1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HÌNH TƯỢNG HỒ LÔ TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA .ThS. Nguyễn Ngọc Thơ

20 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 641,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thần thoại, hồ lô rỗng với đặc tính nổi trên mặt nước đã được mượn làm biểu tượng cứu sống nhân loại.. Tàn dư của đuôi chó thần – vật tổ của Bộc nhân 3 Phần đội đầu Hình cụ Mão có

Trang 1

HÌNH TƯỢNG HỒ LÔ TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA

ThS Nguyễn Ngọc Thơ

(Đại học Quốc gia TP.HCM)

Đã đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường ĐH KHXH&NV, tháng 9/2007

I Hồ lô và hình tượng hồ lô – những vấn đề chung

1 Hồ lô

a Hồ lô thiên nhiên

Hồ lô là một loại quả thực vật, họ bầu bí [hình 1], được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt, cận nhiệt đới trên khắp thế giới Qua tư liệu khảo cổ cho thấy các vùng đất Nam Trung Hoa, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, đồng bằng sông Nile… đều có sự hiện diện của quả hồ lô [Du Tu Linh 2001: 10] Ở Việt Nam, hồ lô xuất hiện khắp nơi, từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng đến vùng núi cao

b Về tên gọi hồ lô

Về tên gọi tiếng Trung, phổ biến nhất là hồ lô /húlu/ với nhiều cách viết: 葫芦, 壶卢, 胡卢, ngoài ra còn được biết đến với tên gọi phố lô (蒲芦/púlu/) v.v Tên gọi hồ lô thể hiện ý nghĩa may mắn Theo lối hài âm, hồ đọc là /hú/ gần với phúc /fú/, lô đọc là /lu/ gần âm với lộc /lù/

Trong văn hoá dân gian, người dân mượn hình ảnh quả hồ lô căng tròn để gửi gắm ước vọng

phúc lộc song tiến Ngoài ra, khèn hồ lô gọi là sênh (笙/sheng/), trùng âm với từ sinh (sôi) (生/sheng/) trong sinh cơ (生机/shengji/) hay thăng tiến (升/sheng/) [Triệu Thân 2001: 80] Trong tiếng Anh, hồ lô là calabash, tiếng Tây Ban Nha là shekere, tiếng Sanscrit là tumba, trong tiếng Việt là bầu (bí)v.v…

c Phân loại

- Về phân loại, theo Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời Trân (1518-1593) dựa vào hình dáng, kích cỡ quả hồ lô, có thể phân hồ lô ra năm loại tiêu biểu sau: (1) Hồ (瓠): hình trụ tròn,

Trang 2

dài, đáy lõm vào giữa; (2) Huyền hồ (悬瓠): hồ lô đầu nhỏ, phần dưới phình to, đáy lõm vào giữa; (3) Hồ (壶): hồ lô hình quả tim ngược; (4) Bào (匏): hồ lô hình quả bưởi; (5) Phố lô

(蒲芦): hình hồ lô có hai phần trên, dưới phình to, eo nhỏ [hình 5]

- Còn nếu phân loại theo đặc điểm vị ngọt – đắng thì có thể phân ra hai loại: hồ (瓠) - hồ lô ngọt; và bào (匏) – hồ lô đắng

d Lịch sử xuất hiện quả hồ lô ở Trung Quốc:

Không ai biết hồ lô được thuần dưỡng tự bao giờ Qua nghiên cứu khảo cổ ở di chỉ Hà Mẫu

Độ (河姆渡,lưu vực sông Dương Tử) cho thấy hồ lô đã được trồng ở Đông Nam Á cổ từ hơn

7000 năm trước Chủ nhân của chúng là các tiền dân Bách Việt, Miêu Man, Bách Bộc Giáp Cốt

Văn thể hiện chữ hồ 壶 (tức hồ lô) bằng hình ảnh một chiếc bình có nắp đậy và có quai cầm

