1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU, HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

33 571 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận văn/thuyết minh
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 43,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính áp lực cạnh tranh với hànghóa nhập khẩu đã buộc các công ty nội địa cải tiến quy trình, công nghệ, cungcách làm việc của mình để sản xuất được những sản phẩm có thể cạnh tranh.Điều

Trang 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU, HIỆU QUẢ KINH

DOANH NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH

NGHIỆP

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHẬP KHẨU

1 Khái niệm nhập khẩu

Trong thời gian gần đây, khi vai trò của Việt Nam trong các tổ chức quốc

tế ngày càng được khẳng định thì cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của hoạtđộng ngoại thương Xuất nhập khẩu hàng hóa trở thành một mảng quan trọngtrong hoạt động nói chung của cả nền kinh tế Hai hoạt động chủ yếu là xuấtkhẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài và nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài

về tiêu thụ tại thị trường trong nước trở thành các hoạt động khá phổ biến Cùngvới xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu là các yếu tố cấu thành chính cho hoạt độngngoại thương Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế, vượt ra khỏiphạm vi biên giới quốc gia Có thể nói, nhập khẩu chính là việc các công tytrong nước mua hàng hóa của các nhà sản xuất, phân phối nước ngoài về tiêuthụ tại thị trường nội địa nước mình, nhằm phục vụ những nhu cầu về sản xuất,tiêu dùng hoặc tái sản xuất mà nền sản xuất trong nước không đáp ứng đượchoặc đáp ứng chưa tốt nhu cầu đó Trên cơ sở đó, tìm kiếm lợi nhuận cho mình.Hoạt động nhập khẩu thể hiện mối liên hệ phụ thuộc, sự ràng buộc của nền kinh

tế một nước với nền kinh tế thế giới

Như vậy, có thể nói rằng nhập khẩu là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ từcác nhà sản xuất, cung ứng nước ngoài về phục vụ các nhu cầu trong nước Điềunày góp phần làm cho chủng loại hàng hóa trên thị trường nội địa trở nên phongphú và đa dạng, người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn nhiều loại hàng hóa hơn chonhu cầu của mình

2 Đặc điểm cơ bản và vai trò của hoạt động nhập khẩu

Trang 2

2.1 Đặc điểm cơ bản của hoạt động nhập khẩu

Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế, nó mang những đặctrưng rất riêng so với kinh doanh nội địa Những đặc điểm riêng này có tác động

và ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.Các đặc điểm có thể kể đến như:

Về thị trường, các nhà nhập khẩu hoàn toàn có thể lựa chọn được cho

mình nhà cung cấp nước ngoài một cách hợp lý nhất Bất cứ quốc gia nào có thểcung cấp sản phẩm, hàng hóa đều có thể trở thành thị trường cho các nhà nhậpkhẩu hàng hóa Mỗi quốc gia đều có những lợi thế so sánh tuyệt đối và tươngđối khác nhau, họ hoàn toàn có thể sản xuất những hàng hóa họ có lợi thế nhất,

từ đó cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh nhất.Các nhà nhập khẩu có nhiều cơ hội lựa chọn thị trường nhập khẩu cho mình.Trong một thị trường rộng lớn, phong phú và đa dạng như vậy, để chọn được thịtrường hiệu quả và hợp lý, các nhà nhập khẩu phải phân tích, so sánh để cóđược lựa chọn đúng đắn nhất Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu lợi nhuậnluôn được chú trọng Để đạt được mục tiêu đó, các nhà nhập khẩu cần cân nhắctới những lợi ích đạt được cũng như các chi phí bỏ ra khi kinh doanh trên mộtthị trường nhất định Các yếu tố liên quan thị trường thường được các nhà nhậpkhẩu xem xét bao gồm: hàng hóa thị trường cung ứng, chất lượng hàng hóa đó,nhu cầu thị trường với hàng hóa đó, chi phí vận chuyển, các quy định phápluật…

Về cách thức thanh toán, nhập khẩu cũng như hoạt động ngoại thương,

có rất nhiều phương thức thanh toán như: chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứngtừ… với nhiều công cụ thanh toán như: tiền mặt, séc, hối phiếu, kỳ phiếu…Trong thanh toán nhập khẩu, các bên thường quy định điều khoản thanh toán rất

cụ thể, tỷ mỉ Các loại ngoại tệ mạnh thường được sử dụng, điều đó cũng đồngnghĩa với việc nhà nhập khẩu phải chịu rủi ro rất lớn khi tỷ giá hối đoái biếnđộng lớn Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của mình không bị ảnh hưởng, đạt kếtquả cao, yêu cầu đối với các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu phải rất chú ý tới

Trang 3

điều khoản thanh toán Các yếu tố như: hình thức thanh toán, thời hạn thanhtoán, đồng tiền sử dụng để thanh toán, tỷ giá hối đoái… là các yếu tố buộc cácdoanh nghiệp phải rất chú trọng.

