đến các điều kiện sinh thái nông nghiệp, đặc điểm KTXH khu vực nông thôn của các đơn vị lãnh thổ nghiên cứu làm thông tin không gian đầu vào với kết quả chủ yếu phục vụ mục đích bố trí không gian sản xuất các ngành nông, lâm nghiệp và đề xuất một số mô hình hệ KTST tiêu biểu [1, 3, 15, 30, 109]
Ngoài ra, trên cơ sở nghiên cứu các khía cạnh không gian của các quan hệ xã hội biểu hiện qua các tổ chức lãnh thổ ở nhiều quy mô khác nhau, các tác giả Việt nam cũng
đã vận dụng các kỹ thuật phân tích thống kê không gian vào việc xác lập một số mối quan
hệ đặc trưng không gian của các đối tượng, các thực thể, các quá trình và các hiện tượng ngoài tự nhiên và trong xã hội Tiểu biểu có các nghiên cứu: Phân vùng nguy cơ lũ quét [9]; Phân loại tự động các huyện đồng bằng sông Hồng theo điều kiện sống của hộ nông thôn [32]; Dùng phương pháp phân tích các yếu tố tương ứng để nghiên cứu cấu trúc cơ
sở hạ tầng xã hội và kinh tế của các khu đô thị [8]; Phân nhóm các tỉnh theo trình độ phát triển kinh tế [31]; Đánh giá mức độ phát triển KTXH huyện Thanh Trì [14]; Đánh giá mối quan hệ giữa các đặc điểm KTXH và vấn đề rác thải sinh hoạt nông thôn tại khu vực huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam và quan hệ giữa biến động sử dụng đất với các nhóm dân tộc thiểu số H.Mông, Dao, Tày và Dáy tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai [5] v.v
Tóm lại, các công trình liên quan đến hướng ứng dụng các kỹ thuật thống kê không gian của các tác giả Việt Nam thường thiên về nghiên cứu từng hợp phần các đối tượng tự nhiên hoặc đối tượng KTXH, còn ĐGTH, đặc biệt là đánh giá các địa tổng thể có liên quan đến các qui luật sinh thái thì hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu Tuy nhiên, đây là những tài liệu tham khảo chính, giúp định hướng cách tiếp cận
và phương pháp luận phù hợp với lãnh thổ và định hướng các nội dung cần nghiên cứu trong luận án
Nhận xét: Qua phân tích những tài liệu đã nghiên cứu trên nhiều khía cạnh liên
quan, có thể rút ra những nhận xét sau:
- Nhìn chung các kết quả nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu cả về lý thuyết và ứng dụng, nội dung, phương pháp nghiên cứu ngày càng đa dạng Trong đó, hướng tiếp cận không gian và phân tích định lượng được quan tâm nhiều nhất
Trang 2723
- Các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận phân tích định lượng (định nghĩa, chức năng, động lực và xu hướng phát triển, phát triển ứng dụng v.v…) và phân tích thống kê không gian cho các mục đích thực tiễn Vì vậy, đây
là nguồn tư liệu tham khảo quan trọng cho luận án Trong đó, nền tảng lý luận phân tích định lượng, phương pháp PTKG đã được kế thừa, vận dụng linh hoạt trong nghiên cứu ĐGTH tiềm năng tự nhiên, KTXH tỉnh Kon Tum; tạo cơ sở khoa học cho các định hướng không gian ưu tiên trong phát triển NLN bền vững
- PTKG trong ĐGTH tiềm năng tự nhiên, KTXH chưa được nghiên cứu nhiều,
do đó, cách tiếp cận thống kê không gian cho quy mô tỉnh Kon Tum góp phần làm sáng tỏ các vấn đề phân loại các hiện tượng địa lý và thành lập các bản đồ tổng hợp phản ánh sự phân loại các đối tượng, vạch rõ các đặc trưng có ý nghĩa, có trọng số của các hiện tượng cần lập bản đồ hoặc xác định việc đánh giá so sánh theo những mục đích khác nhau đối với các phức hợp địa lý
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu, đánh giá theo hướng tổng hợp
1.1.2.1 Hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp cho mục đích thực tiễn
Để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, con người không thể không khai thác tài nguyên Trước thực tế đó, yêu cầu khai thác và sử dụng hợp lý điều kiện
tự nhiên, TNTN là vấn đề có ý nghĩa rất lớn và lâu dài Tuy vậy, yêu cầu này chỉ được đáp ứng khi có những kết quả nghiên cứu của ĐGTH, làm rõ thực trạng tài nguyên và
môi trường, đồng thời đề ra được những quy định, những chính sách đúng đắn, hợp lý
cho vấn đề sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên và TNTN, từ đó xây dựng những phương
án quy hoạch hợp lý và hiệu quả
Nghiên cứu ĐGTH tiềm năng tự nhiên, KTXH thực chất là giải các bài toán về mối quan hệ đa chiều giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên, con người và môi trường trong một không gian xác định, các yếu tố này luôn luôn có tác động tương hỗ và phụ thuộc lẫn nhau Muốn giải quyết được vấn đề trên, đòi hỏi nội dung nghiên cứu phải
dựa trên quan điểm tổng hợp và có tính hệ thống rất cao Nói cách khác, ĐGTH đòi hỏi nghiên cứu không chỉ những thành phần riêng lẻ, mà là nghiên cứu toàn bộ các hợp phần của hệ thống tự nhiên, hệ thống KTXH và môi trường trong mối quan hệ tương hỗ giữa chúng
