1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT CÔNG CHỨNG Đề tài: CÔNG CHỨNG VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HƯỚNG THEO MÔ HÌNH CÔNG CHỨNG LA TINH

96 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công chứng viên vừa là người thảo hợp đồng, văn bản giao dịch ; vừa là người tư vấn, là ngườihợp pháp hoá các giấy tờ ; vừa là người thị thực bản sao, bản dịch và chữ ký của khách hàng.C

Trang 1

K H O A L U Ậ T PHÂN KHOA CAO HỌC CÔNG CHỨNG

Khoá 2003-2004

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT CÔNG CHỨNG

Đề tài:

CÔNG CHỨNG VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG HƯỚNG THEO MÔ HÌNH CÔNG CHỨNG LA TINH

Tác giả: NGUYỄN VĂN TOÀN

Giáo viên hướng dẫn:

- Bà Sylvie FERRE-ANDRE , Trưởng Phân Khoa cao học công chứng

- Ông Michel CORDIER , Chủ tịch danh dự HĐCC tối cao Pháp

Lyon, tháng 9 năm 2004

Trang 3

M Ụ C L Ụ C

GIỚI THIỆU CHUNG

Phần thứ nhất

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

MỤC I: CÁC HỆ THỐNG CÔNG CHỨNG TRÊN THẾ GIỚI

A. Hệ thống công chứng Collectiviste

1 Tổ chức và những điểm đặc trưng

2 Giai đoạn tư nhân hoá hoạt động công chứng

3 Những khó khăn khi áp dụng luật cải cách công chứng

B. Hệ thống công chứng Anglo-saxon

1 Những điểm đặc trưng cơ bản

2 Những ưu điểm và nhược điểm

C. Hệ thống công chứng La tinh

1 Những quan niệm và quy định pháp lý

2 Những điểm đặc trưng cơ bản

3 Những ưu điểm hiển nhiên và một số nhược điểm

4 Liên đoàn công chứng la tinh quốc tế

5 Hiệp hội công chứng khối Pháp ngữ

MỤC II: CÔNG CHỨNG PHÁP LÀ MỘT ĐIỂN HÌNH MẪU VỀ HÀNH NGHỀ

TỰ DO THEO MÔ HÌNH CÔNG CHỨNG LA TINH

Trang 4

2 Quản lý theo kênh tự quản

MỤC III: CẢI CÁCH CÔNG CHỨNG BAO CẤP Ở MỘT SỐ NƯỚC THEO

HƯỚNG NGHỀ TỰ DO

A Cải cách công chứng ở Cộng hoà Ba Lan

1 Luật ngày 24-5-1989 về cải cách công chứng trong giai đoạn chuyển tiếp

2 Luật công chứng ngày 14-2-1991

B Cải cách công chứng ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

1 Quy chế tạm thời ngày 13-4-1982 về Công chứng nhà nước

2 Nghị quyết ngày 31-7-2000 về cải cách sâu rộng hoạt động công chứng Trung Quốc

Phần thứ hai

THỰC TRẠNG CÔNG CHỨNG VIỆT NAM

MỤC I NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

A Công chứng Pháp ở Đông Dương giai đoạn 1858-1954

1 Thành lập thể chế công chứng ở Đông Dương

2 Quy chế công chứng Đông Dương

3 Những Phòng Chưởng khế tại Sài Gòn

B Hoạt động công chứng giai đoạn 1945-1975

1 Sắc lệnh số 59/SL ngày 15-11-1945 về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ

2 Sắc lệnh số 85/SL quy định thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất

3 Dụ số 43 ngày 29-11-1954 về Quy chế công chứng

C Hoạt động công chứng giai đoạn 1975-1986

1 Hoạt động công chứng ở miền Nam

2 Hoạt động công chứng ở miền Bắc

D Tổ chức và hoạt động công chứng trong giai đoạn đổi mới

1 Thông tư số 574/QLTPK ngày 10-10-1987 hướng dẫn thực hiện các việc công chứng Nhà nước

2 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27-2-1991 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước

3 Nghị định số 31/HĐBT ngày 18-5-1996 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước

4 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8-12-2000 về công chứng, chứng thực

MỤC II CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Trang 5

A Tổ chức công chứng

1 Cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực

2 Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực

A Những yếu kém và bất cập trong tổ chức và quản lý công chứng

1 Hệ thống Phòng Công chứng quá mỏng, không đáp ứng được nhu cầu

2 Chưa có cơ chế về trách nhiệm bồi thường vật chất

3 Chưa xác định đúng bản chất và vị trí pháp lý của Phòng Công chứng

4 Sự bao cấp không tạo động lực và sức sáng tạo cho người làm công chứng

5 Đào tạo công chứng chưa đáp ứng về số lượng và chất lượng

6 Chưa có cơ chế kiểm tra, thanh tra có hiệu quả

B Những yếu kém và bất cập trong hoạt động công chứng

1 Chất lượng văn bản và dịch vụ công chứng còn hạn chế

2 Chưa xác định rõ bản chất của văn bản công chứng;

3 Trình tự, thủ tục vừa gò bó đối với người thực hiện công chứng, vừa không thuận lợi đối với khách hàng;

4 Thiếu sự đầu tư cho cơ sở vật chất, phương tiện làm việc

5 Thiếu diễn đàn để trao đổi thông tin, kinh nghiệm.

C Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

1 Thể chế công chứng theo mô hình công chứng nhà nước bao cấp

2 Sự non trẻ của công tác công chứng, chứng thực

3 Thiếu sự tổng kết thực tiễn, phát triển nghiệp vụ công chứng, chứng thực;

4 Chế độ đãi ngộ đối với người thực hiện công chứng, chứng thực chưa tương xứng với cường độ làm việc và trách nhiệm.

Trang 6

A Chương trình cải cách các thể chế nhà nước đến năm 2010

1 Thực trạng nền hành chớnh nhà nước và bài học về cải cỏch hành chớnh

2 Thuận lợi và khú khăn đối với cải cách hành chớnh trong thời gian tới

3 Mục tiờu của cải cỏch hành chớnh nhà nước

4 Cải cỏch cỏc thể chế và thực hiện từng bước hiện đại húa nền hành chớnh

5 Cải cỏch tổ chức bộ mỏy chớnh quyền và mở rộng việc xó hội hoỏ cỏc hoạt động

B Chủ trương cải cách các thủ tục hành chính

1 Tình hình các thủ tục hành chính

2 Nội dung cải cách các thủ tục hành chính

3 Những yêu cầu và giải pháp

C Chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động công chứng

1 Chủ trương xã hội hoá công chứng

2 Xã hội hoá công chứng trong nền kinh tế thị trường

MỤC II NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ CẢI CÁCH CÔNG CHỨNG THEO MÔ

HÌNH LA TINH

A Những nguyên tắc về công chứng viên và bản chất chức năng hoạt động công chứng

B Những nguyên tắc về văn bản công chứng

C Những nguyên tắc về tổ chức nghề nghiệp công chứng

MỤC III CÁC GIẢI PHÁP TRONG CẢI CÁCH VÀ LỘ TRÌNH XÃ HỘI HOÁ CÔNG

CHỨNG

A Các giải pháp trong cải cách công chứng

1 Sửa đổi bổ sung Bộ luật Dân sự

2 Ban hành Pháp lệnh công chứng

3 Xây dựng kênh quản lý nhà nước và kênh tự quản công chứng

4 Tin học hoá hoạt động công chứng

B Lộ trình xã hội hoá công chứng

1 Giai đoạn Phòng Công chứng tự trang trải về tài chính

2 Giai đoạn thành lập thí điểm Phòng Công chứng tư nhân

3 Giai đoạn phổ cập hoá các Phòng Công chứng tư nhân

KẾT LUẬN

Trang 7

GIỚI THIỆU CHUNG

I Lý do chọn đề tài:

Công chứng trên thế giới có nguồn gốc từ lâu, trải qua những thăng trầm lịch sử, qua các cuộcchiến tranh, qua các giai đoạn cách mạng, nó luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội,chẳng những trong các quan hệ về bất động sản, kinh doanh, lao động mà còn trong các quan hệ gia đình,thừa kế Tuy nhiên, ở Việt Nam, công chứng vẫn còn là một khái niệm mà ít người biết đến hoặc có hiểubiết chưa thật đầy đủ về đề tài này: có bao nhiêu hệ thống công chứng đang tồn tại trên thế giới? mỗi hệthống có những ưu điểm và nhựơc điểm gì? hiện nay có hệ thống công chứng nào đang hấp dẫn các nướctrong thế giới hiện đại? xu thế phát triển và cải cách của công chứng các nước trong đó có công chứngcác nước xã hội chủ nghĩa cũ? Công chứng Việt Nam đang được tổ chức theo mô hình nào và cần đượccải cách và phát triển theo híng nào để đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong nền kinh tế thị trường? Đó

là những vấn đề đang được tranh luận sôi nổi với nhiều quan niệm khác nhau và rất được quan tâm khôngchỉ bởi các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, mà còn bởi các công chứng viên và nhữngngười thực hành công tác công chứng

Từ năm 1989, ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ Đông Âu đã có những biến đổi về chínhtrị, kéo theo sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, văn hoá xã hội và pháp luật, đòi hỏi phải có những biến đổiphù hợp về thể chế các cơ quan nhà nước trong đó có các cơ quan pháp luật, tư pháp và bổ trợ tư pháp.Song song với chính sách phát triển kinh tế, mỗi nước đã bắt đầu chương trình cải cách thể chế của hệthống tư pháp và pháp luật, xuất phát từ việc thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và tư bản tư nhân đối vớitài sản, đặc biệt là đối với bất động sản Trong một môi trường mới, đã nảy sinh và phát triển mạnh mẽnhững quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, đòi hỏi có sự an toàn pháp lý cao và thể chế công chứng ở cácnước này phải đựơc nhanh chóng cải cách phù hợp với nền kinh tế thị trường, trong xu thế đó Côngchứng Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ

Trong khuôn khổ hợp tác nhiều mặt giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Tư pháp Pháp về các lĩnhvực tư pháp và pháp luật, từ hơn 10 năm nay, đã thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Công chứngViệt Nam và Công chứng Pháp với các hoạt động như xây dựng pháp luật công chứng, đào tạo côngchứng viên, tổ chức hội thảo và thăm quan, khảo sát, hỗ trợ triển khai Dự án tin học hoá công chứng Đã

có một số tài liệu được biên soạn, trao đổi và dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và ngược lại, song sốlượng vẫn còn rất hạn chế và những thông tin không được cập nhật thường xuyên, nhất là về những tưliệu liên quan đến kinh nghiệm tổ chức và quản lý công chứng của các nước trên thế giới Do vậy, rất cầnthiết phải có sự đầu tư nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để có thêm những thông tin bổ ích phục vụ công tácnghiên cứu xây dựng pháp luật công chứng và thực hiện công cuộc cải cách thể chế công chứng, đổi mớihoạt động công chứng ở Việt Nam

Từ 1991 đến nay, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị định về tổ chức, hoạt động công chứng Tronggiai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thể chế công chứng hoạt động với sựbao cấp của Nhà nước đã phát huy được vai trò, thu được những kết quả bước đầu quan trọng Tuy vậy,

mô hình tổ chức công chứng với sự bao cấp của Nhà nước đang dần dần bộc lộ những bất cập và nhựơcđiểm, không tạo ra động lực phát huy hết tiềm năng phát triển công chứng và sức sáng tạo của công

Trang 8

chứng viên, không đáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng, ngày càng phức tạp trong nền kinh tế thịtrường Đã đến lúc phải có những nghiên cứu, đánh giá đúng về thực trạng của Công chứng Việt Nam,những yếu kém và những bất hợp lý trong tổ chức, quản lý và hoạt động công chứng, trên cơ sở đó xácđịnh xây dùng mô hình công chứng hiện đại mang đậm nét Việt Nam với những giải pháp hữu hiệu và lộtrình phù hợp, đưa ngành công chứng có những biến đổi tích cực cả về lượng và chất.

Trong công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước hiện nay, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp đangđược Đảng và Chính phủ rất quan tâm trong đó có cải cách về tổ chức và hoạt động của công chứng-mộtlĩnh vực quản lý tư pháp quan trọng trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủnghĩa Việc đổi mới tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước với phương châm đổi mới từng bướcvững chắc, nhằm góp phần thiết thực vào cải cách hành chính và cải cách tư pháp, giảm bớt phiền hà chonhân dân là rất cần thiết và cấp bách Việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của công chứng các nướctiên tiến trong khu vực và trên thế giới đáp ứng những yêu cầu để thực hiện những chủ trương về cải cách

và đổi mới của Đảng và Nhà nước

II Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong khuôn khổ Luận văn này gồm:

- Các hệ thống công chứng trên thế giới (Collectiviste, Anglo-saxon và La tinh), trong đó nhấnmạnh những ưu điểm hiển nhiên của hệ thống công chứng la tinh với một điển hình mẫu là Công chứngPháp

-Công chứng của Cộng hoà Ba Lan và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa–hai điển hình của Côngchứng các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ, đã thực hiện thành công việc cải cách từ mô hìnhcông chứng Nhà nước bao cấp sang mô hình công chứng được xã hội hoá trong khuôn khổ một nghề tự

do hướng theo mô hình công chứng la tinh

-Công chứng Việt Nam qua các thời kỳ, thực trạng trong tổ chức, quản lý và hoạt động côngchứng hiện nay, hướng vận dụng những kinh nghiệm quốc tế vào hoàn cảnh mới và điều kiện của nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa để thực hiện thành công chủ trương xã hội hoá côngchứng của Đảng và Nhà nước

III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Với nỗ lực, cố gắng của bản thân, cùng với sự giúp đỡ quý báu của các giáo viên hướng dẫn, Luậnvăn này là sản phẩm của một quá trình nghiên cứu nghiêm túc, thu lượm được những thông tin mới nhất,những kinh nghiệm tốt nhất về tổ chức, quản lý và hoạt động công chứng Đây là một tài liệu mang tínhkhoa học pháp lý và thực tiễn công chứng:

-Cung cấp các thông tin về công chứng trên thế giới, những đánh giá thực trạng về công chứngViệt Nam, những bước đi và các giải pháp trong cải cách công chứng;

-Kết quả nghiên cứu đề tài này phục vụ những người nghiên cứu, xây dựng Bộ luật dân sự sửađổi, Pháp lệnh công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành khác liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạtđộng công chứng

Trang 9

-Những kinh nghiệm và bài học được rút ra từ đề tài này sẽ có thể được các nhà quản lý côngchứng vận dụng vào trong quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống công chứng Việt Nam trong nhữngnăm tới đây.