Về hệ thống pháp lý, hoạt động nhập khẩu chịu sự chi phối của nhiều hệ

thống pháp luật khác nhau Do chủ thể của hoạt động nhập khẩu đến từ các quốcgia khác nhau, nên hoạt động nhập khẩu chịu sự chi phối của luật nước ngườimua, luật nước người bán, luật quốc tế, các tập quán thương mại… Các nguồnluật này nhiều khi có sụ xung đột, mâu thuẫn nhau Điều này thường mang lạinhiều rủi ro cho các bên Yêu cầu đặt ra là mỗi doanh nghiệp tham gia hoạtđộng nhập khẩu phải lưu ý và nắm rõ điều này để lựa chọn được nguồn luật điềuchỉnh hợp đồng, tránh được các phát sinh không cần thiết

Xuất phát từ đặc điểm hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia mà hoạtđộng nhập khẩu mang những đặc điểm riêng nêu trên Những đặc điểm này mộtmặt mang lại cho các bên tham gia hoạt động nhập khẩu cả những cơ hội lớncũng như các rủi ro đáng kể

2.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu

Trước hết, nhập khẩu giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính phủ các

quốc gia có thể kiểm soát, điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các chính sáchnhập khẩu Đối với các nghành cần khuyến khích phát triển, chính phủ có thể ápdụng các biện pháp, chính sách nhập khẩu nhiều ưu đãi với những mặt hàngphục vụ nghành đó Đồng thời với những sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sảnphẩm nghành đó sản xuất ra, chính phủ có thể áp dụng biện pháp hạn chế nhậpkhẩu, các biện pháp bảo hộ Mặt khác, với những quốc gia đang hoặc kém pháttriển, họ ít có điều kiện nghiên cứu phát triển và triển khai công nghệ mới, hiệnđại Thông qua hoạt động nhập khẩu, họ có thể có được những công nghệ mới,hiện đại, phục vụ nền sản xuất trong nước, làm gia tăng năng suất cũng như khảnăng cạnh tranh cho nền kinh tế quốc gia đó Đồng thời cũng có thể đáp ứngđược nhu cầu cho thị trường trong nước, qua đó làm giảm sự lệ thuộc vào cácnước khác

Trang 4

Thứ hai, nhập khẩu góp phần làm nền kinh tế quốc gia phát triển ổn định,

cân đối Mỗi quốc gia, dù giàu có và phát triển đến đâu cũng không thể tự sảnxuất và đáp ứng tất cả các nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phúcủa mình Như đã nói, mỗi đất nước có một lợi thế so sánh riêng Để đạt hiệuquả cao nhất, họ chỉ tập trung vào sản xuất những mặt hàng họ có lợi thế đó,mang những sản phẩm đó đi trao đổi để đáp ứng các nhu cầu khác nữa Hoạtđộng nhập khẩu là một mặt của sự trao đổi đó Nó giúp cho các nền kinh tế cóđược sự cân đối giữa các chủng loại sản phẩm họ có thể sản xuất và không thểsản xuất nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhập khẩu giúp

bổ sung một cách hợp lý những thiếu hụt của nền kinh tế quốc gia Với vai trònày, nhập khẩu thực sự trở thành một hoạt động không thể thiếu với nền kinh tếcác quốc gia Nó đảm bảo cho các quốc gia có thể phát triển một cách cân đối,