[hình 2] Có lẽ phần nút đậy bằng cành trúc đồng thời cũng là tay xách khi mang đi Phần quai cầm được gắn thêm vào để tiện rót nước, rượu hay các vật đựng bên trong Thời Tây Chu, hồ lô

bắt đầu đi vào văn học nghệ thuật, được Khổng Tử thể hiện trong bộ Kinh Thi “Tháng bảy hái

ăn, tháng tám lấy quả, tháng chín dựng lại giàn” (“七月食瓜,八月断壶,九月筑场圃thất nguyệt thực qua, bát nguyệt đoạn hồ, cửu nguyệt trường phố” bài Thất Nguyệt, chương U Phong)

[Triệu Thân 2001: 87] Thời Đông Chu, do kỹ thuật vun trồng được cải tiến, nhiều giống hồ lô mới, quả to được trồng khắp nơi, kể cả ở vùng Hoa Bắc Từ Hán – Đường về sau, người ta đã có thể trồng các loại hồ lô quả cực to Ngày nay, một số vùng Ngũ Lĩnh, Vân Quý, Hải Nam nhiều nhà trồng giàn hồ lô trước sân nhà

Có thể quả hồ lô đã trở nên quen thuộc với con người từ thưở mông muội, khi mà hoạt động hái lượm hay thu hoạch các loại sản phẩm từ thực vật trở nên phổ biến So với việc săn bắt động vật thì việc sử dụng sản phẩm thực vật tự nhiên có ưu thế hơn Các tính năng đặc biệt đã làm cho quả hồ lô dần dà thoát khỏi cái “vỏ tự nhiên”, khiến nó được con người “nhân cách hóa”, “thần

bí hóa” và tạo ra muôn vàn thần thoại, truyền thuyết gắn với chúng

e Công năng của quả hồ lô

* Phần ruột:

(1) Dùng làm thực phẩm Phần hoa, đọt non, ruột, vỏ quả hồ lô non có thể được dùng chế

biến món rau bổ sung lượng chất xơ và vitamin đáng kể cho cơ thể con người (trừ loại hồ lô đắng) Hồ lô non còn có thể được phơi khô dùng làm “rau khô” trong suốt mùa đông băng giá

(2) Dùng làm dược phẩm Loại được dùng làm dược phẩm chủ yếu là loại hồ lô đắng Hồ lô đắng có dược tính đặc biệt, chủ yếu là tính hàn Theo ghi nhận, có hơn 30 loại thảo dược có dùng dược liệu từ hồ lô Cụ thể trong Bản Thảo Cương Mục có ghi nhận thảo dược hồ lô chủ tiêu khát,

giải nhiệt, giải tâm nhiệt, lợi tiểu tràng, lợi tiểu, nhuận tâm phổi, trừ phiền muộn [Vương Thế Tương 2001: 4] Chính nhờ đặc tính này, vỏ hồ lô được các thầy lang dân gian dùng để đựng dược liệu [hình 3] Một số loại hồ lô đắng qua chế biến có thể dùng thay thế trà [Lâm Hà 2001: 145]

* Phần vỏ

Trang 3

(1) Dụng cụ chứa đựng Bình hồ lô có thể dùng để đựng nước, rượu, gạo, thức ăn, dược liệu v.v [hình 3] Vỏ hồ lô khô có thể cắt làm bát, đĩa, bôi trong ăn uống Trong cuốn Hàn Phi Tử có viết “Hồ lô đực thuộc hàng quý, có thể dùng để chứa đựng” (夫瓠所贵者,谓其可以盛也Phu

hồ sở quý giả, vị kì khả dĩ thịnh dã)[Từ Kiệt Thuấn 2001: 92] Trong hôn nhân của người tiền Hán, người ta lấy chiếc hồ lô cán dài xẻ đôi thành hai cái “bao cẩn” (包卺) [hình 4], dùng trong

nghi thức uống rượu giao bôi Từ đó, thành ngữ “hợp cẩn giao bôi” (合卺交杯) được sử dụng phổ biến Ngoài ra, hồ lô nhỏ còn được chế tác thành dụng cụ hút thuốc tương tự như dụng cụ