-Với những nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng bản chất của hoạt động công chứng, chúng ta sẽxác định đúng phạm vi hoạt động công chứng, dần dần đổi mới quy trình công chứng và nâng cao kỹnăng tác nghiệp công chứng theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế

-Đề tài này cũng có ý nghĩa rất thiết thực đối với công tác đào tạo nghề công chứng, giúp chogiảng viên và học viên có thêm tài liệu tham khảo để trau dồi kiến thức về tổ chức, quản lý và kỹ nănghoạt động công chứng

IV Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng như những phương pháp chủđạo, đảm bảo tính khách quan và tính khoa học Ngoài ra, chúng tôi áp dụng mét sè phương pháp nghiêncứu cụ thể khác:

-Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tương ứng với mỗi hệ thống pháp luật, đã ra đời và phát triểnmột hệ thống công chứng phục vụ lợi ích của Nhà nước thống trị Việc tìm hiểu bản chất, nguyên tắc tổchức hoạt động của mỗi hệ thống công chứng cho phép người nghiên cứu không những có thể rút ranhững ưu việt, ảnh hưởng tích cực, xu hướng phát triển, mà còn xác định được những nhựơc điểm và bấtcập của mỗi hệ thống

-Phương pháp lịch sử học: Các vấn đề tiếp cận đều gắn liền với từng giai đoạn lịch sử, từ nhữngtiến triển của quy định pháp luật công chứng, đến sự ra đời và phát triển của thể chế công chứng

-Phương pháp kinh tế-xã hội học: Sự phát triển của công chứng luôn gắn liền với sự phát triểnkinh tế, xã hội Các hình thái kinh tế, xã hội khác nhau đã cho ra đời các thể chế công chứng khác nhau,phục vụ lợi ích của Nhà nước thống trị

-Phương pháp phân tích tổng hợp pháp luật: Việc phân tích các quy định của pháp luật trong lĩnhvực công chứng và dân sự, kinh tế, thương mại của mỗi hệ thống, của mỗi nước cho phép hiểu rõ cơ sở hạtầng pháp lý của thể chế công chứng; thông qua hệ thống pháp luật về công chứng, Nhà nước đưa ra cơchế đối với việc tổ chức, quản lý và hoạt động công chứng

-Phương pháp so sánh: Luật so sánh luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu.Mỗi hệ thống công chứng, mỗi thể chế công chứng sau một thời gian hoạt động sẽ bộc lộ những ưu điểm,tính hiệu quả, đồng thời cũng chứa đựng những nhược điểm, bật cập Hiện nay, trong mối quan hệ hợptác quốc tế giữa công chứng các nước, rất nhiều kinh nghiệm hay được phố biến, trao đổi và nhiều bàihọc được rút ra từ những sai lầm trong tổ chức, quản lý, tác nghiệp công chứng

-Phương pháp tổng hợp tài liệu và chuyên đề khoa học: Trong thư viện của Nhà Pháp luật Pháp, của Bộ Tư pháp và trên trang Web của công chứng La tinh đang có một số tài liệu bằng tiếng Phápgiới thiệu về tổ chức, quản lý và hoạt động công chứng của các nước trên thế giới, đặc biệt là công chứngcủa các nước trong hệ la tinh mà điển hình là công chứng Pháp Từ những tài liệu này, người nghiên cứu

Việt-có thể tổng hợp những thông tin mới được cập nhật về tổ chức, quản lý và hoạt động công chứng Mặtkhác, những cuộc hội thảo, tọa đàm giữa các chuyên gia Việt Nam và Pháp trong nhiều năm qua đã đề

Trang 10

cập đến rất nhiều các chủ đề khác nhau với những thông tin được chắt lọc về thể chế, quản lý và hoạtđộng công chứng.

-Phương pháp phân tích, tổng hợp thực tiễn công chứng: Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật,đánh giá đúng thực trạng của công chứng Việt Nam, làm cơ sở để đề xuất ra những giải pháp trong cảicách và phát triển công chứng, người nghiên cứu đã thu thập được những thông tin trực tiếp, những sốliệu thực tế tại các Phòng Công chứng ở thành phố, đồng bằng, miền núi và tại các cơ quan kiêm nhiệmcông chứng

Pháp luật là yếu tố quyết định của nền văn hóa, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội và hành vi ứng

xử của các cá nhân; nó luôn đi kèm với sự phát triển về chính trị, kinh tế và xã hội ở mỗi nước cũng nhưtrên toàn thế giới Tương ứng với 3 hệ thống pháp luật hiện nay, có 3 hệ thống công chứng: hệ thống côngchứng Collectiviste (bao cấp), hệ thống công chứng Anglo-sacxon (kiểu Anh-Mỹ) và hệ thống côngchứng La tinh (Châu Âu lục địa )

A Hệ thống công chứng Collectiviste

1 Tổ chức và những điểm đặc trưng

Hệ thống công chứng Collectiviste (hay còn gọi là hệ thống công chứng bao cấp) là mô hình côngchứng được tổ chức khá chặt chẽ, hoạt động chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của Nhà nước thông qua việccấp ngân sách hành chính để hoạt động Tổ chức công chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháptrong bộ máy hành pháp của Chính phủ Công chứng viên và nhân viên nghiệp vụ đều là công chức nhànước, hưởng lương từ nguồn ngân sách quốc gia và được hưởng mọi chế độ chính sách như những côngchức khác Công chứng viên được bổ nhiệm để chứng nhận hợp đồng và văn bản, giúp đỡ pháp lý cho cánhân, tổ chức, tạo ra sự an toàn pháp lý và sự tin cậy cho các giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, vi phạmpháp luật

Điển hình của hệ thống này là công chứng của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ Hệthống công chứng này phát triển mạnh nhất vào những năm từ 1970 đến 1990 bao gồm công chứng củaLiên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, Cộng hoà Ba lan, Cộng hoà dân chủ Đức, Bun-Ga-Ri,Hung-Ga-Ri, Ru-Ma-Ni, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam Vai trò của công chứng viên ở các nước này bịhạn chế bởi luật không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với một số tài sản, đặc biệt là đối với quyền

sở hữu đất đai pháp luật quy định hoạt động của công chứng viên nhằm thực hiện pháp chế xã hội chủnghĩa, đặc biệt là nhằm bảo về tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của cá nhân Sau khi Liên Xô bị sụp đổ,

hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn, hệ thống công chứng Colectiviste cũng dần dần bị thu hẹp và đi vàocải cách để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị truờng

Trang 11

Ở các nước theo hệ thống công chứng Collectiviste, công chứng viên được tổ chức dưới hình thứcPhòng Công chứng nhà nước; họ lập ra những hợp đồng, giao dịch và lưu giữ lâu dài các hợp đồng giaodịch đó, họ điều chỉnh các quan hệ về thừa kế dựa trên nguyên tắc tự nguyện của những người hưởngthừa kế Công chứng viên vừa là người thảo hợp đồng, văn bản giao dịch ; vừa là người tư vấn, là ngườihợp pháp hoá các giấy tờ ; vừa là người thị thực bản sao, bản dịch và chữ ký của khách hàng.

Chúng ta có thể nêu ra một số điểm đặc trưng cơ bản của hệ thống công chứng Collectiviste :

 Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của Phòng Công chứng như trụ sở, phương tiện, thiết bịvăn phòng, kinh phí hoạt động bao gồm cả quỹ lương;

 Các Phòng Công chứng được đặt dưới sự quản lý song trùng trực thuộc: vừa đặt dưới sựquản lý về nghiệp vụ, chuyên môn của Nhà nước Trung ương (Bộ Tư pháp), vừa đặt dưới sựquản lý của chính quyền địa phương (Sở tư pháp hoặc Toà án địa phương)

 Cùng với các Phòng Công chứng chuyên trách, một số cơ quan hành chính được giao thựchiện kiêm nhiệm thêm một số việc công chứng đơn giản ở những nơi tập trung dân cư nhưngchưa thành lập Phòng Công chứng nhà nước Mặt khác, một số nhân viên ngoại giao và lãnh

sự được giao thẩm quyền thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài ;

 Lệ phí công chứng thu theo biểu mức do Nhà nước quy định và nộp và ngân sách nhà nước,người thực hiện công chứng được hưởng thêm một khoản tiền thưởng hoặc phụ cấp;

 Hoạt động mang tính kỹ thuật đơn giản, có nghĩa là công chứng viên chỉ là người thực hiệnhành vi chứng nhận đơn giản, khi chứng nhận một văn bản chỉ chú trọng đến hình thức, tínhhợp pháp của văn bản, căn cứ vào các giấy tờ do người yêu cầu xuất trình, hoặc nộp để nhậndạng, xác định năng lực hành vi dân sự, tình trạng pháp lý của tài sản và là người ghi chépvào sổ những sự kiện đã thực hiện, ít chú trọng đến việc tư vấn, xác minh nhân thân kháchhàng và tình trạng pháp lý của tài sản

 Công chứng viên chứng nhận văn bản công chứng dựa trên cơ sở những giấy tờ do kháchhàng xuấ trình hoặc nộp Khách hàng phải tự mình chứng minh nhân thân và tình trạng pháp

2 Các giai đoạn tư nhân hóa hoạt động công chứng

Sự phát triển của các nước phương Đông theo xu hướng tự do hóa hoạt động công chứng đòi hỏi

sự sửa đổi sâu sắc các quan hệ pháp luật giữa các cá nhân, các doanh nghiệp với nhau Vai trò của ngànhcông chứng đồng thời cũng phải được tăng lên Một số nước quan tâm tới thể chế công chứng kiểu Pháp

Trang 12

và một số nước cũng đi theo hướng đó và dường như mong muốn mô phỏng sự tổ chức của các thể chếcông chứng La tinh và nhất là Công chứng Pháp Phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu vàcác nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Cuba, Việt Nam đang trong quá trình cải tổ ngành côngchứng theo hướng xã hội hóa hoạt động công chứng.

Các nước Trung và Đông Âu đã củng cố quan hệ vốn có với các nước Tây Âu Những mối quan

hệ này được xây dựng trên cơ sở một lịch sử chung, sự liên hệ về xã hội học và đơn giản là sự gần gũi vềđịa lý Chẳng hạn, chúng ta có thể nêu ra những mối quan hệ giữa Áo và các nước láng giềng như: Hung-ga-ri, Cộng hòa Séc và Xlô-va-ki-a, Xlô-vê-ni-a và Croatia Những nước này đã ban hành đạo luật vềcông chứng theo khuôn mẫu của Công chứng Áo Các nước vùng Ban-tích, Nga và Bun-ga-ri đã lấykhuôn mẫu của Công chứng Đức, Ru-ma-ni đi theo hướng của Pháp và Italia- những nước trước đó đãcung cấp khuôn mẫu cho Công chứng An-ba-ni

Nhờ sự hợp tác chặt chẽ giữa Liên đoàn công chứng la tinh quốc tế, Hội đồng Châu Âu, Côngchứng đã dần dần được tư nhân hóa ở hầu hết các nước Trung và Đông Âu Hai nước đầu tiên đã tự dohóa hoạt động công chứng là Ba Lan và Hung-ga-ri, vốn đã đi đầu trong việc cải cách xây dựng nền phápluật mới ngay từ năm 1991 Sự cải cách ở những nước này đã nhanh chóng lan truyền đến Cộng hòa Séc

và Xlôvênia, các nước Ban-tích , An-ba-ni, Ru-ma-ni, Xlôvakia, Croatia và Nga Dưới đây, xin thống kêmột số nước đã ban hành luật về cải cách công chứng:

21-04-199101-11-199101-12-199201-01-199301-01-199310-03-199301-09-199302-09-199301-11-199310-04-199406-08-199405-07-199501-08-199616-09-199706-12-1997

Trang 13

Trong quá trình xây dựng các đạo luật về công chứng, các nguyên tắc chung của ngành công chứng

đã được tôn trọng, cụ thể là:

 Tính chất viên chức công;

 Giá trị chứng cứ của các văn bản công chứng;

 Nghĩa vụ lưu trữ các văn bản, trừ một số ngoại lệ hoặc khi luật chưa điều chỉnh;

 Thực hiện nhiệm vụ một cách riêng biệt;

 Lưu giữ sổ sách để đảm bảo ngày chắc chắn;

Hệ thống các Phòng Công chứng bao cấp trong vùng Đông Đức cũ được nhanh chóng thay đổithành những Phòng Công chứng tư nhân như ở Tây Đức Có rất nhiều công chứng viên của các Bang phíaTây đã được tăng cường sang phía Đông để hành nghề

Tiếp sau sự ban hành và có hiệu lực của đạo luật về công chứng, người Đức đã thực hiện các vấn đềnhư: thuê hoặc mua văn phòng để làm trụ sở Phòng Công chứng; tuyển dụng nhân sự; thành lập Hội đồng

tự quản công chứng; đăng ký bảo hiểm nghề nghiệp; tổ chức đào tạo nghề nghiệp cho các công chứungviên và thư ký tương lai; xuất bản các tạp chí chuyên ngành; tổ chức hội nghị chuyên đề; việc trang bị cơ

sở vật chất đã được tiến hành bằng nguồn tài chính tư nhân mà không phải nhờ đến các khoản vay, cáccông chứng viên tư nhân trong thời gian đầu đã có thể thụ hưởng cơ sở vật chất của công chứng Nhànước với những thời hạn thanh toán tương đối dài

3 Những khó khăn trong áp dụng luật cải cách công chứng

Trong số những khó khăn về áp dụng các đạo luật về công chứng, có thể thấy:

Trang 14

Thứ nhất, ở một số nước như Nga và U-crai-na, việc tư nhân hóa ngành công chứng chỉ được thực

hiện một phần Việc thừa nhận sự tồn tại đồng thời hai hệ thống công chứng chỉ mang tính quá độ Nhànước đã không muốn xóa bỏ công chứng Nhà nước ngay lập tức Chế độ hai hệ thống này đặt ra nhữngvấn đề về điều hòa và liên kết trong nội bộ ngành công chứng Chế độ đó đã tồn tại ở nhiều nước mà nơi

đó người ta chứng minh cho Bộ Tư pháp thấy được tính ưu việt của công chứng tư, kéo theo sự thu hẹp

và dần dần xóa bỏ công chứng bao cấp của Nhà nước

Thứ hai, việc bổ nhiệm công chứng viên không do Bộ Tư pháp quyết định, mà ở nhiều nước lại

được thực hiện bằng một quyết định của “người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương’’

Thứ ba, các công chứng viên đã gắn bó với những đặc quyền cũ dành cho công chức, họ không

muốn từ bỏ những đặc quyền này để bước vào một nghề như người chủ doanh nghiệp với những mạohiểm, rủi ro Ở một số nước, công chứng viên có toàn quyền công chứng những việc do Pháp luật quyđịnh buộc phải công chứng, ở một số nước khác, thì công chứng viên phải chia xẻ thẩm quyền này vớigiới luật sư

B Hệ thống công chứng Anglo-Saxon

1 Những điểm đặc trưng cơ bản

Các nước theo hệ thống công chứng Anglo-saxon không thừa nhận thể chế công chứng, có nghĩa làkhông thừa nhận một thể chế mà có người hoạt động chuyên nghiệp (công chứng viên) được trang bị mộtquyền năng, thay mặt Nhà nước và cho phép người đó đem lại tính xác thực cho những văn bản đượcchứng nhận Chức năng công chứng ở các nước theo hệ thống này được giao cho những luật sư (ở HoaKỳ), hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ (ở Vương quốc Anh) thực hiện theo phương thức kiệmnhiệm Đó là những “công chứng viên” không chuyên biệt Trước khi được bổ nhiệm làm công chứngviên, họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật sư thuộc Hiệp hội Luật sư hoặc là hộ tịchviên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội Ngoài ra, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩmquyền thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài Các nước có thể chế công chứng theo mô hìnhnày gồm : Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (trừ bang Louisane), Canada (trừ Bang Quebec),

Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapor, Thái Lan, Đài Loan

Án lệ là nguồn chủ yếu của luật tư Các vụ việc cụ thể do tòa án xét xử trở thành các “tiền lệ” có giátrị như quy phạm pháp luật, trừ khi pháp luật có quy định khác Truyền thống pháp điển hóa không tồntại Các hợp đồng hiếm khi viện dẫn tới các đạo luật, cho phép các bên tham gia hợp đồng được tự do,hợp đồng thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng sau khi những cố vấn của họ đã thương thảo Khi

có tranh chấp, thẩm phán thường xuyên giải quyết bằng cách viện dẫn các “tiền lệ” có thể áp dụng cho vụviệc đang thụ lý