ổn định, vững bền

Thứ ba, nhập khẩu giúp cải thiện và nâng cao chất lượng sống của người

dân Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, nhu cầu người tiêu dùngngày càng lớn, đa dạng và phong phú Những sản phẩm sản xuất trong nướcnhiều khi không thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhập khẩu giúp

bổ sung đáp ứng các nhu cầu cao đó Mặt khác, nhập khẩu làm cho chủng loạihàng hóa trở nên phong phú, đa dạng hơn Cùng một chi phí, để đáp ứng cùngmột nhu cầu, người tiêu dùng có thể lựa chọn hàng hóa có xuất sứ từ nhiều quốcgia khác nhau Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu còn đảm bảo cung cấp cácyếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất khi nguồn nguyên vật liệu trong nướckhan hiếm không đáp ứng đủ nhu cầu Trên cơ sở đó, nhiều hoạt động sản xuấtđược duy trì và mở rộng, tạo điều kiện tạo ra nhiều việc làm và thu nhập chonền kinh tế nói chung

Thứ tư, nhờ nhập khẩu, chất lượng sản xuất nền kinh tế quốc gia được

cải thiện Khi các sản phẩm nhập khẩu được đưa vào tiêu thụ trên thị trường nộiđịa, các sản phẩm sản xuất trong nước có thể vì thế mà mất thị trường Để cạnhtranh, yêu cầu đặt ra với các nhà sản xuất trong nước là phải tìm cách để nâng

Trang 5

cao chất lượng sản phẩm, cắt giảm chi phí Chính áp lực cạnh tranh với hànghóa nhập khẩu đã buộc các công ty nội địa cải tiến quy trình, công nghệ, cungcách làm việc của mình để sản xuất được những sản phẩm có thể cạnh tranh.Điều này góp phần làm thay đổi năng lực sản xuất của các công ty, của mộtnghành, từ đó làm thay đổi năng lực sản xuất của cả nền kinh tế.

Thứ năm, nhập khẩu có tác động tích cực, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.

Hoạt động nhập khẩu một mặt đảm bảo các yếu tố đầu vào sản xuất cho một sốnghành, một mặt làm thay đổi công nghệ, quy trình sản xuất Điều đó cho phépchúng ta sản xuất ra được những sản phẩm đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn kỹthuật của họ, là bước khởi đầu cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra thị trườngnước ngoài Ngoài ra, trong nhiều chương trình hợp tác giữa các chính phủ, các

tổ chức nhà nước, khi chúng ta chấp nhận nhập khẩu hàng hóa của họ, họ cũng

sẽ chấp nhận nhập khẩu hàng hóa khác của ta Khi đó, hoạt động nhập khẩucũng đã góp phần thúc đẩy và tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu

3 Các hình thức nhập khẩu

Trong ngoại thương, các phương thức giao dịch mua bán hàng hóa kháphong phú và đa dạng Cùng với đó, hoạt động nhập khẩu cũng có khá nhiềuhình thức Khi tham gia kinh doanh nhập khẩu, tùy thuộc vào năng lực tài chínhcủa doanh nghiệp, vào chủng loại và đặc tính hàng hóa, vào quan hệ giữa cácbên mà nhà nhập khẩu có thể lựa chọn cho mình các hình thức nhập khẩu phùhợp và đạt hiệu quả Hiện nay, các hình thức nhập khẩu có thể kể đến bao gồm:nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu ủy thác,nhập khẩu hàng đổi hàng, nhập khẩu giacông, nhập khẩu liên doanh

Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà hai bên mua và bán trực

tiếp giao dịch với nhau, hàng hóa được nhà nhập khẩu mua trực tiếp từ nhà sảnxuất, cung ứng nước ngoài mà không qua trung gian Theo đó, bên xuất khẩutrực tiếp giao hàng cho bên nhập khẩu Nhà nhập khẩu sẽ tự bỏ vốn để kinhdoanh nhập khẩu, tự thực hiện các công việc như tìm đối tác, đàm phán, ký kếthợp đồng, tự tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu, tự chịu chi phí cho giao dịch,

Trang 6

nghiên cứu thị trường, giao nhận, lưu kho… Theo hình thức này, các doanhnghiệp nhập khẩu phải chịu trách nhiệm với các hoạt động của mình Nhập khẩutrực tiếp chứa đựng độ rủi ro cao hơn các hình thức nhập khẩu khác nhưngmang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các nhà nhập khẩu.

