Những loài cây gỗ quý hiếm điển hình như: Trầm hương Aquilaria crassna, Sến mật Madhuca pasquiari, Trắc Dalbergia cochinchinensis, Gụ lau Sindora tonkinensis, Kiền kiền Hope
Trang 1CHI CỤC KIỂM LÂM QUẢNG NAM
KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH SAO LA
Trang 2TÓM TẮT
Năm 1992, loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) được phát hiện lần đầu ở vùng
rừng Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh, thuộc khu vực Trung Bộ, Việt Nam) Từ đó, các cuộcđiều tra nghiên cứu đã được tiến hành dưới dạng các đề tài và chương trình khác nhauthuộc sự quản lý của Nhà nước và các Tổ chức bảo tồn (NGOs) trong nước cũng nhưquốc tế Cho đến nay những kết quả điều tra nghiên cứu đó cũng đã cho thấy các quầnthể Sao la được tìm thấy trong các vùng phân bố khác nhau đã và đang bị suy giảmnhanh chóng (Chi cục kiểm lâm Quảng Nam - Đà Nẵng 1996; Dawson S 1994; ĐặngCông Oanh 2004; Hoàng Ngọc Khanh 2007; Vũ Văn Dung et al 1995; Wilkinson, N
et al 2007; Robichaud, W.G 2004; Nguyễn Xuân Đặng et al 2007 v.v.), và đang bị đedọa ở mức độ báo động: Xếp hạng EN (Sách đỏ Việt Nam 2007) và CR (Danh lục đỏIUCN 2010) Các khu vực phân bố của chúng còn lại hiện nay ở Việt Nam hầu nhưchỉ còn được khẳng định ở các tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, thuộc khu vựcTrung Trường Sơn Trên cơ sở đó, tại tỉnh Quảng Nam đã đề xuất thành lập Khu bảotồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam (diện tích 15.800 ha), nằm phía Tây bắc của
tỉnh (Bản đồ 1, Phần Phụ lục) thuộc địa phận 04 xã của 02 huyện Tây Giang và Đông
Giang Đề xuất chủ yếu dựa trên tinh thần Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng và Nghị định117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức quản lý rừng đặc dụng,trong đó có tham khảo Quyết định 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướngChính phủ về phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ViệtNam đến năm 2010, hệ thống phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên của IUCN (IUCN1994) Khu bảo tồn được thành lập còn là nơi phân bố các loài động thực vật quýhiếm, đặc hữu, bị đe dọa cao; trong đó, có cả 01 loài mới là Mang Trường Sơn
(Muntiacus truongsonensis), các loài khác như: Trĩ sao (Rheinartia ocellata), Rùa
vàng (Cuora trifasciata), và một số loài thực vật như Kiền kiền (Hopea pierrei), Huỷnh (Tarrietia sp), Giổi (Tsoongiodendron sp.) v.v (Chi tiết tại Phụ lục 5, 6, 7, 8,
9)
Vùng cư trú của Sao la ở tỉnh Quảng Nam thuộc hệ sinh thái rừng trên đai địahình núi thấp Trung Bộ, là nơi có tính đa dạng sinh học cao và thường xuyên bị đedọa, cần được ưu tiên bảo tồn Các đe dọa lên khu bảo tồn đã xác định chủ yếu là sănbắt động vật và chặt gỗ trái phép, khai thác sử dụng tài nguyên rừng ngoài gỗ khôngbền vững, xâm lấn đất rừng và các áp lực khác kể cả việc đi lại tiếp cận rừng khu bảotồn khá khó khăn, nhất là đối với lực lượng bảo vệ Ban quản lý Khu bảo tồn đượcthành lập theo Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh QuảngNam và đề án thành lập Khu bảo tồn mới được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định
Trang 3số 2265/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 Do vậy, còn nhiều khó khăn trong quản lý, bảovệ thể hiện trong việc xác định ranh giới; hạn chế về thực thi luật, năng lực của cánbộ, lực lượng bảo vệ rừng, Kiểm lâm; thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và vật tư trang bị.v.v Nhiều áp lực về phía cộng đồng do xung quanh khu bảo tồn đa số là đồng bàocác dân tộc thiểu số, ít hiểu biết về bảo tồn, mức sống thấp, chủ yếu phụ thuộc việckhai thác các nguồn tài nguyên rừng v.v