Trang 28Cũng từ những ý nghĩa, tính cấp thiết quan trọng đó, trong vài thập kỷ gần đây
đã và đang xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng thực tiễn với sự tham gia tích cực, hữu hiệu của công tác ĐGTH Đặc biệt trong đó là những đóng góp của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu địa lý trong và ngoài nước thông qua các công trình nghiên cứu địa lý ứng dụng
Nói đến các công trình theo hướng nghiên cứu ĐGTH, trước hết phải kể đến các công trình mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế của nhiều nhà Địa lý Xô Viết trên các lãnh thổ Liên Xô trước đây ở các nước như Cộng hoà Ucraina, Cộng hoà Pribantich, các khu vực Đông - Tây Xibêri hay ở khu vực Viễn Đông thuộc Cộng hòa Liên Bang Nga v.v Cũng trong giai đoạn này, địa lý học ứng dụng còn có khá nhiều công trình của các nhà nghiên cứu của nhiều nước khác thuộc Châu Âu và Mỹ, cũng như của một
số tổ chức quốc tế như FAO hay UNESCO v.v
Theo Dokuchaev (1899) nhà địa lý Nga (cuối thế kỷ XIX), người đầu tiên thực hiện nguyên tắc ĐGTH trong nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của các địa phương cụ
thể Ông cho rằng, cần phải “Tôn trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên một cách
thống nhất toàn vẹn và không chia cắt, không tách rời chúng ra từng phần” Ông coi
bản chất của sự tìm hiểu tự nhiên là nghiên cứu các mối liên hệ phát sinh, những tác động tương hỗ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên [130]
Do đó, việc nghiên cứu, ĐGTH tiệm cận ngày càng gần với thực tiễn, phát triển kinh
tế theo lãnh thổ, làm cho vai trò của các nghiên cứu địa lý ứng dụng ngày càng được xác lập rõ ràng và tính cấp thiết của nó ngày càng cao hơn Thực tế cho thấy rằng, ĐGTH là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành giữa các ngành nghiên cứu tự nhiên và các ngành nghiên cứu KTXH, do đó đối tượng, phương pháp và nguyên tắc nghiên cứu cũng phải là tập hợp các phương pháp nghiên cứu, các nguyên tắc nghiên cứu từng hợp phần Do đó, chúng cũng rất phức tạp và đa dạng
Ngoài ý nghĩa ứng dụng, phục vụ các mục đích thực tiễn hết sức thiết thực và có hiệu quả cao, các công trình nghiên cứu ĐGTH bước đầu đã giải quyết được nhiều vấn
đề về phương pháp luận, nguyên tắc và hệ phương pháp nghiên cứu v.v… Trên quan điểm nghiên cứu ĐGTH, các nhà Địa lý Xô Viết giai đoạn giữa thế kỷ XX như S.V Kalexnik, A.A Grigôriev, N.A Xontxev, V.N Xukatxev, B.B Palưnôv, V.I Prokaev,
Trang 2925
V.X Preobrajenxki và A.G Ixatsenko đã tiếp tục hoàn thiện về lý luận và thực tiễn của ĐGTH các điều kiện tự nhiên, TNTN phục vụ cho mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân Những nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực sử dụng hợp lý tài nguyên trên quan điểm này, đặc biệt là của các nhà Địa lý Xô Viết (trước đây) có giá trị cao về lý luận và về khả năng ứng dụng thực tiễn, tuy nhiên khi vận dụng nghiên cứu trong điều kiện của từng lãnh thổ địa lý thì cần xác định các chỉ tiêu cho phù hợp [12, 16, 17]
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên cũng đã được quan tâm khá sớm, đặc biệt trong giai đoạn sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (độc lập) Các nhà địa lý Việt Nam đã kế thừa và áp dụng cách tiếp cận tổng hợp của các nhà đia lý Nga và Liên Xô cũ để thực hiện nhiều công trình nghiên cứu theo hướng ĐGTH các điều kiện tự nhiên và môi trường các vùng lãnh thổ nhằm khai thác
và sử dụng hợp lý TNTN phục vụ cho các mục đích phát triển KTXH Có thể kể đến các công trình có tính chất nền tảng về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: Cảnh quan Địa lý Miền Bắc Việt Nam [18]; Cơ sở địa lý tự nhiên [28]; Tây nguyên các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên [4]; Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ [13]; Đánh giá khai thác và bảo vệ tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước ở Việt Nam [25] v.v
Qua các công trình nghiên cứu thực tiễn tự nhiên, rất nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng ĐGTH tiềm năng lãnh thổ phải gắn liền với việc sử dụng hợp lý không gian sinh tồn, biến những tiềm năng tự nhiên, KTXH thành những động lực để phát triển Mỗi lãnh thổ cụ thể đều có những tiềm năng và thế mạnh riêng để phát triển KTXH, đó là những lợi thế so sánh, là những nguồn lực phát triển Đối với lãnh thổ là một đơn vị hành chính, thì ở từng giai đoạn cụ thể, việc sử dụng hợp lý, nâng cao giá trị sử dụng của các nguồn lực đã có, tạo ra những nguồn lực mới luôn được coi là vấn