Nhập khẩu ủy thác hay còn gọi là nhập khẩu qua trung gian, là hình thức

nhập khẩu qua trung gian thương mại Theo hình thức này, bên nhập khẩu sẽ ủythác cho một trung gian thương mại, trung gian này sẽ liên hệ với nhà xuấtkhẩu, thực hiện các nghiệp vụ nhập khẩu hàng hóa thông thường để nhập hàng

về theo hợp đồng ủy thác với nhà nhập khẩu thực sự Khi hoàn thành hợp đồng,nhà nhập khẩu sẽ phải trả cho trung gian một khoản tiền gọi là phí ủy thác.Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nhận ủy thác sẽ không phải bỏ vốn, khôngphải xin hạn nghạch, không cần quan tâm tới thị trường tiêu thụ hàng hóa nhập

về đó mà chỉ hoạt động theo ý nghĩa đại diện cho bên đã ủy thác cho mình tiếnhành các giao dịch với nhà xuất khẩu như: đàm phán, ký hợp đồng, thông quanhàng nhập, giải quyết khiếu nại, đòi bồi thường khi có tổn thất… Doanh nghiệpkinh doanh nhập khẩu ủy thác không phải bỏ vốn, rủi ro thấp nhưng lợi nhuậnkhông cao Doanh thu chủ yếu là phí ủy thác nhận được từ nhà nhập khẩu chínhthức

Nhập khẩu hàng đổi hàng là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu.

Thanh toán cho hoạt động này không dùng tiền mà dùng hàng hóa Hình thứcnhập khẩu này thực chất là sự thực hiện hai nghiệp vụ khác nhau: xuất và nhậpkhẩu Theo hình thức này, khi doanh nghiệp nhập khẩu một lượng hàng hóa củađối tác nước ngoài, đi kèm với việc xuất khấu cho họ một lượng hàng hóa kháctương ứng với giá trị, tính chất lô hàng đã nhập Theo hình thức này, các bêntham gia hợp đồng vừa là người nhập khẩu, vừa là người xuất khẩu Họ có thểtìm kiếm được lợi nhuận từ việc kinh doanh hàng nhập khẩu, đồng thời lại tiêuthụ được hàng hóa khác của mình

Trang 7

Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu mà bên nhập khẩu cũng là

bên nhận gia công thực hiện nhập khẩu nguyên vật liệu hay bán thành phẩm từbên đặt gia công để tiến hành gia công hàng hóa theo hợp đồng gia công

Nhập khẩu liên doanh là hình thức nhập khẩu trên cơ sở một liên kết

kinh tế Liên kết này được hình thành một cách tự nguyện giữa các doanhnghiệp, trong đó có ít nhất một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp.Liên kết kinh tế này cùng phối hợp các kỹ năng để giao dịch, đưa ra biện pháp,chính sách, đường lối để hoạt động nhập khẩu có lợi nhất cho tất cả các bêntham gia liên kết Hình thức này chứa đựng ít rủi ro hơn so với hình thức nhậpkhẩu trực tiếp, vì có sự chia sẻ nghĩa vụ cho các bên tham gia liên kết, nhưngđồng thời mức lợi nhuận cũng thấp hơn do có sự chia sẻ lợi ích

II HQKD NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

1 Khái niệm HQKD, HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp

1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tham gia vào hoạt động kinh tế, nói chung bất cứ đơn vị nào cũng hướngtới mục tiêu lợi nhuận Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng các doanhnghiệp theo đuổi Với một đồng vốn bỏ vào kinh doanh, ai cũng muốn nó manglại nhiều đồng lợi nhuận nhất Muốn đạt được điều đó, các doanh nghiệp khôngngừng đầu tư cho nghiên cứu thị trường, thay đổi quy trình, công nghệ, cải tiếnsản phẩm, cắt giảm chi phí sản xuất, cũng như các chi phí liên quan… Tất cảnhững điều đó, nói một cách khác là sự sắp xếp, hợp lý hóa quá trình sản xuấtkinh doanh “Hiệu quả kinh doanh” là một thuật ngữ để đánh giá, xem xét mứ

độ hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Dưới nhiều góc độ khác nhau, có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuậtngữ “hiệu quả kinh doanh” này Có thể kể đến một số quan điểm sau đây:

Quan điểm thứ nhất cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được

trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”1 Quan điểm đã thể

1 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập

2, trang 318.