Dựa trên cách tiếp cận mang tính chiến lược về bảo vệ môi trường, bảo tồn thiênnhiên và đa dạng sinh học hiện nay, Kế hoạch quản lý nhằm mục đích chủ yếu là khôiphục, bảo vệ và bảo tồn loài Sao la đang bị đe dọa tuyệt chủng cùng với vùng cư trúcủa chúng Mục tiêu chủ yếu của KHQL cũng vì thế là (1) bảo tồn Sao la nhưng đồngthời cũng bao hàm mục tiêu (2) bảo vệ các loài động thực vật có giá trị bảo tồn quantrọng đối với thế giới sinh vật còn sống sót trong vùng Đồng thời (3) bảo vệ vùng đầunguồn của khu vực và (4) góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng, phát triển cácdịch vụ hệ sinh thái và cải thiện sinh kế cho người dân vùng đệm
Kế hoạch quản lý phản ảnh các mặt nhất định về công tác quản lý khu bảo tồn,trong đó có mô tả các mục tiêu, nội dung hoạt động quản lý cụ thể, và yêu cầu nguồnkinh phí v.v Nó bao gồm 3 phần chính: Phần 1 là mô tả về khu bảo tồn; Phần 2 gồmcác đánh giá và kết luận các hoạt động hiện hữu; Phần 3 mô tả các chương trình quảnlý kèm theo kinh phí đề xuất Đây là nội dung cơ bản của KHQL, thể hiện các hoạtđộng phục vụ công tác bảo tồn, khôi phục các nguồn tài nguyên, các hoạt động nghiêncứu khoa học, công tác giám sát, xây dựng và cũng cố cơ sở hạ tầng cũng như cungcấp vật tư trang thiết bị… Cùng với các chương trình quản lý nêu trên là phần đề xuấtkinh phí, lịch trình thực hiện cho thời kỳ 2012-2015 và định hướng đến năm 2020 Sau khi được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt, trong quá trình thực hiệnKHQL, Ban quản lý Khu bảo tồn nên coi đây là tài liệu hướng dẫn cho mọi hoạt độngcủa mình, nó cần được bổ sung hàng năm theo định kỳ cho phù hợp với tình hình thựctế
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam xin chân thànhcảm ơn Dự án CarBi thuộc Chương trình Việt Nam của WWF Great Mekong về sự hỗtrợ tài chính để chúng tôi thực hiện việc xây dựng bản kế hoạch quản lý giai đoạn2012-2015 và định hướng đến năm 2020 Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnhSao la Quảng Nam cũng gửi lời cảm ơn Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam, UBND huyệnĐông Giang và Tây Giang đã chỉ đạo góp ý, xây dựng và phê duyệt kế hoạch quản lýnày Đồng thời, Ban quản lý Khu bảo tồn cũng xin chân thành cám ơn lãnh đạo cácxã: Bhalêê, Avương huyện Tây Giang; Tà Lu và Sông Kôn huyện Đông Giang cũngnhư các UBND các xã và người dân địa phương sống ở vùng đệm của Khu bảo tồn vềsự hợp tác và cung cấp thông tin cần thiết cho việc biên soạn Kế hoạch quản lý nóitrên
Cuối cùng, Ban quản lý khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam xingửi lời cảm ơn tới các cán bộ của tổ chức WWF Việt Nam, các chuyên gia tư vấntrong và ngoài nước đặc biệt là các ông: Ronald Petocz, Nguyễn Cử, Văn NgọcThịnh, Nguyễn Quang Hòa Anh đã giúp đỡ chúng tôi trong việc thực hiện và hoànthành quá trình biên soạn kế hoạch quản lý này
Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam hy vọng rằngviệc hợp tác chặt chẽ giữa Ban quản lý KBT, Dự án CarBi cùng với chính quyền địaphương, các cơ quan hữu quan ở vùng đệm sẽ được tiếp tục để bản kế hoạch quản lýgiai đoạn 2012-2015 đã xây dựng đạt kết quả và thực hiện đúng theo kế hoạch đãvạch ra Đồng thời, các bên tham gia sẽ tiếp tục góp phần mình làm giảm thiểu cácmối đe dọa và phát triển kế hoạch bảo tồn loài Sao la và các giá trị đa dạng sinh họckhác trong vùng vào giai đoạn tiếp theo
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỘT
PHẦN HAI
2.3 Tình trạng quản lý và phát triển hiện nay 29
2.11 Hiện trạng về vấn đề xuyên biên giới (với Lào và nội địa) 34PHẦN BA
Trang 63.5 Chi tiết về kinh phí 52
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU PHỤ LỤC
Bản đồ 1: Vị trí khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam ở khu