hút thuốc lào ở Việt Nam

Xuất phát từ việc sử dụng hồ lô làm vật dụng chứa đựng, dần dà người nguyên thủy đã phát minh, chế tác các loại đồ gốm dùng để chứa dựng có hình dáng mô phỏng hồ lô [hình 5] Hiện tại, thuyết “đồ gốm phỏng hồ lô” đã được giới nghiên cứu công nhận rộng rãi [Từ Kiệt Thuấn 2001: 92; Sơn Mạn 2001: 107] Quá trình biến đổi từ sử dụng hồ lô tự nhiên sang chế tác các loại

đồ gốm phỏng hình hồ lô hoàn toàn hợp với quá trình diễn hóa văn hóa

(2) Công cụ giao thông thủy: nhờ đặc điểm rỗng ruột, chỉ cần bịt kín phần miệng, hồ lô sẽ trở thành một loại “phao” đặc biệt Các sách Kinh Thi, Trang Tử, Quốc Ngữ đều có nhắc đến loại

“công cụ” giúp người qua sông, suối này Dân gian Trung Hoa gọi loại “công cụ” đặc biệt này là

“thuyền eo” (腰舟yếu chu) [hình 6] Ngày nay, vùng nông thôn Hà Nam, Sơn Đông, Tứ Xuyên vẫn còn dùng loại công cụ này khi qua sông, suối nhỏ Người Khách Gia ở Quảng Đông khi đánh cá dưới sông đeo quanh eo vài chiếc hồ lô cứu sinh Trẻ em đeo vài chiếc hồ lô nhỏ quanh thân ngụ ý trừ tà, đồng thời sẽ giúp cứu trẻ trong trường hợp bị rơi xuống nước Ở đảo Hải Nam, người Lê dùng một quả hồ lô to rỗng, bịt kín miệng, thả xuống sông, suối, ôm trầm lấy mà bơi qua Ở Đài Loan, người Amei, người Cao Sơn cũng làm cách này [Tống Triệu Lân 2001: 19-20,

Trang 4

38-39] Ở một số vùng khác, người ta làm bè hồ lô qua vượt qua những khúc sông có quá nhiều ghềnh thác Trong thần thoại, hồ lô rỗng với đặc tính nổi trên mặt nước đã được mượn làm biểu tượng cứu sống nhân loại Học giả Văn Nhất Đa (1899-1946) tiến hành phân tích 49 thần thoại hồng thủy của các dân tộc thiểu số kết luận rằng hồ lô là dụng cụ cứu sinh phổ biến nhất (chiếm 57,2% trong số các dụng cụ hồ lô, thùng gỗ, giường, trống, thuyền v.v ; xem phần sau) [Tống Triệu Lân 2001: 35]

(3) Nông ngư cụ Trong nông nghiệp, không ít nông dân dùng bình hồ lô đầu nhọn, khoét

miệng vừa đủ để rót hạt giống Trong ngư nghiệp, vỏ hồ lô khô còn được dùng làm phao nổi mắc vào lưới, giúp ngư dân định vị được vị trí mảnh lưới của mình trên mặt nước

(4) Chế tác vũ khí Lịch sử chiến tranh ở đất Trung Hoa xưa đã từng tồn tại loại vũ khí đả thương có tên gọi là “hồ lô hỏa dược” Có thể phân ra các loại: Hồ lô hỏa hoành trận (衡阵火葫芦); Hồ lô đối mã thiêu nhân (对马烧人葫芦); Pháo lôi qua (雷瓜炮); Lạn cốt qua dầu thần (烂骨瓜油神); Hỏa dược phi lôi (火药飞雷) v.v dùng trong chiến tranh, khai phá đất

đai và săn bắt thú rừng [Tống Triệu Lâm 2001: 20-21]

(5) Chế tác nhạc khí Hồ lô khô rỗng ruột khi vỗ sẽ phát ra một loại âm thanh khá đặc trưng,