đề quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng phát triển của lãnh thổ
1.1.2.2 Hướng nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý luận, phương pháp luận về việc ứng dụng phương pháp bản đồ trong đánh giá tổng hợp
Phương pháp bản đồ được hình thành là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài trên cơ sở tổng hợp những kinh nghiệm và phương pháp sử dụng bản đồ trong thực tiễn của các ngành khoa học – kĩ thuật khác nhau, trở thành một bộ phận quan trọng
Trang 30trong cơ sở lý luận của Khoa học bản đồ Đi đầu trong những nghiên cứu (như một thành phần) phương pháp nhận thức khoa học bằng bản đồ, lập mô hình bản đồ phục
vụ cho ĐGTH các điều kiện tự nhiên, KTXH là các nhà bản đồ học nổi tiếng như GS K.A Salichev (Đại học Tổng hợp Maskva - Nga), VS A.F Aslannikashvili (Viện Địa
lý – Viên HLKH Gruzia), A M.Berliant (Đại học Tổng hợp Maskva – Nga), GS V.S Tikunov (Đại học Tổng hợp Maskva – Nga), Lech Rataiskii (Ba Lan), Arthur H Robinson (ĐH Wisconsin in Madison – Mỹ), Jacque Bertin (Pháp) Trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận bản đồ học, họ đã đề xuất những tư tưởng khoa hoc làm nền tảng
và cơ sở lý luận cho nghiên cứu lý thuyết của phương pháp bản đồ và khoa học bản đồ nói chung Lần đầu tiên thuật ngữ “Phương pháp nhận thức và nghiên cứu hiện thực bằng phương pháp bản đồ” được sử dụng trong các công trình khoa học điển hình như: Metakartographia (Метакартография) của A.F Aslanikashvili (А.Ф Асланикаш-вили), 1974; "Nghiên cứu bằng phương pháp bản đồ" (Картографуческий метод Исследо-вания) của A.M Berliant, 1988; “Bàn về phương pháp bản đồ” (K.A Salishev, 1955); “Bàn về độ chính xác định lượng trên các bản đồ” (K.A Salishev, 1963); “Phương pháp phân tích khi nghiên cứu các hiện tượng trên bản đồ” (K.A Salishev, 1968) và nhiều bài báo khác [141-144, 146] Tiếp theo, khái niệm “phương pháp bản đồ” đã được các nhà bản đồ nâng lên mức độ cao hơn trong lĩnh vực lý
thuyết bản đồ, xem đó là cơ sở lý luận nhận thức sử dụng bản đồ để mô tả, phân tích
và nhận thức các hiện tượng, đối tượng địa lý, để thu nhận các hiểu biết và đặc trưng mới của các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu, để nhận biết các mối quan hệ không gian giữa chúng, dự báo sự biến động và phát triển của chúng Các nhà khoa học bản
đồ đã nhiều lần đưa vấn đề này ra thảo luận tại các hội nghị Quốc tế của Hội bản đồ thế giới và Hội Địa lý Thế giới và đã đi đến thống nhất đưa ra khái niệm “Phương pháp bản đồ”. Khái niệm này được trình bày đầy đủ trong các công trình nghiên cứu
của GS A.M Berliant và nhiều nhà bản đồ của các nước khác Như vậy, khoa học bản
đồ đã có thêm một thành phần cấu trúc mới, còn địa lý học và các khoa học liên quan khác có thêm công cụ hữu ích để nhận thức các đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình
Trang 3127
Các công trình của A.F Aslanikachvili về lý luận của Khoa học bản đồ đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển cơ sở lý luận về phương pháp bản đồ Theo ông cần phải phân biệt rất rõ các khái niệm phương pháp luận bản đồ học và phương pháp bản đồ, ông cho rằng phương pháp bản đồ có ý nghĩa chiến lược Phương pháp bản đồ dùng phương pháp luận bản đồ học và tri thức thực tế về đối tượng nghiên cứu vốn nằm trong mối quan tâm của khoa hoc bản đồ nhưng không chỉ phụ thuộc vào nó Tác giả A.F Aslanikachvili cho rằng, sự vận dụng cụ thể của phương pháp bản đồ lại thuộc về các khoa học có liên quan với bản đồ học, bởi chúng có đối tượng nghiên cứu cụ thể Chính vì thế, phương pháp bản đồ - phương pháp để phân tích và nhận thức các mô hình không gian cụ thể của hiện thực được nghiên cứu đã và đang phổ biến trong các khoa học khác và có khi được gọi là phương pháp bản đồ và cũng có khi nó có ý nghĩa chung như một hệ thống các thủ pháp phân tích bản đồ
Trong nghiên cứu cấu trúc lí thuyết của Bản đồ học, nhà Bản đồ học Ba lan Lech Rataiski đã đề cập nhiều đến phương pháp bản đồ và đưa ra mô hình về “Phương pháp bản đồ nhận thức thực tế” Mô hình phương pháp bản đồ của Lech Rataiski gồm bốn quá trình: nhận thông tin từ thực tế khách quan và chọn thông tin; biến đổi thông tin thành dạng bản đồ; truyền thông tin ở dạng bản đồ đến người dùng và tái tạo trong nhận thức người dùng nguồn thông tin về thực tế khách quan
Mô hình của Lech Rataiski là một trong những mô hình nhận thức, được nhiều nhà khoa học ứng dụng, trước hết là các nhà bản đồ và các nhà địa lý trên thế giới Họ