Trang 8

hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và hiệu quả kinh doanh Theo quan điểmnày, hiệu quả kinh doanh là như nhau nếu các hoạt động kinh doanh cùng manglại một mức doanh thu Có thể thấy, trên thực tế để mang lại cùng một mứcdoanh thu nhưng doanh nghiệp phải có sự đầu tư khác nhau cho các hoạt độngkhác nhau Mức đầu tư đó chính là chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt đượcdoanh thu Chưa phản ánh được điều này chính là hạn chế của quan điểm trên

về hiệu quả kinh doanh

Quan điểm thứ hai cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa

phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”2 So với quan điểmthứ nhất, quan điểm này đã thể hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí

Nó phản ánh được trình độ sử dụng đồng vốn tăng thêm của doanh nghiệp, trên

cơ sở đó giúp doanh nghiệp ra quyết định có nên đầu tư mở rộng hoạt động đóhay không Mặc dù vậy, quan điểm này vẫn còn hạn chế nhất định, đó là việc nómới chỉ phản ánh mối liên hệ giữa chi phí và doanh thu bổ sung mà chưa phảnánh được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí ban đầu Mà trên thực tế, banđầu doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu tư tới một ngưỡng nhất định mới có thể códoanh thu bước đầu Với những đầu tư ban đầu, quan điểm về hiệu quả kinhdoanh ở trên chưa phản ánh được trình sử dụng chúng

Quan điểm thứ ba cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so

sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó”3 Quan điểmnày đã phản ánh được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để có kết quả

đó Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh chính là lợi nhuận thu được từhoạt động đó So với hai quan điểm trên, quan điểm này đã phản ánh được mốiquan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh Quan điểm này cho thấy, với nhữnghoạt động khác nhau, với cùng một lượng vốn bỏ ra mà thu về cùng một lượnggiá trị thì các hoạt động kinh doanh đó đã có hiệu quả như nhau Nhưng trênthực tế, điều này là không chính xác Quan điểm về hiệu quả kinh doanh này

2 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập

2, trang 318

3 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập

2, trang 318

Trang 9

chưa thể hiện được vai trò của các yếu tố khác như thời gian thu được kết quả,quy mô hoạt động… Đây cũng chính là hạn chế của quan điểm này.

Quan điểm thứ tư cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản

ánh mối liên hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí bỏ ra

để đạt kết quả đó, đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sảnxuất”4 Về cơ bản, quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chất vềhiệu quả kinh doanh giữa doanh thu và chi phí cũng như sự vận động của haiyếu tố này, đồng thời còn phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực củadoanh nghiệp Tuy vậy, hạn chế của nó là chưa thể hiện được mối quan hệ chặtchẽ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội

Với bốn quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh, chúng ta vẫn chưa tìmđược đáp án chung và chính xác nhất để nói về hiệu quả kinh doanh Một cách

tổng quát, có thể nói rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản

ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất”5 Nó là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chấtgiữa việc sử dụng các nguồn lực và kết quả do nó mang lại, đồng thời cũng thểhiện được trình độ sử dụng các nguồn lực cũng như phản ánh được mối liên hệgiữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội Trêngóc độ nền kinh tế quốc gia, hiệu quả kinh doanh phải phản ánh mức độ thỏamãn nhu cầu ngày càng cao của người dân và toàn xã hội về cả chất lượng lẫn

số lượng Hiệu quả được xem xét trên cơ sở lợi ích toàn xã hội, làm sao để đạtđược mức phát triển lớn nhất với nguồn lực xã hội thấp nhất

1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp

Về cơ bản, dưới góc độ kinh tế đơn thuần hiệu quả kinh doanh nhập khẩucũng như hiệu quả kinh doanh nói chung Có thể nói rằng hiệu quả kinh doanh

4 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập

2, trang 319

5 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập

2, trang 319

Trang 10

nhập khẩu của doanh nghiệp chính là trình độ sử dụng các nguồn lực để nhậpkhẩu và trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêukinh tế xã hội ở mức cao nhất với chi phí nhất định trong quá trình nhập khẩu.Như đã nói ở trên, hoạt động nhập khẩu thường sử dụng ngoại tệ để nhập khẩuvật tư, thiết bị hay hàng hóa, góp phần cân đối nền kinh tế Với đặc điểmnày,hiệu quả hoạt động nhập khẩu đã phản ánh cả hiệu quả kinh tế xã hội Hoạtđộng nhập khẩu lúc này đã tạo động lực phat triển kinh tế xã hội.