được các tộc người ở Trung Hoa chọn làm một trong “bát âm” phổ biến, gồm kim loại, đá, tơ, trúc, bào, đất, da thuộc và cây Trong đó, bào (匏) chính là cái khèn (笙竿sênh can / 竽vu) [hình 7] Từ thời Chiến Quốc đến Tây Hán, vùng cao nguyên Vân Quý đã mô phỏng khèn hô lô tự nhiên để chế tác loại kèn hồ lô đồng (khai quật được ở vùng Giang Xuyên, Ninh Phổ - Vân Nam) Điều này cho thấy hồ lô tự nhiên đã được chế tác thành nhạc khí từ rất lâu trước đó Trong

các sách Man Thư, Tân Đường Thư, Lĩnh Ngoại Đại Đáp đều có phần ghi chép về loại nhạc cụ

này [Tống Triệu Lân 2001: 20-21] Trong nghi lễ rước linh hồn người chết vào hồ lô tổ linh của dân tộc Di (Vân Nam), các vu sư phải thổi khèn hồ lô để múa cúng tế Tộc người La Hô (拉祜)

có 136 bộ múa khèn, và hơn 400 bài múa có sử dụng khèn hòa tấu [www.cwineasy.com]

(6) Dùng làm tang cụ Một số dân tộc như người Di, Thủy, La Hô dùng bình hồ lô chứa

xương tro của người chết với hy vọng linh hồn người chết sẽ được “quay về” nguồn cội Loại hồ

lô này được gọi là “hồ lô tổ linh” (祖灵葫芦)

Trang 5

(7) Đồ thưởng ngoạn Chủ yếu là các loại hồ lô nhỏ, qua bàn tay chế tác, họa vẽ của nghệ

nhân có thể trở thành một loại hàng mỹ nghệ để trưng bày, trang trí hay chứa đựng những thứ quý giá trong nhà

(8) Các dụng cụ khác: Vỏ hồ lô còn dùng làm bát nến, đồ đo lường (rượu, giấm, dầu), nuôi

dế

2 Chủ thể văn hóa hồ lô

Hiện có ít nhất 26 dân tộc ở Trung Quốc có tục sùng bái hồ lô hay có thần thoại hồ lô, gồm Hán, Thái, Di, Lật Túc, Miêu, Dao, Xá, Tạng, Bạch, Hồi, Hà Nhì, Choang, Cơ Nặc, Đức Ngang,

Bố Y, Ngõa, Lê, Thủy, Cách Lao, Nộ, Đồng, Cao Sơn, A Xương, Nạp Tây, Cảnh Pha, La Hô [www.nikerchina.com] Về không gian, ngoài tộc người Hán, các tộc người nói trên đa số phân

bố ở các khu vực cao nguyên Vân Quý, lòng chảo Tứ Xuyên, cao nguyên Thanh Tạng, Lĩnh Nam Một số tộc người sống rải rác ở vùng Hoa Đông, Tây Bắc và đảo Đài Loan

Theo lịch sử, vùng đất phía Nam Dương Tử vốn là khu vực cư trú của ba tập đoàn lớn: Bách Bộc ở vùng Tây Nam; Bách Việt ở vùng Đông Nam; Miêu Man ở phía đông cao nguyên Vân Quý và vùng phụ cận Tác giả Lâm Hà [2001: 152-153] thì cho rằng chủ thể văn hóa hồ lô chính

là tập đoàn Bách Bộc Ông cho rằng Bách Việt là hậu duệ của Bách Bộc – một quan điểm hiếm thấy trong giới nghiên cứu Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không tập trung vào mối quan hệ giữa Bách Bộc và Bách Việt mà chỉ khẳng định rằng cả hai nhóm này đều là chủ thể của văn hóa hồ lô

Trang 6

Sách Sở Từ có viết “Bộc tại Sở Tây Nam” (仆在楚西南), “Bộc nhân vi đan sa”