Các dịch vụ pháp lý được cung cấp bởi các luật sư trong hoạt động phi tranh tụng (tư vấn, soạn thảo

văn bản) cũng như trong lĩnh vực tư pháp (họ tranh tụng trước tòa án cấp sơ thẩm) Các barriste là các

luật gia nhìn chung được chuyên môn hóa và là người duy nhất được phép đại diện các bên đương sự

trước các tòa án cấp trên Các solicitor thường hành nghề theo nhóm dưới hình thức hợp danh giống như

một loại công ty hợp danh Một số hiệp hội quan trọng với hàng trăm thành viên và có chi nhánh ở khắpchâu Âu, Hoa Kỳ và châu Á

Trang 15

Ở Hoa Kỳ, các luật sư vốn là các luật gia duy nhất có số lượng rất đông đảo gần 1.000.000, tức là cứ

275 người dân thì có 1 luật sư Chỉ các luật sư mới có quyền kiêm một hoạt động công chứng và các giớihạn của việc giám định kế toán được lưu ý rõ nét hơn so với ở Pháp hay ở Đức Các hiệp hội dưới hìnhthức hợp danh tồn tại rất nhiều và một vài trong số đó có vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, ở Hoa Kỳphần lớn các luật sư hoạt động riêng biệt trong khuôn khổ của các văn phòng có quy mô thu nhỏ (từ 3 đến

5 thành viên) Đời sống pháp luật Hoa Kỳ được đặc trưng bởi số lượng lớn các phiên tòa mà chúng có thểđược giải thích một phần bởi cách xây dựng hợp đồng Mỗi bên tham gia hợp đồng, được trợ giúp bởi cốvấn của mình, đều tìm kiếm lợi ích lớn nhất có thể mà không ai quan tâm thật sự tới thiệt hại của đốiphương Ở nhiều nước Bắc Mỹ cũng xuất hiện một loại hình luật gia các “công chứng viên luật dân sự”,

có nhiệm vụ thiết lập các văn bản được chứng thực Tổ chức và hoạt động của các công chứng viênAnglo-saxon trong nền kinh tế hiện đại yêu cầu một sự cải cách theo hướng xích lại gần khuôn mẫu latinh

Khi thực hiện công chứng, các luật sư và hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của Giáo hội chỉ côngchứng về mặt hình thức như: nhận diện đúng khách hàng, ghi đúng ngày tháng, ghi lại một cách trungthành thoả thuận của các bên và ý chí của từng bên, không quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lýcủa đối tượng hợp đồng, không cần biết thoả thuận có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không, khôngchịu trách nhiệm nếu có điều khoản nào đó trong hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại chongười thứ ba Do vậy, những hợp đồng, văn bản được lập bởi những người kiêm thực hiện công chứngmang lại sự an toàn pháp lý thấp, không được coi là chứng cứ xác thực, hiển nhiên trước Toà án, tỷ lệtranh chấp đối với hợp đồng do công chứng viên lập xảy ra nhiều hơn so với tỷ lệ tranh chấp ở các hệthống khác

Theo số liệu chính thức được công bố trong một báo cáo mà Phó Tổng thống Mỹ đã gửi choThượng Nghị viện, (năm 1995), thì trong 5 năm, số lượng các tranh chấp về hợp đồng tăng từ 25 đến 27%hàng năm Còn ở Anh, cũng có tình trạng như vậy Trong 20 năm gần đây, số lượng các tranh chấp về bấtđộng sản đã tăng từ 10 lên 30% và cuộc chiến về giá cả, sự phá giá giữa các nhà chuyên nghiệp về luật(luật sư, tư vấn) đã kéo theo những hậu quả đặc biệt tai hại đối với chất lượng dịch vụ và là nguyên nhânlàm phát sinh ngày càng nhiều tranh chấp

2 Những ưu điểm và nhược điểm

Sau khi phân tích các đặc điểm cơ bản của hệ thống công chứng Anglo-Sacxon, chúng ta có thể chỉ

ra những ưu điểm chính như sau:

 Đó là một nền pháp luật thực dụng, rất mềm dẻo, dễ thích ứng với các hoàn cảnh cụ thể;

 Hợp đồng giữ vai trò quyết định trong các quan hệ pháp luật;

 Đó là một nền pháp luật phù hợp với hoạt động thương mại và kinh doanh với sự bị thúc épcan thiệp để giao kết hợp đồng

 Đó là một nền pháp luật theo xu hướng tự do, để một khoảng rộng cho sự tự do thỏa thuận;

 Các nhu cầu về công chứng, thị thực nhanh chóng được giải quyết Các bên, nhất là cácdoanh nhân có thể tranh thủ tốt cơ hội kinh doanh

Trang 16

Bên cạnh các ưu điểm, các hệ thống công chứng Anglo-Sacxon còn có những nhược điểm trong tổchức và hoạt động như sau:

 Vai trò của Nhà nước trong quản lý các hoạt động công chứng là mờ nhạt Nhà nướckhông có một chế độ kiểm tra chặt chẽ đối với các hoạt động công chứng, cũngkhông quy định bắt buộc phí dịch vụ mà khách hàng phải trả cho các luật sư, nhânviên trợ giúp pháp lý thực hiện soạn thảo văn bản hoặc tư vấn; chính họ có quyền tự

do thỏa thuận với khách hàng về giá áp dụng cho mỗi vụ việc công chứng

 Các hợp đồng rất dài, vì phải trình bày tất cả các giả thiết để loại trừ sự lơ đãng hoặckhông ngay tình;

 Việc giao kết các thỏa thuận hợp đồng xuất phát từ quan hệ sức mạnh giữa các bêncùng cố vấn của họ hơn là từ việc nghĩ đến đạt được một giải pháp cân bằng và côngminh Người giàu có xuất hiện với tư thế là người áp đặt quan điểm, người nghèo baogiờ cũng bị lép vế, thua thiệt

 Dịch vụ pháp lý được quan niệm và thực hiện như một sản phẩm được đặt dưới luậtchơi của thị trường kinh tế áp đặt cho các những người hoạt động pháp luật Vì vậynhững người này tất nhiên sẽ ưu đãi sự chinh phục những phần mới của thị trườngcho một mục đích thiếu cân bằng của hợp đồng và công lý

 Những quan niệm như vậy làm gia tăng các tranh chấp Chi phí cho chúng đánh vàongân quỹ của các doanh nghiệp: thời hạn pháp lý, phí và thù lao tố tụng thường cao.Điều này cũng đánh vào các hãng bảo hiểm vì các khoản tiền mà họ phải trả Cuốicùng người tiêu dùng phải chịu hậu quả vì phí bảo hiểm không ngừng tăng lên

 Việc hiểu biết pháp luật xuất phát từ các “tiền lệ” mà tòa án viện dẫn đến Các tiền lệ

đó không nhất thiết giống nhau cho mọi trường hợp, vì thế mà có một khoảng khácbiệt giữa các quyết định giải quyết của cơ quan tư pháp

C Hệ thống công chứng La tinh

1 Những quan niệm và quy định pháp lý

Trong hệ thống công chứng La tinh, các công chứng viên hoạt động chịu ảnh hưởng của luật La Mã

và tiếp đó là các khái niệm pháp luật tương tự; nhờ sự đồng bộ này mà họ có thể thức hành nghề gầngiống nhau, tập hợp lại trong một “Mái nhà chung” với tên gọi là Liên đoàn công chứng la tinh quốc tế,gồm công chứng của nhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Á

Các công chứng viên thực hiện tại đất nước của mình các chức năng giống như các công chứng viêncủa Pháp; chỉ có những khác biệt ở thể thức đào tạo, bổ nhiệm hay khả năng có hay không được hànhnghề dưới hình thức công ty nghề nghiệp Công chứng viên ở Pháp, Bỉ, Iran và những nước khác ở châuPhi có quyền giới thiệu người kế nhiệm; các công chứng viên ở những nước la tinh khác được bổ nhiệmqua kỳ thi, nhưng số lượng của họ bị hạn chế

Công chứng La tinh tồn tại ở tất cả các nước thuộc Cộng đồng châu Âu trừ Đan Mạch vàVương quốc Anh Tuy nhiên, ở Anh, vẫn có các công chứng viên nhưng với số lượng nhỏ, khoảng 20

Trang 17

người so với khoảng 70.000 luật sư; các công chứng viên này có những chức năng đặc biệt chủ yếu liênquan đến các quan hệ quốc tế.

Về quy chế, các công chứng viên có quy chế tương đối khác nhau tùy theo từng nước Hầu hết, đó lànhững người hành nghề tự do, họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và không được chuyểnnhượng hay để thừa kế văn phòng của mình, trừ ở Pháp và ở Bỉ Việc chuyển giao các tài liệu gốc, hồ sơ

và cơ sở vật chất luôn được thực hiện trong những điều kiện tốt Để gia nhập vào nghề này, cần phải theohọc luật từ ba đến năm năm (hay gặp nhất là bằng cao học luật hoặc bằng cấp tương đương, ở Italia phải

có bằng tiến sỹ ), thời gian tập sự tối thiểu là ba năm Ở một số nước, phải qua một kỳ thi (Tây Ban Nha,Italia, Hy Lạp, Bồ Đào Nha) Ở các nước tổ chức nghề nghiệp được cấu trúc với các Hội đồng tự quản vàđôi khi là một cơ quan cấp quốc gia do pháp luật quy định (Italia) Các công chứng viên có thể liên kếtvới nhau như ở Pháp, Italia, Hà Lan và cả ở Tây Ban Nha nhưng chỉ dưới hình thức công ty dân sự nghềnghiệp Ở tất cả các nước, quy định bắt buộc công chứng được áp dụng đối với mua bán bất động sản, ởTây Ban Nha, Italia, Hà Lan thì các tuyên bố về thừa kế cần phải có công chứng viên Việc thành lậpcông ty phải được ghi nhận trong văn bản có công chứng ở tất cả các nước trừ ở Pháp Ở Italia, bắt buộcphải có công chứng viên trong một số hợp đồng, giao dịch đối với phương tiện giao thông

Tùy theo từng nước, công chứng viên có vai trò nổi bật đối với từng lĩnh vực: Ở Tây Ban Nha, nơicác công chứng viên là các luật gia có trình độ rất cao, thường là giảng viên ở trường đại học Ở một sốnước, công chứng viên có những hoạt động quan trọng bên ngoài lĩnh vực mà pháp luật quy định bắt buộcphải công chứng Ở Pháp và Bỉ, công chứng viên thực hiện giám định và môi giới về bất động sản Cáccông chứng viên ở Hà Lan có vai trò quan trọng là tư vấn cho doanh nghiệp Trong những lĩnh vực khôngphải là độc quyền của mình, các công chứng viên phải cạnh tranh với các luật sư

2 Những điểm đặc trưng cơ bản

Công chứng viên ở các nước thuộc hệ thống luật viết, người ghi chép, soạn thảo, được gọi một cáchtruyền thống là công chứng viên “kiểu la tinh”, cũng mang đến bằng chứng về điều đã được thỏa thuận-ýchí của các bên tham gia hợp đồng Họ phải có năng lực vững chắc về mặt pháp luật, vì họ phải kiểm tratính hợp pháp của hợp đồng và có lúc tham gia vào soạn thảo hợp đồng, khác với công chứng Hoa Kỳ màvai trò chủ yếu của luật sư kiêm công chứng viên là thị thực một chữ ký hoặc các tuyên bố được thực hiệnsau khi tuyên thệ Công chứng viên là người lưu giữ hợp đồng đáng tin cậy nhất, văn bản công chứng làtài sản quốc gia, được lưu trữ vĩnh viễn, không bao giờ bị hủy bỏ

Hệ thống công chứng kiểu la tinh được xây dựng trên cơ sở nền pháp luật định ra các khuôn khổpháp lý để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Nếu cần, pháp luật bổ sung cho thỏa thuận để điều chỉnhnhững điểm mà thỏa thuận không đề cập Đạo luật là nguồn cơ bản của pháp luật, vai trò của thẩm phán

là đảm bảo sự áp dụng pháp luật Án lệ chỉ phụ trợ cho đạo luật Nó giải thích hoặc hoàn thiện luật Nhànước bảo vệ các cá nhân và đảm bảo sự an toàn của các hợp đồng Nhà nước ủy quyền cho một nhân viênchuyên nghiệp được chuyên nghiệp hóa là công chứng viên để đảm bảo sự an toàn này bằng việc đem lạitính đích thực cho các văn bản mà người đó soạn thảo, giống như một nhân chứng chính thức

Ở các nước theo hệ La tinh,

Công chứng viên được Nhà nước uỷ thác một phần quyền lực và trao cho con dấu riêng có khắctên công chứng viên đó Với tư cách là uỷ viên công quyền, công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp dịch

vụ công, thể hiện ở việc chính họ được người đứng đầu Nhà nước hoặc Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm và

Trang 18

được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Với tư cách là người bảo

vệ quyền lợi của các cá nhân và an toàn pháp lý của các quan hệ hợp đồng, Nhà nước uỷ quyền cho côngchứng viên-một nhà chuyên nghiệp do chính Nhà nước bổ nhiệm và giám sát để thực hiện chức năng đó

Công chứng trong khuôn khổ một nghề tự do được thể hiện rõ trong việc họ thực hiện chức năngmang tính công thông qua quyền tự do tổ chức hoạt động trong nội bộ Phòng Công chứng, trong việc trảtiền công tính theo lao động, trong khả năng cạnh tranh lành mạnh, trong trách nhiệm cá nhân về bồithường thiệt hại do văn bản đã được công chứng gây ra Theo quy chế là người hành nghề tự do, côngchứng viên thực sự là một chủ doanh nghiệp, thu nhập của công chứng viên là tiền thù lao do họ thu từkhách hàng; họ tổ chức văn phòng theo cách riêng của mình, tuyển dụng nhân viên, thuê trụ sở, lưu trữ tàiliệu, sắp đặt trang thiết bị văn phòng theo cách riêng

Công chứng viên là những nhà luật pháp rất gần gũi với cuộc sống Sứ mệnh của họ là giúp mọingười lựa chọn và định đoạt tài sản của mình theo cách hợp lý nhất, đồng thời họ có nghĩa vụ tư vấn chocác bên giao kết hợp đồng một cách vô tư, không thiên vị, lưu ý họ về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà hợpđồng có thể đặt ra để bảo vệ lợi ích của tất cả các bên trong hợp đồng, dù đó là bên bán hay bên mua Vớinghĩa vụ tư vấn này, công chứnưg viên không chỉ làm nhiệm vụ cùng ký vào hợp đồng, xác nhận ý chícủa các bên trong hợp đồng, mà còn có nhiệm vụ giúp đỡ các bên thể hiện ý chí đó trong hợp đồng, lựa

chọn các thể thức ký kết hợp đồng phù hợp tuỳ thuộc vào mục đích của hợp đồng, vào các quy định pháp

luật áp dụng cho hợp đồng, thông tin cho các bên biết về những hệ quả pháp lý mà hợp đồng đặt ra

Công chứng viên có nhiệm vụ hoà giải sự bất đồng về quan điểm của các bên trong quá trình soạnthảo hợp đồng, để đảm bảo sự công bằng trong hợp đồng, đảm bảo tôn trọng quyền lợi chính đáng củamỗi bên giao kết Yêu cầu về hợp đồng công bằng là một yêu cầu rất quan trọng của công chứng, do vậy,công chứng viên thực sự giữ vai trò trọng tài và trung gian hoà giải các bên Hoạt động này nhằm mục

đích bảo vệ quyền lợi cho các bên giao kết, làm cho quan điểm của các bên xích lại gần nhau, sớm đạt