Với doanh nghiệp, hoạt động nhập khẩu đạt hiệu quả khi kết quả thu về làlớn nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất Đồng thời, hiệu quả kinh doanh nhập khẩucòn thể hiện trình độ cũng như khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có phục vụcho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đó

Trên giác độ toàn xã hội, hoạt động nhập khẩu chỉ đạt được hiệu quả khikết quả thu về từ việc nhập khẩu hàng hóa của nhà cung cấp nước ngoài cao hơnkết quả thu được nếu tiến hành sản xuất hàng hóa đó trong nước nói cách khác,hoạt động nhập khẩu đạt hiệu quả khi nó góp phần nâng cao hiệu quả xã hội,làm tăng chất lượng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm

Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một phạm trù phức tạp, nó chịu tácdụng của nhiều yếu tố và bao hàm nhiều nội dung hơn Hoạt động nhập khẩu cóhiệu quả phải đồng thời mang lại lợi ích cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động

và đảm bảo mang lại những lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội

2 Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp

Dười nhiều góc độ khac nhau, dựa vào các căn cứ khác nhau người ta cónhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Dưới đây là một số cáchphân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp

2.1 Căn cứ theo phương pháp tính hiệu quả

Theo căn cứ này, bao gồm hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối

2.1.1 Hiệu quả tuyệt đối

Trang 11

Hiệu quả tuyệt đối là đại lượng thể hiện sự chênh lệch giữa kết quả thuđược và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó đối với mỗi phương án kinh doanh,trong từng thời kỳ với từng doanh nghiệp khác nhau Hiệu quả tuyệt đối đượcthể hiện qua tương quan chênh lệch của kết quả và chi phí, nói cách khác đó là

sự chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Có thể hiểu hiệu quả tuyệtđối qua công thức tính sau:

E = KQ – CF (*)

Trong đó:

- E: hiệu quả tuyệt đối, là chỉ tiêu trực tiếp đo lượng lợi nhuận doanhnghiệp thu được sau mỗi kỳ kinh doanh Hiệu quả tuyệt đối thường được đobằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD…

- KQ: Tổng các kết quả thu được bao gồm: doanh thu từ hoạt động bánhàng, doanh thu từ hoạt động tài chính, các khoản thu khác… Kết quả thườngđược đo bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD…

- CF: Tổng các chi phí bỏ ra để thu được kết quả trên bao gồm: tiền nhậphàng từ nước ngoài về, chi phí vận chuyển, chi phí mua bảo hiểm hàng hóa, chiphí lưu kho, bảo quản hàng, chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí mua ngoài, tiềnlương công nhân viên… Chi phí thường được đo bằng các đơn vị tiền tệ như:triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD…

Cần lưu ý rằng, trong kinh doanh, doanh thu và chi phí có thể được đolường bằng các đơn vị tiền tệ khác nhau, nhưng khi tính hiệu quả tuyệt đối cầnđưa về cùng một đơn vị tiền để tính Khi kết quả và chi phí được đo bằng đồngtiền nào để tính thì hiệu quả cũng được tính bằng được tính bằng đồng tiền đó

2.1.2 Hiệu quả tương đối

Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sảnxuất của doanh nghiệp Với CF và KQ như trong công thức (*) ở trên, ta có 2cách tính hiệu quả tương đối với các ý ngĩa khác nhau:

Chỉ tiêu 1:

H1 =

Trang 12

Về mặt ý nghĩa chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ mang lạibao nhiêu đồng kết quả Điều này cũng có nghĩa rằng chỉ tiêu này phản ánh hiệuquả kinh doanh, đồng thời thể hiện sức sản xuất của các yếu tố đầu vào, cũngnhư việc sử dụng vốn của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả khi doanh nghiệp đóhoạt động có lãi Nói cách khác, ít nhất doanh nghiệp đó phải đảm bảo đượcdoanh thu đủ bù đắp chi phí Về mặt toán học, điều đó có nghĩa là kết quả doanhnghiệp đạt được phải hớn hơn chi phí bỏ ra (hay KQ > CF) Vì vậy, một doanhnghiệp được coi là hoạt động hiệu quả khi chỉ tiêu H1 nêu trên có giá trị lớn hơn

1 Chỉ tiêu này càng cao thể hiện doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả vàngược lại

Chỉ tiêu 2:

H2 =

Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này là chỉ tiêu phản ánh ngược của chỉ tiêu trên.Chỉ tiêu này cho biết để thu được về một đồng kết quả, doanh nghiệp phải bỏ rabao nhiêu đồng chi phí Với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất kinh doanhhợp lý, thì một đồng vốn bỏ vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra nhiều đồng kếtquả hơn so với các doanh nghiệp khác.Ngược lại với chỉ tiêu trên, chỉ tiêu nàycàng thấp thể hiện hiệu quả kinh doanh, sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao

và ngược lại

Dưới góc độ toán học, khi giá trị của H2 nhỏ hơn 1 cho thấy chi phídoanh nghiệp bỏ ra ít hơn kết quả thu về (có nghĩa là CF < KQ), cũng có nghĩadoanh nghiệp hoạt động hiệu quả

2.2 Căn cứ theo phạm vi tính hiệu quả

Theo phạm vi, hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh doanh tổnghợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận

2.2.1 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Trang 13

Là hiệu quả kinh doanh tính chung cho toàn doanh nghiệp , cho tất cả các

bộ phận trong doanh nghiệp Nó cho biết kết quả thực hiện các mục tiêu doanhnghiệp đề ra trong một giai đoạn nhất định

2.2.2 Hiệu quả kinh doanh bộ phận

Là hiệu quả kinh doanh được tính cho từng bộ phận, từng hoạt động kinhdoanh trong doanh nghiệp, hoặc với từng yếu tố sản xuất của doanh nghiệp nhưvốn, lao động… Hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả từng hoạtđộng, từng yếu tố riêng lẻ chứ không phản ánh được hết hiệu quả của toàndoanh nghiệp

Giữa hiệu quả kinh doanh bộ phận và hiệu quả kinh doanh tổng hợp cómối liên hệ mật thiết Hiệu quả kinh doanh tổng hợp tăng có thể phản ánh sựtăng lên tương ứng của hiệu quả kinh doanh bộ phận, cũng có thể hiệu quả kinhdoanh bộ phận không đổi hoặc đang giảm sút Mặc dù phản ánh chi tiết vàchính xác hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất riêng biệt cũng như sự đóng gópcủa chúng, nhưng chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận không phản ánh đượcmột cách tổng quát khả năng, trình độ sử dụng nguồn lực vào sản xuất kinhdoanh cũng như hiệu quả kinh doanh toàn doanh nghiệp

2.3 Căn cứ theo thời gian mang lại hiệu quả

Khi tính toán hiệu quả, ngoài phạm vi tính toán thì giới hạn thời gian làmột yếu tố quan trọng phản ánh chính xác hiệu quả doanh nghiệp đạt được.Theo căn cứ thời gian này, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm hiệu quảtrước mắt và lâu dài

2.3.1 Hiệu quả kinh doanh trước mắt

Hiệu quả kinh doanh trước mắt là hiệu quả được đánh giá, xem xét trongkhoảng thời gian ngắn trước mắt Kết quả được xem xét là kết quả mang tínhtạm thời Để có thể phát triển ổn định, bền vững, để đạt được các mục tiêu trướcmắt cũng như các mục tiêu trong chiến lược phát triển lâu dài, các nhà quản trị

Trang 14

ngoài việc tính toán để đạt các mục tiêu trước mắt còn phải cân nhắc để đảmbảo hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp mình.

2.3.2 Hiệu quả kinh doanh lâu dài

Hiệu quả kinh doanh lâu dài là hiệu quả được xem xét trong một phạm vithời gian khá dài, thường gắn với các chiến lược, kế hoạch phát triển bền vữngcủa doanh nghiệp Không thể lấy hiệu quả ngắn hạn để phản ánh hiệu quả lâudài, bởi vì trên thực tế, tình hình thị trường cũng như môi trường kinh doanhluôn biến động, thay đổi Không phải giai đoạn kinh doanh nào cũng như nhau.Với lí do này, hiệu quả kinh doanh lâu dài sẽ phản ánh chính xác và đầy đủ hơnhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động

2.4 Căn cứ theo giác độ đánh giá hiệu quả

Theo căn cứ này, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm hiệu quảtài chính và hiệu quả kinh tế xã hội

2.4.1 Hiệu quả tài chính

Hiệu quả tài chính cũng chính là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, đây là hiệu quả được xem xét, phân tích dưới góc độ doanh nghiệp Vớihoạt động nhập khẩu, hiệu quả tài chính chính là mối liên hệ giữa các lợi ích

mà doanh nghiệp nhận được từ hoạt động nhập khẩu đó và chi phí doanh nghiệp

bỏ ra Đối với doanh nghiệp, tiêu chuẩn phản ánh hiệu quả tài chính chính là lợinhuận Đây cũng chính là mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp hướng tới,cũng là mối quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp nói chung