vực Trung Trường sơn
114
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BirdLife International - Tổ chức bảo tồn chim quốc tế
BV & PT rừng - Bảo vệ và phát triển rừng
M&E programme - Chương trình giám sát và đánh giá
WWF Great Mekong - Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới
Chương trình tiểu vùng Mê Kông
Trang 8GIỚI THIỆU
Một trong những phát hiện lớn nhất làm chấn động các nhà sinh học trên thế giới
ở cuối thế kỷ thứ XX là vào năm 1992, lần đầu tiên loài Sao la (Pseudoryx
nghetinhensis) được tìm thấy ở vùng rừng Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam) Từ đó
đến nay, nhờ có sự quan tâm của Nhà nước và chính quyền các cấp, các tổ chức bảotồn, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tập trung nghiên cứu một số đặc tínhsinh thái, phân bố của Sao la và kết luận rằng đây là loài thú móng guốc đặc hữu củadãy Trường Sơn, chỉ có ở miền Trung Việt Nam và Lào Các kết quả điều tra nghiêncứu (Dickinson et al., 2006; Hoàng Ngọc Khanh, 2007; Wilkinson, N., 2007; WCS,
1999 v.v.) cũng chỉ ra rằng quần thể Sao la đang ngày càng bị đe dọa tuyệt chủng.Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã xếp Sao la vào phân hạng nguy cấp (EN), còn Sách ĐỏThế giới (IUCN, 2010) đã xếp loài này vào phân hạng cực kỳ nguy cấp (CR) Các nhàkhoa học cũng khuyến cáo rằng nếu như Việt Nam và Lào không có những chươngtrình hành động bảo tồn khẩn cấp thì Sao la có thể sẽ biến mất vĩnh viễn ngoài tựnhiên, dù cho các kế hoạch hành động bảo tồn Sao la đã sớm được thành lập như ởLào (Robichaud W., 1999)
Kết quả của quá trình nghiên cứu sau gần 20 năm của các nhà khoa học, các tổchức bảo tồn trong nước và thế giới cùng với những nỗ lực của chính quyền địaphương các cấp đã xác định được hai khu vực quan trọng được ưu tiên hàng đầu đểbảo tồn loài Sao la và đề xuất thành lập hai khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Khuvực thứ nhất là A Lưới - Nam Đông thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực thứ hai làTây Giang - Đông Giang thuộc tỉnh Quảng Nam Hai khu vực này nối liền với nhauvà liền kề với khu vực mở rộng có sự hiện diện của Sao la thuộc Vườn quốc gia BạchMã tạo thành một khu vực rộng lớn có thể đáp ứng yêu cầu bảo tồn loài và sinh cảnhvùng cư trú Sao la cũng như một số loài động thực vật quan trọng khác cần được bảovệ
Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam (gọi tắt là Khu bảotồn Sao la Quảng Nam) được thành lập theo Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày16/02/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam Khu bảo tồn nằm phía Tây Bắc của tỉnh,
trên địa phận hành chính 4 xã: Bhalêê, AVương (huyện Tây Giang), Tà Lu và Sông
Kôn (huyện Đông Giang) Đây là khu vực núi thấp có độ cao 600 - 1.440 m so vớimặt nước biển, là sinh cảnh hết sức quan trọng đối với Sao la Các kết quả điều trabước đầu của Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Điều tra Quy hoạchrừng (FIPI), Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (IEBR) và nhiều nhà khoa họctrong và ngoài nước cho thấy nơi đây là một trong các vùng phân bố của Sao la hiệnnay đồng thời còn là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao cần phải bảo tồn Các kếtquả điều tra nghiên cứu đã cho thấy khu vực đề xuất xây dựng khu bảo tồn Sao lathuộc tỉnh Quảng Nam còn là nơi phân bố của nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc
hữu khác như loài mới - Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), Trĩ sao
Trang 9Huỷnh (Tarrietia sp), Giổi (Tsoongiodendron sp.) và là nơi bảo vệ các hệ sinh thái
rừng phân bố trên đai địa hình núi thấp còn lại ở vùng Trung Trường Sơn thuộc địa
bàn tỉnh.