đã ứng dụng, cải tiến, bổ sung, phát triển và hoàn thiện mô hình lý thuyết này Ví dụ,
mô hình “Nhận thức bằng phương pháp bản đồ” của K.A Salisev
A.M Berliant đã trình bày một tập hợp các phương pháp và nội dung phân tích
bản đồ trong cuốn sách “Nghiên cứu bằng phương pháp bản đồ”, trong đó nhấn mạnh
vai trò của phương pháp bản đồ, A.M Berliant cũng viết: “Nghiên cứu bằng phương pháp bản đồ là một bộ phận của bản đồ học, nghiên cứu các vấn đề thành lập và sử dụng bản đồ để nhận thức các đối tượng, hiện tượng địa lý và những biến động của chúng theo thời gian trong mối tác động qua lại với nhau” [144]
Trang 32Nhà bản đồ học Tiệp Khắc A Kolatnu đưa ra sơ đồ “Giao lưu thông tin” xác định mối quan hệ giữa thành lập bản đồ và sử dụng bản đồ, hai quá trình cơ bản của
phương pháp bản đồ
Các nhà bản đồ nghiên cứu về cơ sở lý luận của khoa học Bản đồ, về khái niệm phương pháp bản đồ từ quan điểm của phương pháp biện chứng đều nhất trí cho rằng: phương pháp bản đồ trong nhận thức thực tế khách quan là một phương pháp khoa học Thứ nhất, thành lập bản đồ là xây dựng những mô hình không gian của một bộ phận thực tế khách quan được nghiên cứu, nhờ những kiến thức tích lũy được trong quá trình nghiên cứu Thứ hai, sử dụng bản đồ là nghiên cứu, phân tích mô hình bản
đồ nhằm thu nhận các kiến thức mới về thực tế Song, cũng có những người hiểu phương pháp bản đồ như một phương pháp kĩ thuật Họ xếp phương pháp bản đồ vào
lĩnh vực “Bản đồ học phương pháp”, xếp khái niệm “Sử dụng bản đồ” với khái niệm
“Nghiên cứu bằng phương pháp bản đồ” làm một hoặc coi phương pháp bản đồ là
một phương tiện nghiên cứu Điều này hoàn toàn không chính xác, mà cần phải nhìn nhận phương pháp bản đồ là một phương pháp nhận thức khoa học không thể thay thế,
nó bổ sung một cách hữu hiệu cho các nghiên cứu chuyên môn Nói một cách cụ thể hơn, phương pháp bản đồ là phương pháp phổ biến của nhận thức không gian cụ thể các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu tồn tại như một hệ thống của các loại hình bản
đồ thuộc phương pháp logic nhận thức
Một bước phát triển đáng kể trong Khoa học Bản đồ đã xuất hiện vào những năm 1970 của thế kỷ XX, khi công nghệ điện tử và công nghệ máy tính phát triển nhanh chóng và thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực Khoa học, công nghệ và sản xuất Trong Khoa học Bản đồ, thời gian này, xu hướng nghiên cứu phát triển tự động hóa thành lập bản đồ và sử dụng bản đồ cũng đạt được những thành tựu đáng kể,
xuất hiện những chi nhánh mới trong hệ thống như “Bản đồ số” (Digital Cartography) [55], “Bản đồ học máy tính” (ЭБМ Картография) [145], “Bản đồ học
WEB” [90], “CyberCartography” [75, 74], “GIS Cartography” [107, 131, 133] và
các “Atlas điện tử” (Electronic Atlas) [53, 103] v.v Trên cơ sở những thay đổi định
dạng và môi trường máy tính của dữ liệu bản đồ, vào những năm 1980, các hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu không gian phát triển nhanh chóng, nhu cầu về dữ liệu không
Trang 3329
gian ngày càng được quan tâm xây dựng và chuẩn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lập mô hình và PTKG trong các công trình nghiên cứu địa lý và các công trình nghiên cứu chuyên ngành của hệ thống các khoa học về Trái Đất Từ đó, một môi trường xử lý tích hợp các dữ liệu bản đồ và các sản phẩm bản đồ kỹ thuật số được hình thành và phát triển, mang lại những bước tiến dài về chất lượng của các sản phẩm bản đồ Nhờ đó, các thể loại bản đồ và phương pháp sử dụng bản đồ cũng ngày càng phong phú, đa dạng và hiệu quả
Xu hướng “Toán học hóa” trong các nghiên cứu phân tích và xây dựng khung
lý thuyết toàn diện về PTKG bắt đầu xuất hiện vào những năm 1990 "Toán học hóa"
là quá trình xử lý các số liệu thống kê nói chung và đặc biệt là các số liệu thống kê không gian trong các bài toán PTKG nói riêng Do đó, dữ liệu thống kê không gian
được dùng để thể hiện sự phân bố địa lý, sự biến đổi không gian trong các mô hình bản
đồ, còn PTKG với mục đích phát hiện và thể hiện những mối quan hệ tương tác giữa các đối tượng, hiện tượng địa lý, thông qua một loạt các bước phân tích bản đồ để tạo
ra những bản đồ mới, bao gồm bản đồ phân tích và bản đồ tổng hợp, trên cơ sở giải các bài toán PTKG, đó là quá trình “toán học hóa” của PTKG Hầu hết các khả năng toán học truyền thống cùng với đầy đủ các hoạt động phân tích bản đồ tiên tiến đều được tích hợp sẵn trong các phần mềm GIS hiện đại, như MapInfo, ArcGIS v.v Công nghệ GIS đã nâng vai trò truyền thống của bản đồ lên một tầm cao hơn Bản đồ nói chung, bản đồ số nói riêng chính là hệ thống khung không gian của các mô hình địa lý,