được sự thống nhất, tránh xảy ra tranh chấp hợp đồng sau này

Công chứng viên có nhiệm vụ bảo quản lâu dài các văn bản công chứng viên phải cấp bản sao từbản gốc của các văn bản do mình ký Các văn bản do công chứng viên lập là các văn bản công, khôngthuộc sở hữu của họ, cũng không thuộc sở hữu của các bên mà thuộc về lưu trữ quốc gia Như vậy, côngchứng viên là người quản giữ các tư liệu đó Nhiệm vụ này cũng xuất phát từ chức năng dịch vụ công củacông chứng

Công chứng viên có nghĩa vụ tuân thủ biểu giá về thù lao (lệ phí công chứng) đã được ấn định, khôngthể tự ý tăng, giảm thù lao Thực vậy, chế độ tự do mặc cả về thù lao không phù hợp với chế độ dịch vụ công

vì nếu theo chế độ tự do lệ phí thì CCV có quyền từ chối nhận văn bản khi thấy tiền thù lao nhận được từ vănbản đó không thoả đáng ở một số nước mà công chứng viên có thể thương lượng hợp đồng với khách hàng,thì có thể nảy sinh hiện tượng dùng tiền để móc ngoặc với nhau, điều này cũng hoàn toàn trái với chế độ dịch

vụ công

Theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện của khách hàng, công chứng viên đem laịcho các văn bản và hợp đồng một tính đích thực, có giá trị như văn bản do các cơ quan công quyền kháccấp, đảm bảo cho các hợp đồng một sự an toàn trong mọi tình huống, hạn chế được đến mức thấp nhấtnhững tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng quá tải về xét xử của các Toà án Công chứng viên giữvai trò quan trọng để đảm bảo trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp

Trang 19

đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp Chính vai trò mang tính chất phòng ngừa này của công chứng viên là

một ưu điểm trong hệ thống luật Châu âu lục địa so với hệ thống luật Anh-Mỹ

Công chứng viên không chỉ là người có đủ tinh thông về kỹ thuật mà còn có sự thanh khiết về

đạo đức Sự trong sáng về đạo đức đòi hỏi ở họ không chỉ lòng trung thực mà cả thái độ công minh, vô tư,

sự tôn trọng triệt để các bí mật được biết, lòng can đảm để dám chịu trách nhiệm khi đặt bút ký và đóngdấu

Ngành công chứng kiểu la tinh nhân danh Nhà nước để thực hiện một nhiệm vụ vì lợi ích chung,

đó là công chứng các hợp đồng được giao kết giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội: cá nhân, doanhnghiệp, tập đoàn Các cơ quan tự quản công chứng được tổ chức theo thể thức trật tự thứ bậc: một cơquan cấp quốc gia (Hội đồng công chứng quốc gia hay Hội đồng công chứng tối cao) và các cơ quan cấpđịa phương (các Hội đồng cấp tỉnh hay các Hội đồng cấp vùng)

Công chứng viên phải tuân thủ một mức phí bắt buộc Đối với những văn bản được dành riêng chohoạt động của công chứng viên, cả công chứng viên và khách hàng phải tôn trọng mức phí do các cơ quannhà nước định ra Mức phí này có chức năng phân phối lại và tạo điều kiện thuận lợi cho những ngườinghèo tiếp cận pháp luật trong các vụ việc không có tranh chấp Công chứng viên chỉ có quyền hưởngkhoản thù lao này khi văn bản được chứng thực được hợp thức hóa Công chứng viên phải lập văn bản dùcho đó là vụ việc có giá trị rất nhỏ, tiền lệ phí ít, đó là một nghĩa vụ gắn chặt với nhiệm vụ vì lợi ích côngcủa họ

Hoạt động của Công chứng la tinh được Nhà nước kiểm tra chặt chẽ Mọi hoạt động được đặt dưới

sự kiểm tra của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương Sự thanh tra về kế toán và các văn bản đãsoạn thảo thường xuyên diễn ra, xuất phát từ các tổ chức nghề nghiệp hay các cơ quan xét xử tư pháp.Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật hay thiếu sót, các chế tài có thể được áp dụng: đó là khiểntrách, cảnh cáo, tạm đình chỉ hoặc bị cách chức

Ngành công chứng kiểu la tinh là một chế định phục vụ công dân Vai trò của công chứng viên là đadạng: thông báo cho công dân về các đạo luật hiện hành và giải thích cho họ hệ quả của các đạo luật đó;đảm bảo sự áp dụng pháp luật; đảm bảo rằng các bên tham gia giao dịch đã hiểu rõ giá trị của cam kết củahọ; kiểm tra xem họ có được tự do ý chí hay không; chứng thực các văn bản đi kèm; đưa ra những lờikhuyên vô tư và khách quan cho tất cả các bên tham gia hợp đồng để đảm bảo sự cân bằng của giữa cácbên

3 Những ưu điểm hiển nhiên và một số nhược điểm

Khi nghiên cứu công chứng của các nước trong hệ La tinh, chúng ta có thể thấy rõ những ưu điểm

so với công chứng của các hệ thống khác:

 Hệ thống công chứng la tinh cho phép có được các hợp đồng tổng hợp, bằng việcthường xuyên viện dẫn các văn bản có thể áp dụng Để khẳng định tính xác thực của văn bản,công chứng viên phải kiểm tra không chỉ nhân thân khách hàng, mà cả hiện trạng pháp lý củatài sản-đối tượng của hợp đồng cho dù nó đã được công bố như thế nào

 Tính hình thức là người bảo vệ cho ý chí của cá nhân Nó đảm bảo sự tự do ý chí Côngchứng là một hoạt động mang tính lễ nghi phải trải qua một loạt thể thức Trước và sau khi

Trang 20

văn bản được ký, công chứng viên bắt buộc phải hoàn thành các thủ tục hành chính do phápluật quy định.

 Sự hiện diện của một người chuyên nghiệp có trình độ, được Nhà nước giao nhiệm vụcông chứng các hợp đồng và đảm bảo sự an toàn pháp lý, là sự bảo vệ đối với những ngườigiao kết hợp đồng Chính công chứng viên, người được chọn ra từ những ứng cử viên tốtnhất, có những hiểu biết pháp lý sâu sắc và kinh nghiệm nghề nghiệp

 Công chứng viên cũng đại diện cho một yếu tố cơ bản của pháp luật đảm bảo trật tựpháp lý, với tư cách là một bộ phận hỗ trợ pháp luật đảm nhiệm vai trò của một “quan tòa xét

xử tự nguyện” giúp tránh xảy ra các tranh chấp

 Việc tìm kiếm sự cân bằng của các cam kết và ý chí đích thực của các bên giúp tránhxảy ra các tranh chấp Trật tự pháp lý là một quyền ưu tiên Công chứng la tinh công nhận ưuthế của chứng cứ viết và giao cho các bộ luật và các đạo luật nhiệm vụ định ra các khuôn khổpháp lý để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng

 Việc giải quyết một vụ kiện luôn dựa vào sự áp dụng và giải thích pháp luật, khôngnhất thiết phụ thuộc vào ý kiến của thẩm phán về hồ sơ và vào sự lựa chọn của thẩm phángiữa “các tiền lệ đa dạng”

Tuy có những ưu điểm cơ bản, nhưng hệ thống công chứng La tinh vẫn bộc lộ một số nhược điểm,

 Thể chế công chứng la tinh phát triển khó khăn và chậm chạp hơn các hệ thống công chứngkhác

4 Liên đoàn công chứng la tinh quốc tế

Liên đoàn công chứng la tinh quốc tế (U.I.N.L.) là một tổ chức phi Chính phủ, được thành lập để

cổ vũ, hợp tác và phát triển hoạt động công chứng trên phạm vi quốc tế, nhằm phối hợp chặt chẽ giữacông chứng viên của các nước thành viên, bảo đảm uy tín và tính độc lập, đem lại sự phục vụ tốt nhất chocác cá nhân và cộng đồng Liên đoàn là người đại diện cho sự thống nhất về ý chí và tổ chức của côngchứng theo hệ La tinh bên cạnh các tổ chức quốc tế như Hội đồng Châu âu, ONU, UNESCO, OMC,UNIDROIT, Toà án LAHAY , đại diện cho các chuyên gia về hợp đồng, các nhà tư vấn độc lập vàkhông thiên vị, những người thừa uỷ quyền của Nhà nước đem lại cho các hợp đồng tính đích thực, sự antoàn pháp lý và quyền tự do giao kết

Trang 21

Tại Đại hội lần thứ nhất, khai mạc ngày 2/10/1948, Liên đồn được thành lập theo sáng kiến củaơng Hơxenegri, Chủ tịch Hội đồng cơng chứng thành phố Buenos Aires - thủ đơ của Ac-hen-ti-na Sau

đĩ, Đại hội đồng đã quyết định trụ sở của Liên đồn đặt tại thành phố Nam Mỹ này

Liên đồn cơng chứng la tinh quốc tế tập hợp cơng chứng các nước thành viên với những mụcđích như: đại diện quyền lợi cho cơng chứng của các nước hệ La tinh bên cạnh các tổ chức quốc tế khác ;hợp tác và tham gia vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế ; hợp tác với các cơ quan của từng nướcthành viên, trong đĩ cĩ các cơ quan quản lý cơng chứng ; nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực cơngchứng, hợp tác với các lĩnh vực khác để tạo ra sự đồng bộ, thống nhất về luật pháp ; tuyên truyền nhữngnguyên tắc chiểu theo mơ hình La tinh ; tổ chức đại hội thường kỳ của Liên đồn, bảo trợ các hội nghị,đại hội cơng chứng trong khu vực hoặc ở từng nước ; nghiên cứu, hệ thống hoa và pháp điển hĩa văn bảnpháp luật về cơng chứng ; thành lập ra những văn Phịng Cơng chứng kết nghĩa giữa các nước thànhviên ; xuất bản tờ tạp chí của Liên đồn

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Liên đồn là thiết lập, duy trì quan hệ với cơngchứng đang phát triển ở một số nước, với các cơng chứng viên của những nước chưa cĩ thể chế cơngchứng, nhằm giúp đỡ, hợp tác về mặt tổ chức để chuẩn bị những điều kiện gia nhập Liên đồn Đồng thời,Liên đồn cĩ quan hệ với các tổ chức, cơ quan của những nước khơng cĩ hệ thống pháp luật kiểu la tinh

để cùng hợp tác vì những lợi ích chung

Cơng chứng các nước thành viên của Liên đồn đều thừa nhận hệ thống pháp luật La mã và khácbiệt với cơng chứng ở các hệ thống khác ở tính chất nghề nghiệp Những văn bản cơng chứng do nhữngnhà chuyên nghiệp (cơng chứng viên) thực hiện mang lại một giá trị chứng cứ và hiệu lực thi hành ngaynhư một phán quyết của tồ án Cơng chứng viên-người lưu giữ văn bản cơng chứng-cĩ thẩm quyền cấpcác bản sao cơng chứng cĩ giá trị như bản gốc đang được lưu giữ Liên đồn cơng chứng la tinh quốc tế

và tất cả các thành viên của mình đang nỗ lực vượt bậc với một lý tưởng chung phục vụ sự phát triển của

hệ thống La tinh, tạo ra sự hài hồ giữa cơng chứng các nước cĩ bề dày kinh nghiệm với các cơng chứngcịn non trẻ thơng qua hệ thống thơng tin hiện đại và cơng nghệ tiên tiến nhất hiện nay

Khi mới thành lập, Liên đồn chỉ cĩ 20 nước tham gia, đến nay số thành viên đã lên tới 71 nước ởkhắp các châu lục bao gồm : An-ba-ni, Liên bang Đức, Ac-hen-ti-na, Áo, Bỉ, Bê-nanh, Bơ-li-vi-a, Brasil,Bur-ki-na-Pha-xơ, Ca-mơ-run, Quê-bec-(Canada), Trung-Phi, Chi-lê, Trung Quốc, Co-lơm-bia, Cơng-gơ,Costa-Ri-ca, Bờ Biển Ngà, Croa-ti-a, Cu-ba, Do-mi-ni-ca, San-va-do, E-qua-tơ, Tây-Ban-Nha , Estơ-ni-a,Pháp, Mác-xê-do-ni-a, Ga-bơng, Hy Lạp, Gua-tê-ma-la, Ghi-nê, Háti, Hon-du-ras, Hung-ga-ri,Indonộsie, I-ta-li-a, Nhật Bản, Lét-tơ-ni, Li-tu-a-ni, Luân đơn (Anh), Louisiane (Hoa kỳ), Luxembourg,Ma-li, Malte, Ma-rốc, Mê-hi-cơ, Mon-da-vi, Mơ-na-cơ, Ni-ca-ra-goa, Ni-gê, Pa-na-ma, Pa-ra-guay, HàLan, Pê-ru, Ba Lan, Porto-Rico, Bồ Đào Nha, Ru-ma-ni, Liên bang Nga, Saint-Marin, Sê-nê-gan, Slơ-va-qui-a, Slơ-vê-ni-a, Thuỵ Sỹ, Tchad, Cộng hồ Séc, Tơ-gơ, Thổ Nhĩ Kỳ, U-ru-guay, Va-ti-căng, Vê-nê-zu-ê-la Trong số đĩ cĩ 19 thành viên mới được kết nạp trong vịng 10 năm gần đây Các nước thành viênchủ yếu tập trung ở châu Âu, châu Mỹ La tinh, các nước thuộc địa cũ của Pháp ở Châu Phi Riêng ở Bắc

Mỹ chỉ cĩ hai thành viên là vùng Quê-beck của Canada và bang Luisane của Hoa Kỳ; ở Châu Á cĩ 3nước tham gia là Nhật bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc

Hội đồng thường trực đã quyết định tổ chức ở La Habana nhiều cuộc hội thảo để bàn về việc cơngchứng Cuba sẽ tái nhập Liên đồn sau gần 50 năm vắng bĩng Hiện nay, Uỷ ban hợp tác quốc tế đang cĩmối liên hệ và giúp đỡ cơng chứng của các nước như : Hoa kỳ (Bang Caliphornia, Bang Texas ), An-gê-

Trang 22

rie, Bê-la-ru-si-a, U-krai-na, Co-lom-bi-a, Ma-da-gas-ca, Nam Phi, Iran, In-do-nê-sia, Hàn Quốc, Pu-Chia, Lào, Việt Nam thực hiện cải cách hướng theo mô hình công chứng La tinh

Căm-5 Hiệp hội công chứng khối Pháp ngữ

Hiệp hội Công chứng khối Pháp ngữ được thành lập ngày 17 tháng 3 năm 1992 tại Paris giữaCông chứng các nước trong khối Pháp ngữ theo sáng kiến của Bộ trưởng Pháp phụ trách khối Pháp ngữ

Khi mới thành lập, Hiệp hội Công chứng khối Pháp ngữ có 34 thành viên, trong đó có 16 thànhviên là tổ chức, đó là Hội đồng Công chứng tối cao (hoặc Hội đồng công chứng quốc gia) của Pháp, Bỉ,Lúch-xăm-bua, Thụy sỹ, Quê-bec của Canada, Ma-rốc, Sê-nê-gal, Bê-nanh, Tô-gô, Buốc-ki-na- Fa-xo,Ga-bông, Ca-mơ-run, Công-gô- Bra-sa-vin, Bờ Biển Ngà, Cộng hòa Trung Phi và Ma-li, và có 18 thànhviên là cá nhân Cho tới nay, Hiệp hội đã có 42 thành viên, trong đó có 19 thành viên là tổ chức côngchứng và 23 thành viên là các cá nhân công chứng viên