Do đặc điểm địa hình và sự phong phú về đa dạng sinh học, khu vực này đã trởthành mục tiêu của tình trạng khai thác gỗ, săn bắt động vật và khai thác tài nguyênngoài gỗ của người dân trong vùng cũng như từ các nơi khác đến; tình trạng lấn đấtrừng làm nương rẫy và một số áp lực khác đã diễn ra hết sức phức tạp làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến tài nguyên rừng, gây tổn thất đa dạng sinh học và đe dọa trực tiếpđến nơi sống của Sao la và các loài cần bảo tồn quan trọng khác
Với những đặc điểm đó, việc thành lập Khu bảo tồn Sao la ở khu vực này là rấtcần thiết Được sự đồng ý của UBND tỉnh Quảng Nam với sự hỗ trợ về tài chính và
kỹ thuật của Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF Great Mekong), Chi cục Kiểmlâm Quảng Nam đã phối hợp với Trung tâm Tài nguyên và Môi trường lâm nghiệp -Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Bộ NN&PTNT tiến hành khảo sát xây dựng dự ánthành lập Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam Ngày 13/7/2012 UBND tỉnh Quảng Namđã ban hành Quyết định số 2265/QĐ-UBND về phê duyệt đề án thành lập Khu bảotồn loài và sinh cảnh Sao la Thực tế cho thấy nếu không có sự hỗ trợ, đồng hành củachính quyền các cấp và sự nỗ lực của Ban quản lý Khu bảo tồn thì việc thực hiệnđược các mục tiêu xây dựng Khu bảo tồn đã đề ra là không khả thi
Bên cạnh Kế hoạch xây dựng khu bảo tồn, được sự trợ giúp của Dự án CarBithuộc Tổ chức WWF Greater Mekong, Kế hoạch quản lý Khu bảo tồn Sao la QuảngNam giai đoạn 2012 – 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được Ban quản lý Khubảo tồn soạn thảo Kế hoạch quản lý nhằm mục đích chính là bảo tồn và phát triểnloài Sao la, các hệ sinh thái cũng như sinh cảnh vùng cư trú thích hợp của chúng bêncạnh các loài thực vật và động vật có giá trị bảo tồn khác cùng với các nguồn gen quý,hiếm còn lại trong khu bảo tồn Các mục tiêu quản lý (xem chi tiết tại Phần 2, Mục2.2), ngoài mục tiêu chính đã nêu, các mục tiêu khác được thể hiện về mặt bảo vệvùng đầu nguồn của khu vực các sông suối; Khu bảo tồn hỗ trợ các cộng đồng địaphương nâng cao nhận thức về bảo tồn, tham gia các hoạt động bảo vệ, dịch vụ hệsinh thái và quản lý khu bảo tồn, góp phần cải thiện đời sống vật chất, văn hóa và tinhthần, từng bước làm giảm thiểu các đe dọa và áp lực lên Khu bảo tồn Kế hoạch quảnlý, gồm 3 phần chính: Phần 1 mô tả các đặc điểm của Khu bảo tồn; Phần 2 gồm cácđánh giá và kết luận các hoạt động hiện hữu; Phần 3 mô tả các chương trình quản lýkèm theo kinh phí đề xuất Đây là nội dung cơ bản của KHQL, thể hiện các hoạt độngphục vụ công tác bảo tồn, khôi phục các nguồn tài nguyên, các hoạt động nghiên cứukhoa học, công tác giám sát, xây dựng và cũng cố cơ sở hạ tầng cũng như cung cấpvật tư trang thiết bị và tái cấu trúc Ban quản lý theo Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng và Thông tư78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định chitiết thi hành Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ v.v Cùngvới các chương trình quản lý nêu trên là phần đề xuất kinh phí và lịch trình thực hiện
Trang 10kế hoạch quản lý cho thời kỳ 2012-2015 và định hướng đến năm 2020 KHQL là tàiliệu hướng dẫn Ban quản lý thực hiện các hoạt động, nó sẽ được bổ sung theo định kỳsao cho phù hợp với tình hình thực tế và nguồn kinh phí.