được thể hiện trong dạng mô hình đồ họa Sự ra đời của công nghệ GIS, đã làm thay
đổi hình thức quan hệ giữa hình ảnh bản đồ của các đối tượng, hiện tượng địa lý với thuộc tính của chúng Kỹ thuật số cho phép kết nối bản đồ số với cơ sở dữ liệu thuộc tính, giúp các nhà nghiên cứu cùng lúc phân tích được cả hình ảnh đồ họa và các đặc trưng thuộc tính của các đối tượng, hiện tượng địa lý để tìm ra những quy luật phân bố, quan hệ tương tác trong không gian và những biến đổi của chúng theo thời gian
Nghiên cứu ứng dụng PTKG trong đánh giá các địa tổng thể, ở giai đoạn đầu,
bản đồ đã được sử dụng để mô hình hóa các hợp phần tự nhiên và các mối quan hệ
tương hỗ giữa chúng; ở giai đoạn giữa, bản đồ được sử dụng để mô hình hóa không
Trang 34gian ưu tiên phát triển sản xuất theo các điều kiện tự nhiên hoặc KTXH và ở giai đoạn
cuối, bản đồ được sử dụng để mô hình hóa đánh giá tổng hợp
1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu phát triển bền vững nông – lâm nghiệp
1.1.3.1 Các công trình nghiên cứu nông - lâm nghiệp theo quan điểm bền vững
Theo World Bank (2012) một nửa dân số thế giới đang sống ở các vùng nông thôn và đặc biệt ở các nước đang phát triển, hầu hết người nghèo sống ở nông thôn, vấn đề an ninh lương thực và phát triển nông thôn đang là thách thức rất lớn [52] Vì vậy, tính bền vững của ngành nông nghiệp có tầm quan trọng rất lớn, đặc biệt là khi dân số toàn cầu đang tăng lên và trên 99% nguồn lương thực, thực phẩm đảm bảo sinh tồn và phát triển của xã hội loài người vẫn phụ thuộc vào khả năng cung cấp của các
hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái NLN
Phát triển nông nghiệp bền vững được nhận thức lần đầu tiên từ định nghĩa phát triển bền vững do Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (WCED) đưa
ra tại Brundland (1987) [129] Theo đó “Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình
quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và thể chế nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai Những sự phát triển này (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) bảo tồn được tài nguyên đất, nước, động thực vật, không làm môi trường xuống cấp, phù hợp về mặt kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và được xã hội chấp nhận”[70] Hay nói một cách khác, một hệ thống nông
nghiệp bền vững đòi hỏi phải thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó là một triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả [61]
Xuất phát từ những quan điểm bền vững trong sản xuất nông nghiệp nhiều chương trình nghị sự cấp quốc tế và các quốc gia phát triển đã tiến hành cải cách chính sách môi trường bằng cách nhấn mạnh đến việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền
vững (PTNNBV) và phát triển nông thôn như: “Phát triển nông nghiệp là chìa khóa
giảm đói nghèo ở châu Phi” với nỗ lực tạo việc làm, bảo vệ môi trường, thích ứng với
biến đổi khí hậu và bảo đảm sự phát triển ổn định (Ủy ban Liên minh châu Phi, 2003);
“Cuộc Cách mạng Xanh” ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương là bài học kinh
Trang 3531
nghiệm cho thấy sự suy thoái tài nguyên nước ngầm do khai thác quá mức, tăng độ mặn của đất do sử dụng quá nhiều hoá chất hay chất lượng nước uống bị nhiễm độc
asen ở một số cộng đồng nông thôn [76]; “Chương trình hành động Agenda 2000”
kết hợp lồng ghép các mục tiêu môi trường vào chính sách nông nghiệp chung của
Liên minh châu Âu; Chiến lược “Nông nghiệp hài hoà với thiên nhiên” với mục đích
thúc đẩy nông nghiệp và nông nghiệp bền vững với môi trường (Canada, 2001)
[106]; “Farm Bill” nhằm tăng cường các Chương trình Dự trữ Bảo tồn bằng cách
giảm xói mòn đất và ô nhiễm nước (Chính phủ Hoa Kỳ, 1996) v.v…
Như vậy, quan điểm về sự phát triển bền vững trong nông nghiệp có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, có sự nhất trí rằng một hệ thống nông nghiệp (bao gồm cả nông nghiệp và lâm nghiệp) phát triển bền vững phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người mà không hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường
và bảo đảm lợi ích cho các thế hệ tương lai Do đó, phát triển nông nghiệp bền vững cần phải gắn kết các yếu tố liên quan đến điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội
và môi trường trên địa bàn (World Bank, 2009) Hay nói một cách khác, tính bền vững của các hệ thống này cần được xem xét trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường Việc nghiên cứu, xây dựng và đánh giá các hệ thống đó có bền vững hay không là điều không đơn giản và là một quá trình lâu dài Mặt khác, việc xác định phải dựa vào một tập hợp các chỉ số định tính và định lượng khác nhau [98, 114], bởi các chỉ số này luôn đại diện cho một sự tổng hợp giúp đơn giản hóa các hiện tượng mà không làm mất đi bản chất vốn có của chúng [79]
1.1.3.2 Hướng nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững nông - lâm nghiệp
Theo ý kiến của nhiều học giả, khi tiến hành các nghiên cứu cho mục đích phát triển NLN bền vững cần sử dụng phối hợp nhiều phương pháp và nhiều chỉ tiêu đánh giá các khía cạnh liên quan đến kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Sự lồng ghép giữa các phương pháp với nhau sẽ mang lại hiệu quả trong nhiều hoạt động nghiên cứu, nhằm tìm ra các giải pháp cho sự phát triển theo hướng bền vững Để các giải pháp đưa
ra có cơ sở khoa học và có tính khả thi cao, cần thiết phải sử dụng một tập hợp các chỉ
Trang 36tiêu thể hiện tính bền vững Đối với lĩnh vực NLN, hệ thống phát triển chịu sự ràng buộc của rất nhiều yếu tố liên quan đến môi trường tự nhiên, sự nghèo đói, môi trường sống của nông dân và người dân nông thôn Do đó, muốn đánh giá tính bền vững của một
hệ thống NLN, việc lựa chọn các tiêu chí là rất quan trọng, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp và mang tính khả thi Tuy nhiên, các phương pháp đánh giá hiện nay thông thường không hoàn toàn hiệu quả trong việc giải thích tính bền vững của các hệ thống phức tạp như hệ thống NLN bởi mới thường chỉ tập trung đánh giá một khía cạnh của tính bền vững như về kinh tế, về môi trường hoặc về xã hội thay vì xem xét đánh giá tính bền vững theo một cách tổng thể và toàn diện hơn Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đã chỉ ra một số khó khăn có thể phải đối mặt khi xây dựng và lựa chọn các chỉ tiêu liên quan đến tính bền vững của hệ thống NLN như: chưa lựa chọn trên một khung
lý thuyết cần thiết, mức độ sẵn có của số liệu chưa được quan tâm đúng mức khi xây
dựng bộ chỉ tiêu, sự thiếu vắng của các chỉ tiêu liên quan, sự trùng lặp và khó khăn khi
tính toán các chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường hay các chỉ tiêu liên
quan đến tính không nhất quán trong hệ thống canh tác, các đặc điểm của dữ liệu thống
kê, tính đặc thù của khu vực nghiên cứu v.v…(dẫn theo Maira Ore [104]) Từ nhận định này, đã có rất nhiều nghiên cứu cho rằng khi phân tích và lựa chọn các chỉ tiêu cần xem xét nhiều yếu tố liên quan đến hoạt động NLN như: các chính sách, phương pháp phân tích và tính đo được của dữ liệu [81], phải đại diện và có vai trò quan trọng trong cấu trúc và chức năng tổng thể của hệ thống, đồng thời phải đáp ứng được các tiêu chuẩn cơ bản về môi trường [116] hay cần thiết phải tính đến các chỉ số định lượng về môi trường của nông nghiệp bởi nó cho phép các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và người nông dân hiểu rõ hơn các điều kiện hiện tại, xác định xu hướng phát triển và đưa
ra các mục tiêu cụ thể [95] v.v… Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng khi xây dựng các bộ chỉ tiêu liên quan đến tính bền vững NLN, phải xem xét một cách nghiêm túc đến các nguyên tắc lựa chọn và bản chất của các chỉ tiêu, bởi nó sẽ quyết định liệu các chỉ tiêu đó có được tổng hợp thành các nhóm phản ánh các đặc trưng kinh tế, xã hội
và môi trường sinh thái hay không và điều quan trọng là làm thế nào các nhóm chỉ tiêu
đó có thể đo lường được và có trọng số để đánh giá theo những cách khác nhau phù hợp với mục tiêu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu [115]
Trang 3733
Vậy, để đánh giá tính bền vững NLN, cần thiết phải nghiên cứu và xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững phù hợp với các đặc trưng sinh thái, hoạt động KTXH và tập quán canh tác của cộng đồng dân cư bản địa Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung đề cập đến các bộ chỉ tiêu liên quan đến tính bền vững trong hoạt động nông nghiệp mà thiếu đi những nghiên cứu đề xuất các bộ chỉ tiêu đánh giá sự bền vững cho mục đích phát triển NLN Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu liên quan sẽ trở thành những tư liệu tham khảo quan trọng làm cơ sở phân tích và lựa chọn các chỉ tiêu (nhân tố chủ yếu) ảnh hưởng đến sự bền vững của hệ thống NLN trên địa bàn tỉnh Kon Tum