Mục tiêu hoạt động của Hiệp hội là phát triển mối quan hệ giữa Công chứng của các nước thuộckhối Pháp ngữ và một số Công chứng của các nước có quan hệ với Công chứng Pháp, cùng khai thácchung những nguồn phương tiện vật chất và con người, đồng thời trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp giữacác thành viên, giữ gìn vị thế của Công chứng khối Pháp ngữ trong quan hệ với các tổ chức quốc tế khác.Hiệp hội Công chứng Khối Pháp ngữ không chỉ hoạt động trong phạm vi các nước sử dụng tiếng Pháp mà

nó còn là một phương tiện hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, là ngôi nhà chung để tập hợp, trao đổi kinhnghiệm, đoàn kết hữu nghị góp phần xứng đáng vào hoạt động dân chủ quốc tế

Các hoạt động chính của Hiệp hội Công chứng khối Pháp ngữ là hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo, thựctập nghề, ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động công chứng; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, xâydựng niên giám các Công chứng thành viên; phát hành Bản tin Công chứng; thành lập trạm Internet(trang WEB chủ) của Hiệp hội

Hội đồng quản trị của Hiệp hội đã họp tại thành phố Dophine ngày 26-5-2003 và nhất trí thôngqua việc đồng ý trên nguyên tắc sẽ nhận đơn xin gia nhập Hiệp hội của Công chứng Việt Nam Ngày 21-08-2003, Bộ Tư pháp nhận được Công thư của Hội đồng công chứng tối cao Pháp trong đó thông tin rằngHiệp hội công chứng khối Pháp ngữ do Ông Jean-Paul DECORPS làm Chủ tịch, đã đồng ý trên nguyêntắc sẵn sàng nhận đơn xin gia nhập Hiệp hội của Công chứng Việt Nam và đồng thời đã cung cấp bảnĐiều lệ và các tài liệu liên quan để Bộ Tư pháp nghiên cứu, xem xét và làm các thủ tục hành chính trìnhcác cấp có thẩm quyền

Đây là một tổ chức phi Chính phủ có mục đích hoạt động thiết thực, hợp tác, giúp đỡ công chứngcác nước đang phát triển Do vậy, Công chứng Việt Nam cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết, hoàn thànhcác thủ tục hành chính để xin phép tham gia tổ chức quốc tế này vì Việt Nam là thành viên đầy đủ củaCộng đồng khối Pháp ngữ

MỤC II: CÔNG CHỨNG PHÁP LÀ MỘT ĐIỂN HÌNH MẪU VỀ HÀNH NGHỀ TỰ DO THEO MÔ HÌNH CÔNG CHỨNG LA TINH

A.Thế chế công chứng Pháp

Ở Pháp, Công chứng là một nghề đã có từ thế kỷ XII, nó trải qua sự thăng trầm của nhiều chế độkhác nhau, qua nhiều cuộc cách mạng và chiến tranh Công chứng hiện đại của Pháp đã có 2 thế kỷ pháttriển Ngày 16-3-1803, Chính thể Bonaparte đã cho ra đời luật Ventose, đây là đạo luật đầu tiên của Pháp

Trang 23

về tổ chức và hoạt động mang tính kỹ thuật cao mà một số điều khoản cơ bản của nó vẫn còn hiệu lực đếnngày nay Sau đó, Luật này được sửa đổi bổ sung bằng Pháp lệnh cải cách công chứng năm 1945 và nhiềuPháp lệnh khác

Hiện nay, công chứng chiếm vị trí hàng đầu trong số các nghề luật ở Pháp, doanh thu của ngànhCông chứng đạt 4,5 tỷ ER mỗi năm chiếm khoảng 45% tổng số doanh thu của các nghề luật (Luật sư, tưvấn, thừa phát lại, bán đấu giá ) Hiện có hơn 8000 công chứng viên trong đó có khoảng gần 1200 côngchứng viên nữ, sử dụng hơn 43.000 nhân viên, nghĩa là có tất cả hơn 51.000 người làm việc trong ngànhcông chứng so với 32.000 trong ngành luật sư và 17.000 trong ngành tư vấn pháp luật Có khoảng gần4.550 Phòng Công chứng được phân bố trên khắp lãnh thổ và gần 60% công chứng viên hành nghề trongcác Hiệp hội nghề nghiệp dân sự Hoạt động công chứng chủ yếu trong lĩnh vực Luật bất động sản, Luậthôn nhân và gia đình Tuy nhiên từ nhiều năm nay, nó phát triển khá mạnh trong lĩnh vực luật kinhdoanh, tư vấn pháp luật

1 Công chứng viên

Công chứng viên ở Pháp vừa là viên chức hoạt động nhân danh Nhà nước, vừa là thành viên củanghề tự do, có nghĩa là người làm dịch vụ, người tư vấn đáng tin cậy của cá nhân, công ty và tổ chức.Công chứng viên là viên chức công có nhiệm vụ đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp đồng của

cá nhân, tổ chức Công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân và thực hiện chức năng của mình một cáchđộc lập trong khuôn khổ một nghề tự do

Công chứng viên Pháp có 2 tính chất cơ bản:

 Công chứng viên là viên chức công (uỷ viên công quyền), đem lại cho khách hàng một sự antoàn trong các quan hệ về hợp đồng, đem lại một tính đích thực cho các văn bản do mình lập,

có giá trị như những văn bản do các công lại khác lập

 Công chứng viên là người làm nghề tự do, hoạt động bằng nguồn kinh phí tư nhân, thiết lậpvới khách hàng những quan hệ riêng và bảo đảm cho hoạt động của Phòng Công chứng có hiệuquả và sự đa dạng hoá hoạt động của mình

Khái niệm viên chức công đã được xác định ở Điều 1 Pháp lệnh ngày 2 tháng 9 năm 1945, lấy lạigần như nguyên văn định nghĩa trong luật 25 Ventose năm 1803:

Công chứng viên là viên chức công (officier public) được Nhà nước bổ nhiệm để lập văn bản và hợp đồng do pháp luật quy định phải công chứng hoặc do khách hàng tự nguyện yêu cầu, đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp đồng đó, có giá trị như văn bản của cơ quan công quyền để đảm bảo chính xác về ngày tháng, lưu trữ lâu dài và cấp các bản sao công chứng từ bản gốc

Với tư cách là người đem lại tính đích thực cho văn bản, đem lại một hiệu lực chấp hành riêngbiệt, công chứng viên có nhiệm vụ rất nặng nề trong hệ thống các tổ chức hoạt động về luật pháp củaPháp Công chứng viên là những người tư vấn cho các bên do luật quy định và các bên có nghĩa vụ tintưởng vào công chứng viên Công chứng viên không chỉ đem lại tính đích thực cho văn bản và hợp đồng,với niềm tin và căn cứ vững chắc, luật pháp đã giao cho họ một vai trò xứng đáng hơn, cao hơn cả, đó làvai trò của một người được coi là vô tư đáng tin cậy của các bên

2.Văn bản công chứng

Trang 24

Nhiệm vụ của công chứng viên là đem lại tính đích thực cho các văn bản và các hợp đồng của cácbên Nhiệm vụ này rất quan trọng bởi lẽ, văn bản công chứng bảo đảm cho các dịch vụ một sự an toànpháp lý, tạo nên một phương tiện làm bằng chứng có hiệu quả và một trình tự chặt chẽ về lưu giữ các vănbản

Hiệu lực của văn bản công chứng tất nhiên đòi hỏi các quy định về thể thức phải được đặt ra vàtôn trọng Vì vậy, mọi công chứng viên, thư ký công chứng và những người đang dự tuyển công chứngviên cần phải nắm chắc các quy định đó

Những ưu điểm của văn bản công chứng không chỉ nhận thấy ở giá trị pháp lý mà pháp luật thừanhận như những văn bản công, mà còn được thể hiện rõ ở chỗ văn bản đó được lập trước mặt công chứngviên, người chịu trách nhiệm cá nhân về tính đích thực và hiệu lực của nó

Văn bản công chứng có hai tính chất cơ bản, đó là:

 Sự chính xác về ngày tháng, địa điểm : Các văn bản công chứng đem lại một niềm tin chắcchắn về ngày tháng đối với các bên khách hàng, đối với một người thứ ba, vì các văn bản sau khi

ký nhận đều được xác định đúng thời gian, địa điểm, được ghi vào sổ cập nhật và sổ lưu danhmục công chứng, do vậy, ngày tháng ký công chứng không thể bị đánh tráo hoặc thay đổi sớm lênhay lùi lại

 Có giá trị chứng cứ và hiệu lực chấp hành như một phán quyết của toà án: Ngay sau khi thựchiện công chứng, văn bản công chứng đã có hiệu lực thi hành ngay gần như là tuyệt đối Đó làđiểm cốt lõi của tính đích thực, chỉ có văn bản công chứng mới có được, văn bản công chứngđược coi như một phán quyết của quan toà Công chứng viên đóng vai trò của một người đã tuyênthệ với những lời thề rất thiêng liêng, cao thượng, nên không thể có những nghi ngờ về sự thiếutrung thực hoặc có những điều khoản mờ ám trong một giao kết Công chứng viên đã phải đi sâuvào một quá trình làm việc căng thẳng, nặng nề để tránh những sai sót cho dù là nhỏ nhất Dovậy, một văn bản công chứng khó có thể bị phản bác, trong khi đó những điều khoản của một hợpđồng được ký dưới hình thức tư chứng thư dễ bị bác bỏ trước toà

B Lĩnh vực hoạt động

Khó mà liệt kể hết những hoạt động công chứng, bởi lẽ, ngày nay nhu cầu của nhân dân rất đadạng và phong phú Pháp luật chỉ quy định có tính nguyên tắc về phạm vi các việc công chứng, để từ đócông chứng viên bằng sự tinh vi, sáng suốt và nội tâm nghề nghiệp mà chấp nhận thực hiện hoặc từ chốimỗi yêu cầu của khách hàng (xác định mục đích sử dụng có trái pháp luật, trái với tập quán tốt lành vàgây hại cho người thứ ba hoặc cho cho cộng đồng, cho Nhà nước hay không)

Bốn lĩnh vực lớn bao trùm hoạt động công chứng:

1 Lĩnh vực luật gia đìnhvà thừa kế

Đây là lĩnh vực hoạt động mang tính truyền thống của công chứng Pháp, càng ngày càng thườngxuyên hơn, phức tạp hơn Mọi vấn đề liên quan đến gia sản, cho dù quan trọng nhiều hay ít, đều có thể cóvai trò của công chứng viên để xác nhận hoặc quyền sở hữu tài sản, hoặc là sự quản lý tài sản (hợp đồngthuê nhà, thuê đất, thuê máy móc thiết bị, định giá tài sản, kê khai, thu nhập ) hoặc việc định đoạt tài sản

đó (mua bán, tặng cho, di chức, chia thừa kế )

Trang 25

Ở pháp, công chứng viên là chuyên gia về hôn nhân và gia đình: lập hôn ước, thay đổi chế độ tàisản trong hôn nhân, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc sau khi chết Công chứng viên đưa

ra lời khuyên về cơ chế quản lý gia sản, đồng thời là người trọng tài trung gian hỗ trợ cho nhiều chủ đềkhác nhau trong luật gia đình và thừa kế Ngoài ra công chứng viên còn có vai trò giải quyết những vấn

đề pháp lý khác như công nhận con ngoài giá thú, nuôi con, đỡ đầu

Công chứng viên là người dự báo trước những vấn đề liên quan đến gia đình, để đưa ra lời khuyênthích hợp và hữu ích cho đương sự, bởi vì sự phát triển của phong tục tập quán và luật gia đình ở Cộnghoà Pháp đang có những biến chuyển mới

2 Lĩnh vực luật bất động sản

Luật về bất động sản là lĩnh vực hoạt động quan trọng thứ hai của ngành công chứng Đây là mộtlĩnh vực rất rộng lớn Công chứng viên được khách hàng yêu cầu ở mọi mức độ của hoạt động về bấtđộng sản Đối với lĩnh vực xây dựng thì công chứng viên là một chuyên gia đứng bên cạnh việc mua bánđất đai, bên cạnh các công ty môi giới bất động sản hoặc hội điền địa đô thị Đối với việc kinh doanh bấtđộng sản, công chứng viên tạo nên căn cứ về sở hữu, làm môi giới để người mua và người bán gặp nhau,lập hợp đồng mua bán thông qua tín dụng Ngoài ra, công chứng viên còn tham gia vào việc quản lý bấtđộng sản, họ chỉ dẫn cho đương sự biết về trị giá của đất đai và nhà cửa thông qua những chuyên giagiám định theo mặt bằng giá thị trường

3 Lĩnh vực luật kinh doanh

Trong lĩnh vực này, luật pháp chỉ quy định một việc công chứng bắt buộc là chứng nhận việc khaivốn để thành lập công ty Tuy nhiên, trong thực tế, công chứng viên đã tiến hành nhiều hoạt động khác dođương sự yêu cầu: chứng nhận việc thành lập các tổ chức xã hội, lập các hợp đồng lao động, hợp đồngthương mại, hợp đồng cho thuê, tăng vốn điều lệ, nhượng vốn kinh doanh, giải thể một công ty, Một sốcông ty nhỏ thậm chí còn yêu cầu công chứng viên tư vấn cho việc tổ chức một phiên họp đại hội đồnghoặc lập một biên bản cuộc họp

Nói chung, công chứng viên tham gia vào luật kinh doanh ở cả hai lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp.Tuy nhiên, các yêu cầu ở lĩnh vực nông nghiệp có phần nhiều hơn, bởi vì, ở một số công ty công nghiệplớn, họ có những trợ lý luật riêng, trong khi đó, các công ty nông nghiệp có quy mô nhỏ hơn

4 Lĩnh vực tư vấn

Tư vấn pháp luật dần dần đã trở thành một hoạt động cơ bản của công chứng viên Ngay từ khiban hành luật Ventose, công chứng viên đã phải là người đưa ra lời khuyên vô tư cho các bên và làm chocác bên hiểu rõ ý nghĩa và hậu quả pháp lý của hợp đồng Tòa án đã nhanh chóng xác định nội dung củanhiệm vụ này và trong những thập kỷ qua đã quy định phạm vi khá rộng lớn của nhiệm vụ đưa ra lờikhuyên vô tư Như vậy công chứng viên không thể chỉ thụ động ghi nhận ý chí của các bên, mà còn phải

hỗ trợ cho các bên để họ hình thành ý chí lựa chọn thể thức và quyết định cho hợp đồng của họ

Tư vấn là việc phân tích những thông tin và phương tiện pháp lý cần thiết để đạt được một mụcđích nhất định Đó là sự kiểm tra kết quả của một tình huống, kiểm tra và đánh giá các khoản thuế, từ đóđưa ra lời khuyên cho các đương sự để họ đi đến một sự lựa chọn

D Bộ máy quản lý

Trang 26

1 Quản lý theo kênh nhà nước

Chưởng ấn-Bộ trưởng Tư pháp được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý về mặt nhà nước đối vớitoàn bộ công tác tổ chức và hoạt động của ngành công chứng

Chức năng, nhiệm vụ của Chưởng ấn- Bộ trưởng Tư pháp bao gồm:

 Đưa ra chính sách hoạch định và phát triển công chứng toàn quốc bao gồm cả nước Pháp lụcđịa và những miền đất hải ngoại;

 Hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản pháp luật về công chứng;

 Thông qua Điều lệ công chứng toàn quốc do Hội đồng công chứng tối cao đề nghị;

 Ban hành Quyết định, Thông tư liên quan đến những vấn đề tổ chức, quản lý và hoạt độngcông chứng và đào tạo công chứng viên cũng như thư ký công chứng;