2.4.2 Hiệu quả chính trị - xã hội

Hiệu quả chính trị - xã hội là hiệu quả được xem xét dưới góc độ xã hội

Đó chính là lợi ích mà hoạt động kinh doanh mang lại cho xã hội, là sự đónggóp vào việc phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân Các lợi ích

mà hoạt động nhập khẩu có thể mang lại cho xã hội như: góp phần phát triểnsản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tạo việc làm, thúc đẩyxuất khẩu, cải thiện điều kiện sống cho nhân dân, tích lũy ngoại tệ, tăng thu chongân sách nhà nước…

Trang 15

Giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả chính trị - xã hội là mối liên hệ gắn

bó Trên thực tế nhiều doanh nghiệp vì theo đuổi mục tiêu hiệu quả tài chính

mà bỏ quên hiệu quả chính trị - xã hội Họ sẵn sàng cắt giảm chi phí bằng cách

bỏ qua việc xử lý các hậu quả do hoạt động sản xuất gây nên như ô nhiễm môitrường, ô nhiễm nguồn nước…

3 Các chỉ tiêu phản ánh HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp

3.1 Các chỉ tiêu tổng hợp

3.1.1 Lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế mang tính tổng hợp, phản ánh toàn

bộ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

(1) Lợi nhuận được tính theo công thức sau:

LNNK = DTNK – CFNK

Trong đó:

LNNK: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

DTNK: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu, thường là doanhthu tiêu thụ sản phẩm trong mỗi kỳ kinh doanh

CFNK: Chi phí cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu, được tính bằngtổng của các khoản chi phí như: giá mua hàng hóa, các chi phí vận chuyển, bảohiểm, lưu kho, bảo quản, chi phí trả lương nhân viên, các khoản thuế phải nộp,các tổn thất khác trong kỳ liên quan hoạt động nhập khẩu

LNNK, DTNK, CFNK được tính bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng,

tỷ đồng, triệu USD, tỷ USD… Dù DTNK, CFNK được đo lường bằng các đơn

vị tiền tệ khác nhau, nhưng khi tính toán LNNK đạt được, cần chú ý đưa vềcùng một đơn vị tính, một loại tiền Khi đó, lợi nhuận được tính bằng đồng tiềnchung quy về đó

Trong kinh doanh, lợi nhuận các doanh nghiệp thu được sau mỗi kỳ kinhdoanh là rất khác nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Lợi nhuận có thể manggiá dương, nhưng cũng có thể mang giá trị âm Khi nó dương, điều đó có nghĩa

là doanh nghiệp hoạt động có lãi, có hiệu quả Khi lợi nhuận mang trị số âm,

Trang 16

điều đó thể hiện doanh nghiệp đang thua lỗ, hoạt động không đạt hiệu quả, nếuduy trì tình trạng này trong thời gian dài, có thể sẽ dẫn doanh nghiệp đến phásản.

Về mặt ý nghĩa, lợi nhuận là cơ sở để doanh nghiệp duy trì hoạt động,đồng thời tái sản xuất kinh doanh Lợi nhuận càng lớn, tiềm lực tài chính củadoanh nghiệp càng tăng, nó cũng chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp ngày càng đạt hiệu quả cao Đây là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy

mô hoạt động, tạo điều kiện cải thiện đời sống người lao động Lợi nhuận, tối đahóa lợi nhuận cũng là mục tiêu cuối cùng các doanh nghiệp hướng tới

Mặc dù là chỉ tiêu quan trọng nhưng lợi nhuận lại không phản ánh đượchết hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Lợi nhuận chỉphản ánh sự chênh lệch về lượng giữa doanh thu và chi phí hoạt động kinhdoanh nhập khẩu mà không phản ánh được quá trình sinh ra nó Do đó, để đánhgiá chính xác và hiệu quả, người ta thường so sánh lợi nhuận với doanh thu, chiphí và nguồn vốn phục vụ hoạt động nhập khẩu

3.1.2 Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu

(2) Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu

Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối liên hệ giữa lợi nhuận đạt được và doanh thu thu về

Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức sau:

Ddt= LNNK DTNK x 100 %

Ngày đăng: 20/10/2013, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w