1.1.3.3 Hướng nghiên cứu phân tích và đánh giá tính bền vững trong phát triển nông - lâm nghiệp
Hiện nay, trước sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu tài nguyên cho phát triển kinh tế ngày càng cao Tuy nhiên, vấn đề khai thác quá mức và sử dụng lãng phí tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện KTXH cho các mục đích thực tiễn đã
và đang làm suy giảm chất lượng cũng như số lượng các nguồn tài nguyên không tái tạo, gây nên tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường Trước tình hình đó, tiếp cận liên ngành và phương pháp tích hợp trong nghiên cứu phát triển bền vững các hệ thống
“sinh thái - xã hội” là hết sức cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản
lý và sử dụng hiệu quả TNTN, đặc biệt là trong phát triển NLN
Liên quan đến các phương pháp đánh giá sự PTBV, nhiều nghiên cứu đã được các tác giả trên thế giới và trong nước đặc biệt lưu tâm đến vai trò quan trọng của tính bền vững trong các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất [83, 121]; phát triển kinh tế [71]; đánh giá tính dễ tổn thương [49]; quản lý và bảo vệ môi trường [86, 105]; hệ thống nông nghiệp [136] v.v… và trong nhiều ứng dụng khác Trong đó, hướng nghiên cứu tập trung vào phân tích cấu trúc và chức năng của các khía cạnh ảnh hưởng đến tính
bền vững đã cho thấy đây chính là cơ sở quan trọng để thiết lập kế hoạch sử dụng hợp
lý TNTN và BVMT cho các lãnh thổ cụ thể
Đối với mục đích phát triển NLN, trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn TNTN luôn nảy sinh các vấn đề môi trường như việc lạm dụng quá nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước; việc canh tác
Trang 38không đi đôi với hoạt động cải tạo làm đất bị thoái hóa, bạc màu; việc canh tác trên các khu vực đất có độ dốc lớn gây nên tình trạng sạt lở đất v.v Bên cạnh đó, việc khai thác sử dụng không hợp lý và thiếu tính bền vững nguồn tài nguyên trong phát triển lâm nghiệp cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Vì vậy, đảm bảo tính bền vững trong phát triển sản xuất NLN luôn là một thách thức trong xã hội hiện đại ngày nay
Gần đây, các nghiên cứu áp dụng mô hình hóa phương trình cấu trúc SEM
(Structural Equation Modelling) trong đánh giá tính bền vững - một khái niệm mang tính
trừu tượng đã được khẳng định là rất phù hợp, cần thiết và hiệu quả [44, 105, 139] Bởi
mô hình SEM đặc biệt hữu ích trong các nghiên cứu yêu cầu kiểm định lý thuyết, trong đó các biến phụ thuộc vừa có quan hệ với biến độc lập và đồng thời giữa các biến phụ thuộc lại có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Thêm nữa, khái niệm trong các nghiên cứu tính bền vững thường không thể quan sát trực tiếp mà phải đo lường thông qua các biến chỉ báo khác và các quá trình đo lường lại thường có sai số Khi đó, mô hình SEM có khả năng cho phép kiểm định một tập hợp bao gồm các biến tiềm ẩn (Latent variables) và các biến quan sát (Observed variables) bằng cách sử dụng các phương pháp xây dựng
mô hình; phân tích nhân tố; kiểm định độ phù hợp của mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Mô hình SEM có rất nhiều tính năng ứng dụng, tuy nhiên tính năng được khai thác nhiều nhất trong khoa học định lượng là kỹ thuật phân tích nhân tố ảnh hưởng giữa các biến Mô hình SEM là sự kết hợp của hai phương pháp thống kê: phân tích
nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) và phân tích đường dẫn (path analysis) Trong đó, kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định có nguồn gốc từ lĩnh
vực tâm lý học, nhằm mục đích để ước tính các đặc tính tâm lý tiềm ẩn, như thái độ và
sự hài lòng (Galton, 1888; Pearson và Lee, 1903; Spearman, 1904) Trong khi, kỹ thuật phân tích đường dẫn lại được bắt nguồn từ những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực sinh trắc học nhằm tìm kiếm mối quan hệ nhân quả giữa các biến bằng cách tạo ra
sơ đồ đường dẫn (Wright 1918, 1920, 1921) Ngoài ra, kỹ thuật phân tích đường dẫn còn được ứng dụng khá phổ biến trong các bài toán kinh tế lượng (Haavelmo, 1943) (Dẫn theo Yi Fan & cộng sự, 2016 [69])
Trang 3935
Vào đầu những năm 1970, SEM được sử dụng rộng rãi với sự kết hợp giữa hai
phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) và
phân tích nhân tố khẳng định (CFA), được phổ biến trong nhiều lĩnh vực như khoa học
xã hội, lĩnh vực kinh doanh, khoa học chăm sóc sức khỏe cộng đồng và khoa học tự nhiên Gần đây, mô hình SEM đã nhận được nhiều sự quan tâm trong nghiên cứu mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật và hiện tượng địa lý nhằm giải thích các quá trình tự nhiên, các hoạt động KTXH cho nhiều mục đích thực tiễn Đặc biệt, mô hình SEM được áp dụng để khám phá và đo lường các khái niệm mang tính trừu tượng như