(仆人为丹砂), “Bộc nhân vi thần sa” (仆人为神砂) [Lâm Hà 2001: 153] Có thể thấy, cư dân

vùng đất rộng lớn phía tây nam nước Sở gọi chung là Bộc nhân (仆人) Trong lịch sử, khu vực

này vốn dĩ phức tạp vì cả ba tập đoàn lớn Bách Bộc, Bách Việt, Miêu Man cùng cộng cư, cùng giao thoa văn hóa Tù nhân, nô lệ gốc ở ba tập đoàn này đều bị người Trung Nguyên gọi chung

là “nô bộc” (奴仆) một cách rất phiếm diện

Trong Giáp Cốt Văn, từ bộc xuất hiện sớm [hình 11] Chữ bộc bao gồm năm phần chính:

phần thân người, phần “đuôi”, phần đội đầu, phần cầm trên tay, và các hạt li ti Hiện có hai cách

diễn giải ý nghĩa của chữ bộc như sau [hình 12]:

STT Bộ phận Diễn giải của các tác giả

người Hán

Diễn giải của tác giả Lâm Hà

[2001]

1 Thân người Người: nô bộc (tôi tớ) Người: vu sư

2 “Đuôi” Phần kéo dài của trang

phục (lụa, lông trĩ )

Tàn dư của đuôi chó thần – vật

tổ của Bộc nhân

3 Phần đội đầu Hình cụ Mão có biểu tượng ngọn lửa

thiêng của vu sư đội khi cúng tế

4 Phần cầm trên

tay

Cái ki rác Quả hồ lô lễ thần – biểu tượng

linh thiêng trừ tà ma và phồn

thực

linh trong hồ lô

Bảng 1: Diễn giải hình tượng chữ bộc trên Giáp Cốt Văn

Có thể thấy hai cách diễn giải rất khác nhau do được nhìn nhận từ hai góc độ rất khác biệt

Theo cách diễn giải của các tác giả người Hán đại diện là Văn Nhất Đa [2001] thì danh từ Bộc nhân mang ý nghĩa nô bộc nên nhìn đâu cũng ra nô bộc (quan điểm vô thần) Còn tác giả Lâm

An thì đứng ở góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử để quan sát nên cho kết quả khác Theo chúng tôi, thứ chữ này do tiền nhân người Hán tạo ra (Giáp Cốt Văn) nên ít nhiều nó mang quan niệm

“dĩ Trung Nguyên vi trung” của mình Song, ở một khía cạnh khác, Giáp Cốt Văn là loại chữ tượng hình, chủ yếu dựa vào hình dáng của vật thể tự nhiên để cách điệu tạo chữ viết nên có thể

chữ bộc này thể hiện hình ảnh của một vu sư đang tiến hành nghi lễ Cơ sở của ý kiến này nằm ở

các khía cạnh sau:

1/ Phần đuôi không thể là phần kéo dài của trang phục Người nô lệ không thể mang theo phần đuôi này khi đang làm việc

2/ Phần đội đầu cho là hình cụ thì không thể lý giải nổi tại sao “người nô bộc này” vừa cầm

ki vừa đội hình cụ?

Trang 7

3/ Nếu phần tay cầm là cái ki rác thì người nô bộc không thể nâng ki rác cao đến như thế, vì như vậy sẽ là vô lễ đối với giới chủ

4/ Một số tác giả người Hán chưa giải nghĩa hết ý nghĩa của chữ Bộc (仆) Bộc không chỉ có nghĩa là nô bộc, mà còn là hồ lô Bộc nhân: dân tộc hồ lô (theo quan niệm của Lâm An [2001], Diệp Minh Giám [2001]) Còn từ Bộc trên Giáp Cốt văn được tạo thành từ cách mượn âm diễn ý của người Hán Gốc ban đầu của từ bộc có âm đọc là Bu, Bô, Bua, Pu, Po…[xem mục hình tượng hồ lô trong ngôn ngữ]