 Quan hệ phối hợp với Hội đồng công chứng tối cao, với Viện công tố bên cạnh các Toà án(Tổng biện lý của Toà Thượng thẩm, Biện lý của Toà Rộng quyền) với các trường đại học vàcác trung tâm nghiên cứu, trong công tác thông tin, tư liệu, đào tạo, nghiên cứu bổ nhiệm, kỷluật, thanh tra

 Vụ quản lý các ngành dân sự và con dấu (DACS) là cơ quan của Bộ Tư pháp chịu tráchnhiệm tham mưu và chuẩn bị mọi nội dung cần thiết để Bộ trưởng Tư pháp hoàn thànhnhững chức năng, nhiệm vụ trên

 Theo đề nghị của Hội đồng công chứng tối cao, Bộ trưởng Tư pháp quyết định những biệnpháp để phân bố một cách hợp lý nhất các Phòng Công chứng, các chi nhánh Phòng Côngchứng, phân bố công chứng viên theo vị trí địa lý và mật độ dân số và nhu cầu công chứngtrong phạm vi toàn lãnh thổ Việc thành lập, di chuyển, xoá bỏ một Phòng Công chứng, việcthành lập, thay đổi hoặc xoá bỏ một chi nhánh của Phòng Công chứng, việc chỉ định nơi đặttrụ sở của Phòng công chứng hoặc chi nhánh đều phải được công bố bằng Quyết định củaChưởng ấn - Bộ trưởng Tư pháp

 Theo quy định của Điều 41 Sắc lệnh ngày 5-7-1973, Chưởng ấn-Bộ trưởng Tư pháp bổnhiệm công chứng viên bằng Quyết định đăng trên công báo Trong thực tế, một người đã cóbằng hành nghề công chứng và có đủ các điều kiện khác do luật yêu cầu, song họ chưa thểđược Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên một cách dễ dàng và nhanh chóng kháchẳn với một số nghề tư nhân khác (luật sư, kiểm toán, bác sỹ, dược sỹ ) Một mặt, do sốlượng Phòng công chứng rất hạn chế, mặt khác do yêu cầu tuyển chọn kỹ lưỡng và nghiêmngặtm và Bộ trưởng Tư pháp có vai trò quản lý nhà nước rất quan trọng trong việc bổ nhiệm

và phân bố công chứng viên

2 Quản lý theo kênh tự quản

Những cơ quan quản lý công chứng được thành lập theo Điều lệ công chứng toàn quốc bao gồm:

92 Phòng quản lý công chứng cấp tỉnh, 33 Hội đồng công chứng khu vực và Hội đồng công chứng tốicao

Các cơ quan này mang hai tính chất chung: vừa là cơ quan do công chứng viên bầu ra, vừa là cơquan phục vụ lợi ích công

Trang 27

Có một số lượng hợp lý thư ký công chứng và nhân viên cùng tham dự vào Uỷ ban hỗn hợp củaPhòng quản lý công chứng cấp tỉnh, Hội đồng công chứng khu vực và Hội đồng công chứng tôí cao.

Hội đồng công chứng cấp tỉnh

Mỗi Phòng quản lý công chứng cấp tỉnh bao gồm từ 5 đến 21 công chứng viên đang hành nghề, và

có thể lên đến 27 đối với một Tập đoàn công chứng viên vượt quá 180 người, nếu phiên họp Đại hội đồngthấy cần thiết Các thành viên của Phòng quản lý công chứng cấp tỉnh được bầu với nhiệm kỳ là 3 nămtrong phiên họp của Đại hội đồng vào tháng 5 và bầu lại mới 1/3 thành viên hàng năm Những thành viênmới hết nhiệm kỳ chỉ có thể được bầu lại sau đó một năm Một nửa trong tổng số thành viên của Phòngquản lý được chọn trong số công chứng viên đã hành nghề ít nhất là 5 năm, hoặc 1/3 số công chứng viêntrong danh sách theo thâm niên, 1/3 chọn trong số công chứng viên còn lại

Hội đồng công chứng khu vực

Hội đồng công chứng khu vực là một cơ quan tự quản công chứng vì lợi ích công, được thành lập

để đại diện quyền lợi cho tất cả công chứng viên hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mỗi Tòathượng thẩm ở lãnh thổ của nước Pháp lục địa cũng như các miền hải ngoại

Hội đồng công chứng khu vực đã và đang đóng vai trò mới trong việc tạo ra và phát triển cácvùng kinh tế, mà theo đó Hội đồng công chúng khu vực trở thành người đại diện chính thức cho nghànhcông chứng trong vùng Trong khuôn khổ pháp luật chặt chẽ, Hội đồng công chứng khu vực là một trongnhững cơ quan chủ yếu của địa phương không ngừng có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế khu vực

Mỗi Hội đồng khu vực, dựa trên Điều lệ công chứng toàn quốc, đã ban hành Điểu lệ riêng của khuvực trong phạm vi địa hạt của Toà thượng thẩm, quy định các chức năng nhiệm vụ của Hội đồng, vai tròcủa Chủ tịch và chức năng nhiệm vụ của các thành viên khác

Hội đồng công chứng tối cao

Hội đồng công chứng tối cao gồm các đại diện của các Hội đồng công chứng khu vực Mỗi Hộiđồng công chứng khu vực bầu 1 đại diện; riêng khu vực Aix- En-Provence, khu vực Rennes và Hội đồngcông chứng khu vực Paris vì có số thành viên trên 18 người, nên được bầu 2 đại diện Các thành viên củaHội đồng công chứng tối cao hoạt động không kiêm nhiệm với chức năng của các thành viên của Hộiđồng công chứng khu vực và Hội đồng công chứng cấp tỉnh

Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng công chứng tối cao được quy định tại Điều 6 Pháp lệnh ngày 11-1945 Chức năng nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là đại diện cho toàn ngành công chứng bên cạnh các cơquan công quyền khác và báo cáo với Chưởng ấn-Bộ trưởng Tư pháp mỗi khi có yêu cầu Quyền đại diện củaHội đồng tối cao bao gồm: các quyền tham gia cùng với các Cơ quan công quyền để bảo vệ quyền lợi chongành công chứng và đưa ra các biện pháp và quy định nhằm cải thiện quan hệ pháp lý và tình hình kinh tế,thuế khoá của xã hội Pháp

2-MỤC III: CẢI CÁCH CÔNG CHỨNG BAO CẤP Ở MỘT SỐ NƯỚC THEO HƯỚNG NGHỀ TỰ DO

Sự sụp đổ của Liên Xô cũ và của một số nước Đông Âu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã dẫnđến những thay đổi sâu rộng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật của những nước này

Trang 28

Cùng với biến đổi chính trị, đổi thay kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế thị trường, mỗi nước

đã có chương trình cấp bách cải tổ lại hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật dân sự và pháp luật kinh tếtrong đó một vấn đề then chốt là thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về tài sản, nhất là về bất động sản vàvốn kinh doanh

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG CHỨNG Ở CỘNG HOÀ PHÁP

Hội đồng công chứng khu vực

(33)

Hội đồng C.C cấp tỉnh

(92)

Phòng công chứng

cá nhân

Phòng cụng chứng nhiều cổ đụng

Trang 29

Trong môi trường mới, đã phát triển theo nhiều giao dịch dân sự, kinh tế thương mại, ngân hàng

mà đáng chú ý nhất là những quan hệ về hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, quan hệ gia đình, thừakế , đòi hỏi phải có những bảo đảm pháp lý Chính trong xu hướng đó mà thể chế công chứng ở Liênbang Nga, U-crai-na, Ba Lan, Trung quốc, Cu Ba, Hungari, Bulgari, Cộng hoà Séc, Xlôvakia đang cónhững biến đổi về tổ chức và hoạt động để phù hợp với những biến đổi nhanh chóng của cơ cấu kinh tế,

xã hội và pháp luật

Trong phần này, xin đề cập một cách khái quát hai điển hình công chứng được chuyển đổi từ hìnhthức công chứng bao cấo cảu Nhà nước sang công chứng hoạt động trong khuôn khổ một nghề tự do: đó

là công chứng của Cộng hoà Ba Lan và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

C Cải cách công chứng ở Cộng hoà Ba Lan

1 Luật ngày 24-5-1989 về cải cách công chứng trong giai đoạn chuyển tiếp

Ngày 25- 4-1989, Nhà nước Ba Lan đã ban hành Luật số 176 về cải cách tổ chức và hoạt độngcông chứng Đó là văn bản pháp luật đánh dấu bước ngoặt lớn về sự phát triển của công chứng ở Ba Lan,chuyển đổi cơ chế từ hệ thống công chứng xã hội chủ nghĩa (Notariat collectiviste), trong đó công chứngviên là công chức nhà nước sang mô hình công chứng tự do, theo khuôn mẫu của công chứng hệ La tinhnhằm đáp ứng và theo kịp những yêu cầu và biến đổi của nền kinh tế thị trường mà theo đó, quyền sở hữu

tư nhân được thừa nhận, quyền tự do kinh doanh của các cá nhân và pháp nhân được khẳng định và nhằmphục vụ chính sách mở cửa giao lưu quốc tế của Nhà nước Ba Lan

Về tổ chức và hoạt động công chứng:

Tổ chức và hoạt động của Công chứng Ba Lan được đổi mới chiểu theo mô hình công chứng của Pháp và Liên bang Đức, tuy nhiên có tính đến những điều kiện riêng biệt mang mầu sắc của Ba Lan và một thực tế là đang tồn tại một số lượng đáng kể Phòng Công chứng Nhà nước và một đội ngũ công chứng viên là công chức nhà nước

Mục tiêu quan trọng nhất của đạo luật này là tạo ra một hệ thống công chứng tư nhân, đồng thời sửdụng có hiệu quả số lượng Phòng Công chứng Nhà nước hiện có để dần dần tư nhân hoá các cơ sở đó,chuyển công chứng viên công chức thành công chứng viên hành nghề trong khuôn khổ một nghề tự do;nâng cao hiểu biết pháp luật và trình độ chuyên môn cho công chứng viên đang hành nghề và đổi mớiphương thức đào tạo công chứng viên và thư ký công chứng theo những tiêu chuẩn quốc tế

Luật tổ chức công chứng của Ba Lan năm 1989 là kết quả của công tác nghiên cứu nghiêm túc,khẩn trương của nhiều luật gia , chuyên viên nghiên cứu, công chứng viên, thư ký công chứng dựa trên cơ

sở và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự mới, đồng thời tham khảo pháp luật công chứng, kinhnghiệm nghề nghiệp của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là công chứng của các nước có truyền thống lầuđời trong Liên minh Châu Âu

Một trong nhiệm vụ hàng đầu của việc cải cách hệ thống công chứng là phải xác định rõ nhữngvấn đề trọng tâm như: bản chất công chứng Ba Lan trong nền kinh tế thị trường; mục đích hoạt độngcông chứng (lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội); phạm vi của hoạt động công chứng; vị trí pháp lý, tư cáchpháp nhân của Phòng Công chứng

Công chứng viên ở Ba Lan là viên chức công, song song tồn tại hai loại:

Trang 30

 Công chứng viên nhà nước (notaire-fonctionnaire): đó là những viên chức được bổ nhiệm từtrước năm 1989 đang làm việc tại trụ sở các Phòng Công chứng nhà nước , họ được Nhà nước trả lương

từ nguồn ngân sách nhà nước và hoạt động được đảm bảo bằng cơ sở vật chất (trụ sở, phương tiện) vàkinh phí do ngân sách nhà nước cấp Toàn bộ lệ phí thu được đều nộp vào ngân sách nhà nước

 Công chứng viên tư nhân (notaire privé): là những người mới được bổ nhiệm hoặc là nhữngngười được chuyển từ công chứng viên nhà nước; họ có trụ sở riêng , tài khoản và kinh phí hoạt độngriêng; họ là chủ doanh nghiệp quản lý Phòng Công chứng của mình, họ thu lệ phí theo bảng giá do Nhànước ấn định và nộp các khoản thuế theo quy định của luật thuế hiện hành

Về quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng:

Mục tiêu quan trọng thứ hai của đạo luật này là xác định quản lý về mặt nhà nước đối với hoạtđộng công chứng trong cả nước thông qua vai trò và nhiệm vụ của Bộ tư pháp:

Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng được thực hiện theo 3 cấp độ: Bộ Tư pháp ởcấp quốc gia; các Toà án khu vực ở cấp vùng và các Toà án huyện ở cấp cơ sở

Bộ trưởng Tư pháp ra quyết định thành lập , xoá bỏ , di chuyển và phân bố nơi đặt trụ sở, Chinhánh Công chứng Nhà nước (mọi quyết định Bộ trưởng Tư pháp phải đăng trên công báo"Monitorpolski"của Nước Cộng hoà Ba Lan) Trưởng Phòng Công chứng Nhà nước được bổ nhiệm bằng Quyếtđịnh của Bộ trưởng Tư pháp theo đề nghị của Tòa án khu vực; Người phụ trách chi nhánh công chứngnhà nước được Chánh án Tòa án khu vực chỉ định theo đề nghị của Trưởng Phòng Công chứng Nhànước Đối với khu vực công chứng tư nhân thì Bộ trưởng Tư pháp ra quyết định thành lập, xóa bỏ, phân

bố Phòng Công chứng tư nhân, bổ nhiệm công chứng viên sau khi thống nhất ý kiến với Hội đồng Côngchứng Công chứng viên là chủ một Phòng Công chứng tư nhân có quyền thuê nhân công, trả lương vàđảm bảo các điều kiện vật chất và phương tiện làm việc cho các nhân viên, có nghĩa vụ nộp các khoảnthuế và phải bồi thường thiệt hại do chính mình và do các nhân viên gây ra cho khách hàng hoặc chongười thứ ba

Hoạt động của Phòng Công chứng tư nhân đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của ông Chánh án tòa ántỉnh nơi đặt Phòng Công chứng đó Bộ trưởng Tư pháp có thể trực tiếp kiểm tra hoạt động của các PhòngCông chứng hoặc thành lập một cơ quan đặc biệt hoặc ủy quyền cho một người để thực hiện việc kiểm tra

đó Tất cả những quy định đối với Phòng Công chứng tư nhân đều được áp dụng đối với các Phòng Côngchứng nhà nước trừ khi pháp luật có quy định khác

Những người có thể được Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên, phải hội đủ những điềukiện như: có quốc tịch Ba Lan; có bằng cử nhân luật; đã tham gia công tác hoặc thực tập trong PhòngCông chứng; có tư cách, phẩm chất, đạo đức tốt ; thi đỗ kỳ thi tuyển công chứng; cam kết sẽ tự giác thựchiện mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại; đã là công chứng viên tập sự ít nhất một năm; có đủ 26 tuổiđời

Về các cơ quan tự quản :

Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, ở Ba Lan đã cho phép thành lập các cơ quan tự quản công chứng ở 3 cấp độ tương ứng :

Hội đồng tự quản công chứng được thành lập bên cạnh Văn phòng Bộ trưởng Tư pháp là cơ quan

tự quản cấp toàn quốc của ngành công chứng gồm 9 thành viên (là công chứng viên đang hành nghề)

Trang 31

được Bộ trưởng Tư pháp chỉ định với nhiệm kỳ là 3 năm và do chính Bộ trưởng Tư pháp làm Chủ tịchhoặc ủy quyền cho một Thứ trưởng Hội đồng này có nhiệm vụ trình lên Bộ trưởng Tư pháp những ý kiến

và đề nghị về những công việc dưới đây :

 Đánh giá hoạt động chức năng của các công chứng viên, công chứng viên tập sự, thư ký côngchứng và những nhân viên khác

 áp dụng kỷ luật về những vi phạm chế độ tiền lương ở các phòng công chứng nhà nước

 Thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với công chứng viên, nhân viên đang công tác và đối vớinhững người đã nghỉ hưu và tàn tật