biến đổi khí hậu (climate change) [91, 117]; tính dễ tổn thương (vulnerability) [48]; khả năng phục hồi (resilience) của các hệ sinh thái [66, 82]; tính nhạy cảm (sensitivity) [94], tính bền vững (sustainability) v.v
Một trong những ứng dụng nổi bật của SEM là đánh giá tính bền vững của các
hệ thống canh tác trên cơ sở các yếu tố sinh thái nông nghiệp khác nhau, bởi hệ thống canh tác với các cây trồng, vật nuôi luôn là phân hệ sản xuất đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống NLN bền vững Cụ thể, bằng kỹ thuật phân tích mô hình SEM, tác giả Asadi & cộng sự (2012) đã xác định được 3 thành phần ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh Qazvin của Iran Trong đó các yếu tố liên quan đến khía cạnh môi trường có tác động mạnh nhất, tiếp đến là kinh tế và cuối cùng là yếu tố
xã hội Ngoài ra, các tác giả cũng cho thấy mô hình định lượng SEM được sử dụng cũng đã khẳng định rằng các giả thiết thống kê ban đầu đặt ra đều có ý nghĩa [44]; Một nghiên cứu khác, SEM được Rohaeni & cộng sự (2014) sử dụng để xem xét tác động của các nguồn lực liên quan đến tính bền vững hệ thống chăn nuôi gia súc và các lợi ích của người nông dân tại làng Sumber Makmur và Central Banua, tiểu khu Takisung, Tanah Laut Regency, tỉnh Nam Kalimantan, Indonesia Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi ích của nông dân bị ảnh hưởng gián tiếp bởi các nguồn lực về môi trường, kinh tế, công nghệ, cơ sở vật chất, lực lượng lao động và các chính sách liên quan thông qua các hoạt động chăn nuôi Trong đó, nguồn lực công nghệ có ảnh hưởng mạnh nhất đến tính bền vững của hệ thống trong khi nguồn lực môi trường lại chiếm ưu thế trong việc ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân [122] Với mục tiêu đánh giá một cách tổng thể
và toàn diện tính bền vững trong các hoạt động nông nghiệp, hầu hết các tác giả đều
Trang 40cho rằng ngoài việc sử dụng các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường thì các chỉ tiêu liên quan đến vấn đề như công nghệ, thể chế, chính sách, chất lượng nguồn nhân lực hay các vấn đề khác cũng cần được quan tâm nghiên cứu [102, 119, 126]
Xuất phát từ những phân tích này, luận án sử dụng mô hình SEM – một mô hình định lượng tổng quát để tiến hành mô hình hóa cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển NLN tỉnh Kon Tum trên cơ sở áp dụng các chỉ tiêu bền vững nông nghiệp theo hướng tiếp cận ở cấp vĩ mô Trong đó, chỉ tiêu đo lường các khía cạnh liên quan đến môi trường, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, con người, thể chế
và chính sách sẽ được xem xét đề cập và phân tích
1.1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đã thực hiện ở tỉnh Kon Tum
1.1.4.1 Nhóm các công trình nghiên cứu đánh giá các hợp phần tự nhiên, kinh
tế - xã hội
Các công trình nghiên cứu, điều tra tổng hợp Tây Nguyên nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng, đã được thực hiện theo nhiều giai đoạn khác nhau và phần lớn do
các cơ quan Trung ương chủ trì thực hiện: Chương trình điều tra tổng hợp về Tây
Nguyên trong các năm 1976 - 1980 (Chương trình Tây Nguyên 1); Ðến những năm
1984 - 1988, Chương trình nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch phát
triển KTXH Tây Nguyên (Chương trình Tây Nguyên 2) Kết quả của các Chương trình
Tây Nguyên 1 và Tây Nguyên 2 đã đi sâu phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, TNTN, đặc điểm con người, tiềm năng văn hóa v.v cung cấp kịp thời các luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch năm năm (1986 - 1990) và phục vụ cho quy hoạch dài hạn phát triển KTXH Tây Nguyên các năm tiếp theo Trong hai năm 2010 và 2011, Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam phối hợp với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,
Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam xây dựng Chương trình Khoa học
& Công nghệ trọng điểm về Tây Nguyên trong giai đoạn mới (Chương trình Tây
Nguyên 3) Ban chủ nhiệm Chương trình Tây Nguyên 3 đã xác định chín nhóm vấn đề cần nghiên cứu giải quyết Trong đó tập trung vào các vấn đề lớn như: Nghiên cứu ĐGTH thực trạng phát triển KTXH Tây Nguyên giai đoạn 1988 - 2015 và đề xuất mô hình PTBV Tây Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; Nghiên cứu các vấn đề văn hóa, xã hội, dân tộc và tôn giáo vùng Tây