II Hình tượng hồ lô trong văn hóa Trung Hoa

1 Hình tượng hồ lô trong ngôn ngữ - văn học dân gian

a Trong ngôn ngữ

Trong tiếng Hán hiện đại có không ít tục ngữ, thành ngữ mượn hình ảnh và ý nghĩa của chiếc

hồ lô để diễn đạt Dưới đây là một vài ví dụ tiêu biểu:

Vẽ cái gáo theo hình hồ lô 照着葫芦画瓢 Mô phỏng đơn giản

Đông nói hồ lô tây nóigáo 东指葫芦西指瓢 Huyên thuyên bất tận

Đè hồ lô xuống thì gáo nổi

lên

按下葫芦瓢起来 Việc này chưa xong việc

khác lại đến Không biết trong hồ lô bán

loại thuốc gì

不知葫芦里卖的什么药 Không biết anh ấy / cô ấy /

họ đang nghĩ gì

Hồ lô trộn cà tím 葫芦搅茄子 Thị phi hỗn độn / Vàng thau

lẫn lộn Cưỡi trên chiếc hồ lô mà

đầu óc hỗn độn

Chỉ chiếc hồ lô ấy mà đầu

nảy ra vàng

指着那个葫芦头开金 Dựa dẫm vào ai đó làm việc

gì đó

Bảng 2: Thành ngữ, tục ngữ có mượn hình ảnh hồ lô

Có thể thấy hình ảnh hồ lô trong các thành ngữ, tục ngữ nói trên được sử dụng phổ biến với

phạm vi ý nghĩa rộng, song hàm ý đều mang tính tích cực Chẳng hạn ở câu “hồ lô trộn cà tím” (thị phi hỗn độn) thì hình ảnh hồ lô được hiểu là đối tượng tích cực (thị), còn cà tím – một loại cà

tầm thường – mang biểu trưng tiêu cực (phi)

Trong ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số miền Nam và Tây Nam Trung Hoa, hồ lô được gọi

là Bộc (bo/bu/pu) Khái niệm Bộc nhân để chỉ dân tộc hồ lô Tác giả Lâm Hà [2001: 154] dẫn ra rằng các từ bà (婆), ba (爸), phụ (父), bào (胞, đồng bào), bát (钵) (bát đựng cơm của sư sãi)

Trang 8

v.v đều có gốc chung là từ bo/bu/pu mà ra Ngày nay, các tộc người thiểu số vùng Tây Nam, Đông Nam Trung Quốc tự xưng tộc danh của mình với gốc từ bo (仆bộc), ví dụ:

Tộc danh

chuẩn

Tộc danh tự xưng

Chữ Hán Tộc danh

chuẩn

Tộc danh tự xưng

Chữ Hán

Bảng 3: Tộc danh gắn với tên gọi hồ lô ở Trung Hoa

Có thể thấy các từ bô, bua, bu, po, pu rất gần âm với từ pò (chỉ thủ lĩnh) của một số dân tộc thuộc các nhóm Việt – Mường, Tày – Thái có ở Đông Nam Á Chẳng hạn, từ vua Hùng âm Việt

cổ là pò khun Người Thái Tây Bắc cũng gọi thủ lĩnh là pò khun [Trần Ngọc Thêm 2004: 81] Cũng ở tình huống tương tự, các từ bô, bua, bu, po, pu… chỉ hồ lô cũng đồng/gần âm với từ bô trong tiếng Việt cổ - từ về sau phát triển thành hai từ vua và bố [Trần Ngọc Thêm 2004: 206] Trong phương ngữ Mân Nam vùng Phúc Kiến thì từ bô biến âm thành bou [po*1], chỉ bố

[Nguyễn Đức Hiệp 2007]

b Hình tượng hồ lô trong văn học dân gian

Là một biểu tượng văn hóa dân gian, hồ lô đã đi vào văn học dân gian từ rất sớm Tiêu biểu

nhất là hai thể loại thần thoại và cổ tích Trong đó, ở thể loại thần thoại là đặc sắc hơn cả