 Thực hiện chính sách đào tạo công chứng viên, thư ký công chứng

 Cho ý kiến về những dự thảo Nghị định, Điều lệ, thông tư liên quan đến hoạt động công chứng;

 Hợp tác quốc tế với công chứng các nước;

 Thực hiện các vấn đề khác do pháp luật quy định hoặc do Bộ trưởng Tư pháp yêu cầu

Nghiệp đoàn công chứng khu vực gồm một chủ tịch và hai thành viên được công chứng viên của

các Hội đồng tự quản cấp tỉnh trong khu vực bầu lên với nhiệm kỳ 2 năm Hội đồng công chứng khu vựcnhóm họp ít nhất ba tháng một lần do Chủ tịch triệu tập khi thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Chánh ántòa án khu vực, trường hợp đặc biệt có thể được triệu tập do đề nghị của một thành viên của Hội đồng.Hội đồng công chứng khu vực có các nhiệm vụ sau đây :

 Cho ý kiến về thái độ làm việc của công chứng viên, công chứng viên tập sự mỗi khi có đợtthanh tra đối với các Phòng Công chứng nhà nước

 Cho ý kiến về mức thu nhập của công chứng viên, công chứng viên tập sự

 Cho ý kiến về điều kiện làm việc trong các văn phòng công chứng Nhà nước

 Tổ chức kiểm tra năng lực của những người dự tuyển vào nghề công chứng

 Cho ý kiến về những vấn đề khác theo quy định của pháp luật

Nghiệp đoàn công chứng cấp huyện được tạo thành bởi những công chứng viên thực hiện chức

năng ở các Phòng Công chứng Nhà nước và Phòng Công chứng tư nhân trong phạm vi thẩm quyền củamột tòa án huyện, theo quyết định của Bộ trưởng Tư pháp căn cứ vào số lượng công chứng viên và nhânviên

Nghiệp đoàn công chứng cấp huyện nhóm họp mỗi năm một lần do ông chủ tịch triệu tập hoặctheo yêu cầu của Chánh án tòa án khu vực Hội đồng này có nhiệm vụ chính như :

Theo dõi, giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ đối với công chứng viên;

Giải quyết các tranh chấp giữa các công chứng viên trong phạm vi địa hạt;

Chỉ định công chứng viên tham gia vào Hội đồng kỷ luật của khu vực;

Lựa chọn công chứng viên tham gia vào Nghiệp đoàn công chứng khu vực

Trang 32

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG CHỨNG Ở BA LAN

TRONG GIAI ĐOẠN QUÁ ĐỘ

2 Luật công chứng ngày 14-2-1991

Sau 2 năm áp dụng Luật số 176 về cải cách tổ chức và hoạt động công chứng, ngày 14 tháng 2năm 1991 Nhà nước Ba Lan đã ban hành luật mới về tổ chức công chứng hành nghề tự do Đây là mộtvăn bản hoàn chỉnh quy định đầy đủ về bản chất công chứng Ba Lan trong nền kinh tế thị trường, môhình tổ chức, quản lý và những nguyên tắc cơ bản về trình tự thủ tục thực hiện công chứng Mục đích củaluật này là hoàn thành việc cải cách thể chế công chứng theo mô hình công chứng La tinh

Nghiệp đoàn công chứng

cấp huyện

Phòng công chứng nhà nước

Phòng công chứng

tư nhân

Trang 33

Chiểu theo những nguyên tắc tổ chức của Công chứng Pháp, Điều 1 Luật số 176 đã xác định kháiniệm công chứng viên như sau:

“Công chứng viên được bổ nhiệm để lập văn bản mà pháp luật quy định bắt buộc hoặc các bên muốn đem lại một tính đích thực; Các văn bản có thể được lập bởi những công chứng viên dự bị (asssesseur) trong những trường hợp do Luật này quy định”.

Công chứng viên hành nghề trong một Phòng Công chứng dưới hình thức cá nhân là chủ đầu tưhoặc dưới hình thức một công ty nghề nghiệp dân sự khi cùng với các công chứng viên cổ đông khác.Công chứng viên không còn là công chức nhà nước, nhưng họ được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước nhưnhững công chức khác, văn bản công chứng lập theo đúng những quy định của pháp luật mang tính chấtcủa một văn bản công

Mỗi công chứng viên chỉ được đứng ra lập một Phòng Công chứng Công chứng viên tự thuê nhânviên, tự mình đầu tư về trụ sở, phương tiện và thiết bị làm việc Nhiều công chứng viên có thể hợp thànhmột Công ty nghề nghiệp dân sự với tư cách lácc cổ đông Trong trường hợp này mỗi thành viên chỉ chịutrách nhiệm cá nhân về văn bản do chính mình đã thực hiện Công chứng viên sử dụng con dấu manghình quốc huy và phải nộp các loại thuế và lệ phí theo các quy định hiện hành

Công chứng viên Ba Lan có các nghĩa vụ và quyền dưới đây:

 Phải hoạt động phù hợp với những Điều đã tuyên thệ và phải thường xuyên nâng cao chấtlượng làm việc

 Phải giữ bí mật về những việc do được biết thông qua hoạt động nghề nghiệp Tuy nhiên, trongtrường hợp công chứng viên được mời làm chứng trước Toà thì không buộc phải giữ bí mật vềnhững việc đã biết với Điều kiên sự tiết lộ đó không gây hại cho Nhà nước, hoặc cho các cánhân

 Không được tiến hành các hoạt động thu lợi khác nếu không được phép của Hội đồng quản lý

cơ sở, trừ hoạt động giảng dạy ở các trường với Điều kiện không ảnh hưởng đến việc thực hiệnchức năng công chứng

 Không được tiến hành các hoạt động kinh doanh, thương mại, môi giới

 Phải thông báo cho Hội đồng công chứng cơ sở về dự định thực hiện một việc làm thêm Hộiđồng có thể cho phép nếu xét thấy hoạt động đó không trở ngại cho bản thân công chứng viên

 Phải chịu trách nhiệm bồi thường mọi thiệt hại gây ra trong quá trình thực hiện công chứng

 Được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội liên quan đến hoạt động kinh tế ;

 Được hưởng chế độ hưu trí như các công chức khác

Về quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng:

Trang 34

Bộ trưởng Tư pháp quyết định việc thành lập Phòng Công chứng, bổ nhiệm và miễn nhiệm côngchứng viên Công chứng viên và các cơ quan đại diện nghề nghiệp công chứng được đặt dưới sự quản lý,giám sát, kiểm tra trực tiếp của Bộ trưởng Tư pháp, người có thể đích thân hoặc thông qua Chánh án Toàthượng thẩm, Chánh án các Toà cơ sở hoặc chỉ dịnh một người thưc hiện việc kiểm tra hoạt động củacông chứng viên và các cơ quan đại diện Bộ trưởng tư pháp Ban hành sắc lệnh quy định chi tiết việckiểm tra Bộ trưởng Tư pháp có thể yêu cầu một công chứng viên cùng với Bộ Tư pháp hoặc Toà án thựchiện việc kiểm tra hoạt động của công chứng viên và các cơ quan đại diện của ngành công chứng Trongthời gian mà công chứng viên được huy động để cùng với Bộ Tư pháp hoặc Toà án thực hiện việc kiểmtra thì công chứng viên đó tạm nghỉ hoạt động chức năng ở văn phòng của mình Trong một số trườnghợp đặc biệt khác, theo đề nghị của công chứng viên, Bộ trưởng tư pháp có thể cho phép tạm đình chỉchức năng công chứng để đảm nhiệm các chức năng công khác.

Việc thanh tra công chứng phải được thực hiện ít nhất 3 năm một lần đối với mỗi Phòng Công chứng Các

cơ quan thanh tra, giám sát có quyền kiểm tra hoạt động của Phòng công chứng, xác minh xem các sổquản lý, nghiệp vụ, yêu cầu bổ sung sửa chữa những thủ tục thiếu và sai sót, đề nghị áp dụng biện pháp

kỷ luật trong trường hợp công chứng viên mắc lỗi nghề nghiệp Ngoài ra, Bộ trưởng Tư pháp có thể đềnghị Toà án tối cao huỷ bỏ một quyết định của cơ quan đại diện công chứng nếu xét thấy văn bản đó tráipháp luật

Về các cơ quan đại diện của công chứng viên:

Các công chứng viên Ba Lan được tập hợp trong các cơ quan đại diện nghề nghiệp công chứng.Những cơ quan đại diện công chứng viên bao gồm 2 cấp, có tư cách pháp nhân: Hội đồng công chứngquốc gia và các Hội đồng công chứng cấp tỉnh:

Hội đồng công chứng quốc gia đại diện cho toàn ngành chứng Ba Lan, bao gồm những công chứng

viên được bầu lên từ Đại hội đồng của các Hội đồng công chứng cấp tỉnh Chủ tịch Hội đồng công chứngquốc gia được bầu dưới hình thức bỏ phiếu kín bởi các thành viên của Hội đồng Các thành viên của Hộiđồng công chứng quốc gia được bầu theo nhiệm kỳ 3 năm Hội đồng công chứng quốc gia có các nhiệm

vụ sau:

 Ban hành quy chế hoạt động với Bộ Tư pháp;

 Cho ý kiến đói với bảng giá tiền thù lao công chứng và thay đổi những quy định về hoạt độngcông chứng;

 Hợp tác với công chứng các nứoc khác;

 Cho ý kiến về những vấn đề do Bộ trưởng tư pháp hoặc các cơ quan đại diện khác đưa ra;

 Bầu trong số các thành viên người tham gia vào hội đồng kỷ luật;

 Ban hành Điều lệ công chứng;

 Quy định về đạo đức nghề nghiệp công chứng;

 Quy định mức đóng góp hàng tháng của công chứng viên vào quỹ chung

 Quy định về chương trình đào tạo, chương trình thực tập công chứng

 Soạn thảo quy chế tổ chức Đại hội các công chứng viên;

Trang 35

 Cho ý kiến về việc bổ nhiệm, bãi miễn công chứng viên và công chứng viên dự bị;

 Kiểm tra hoạt động của công chứng viên, công chứng viên dự bị;

 Tổ chức việc đào tạo cho những người có nguyện vọng trở thành công chứng viên

Hội đồng công chứng cấp tỉnh đại diện cho các công chứng viên trong phạm vị địa hạt của một

tỉnh, thành phố hành nghề trong phạm vi thẩm quyền của Toà thượng thẩm Trụ sở của Hội đồng đặt tạinơi đặt trụ sở của Toà Thượng thẩm Các phiện họp Hội đồng có thể được tổ chức định kỳ và bất thường.Hàng năm vào quý 1 Uỷ ban thường trực triệu tập phiên họp Đại hội đồng định kỳ Việc tham gia vào cácphiên họp của Đại hội đồng là bắt buộc đối với công chứng viên Đại hội đồng có các chức năng, nhiệm

vụ sau:

 Bầu ra Chủ tịch Hội đồng, Phó chủ tịch và các thành viên của Uỷ ban thường trực

 Bầu ra thành viên tham gia Hội đồng công chứng quốc gia

 Bầu ra thành viên của Hội đồng kỷ luật

 Thông qua tài khoản hàng năm do Uỷ ban thường trực trình, ấn định mức đóng góp của côngchứng viên vào quỹ chung

 Giải quyết các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của Hội đồng công chứng khu vực

 Xác định quy chế làm việc của Đại hội đồng

Uỷ ban thường trực có trụ sở trong Hội đồng công chứng cấp tỉnh và bao gồm 5 thành viên nếu Hộiđồng có dưới 100 công chứng viên, 7 thành viên nếu số lượng công chứng viên từ 101 đến 200 hoặc 9thành viên nếu số lượng công chứng viên là trên 200 Chủ tịch Hội đồng công cấp tỉnh lãnh đạo hoạt độngchức năng, chủ trì các phiên họp và thực hiện Nghị quyết của Uỷ ban thường trực Nếu Chủ tịch vắng mặtthì chức năng trên đây do Phó Chủ tịch đảm nhiệm Những quyết định liên quan đến tài sản phải đượcthống nhất giữa Chủ hoặc Phó chủ tịch và một thành viên của Uỷ ban thường trực

Về văn bản công chứng:

Công chứng viên công chứng những văn bản do pháp luật quy định phải công chứng hoặc theo yêucầu của các bên Văn bản công chứng phải có những yếu tố cơ bản sau:

 Ngày, tháng, năm ký văn bản, có thể ghi giờ, phút, nếu khách hàng yêu cầu;

 Địa điểm lập văn bản ;

 Họ, tên công chứng viên và địa chỉ của Văn phòng công chứng Nếu công chứng vắng mặt thìphải ghi rõ họ tên người thay thế công chứng viên đó;

 Tên, họ, nơi ở của các bên là cá nhân, tên họ, nơi ở của cha, mẹ, địa chỉ ciủa pháp nhân hoặccác chủ thể khác; tên, họ của đại diện pháo nhân và tất cả những người tham gia khác vàovăn bản;

 Miêu tả thân nhân của các bên và sự chỉ định của các văn bản xuất trình;

 Theo yêu cầu của khách hàng, viện dẫn những hành vi hoặc tình huống quan trọng khi thảovăn bản;

 Phải ghi rõ ràng văn bản đã được đọc lại cho khách hàng nghe, họ đều nhất trí và ký tên;

Trang 36

 Chữ ký của các bên khách hàng và những người có mặt;

 Chữ ký của công chứng viên

Nếu văn bản công chứng được làm gồm nhiều trang thì phải đánh số trang, có chữ ký tắt và dấugiáp lai lên từng trang Công chứngviên phải trực tiếp hoặc uỷ quyền cho một người khác với sự có mặtcủa mình, đọc lại văn bản công chứng cho khách hàng nghe, phải bảo đảm rằng các bên khách hàng vànhững người ham gia đã hiểu rõ nội dung và hậu quả pháp lý của văn bản, và phù hợp với ý chí cuả cácbên Việc đọc lại phần phụ lục đính kèm, được thực hiện nếu các bên có yêu cầu Mọi sự tẩy xoá đều bịcấm Mọi hợp đồng, giao dịch chỉ được làm thành 1 bản gốc duy nhất, có thể làm ra nhiều bản sao từ bảngốc Tất cả những văn bản gốc không được đem ra khỏi Phòng Công chứng và phải được lưu giữ vĩnhviễn

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG CHỨNG Ở BA LAN

B.Cải cách công chứng ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

1 Quy chế tạm thời ngày 13-4-1982 về Công chứng Nhà nước

Trước năm 1982, ở Trung Quốc không tồn tại một thể chế công chứng, các việc công chứng đều docác cơ quan hành chính đảm nhiệm Trước tình hình đó, ngày 13-4-1982 Hội đồng Quốc vụ đã ban hànhQuy chế tạm thời về Công chứng nhà nước Quy định này được xây dựng nhằm thành lập và hoàn chỉnh

hệ thống Phòng Công chứng Nhà nước thực hiện chức năng công chứng, trên cơ sở yêu cầu của người

BỘ TƯ PHÁP

Toà Thượng thẩm

Hội đồng công chứng quốc gia

Hội đồng công chứng cấp tỉnh

Phòng công chứng

cá nhân

Phòng công chứng nhiều cổ đông

Trang 37

yêu cầu công chứng, chứng nhận theo quy định của pháp luật về tính xác thực và tính hợp pháp của cácvăn bản hay sự kiện pháp lý quan trọng, từ đó bảo vệ lợi ích công cộng, quyền và lợi ích chính đáng vềnhân thân cũng như tài sản của công dân , bảo vệ hệ thống Pháp luật Xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa tranhchấp và hạn chế khiếu kiện.