Học giả Văn Nhất Đa (1899-1946) trong tác phẩm Phục Hy khảo liệt kê được 49 loại thần

thoại có liên quan đến hồ lô Hiện nay, giới nghiên cứu văn hóa Trung Quốc thống kê được hơn

119 loại [www.nikerchina.com] Xét ở khía cạnh vai trò tham gia của hình tượng hồ lô thì trên đại thể có thể xếp vào hai nhóm chính sau: 1) một là chất liệu tạo nhân sinh; 2) hai là công cụ tị nạn

Ở nhóm thứ nhất lại chia ra hai tiểu nhóm: hồ lô trực tiếp sinh người; và hồ lô gián tiếp sinh

người

* Hồ lô trực tiếp sinh người:

STT Tộc

người

Nguồn gốc xuất phát hồ

Đối tượng sinh ra

từ hồ lô

Phối hôn và sản sinh nhân loại

Xương

Thiên Công - Địa Mẫu:

mang thai 9 năm, sinh một hạt hồ lô

9 em bé Tự phối hôn, sản sinh

loài người

Mã Tổ (玛祖)

Mã Hắc + Mã Tổ sinh

ra loài người

3 Hán,

Miêu

Hai gia đình Giang, Chiêu trồng hồ lô

Nhị Lang Thần Nhị Lang Thần lấy con

gái Thái Thượng Lão Quân sinh ra loài người

Trang 9

4 La Hô Thần linh gieo trồng, quả

bị chuột cắn

Một nam một nữ Hai thủy tổ kết hôn

sản sinh nhân loại

5 Lật Túc Từ trên trời rơi xuống 2

chiếc

1 chiếc sinh Tây Tát (西萨, nam);

1 chiếc sinh Nặc Tát (诺萨, nữ)

Tây Tát, Nặc Tát kết hôn, sinh 9 cặp nam,

nữ 9 cặp phối hôn sinh nhân loại

6 Nộ Âu Tát (欧萨) trồng hồ

lô Hồ lô sinh người Đại Hồng Thủy dâng, nhân loại chết

Hai anh em sống sót nhờ nấp vào quả hồ lô

Hai anh em phối hôn sinh nhân loại

7 Thái Từ chân trời trôi đến Tám nam Tiên

nữ biến bốn trong

số họ thành phụ

nữ

Bốn cặp phối hôn sinh nhân loại

Bảng 4: Thần thoại hồ lô trực tiếp sinh người

* Hồ lô gián tiếp sinh người:

Miêu,

Dao,

Một phụ nữ tộc Cao Tân thị sinh một con trùng to, thân hình chiếc đĩa (bàn 盘), sau hóa thân thành chó thần, gọi là Bàn Hồ Giặc Nhung Ngô xâm lấn, triều đình

ra lệnh ai diệt được giặc thì trọng thưởng, gả con gái Bàn Hồ xin đi và chiến thắng trở về Quần thần cho rằng Bàn Hồ là thú nên không giữ lời hứa Tuy nhiên, công chúa nhất mực theo Bàn Hồ Cả hai lên núi, sống trong thạch thất, sau ba năm sinh ra sáu nam sáu nữ Sau khi Bàn Hồ qua đời, sáu nam sáu nữ phối hôn, sinh ra các dân tộc Hán, Ba, Thục, Di, Miêu Man v.v…

Bảng 5: Thần thoại hồ lô gián tiếp sinh người

Trên thế giới không chỉ có Trung Quốc mới có thần thoại hồ lô (trực tiếp, gián tiếp) sinh ra nhân loại mà các vùng Đông Nam Á, Nam Á, châu Mỹ… cũng có những ý niệm, thần thoại tương tự Chẳng hạn:

Trong văn hóa Ấn Độ, tiêu biểu là Sử thi Ramayana: Thiên thứ nhất, chương 37 có dẫn hình

ảnh chiếc hồ lô như sau:

“Sumatis tu naravyaghra garbhatumba vyajayata sastih putrasahasrani tumbabhedad vinihsrtah” (“Hỡi thần Sumatis … Người sinh một chiếc hồ lô dài Bổ chiếc hồ lô ra Sáu mươi ngàn người con xuất hiện” [Kỳ Mộ Hiền 2001: 136]

Trong tiến Phạn cổ, hồ lô được gọi là tumba Trong đoạn sử thi trên, danh từ garbhatumba mang ý nghĩa là bào thai hồ lô Bào thai hồ lô này rất thần bí, cùng lúc sinh ra sáu mươi ngàn

đứa con trai

Còn trong thần thoại Kelah ở Nam Mỹ cũng có chi tiết tương đồng:

Trang 10

Nhật thần mang một chiếc hồ lô đi tắm Một cô gái từ trong hồ lô bước ra Nhật thần và nguyệt thần tranh giành cô gái Nhật thần tặng cô gái cho nguyệt thần, tự mình tìm thêm một cô gái khác từ trong hồ lô Về sau, các gia đình nhật thần, nguyệt thần sinh ra nhân loại [Lâm Hà 2001: 139]

Ở nhóm thứ hai, mô típ đại hồng thủy – hồ lô cứu sinh – anh em phối hôn tái tạo nhân sinh

hầu như thống nhất trong các thần thoại tiêu biểu sau:

STT Tộc

người

Nhân vật thủy tổ Thủy tai và hồ lô cứu

sinh

Phối hôn, sản sinh nhân loại

Đồng,

Cách

Lao,

Thổ

Gia

Tổ mẫu ấp trứng, sinh

(松桑nam) và Tùng

Tư (松斯nữ) Hai thần kết hôn, sinh lôi, rồng,

hổ, rắn, nhân thần 12 loại thần, trong đó Na Huynh Na Muội (傩兄傩妹) nhỏ nhất

Các thần tranh chấp, lôi lên trời, rồng xuống biển, hổ lên rừng, rắn vào động

Lôi dâng lũ trả thù, tiêu diệt con cháu nhân thần Na Huynh

Na Muội được thần mách, trốn trong hồ

lô, thoát nạn

Na Huynh Na Muội kết hôn, 3 năm sinh ra túi thịt, chặt thành mảnh, mỗi mảnh biến thành một tộc người: thịt à người Đồng (da trắng); ruột à Miêu (thẳng tính); xương à Dao (rắn rỏi, lao khổ); tim à Hán (khôn lanh)…

2 Thủy Á Oa (亚娲) sáng tạo

ra lôi, rồng, hổ và người

Nhân thần tranh giành Lôi thần dâng nước báo thù Chỉ hai anh em trú trong hồ

lô do Á Oa tạo ra, thoát nạn

Hai anh em kết hôn sinh túi thịt, chặt thành mảnh Gan biến thành người Thủy; phổi à Bố Y; ruột à Miêu; xương

à Hán

3 Miêu Cây phong sinh Hồ

Điệp Ma Ma (mẹ bướm), kết hôn với bọt biển (泡沫) sinh 12 trứng, nở ra Khương (姜, anh), Ương (央,

em gái), lôi, hổ, rồng…

Nhân thần tranh chấp, lôi dâng lũ tiêu diệt loài người Khương, Ương nấp trong hồ lô thoát nạn

Khương, Ương kết hôn sinh ra túi thịt Chặt mảnh, mỗi mảnh hóa thân thành một tộc người

4 Bạch Thiên thần A Tỷ (阿仳)

báo cho loài người biết

về trận hồng thủy sắp tới nhưng mọi người không tin

Duy chỉ có hai anh

em A Công (阿公), A

Bà (阿婆) nghe theo, nấp trong quả hồ lô nên thoát mạng

Hai anh em kết hôn, tái sinh nhân loại

5 Hán Một người đàn ông có

hai con trai, gái Người anh em của ông này vì hận thù đã cho dâng nước để trả thù

Hai anh em vì được tiên mách bảo (hoặc bằng dự đoán) nấp vào trong hồ lô mà thoát nạn

Hai anh em kết hôn, tái tạo nhân sinh

Ngày đăng: 28/09/2020, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w