Phòng công chứng là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng công chứng Thông qua các hoạt độngcông chứng, Phòng Công chứng thực hiện chức năng hướng dẫn nhân dân tuân theo pháp luật, góp phầnbảo vệ hệ thống Pháp luật Xã hội chủ nghĩa Phòng công chứng được thành lập ở các tỉnh, khu tự trị hoặcthành phố trực thuộc Trung ương Trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan quản lý tư pháp của tỉnh,khu tự trị hoặc thành phố trực thuộc Trung ương có thể thành lập Phòng Công chứng cấp huyện thuộc địahạt của mình Phòng Công chứng được đặt dưới sự quản lý của cơ quan quản lý tư pháp địa phương Giữacác Phòng Công chứng không có quan hệ phụ thuộc Phòng Công chứng có Trưởng phòng, Phó Trưởngphòng, công chứng viên và thư ký công chứng viên Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng là công chứngviên Trưởng phòng hoặc Phó Trưởng phòng là người điều hành và chịu trách nhiệm về mọi hoạt độngcủa Phòng và thực hiện các nhiệm vụ của công chứng viên Trưởng phòng, phó trưởng phòng, côngchứng viên, thư ký công chứng viên do chính quyền nhân dân ở cấp tỉnh, khu tự trị và thành phố trựcthuộc trung ương bổ nhiệm hoặc bãi miễn theo quy định về quản lý cán bộ

Công dân Trung Quốc có quyền bầu và ứng cử được xem xét bổ nhiệm công chứng viên nếu đápứng một trong các điều kiện như: tốt nghiệp một trường đào tạo về luật tương đương đại học, qua thờigian tập sự và có thời gian công tác pháp lý hoặc giảng dạy hoặc nghiên cứu về luật từ một năm trở lên; làThẩm phán Toà án nhân dân hoặc Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; có thời gian công tác trong lĩnhvực pháp luật ở cơ quan quản lý tư pháp địa phương từ hai năm trở lên hoặc làm việc trong các cơ quan,doanh nghiệp, viện nghiên cứu của nhà nước từ năm năm trở lên và có trình độ pháp luật tương đươngtrung cấp; là thư ký công chứng viên từ hai năm trở lên; một người tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật,qua thời gian tập sự hoặc viên chức nhà nước có trình độ tương đương trung cấp pháp lý trở lên có thểđược bổ nhiệm làm thư ký công chứng viên

Quy chế tạm thời ngày 13-4-1982 về Công chứng Nhà nước đã cho ra đời Công chứng Trung Quốctheo mô hình công chứng Collectiviste do Nhà nước bao cấp, giống như ở Liên Xô trước đây và ở ViệtNAm hiện nay Văn bản này đã đề cập đến một số nguyên tắc rất cơ bản của công chứng La tinh, đây lànhững yếu tố quan trọng, làm tiền đề cho việc cải cách công chứng Trung Quốc theo mô hình công chứng

La tinh Chúng ta có thể liệt kê ra một số nguyên tắc, đó là:

 Nguyên tắc phòng ngừa và giảm thiểu tranh chấp ;

 Nguyên tắc chứng nhận tính đích thực của những văn bản và sự kiện pháp lý;

 Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của tất các các bên;

 Nguyên tắc hoà giải của các bên;

 Nguyên tắc Bộ Tư pháp quản lý công chứng;

 Nguyên tắc nhận dạng và kiểm tra năng lực hành vi dân sự của khách hàng, kiểm tra tính hợppháp của các giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng do người yêu cầu công chứng cung cấp ;

 Nguyên tắc xác minh, làm rõ hồ sơ ;

 Nguyên tắc giữ bí mật nghjề nghiệp;

Trang 38

 Nguyên tắc từ chối thực hiện công chứng.

Công chứng viên có nhiệm vụ thực hiện những việc sau:

 Chứng nhận các hợp đồng (thoả thuận), việc uỷ quyền, di chúc

 Chứng nhận quyền hưởng di sản thừa kế

 Chứng nhận việc khai nhận hoặc phân chia tài sản

 Chứng nhận việc nuôi con nuôi

 Chứng nhận quan hệ gia đình

 Chứng nhận về nhân thân, quá trình học tập và làm việc

 Chứng nhận việc sinh, tử, kết hôn

 Chứng nhận tính xác thực của chữ ký hoặc dấu trên văn bản

 Chứng nhận bản sao, bản trích, bản dịch của văn bản phù hợp với bản chính

 Chứng nhận việc vay tiền và xác nhận tính hiệu lực của văn bản thu hồi nợ hoặc yêu cầu bồithường thiệt hại

 Cung cấp chứng cứ

 Lưu giữ di chúc hoặc các văn bản khác

 Soạn thảo các văn bản công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng

 Thực hiện các việc công chứng khác theo yêu cầu của các bên đương sự phù hợp với thông lệquốc tế

Ngay trong thời kỳ xây dựng và phát triển thể chế công chứng Nhà nước, các công chứng viênTrung Quốc đã được tập hợp xung quanh Hiệp hội công chứng toàn quốc (thành lập ngày 29-3-1990).Đây là một Hội nghề nghiệp độc lập, đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của toàn ngành công chứngTrung Quốc, có tư cách pháp nhân, có Điều lệ hoạt động

2 Nghị quyết ngày 31-7-2000 về cải cách sâu rộng hoạt động công chứng Trung Quốc

Từ khi thiết lập thể chế công chứng vào năm 1982, ngành công chứng của nước Cộng hòa nhân dânTrung Hoa đã có một sự phát triển lớn khi thực hiện một vai trò nhất định trong các lĩnh vực của qúa trìnhxây dựng nền kinh tế, đời sống xã hội và trao đổi hợp tác với nước ngoài Theo những định hướng định rabởi kỳ họp toàn thể lần thứ 3 của Đại hội lần thứ 14 và kỳ họp toàn thể của Đại hội lần thứ 15 của ĐảngCộng sản Trung Quốc, cần phải đẩy nhanh tốc độ cải cách và phát triển của công tác công chứng, xâydựng và hoàn thiện thể chế công chứng để đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường, triển khai đầy

đủ vai trò phục vụ, chứng thực và giám sát các phòng công chứng, thúc đẩy ngành công chứng của TrungQuốc trong một giai đoạn mới của sự phát triển Ngày 31-7-2000, Hội đồng Quốc vụ Trung Quốc đã phêchuẩn Nghị quyết về các Giải pháp cải cách sâu rộng hoạt động công chứng Đó là một chương trình cóhiệu lực pháp luật dự báo sự xã hội hóa toàn bộ ngành công chứng Trung Quốc vào năm 2010 Sau đâychúng tôi xin đề cập đến một số điểm cơ bản của 4 Giải pháp:

Giải pháp thứ nhất là xác định những quan điểm chủ đạo và mục tiêu của cải cách công tác công

chứng:

Trang 39

Để áp dụng đúng đắn tinh thần của kỳ họp toàn thể lần thứ 3 của Đại hội lần thứ 14 và kỳ họp toànthể lần thứ 4 của Đại hội lần thứ 15 của Đảng Cộng sản Trung Quốc phù hợp với các đòi hỏi của việc xâydựng đất nước theo pháp luật, cần phải giải phóng các quan niệm, nỗ lực hiện thực hóa đến năm 2010việc thiết lập một thể chế công chứng phù hợp với hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang bảnsắc Trung Quốc.

Các mục tiêu của việc phát triển công tác của ngành công chứng là:

 Phấn đấu để Luật về công chứng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sớm được ban hành,đến năm 2010 giải quyết toàn bộ các vấn đề về bảo đảm hợp pháp của ngành công chứng, xác định rõ hệquả pháp lý của các văn bản được công chứng và quy chế pháp lý của ngành công chứng, hoàn thiện cácluật liên quan đến lĩnh vực công chứng;

 Theo nguyên tắc kiểm tra quy mô chung và cấu trúc hợp lý, hiện thực hóa trong thời gian sớmnhất xây dựng thể chế công chứng phù hợp với các yêu cầu của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa;

 Mở rộng lĩnh vực của các hoạt động công chứng, trấn chỉnh và cải thiện phong cách và phươngpháp làm việc, triển khai tất cả các chức năng của ngành công chứng và cung cấp các dịch vụ công chứngtốt nhất cho xã hội;

 Phát triển một cách chủ động và thận trọng ngành công chứng, không ngừng nâng cao chất lượngcủa ngành, nỗ lực xây dựng ngành công chứng vững vàng về chính trị, đúng đắn về phong cách, có nănglực nghề nghiệp, chất lượng tốt, hiệu quả cao, dịch vụ vừa lòng khách hàng, đến năm 2010 tăng gấp 4 lần

số lượng công chứng viên có đủ kiến thức về chính trị, pháp lý, kinh tế, khoa học và ngoại ngữ;

 Hoàn thiện chế độ kết hợp giữa quản lý vĩ mô của các cơ quan hành chính tư pháp với sự quản lý

về nghề nghiệp của hiệp hội công chứng viên với tư cách là chế độ quản lý ngành công chứng

Giải pháp thứ hai: Xây dựng các Phòng Công chứng có khả năng thích nghi với chế độ kinh tế thị trường

Cần phải thúc đẩy việc cải cách ngành công chứng theo những bước sau:

 Các Phòng Công chứng theo hình thức cơ quan hành chính hiện nay phải chuyển trong thời giannhanh nhất sang hình thức cơ quan dân sự Các Phòng Công chứng được chuyển đổi từ nay sẽ là các phápnhân dân sự vì lợi ích công và không thu lợi, đảm nhiệm các chức năng công chứng, hoạt động tự chủ,chịu trách nhiệm độc lập, vận hành theo quy luật của thị trường và chế độ tự quản Từ nay việc thành lậpPhòng Công chứng theo hình thức cơ quan hành chính sẽ không được cho phép nữa

 Trong thời gian quá độ của sự cải cách, các Phòng Công chứng ở các vùng xa và khó khăn hay cóthu nhập nghề nghiệp theo đầu người trong 3 năm gần nhất dưới 30 000 nhân dân tệ, thì có thể tạm thờiduy trì quy chế cơ quan hành chính, nhưng phải được quản lý và hoạt động theo thể thức cơ quan dân sự.Nguyên tắc kiểm tra quy mô chung và cấu trúc hợp lý sẽ được áp dụng Các quy phạm đã được kiểmtra về thiết lập và phân bổ các Phòng Công chứng sẽ do Bộ Tư pháp rà soát và xác định 2 năm một lần,thống nhất với các cơ quan có liên quan tùy theo tình hình phát triển kinh tế thị trường và nhu cầu của cácdịch vụ công chứng

Phạm vi trong đó các Phòng Ccông chứng hoạt động là phạm vi theo lãnh thổ hoặc cao hơn tùy theomức độ phát triển kinh tế của vùng, số dân, tình trạng giao thông và nhu cầu thực tế về các dịch vụ côngchứng Trong mỗi phần phạm vi hoạt động công chứng sẽ có ít nhất một Phòng Công chứng được thành lập

Trang 40

Các cơ quan về nhân sự, tài chính và thuế phải hỗ trợ một cách tích cực quá trình cải cách ngànhcông chứng Các cơ quan này phải khẩn trương phê chuẩn nhân sự của các Phòng Công chứng sau khi đãkiểm tra và nhanh chóng chuyển cho họ những chi phí cần thiết tùy theo kế hoạch phát triển cơ quan côngchứng và nhu cầu thực tế của công tác công chứng, áp dụng với họ một chính sách tài chính và thuế thuậnlợi phù hợp để đảm bảo sự chuyển đổi của các Phòng Công chứng và sự hoạt động bình thường của cácPhòng Công chứng mới được thành lập Chế độ nhân sự hành chính cũ của các Phòng Công chứng đãchuyển đổi thành cơ quan dân sự sẽ phải được sửa đổi không có ngoại lệ thành chế độ nhân sự dân sự.Những người thuộc chế độ nhân sự hành chính cũ mà không muốn tiếp tục theo nghề công chứng trongcác Phòng Công chứng sẽ được chuyển sang một vị trí khác trong các cơ quan hành chính tư pháp cùngcấp theo những biện pháp có liên quan của qúa trình cải cách các cơ quan hành chính Các biện pháp vềtài chính và thuế đối với các Phòng Công chứng chuyển đổi và đối với các Phòng Công chứng mới đượcthành lập sẽ được quy định một cách khác nhau bởi các cơ quan có liên quan.

Giải pháp thứ ba là thành lập một ngành công chứng chuyên nghiệp chất lượng cao:

Cần phải cải cách chế độ kiểm tra các công chứng viên Các công chứng viên với tư cách là các luậtgia chuyên nghiệp đảm nhiệm các chức năng công chứng của Nhà nước phải được trang bị các yếu tố cơbản như ý thức chính trị vững vàng, đạo đức tốt, giàu kiến thức pháp lý và kinh nghiệm xã hội Vì mụctiêu này một chế độ tuyển chọn công chứng viên thông qua thi và kiểm tra sẽ được thiết lập Kỳ thi sẽ mở

ra đối với toàn xã hội Việc thực hiện kỳ thi do Bộ Tư pháp tổ chức dưới hình thức thống nhất

Cần phải khuyến khích nguồn nhân sự chất lượng cao gia nhập ngành công chứng Những ngườinhư vậy có đủ điều kiện cần thiết thành lập các Phòng công chứng sẽ có thể được cho phép trở thànhcông chứng viên sau khi qua được kỳ kiểm tra

Cần phải áp dụng chế độ giấy phép hành nghề của công chứng viên và chế độ đào tạo tại chỗ Giấyphép hành nghề của công chứng viên do Bộ Tư pháp cấp dưới hình thức thống nhất cho những người đãqua được kỳ thi hay kiểm tra và đáp ứng đủ tiêu chuẩn của nghề sau khi đã theo học một khóa đào tạonghề nghiệp trong một năm và tập sự trong các Phòng Công chứng Không ai có thể hành nghề mà không

có giấy phép hành nghề Tất cả công chứng viên đang hành nghề sẽ theo một khóa đào tạo tại chỗ 40 giờmỗi năm Những người không tốt nghiệp khóa đào tạo hay phạm trên hai lỗi trong các văn bản được côngchứng sẽ phải rời vị trí để đi học

Chế độ bổ nhiệm theo các chức năng nghề nghiệp và kỹ thuật được áp dụng đối với các công chứngviên Họ hưởng các đãi ngộ phù hợp với các biện pháp đãi ngộ Nhà nước đối với chuyên gia và kỹ thuật viên

Giải pháp thứ tư thiết lập chế độ quản lý công chứng mang bản sắc Trung Quốc

Cần phải áp dụng cơ chế quản lý công chứng bằng việc kết hợp sự quản lý của các cơ quan hànhchính tư pháp với sự quản lý của hiệp hội công chứng viên Sự quản lý của các cơ quan hành chính tưpháp chủ yếu là ở cấp vĩ mô thông qua xây dựng tổ chức, xây dựng hệ thống, định hướng về mặt chính trị

và giám sát, chế tài đối với hoạt động hành nghề công chứng trong khi hiệp hội công chứng viên đảmnhiệm chủ yếu sự quản lý cụ thể ngành công chứng

Cần phải củng cố quá trình pháp điển hóa đối với quản lý ngành công chứng; nỗ lực để Luật về côngchứng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được trình Quốc hội trong thời gian sớm nhất và nghiêncứu để xây dựng các quy phạm dưới luật phù hợp với văn bản này; phấn đấu đến năm 2010 hoàn thànhtoàn bộ công tác pháp điển hóa đối với ngành công chứng để xác định rõ hơn quy chế và hệ quả pháp lý

Ngày đăng: 28/09/2020, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w