Hệ thống khu rừng đặc dụng Việt Nam được quản lý trực tiếp ở cấp Trung ươnglà Bộ NN & PTNT, Tổng cục lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm; tuy nhiên, thuộc loại nàyhiện nay trong cả nước chỉ có 6 Vườn quốc gia, tất cả số còn lại đều do UBND cáctỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương quản lý trực tiếp là Sở NN & PTNT, Chi cụcKiểm lâm tỉnh Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam do UBND tỉnhQuảng Nam ra quyết định thành lập và giao cho Chi cục Kiểm trực tiếp quản lý theoquy định nói trên
Trang 11PHẦN MỘT
MÔ TẢ 1.1 Vị trí, diện tích, ranh giới:
Bảng 1: Diện tích khu bảo tồn theo đơn vị hành chính
Huyện Xã Tiểu khu rừng Diện tích (ha)
Trang 12Huyện Xã Tiểu khu rừng Diện tích (ha)
1.1.3 Ranh giới, đi lại:
- Ranh giới phía Bắc: Là ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế Tạitỉnh Thừa Thiên Huế tiếp giáp với phần diện tích mở rộng của VQG Bạch Mã hiệnnay, phần diện tích mở rộng này của VQG Bạch Mã được khẳng định là 01 trong 03vùng phân bố của loài Sao la và được ưu tiên bảo tồn trong phạm vi cả nước
- Ranh giới phía Đông: Là đường ranh giới giữa 2 xã ATing và Sông Kôn huyệnĐông Giang, là vùng ranh giới giữa cáctiểu khu 43 và 56 thuộc tỉnh Quảng Nam
- Ranh giới phía Tây: Phần phía Tây Bắc là ranh giới 2 tỉnh Quảng Nam (xãBahlêê, AVương huyện Tây Giang; xã Tà Lu, Sông Kôn huyện Đông Giang) và ThừaThiên Huế (xã Aroàng, Hương Nguyên huyện ALưới; xã Nam Hòa huyện NamĐông), phần còn lại là ranh giới quốc gia giữa 2 nước Việt Nam và Lào (thuộc xãBhalêê huyện Tây Giang)
- Ranh giới phía Nam: Từ Đông sang Tây bắt đầu tại điểm ngã 3 ranh giới hai xãSông Kôn và xã A Ting, từ ranh giới tiểu khu 43 với tiểu khu 57, chạy theo hướng TâyNam theo khoảnh 4 và 5 của tiểu khu 43 tỉnh Quảng Nam trên đường dông núi cao rấtdễ nhận biết Khi chạy tới ranh giới của tiểu khu 47 thì chạy ngược lên hướng TâyBắc, gặp ranh giới khoảnh 1 của tiểu khu 47 thì tiếp tục chạy về hướng Tây Nam theoranh giới khoảnh này, sau đó theo ranh giới khoảnh 3 đến đỉnh cao 769m, rồi theoranh giới phía Nam của tiểu khu 37 đến ranh giới tiểu khu 39, lấy một phần khoảnh 3,toàn bộ khoảnh 1 và 2 của tiểu khu 39 Ranh giới tiếp tục chạy theo ranh giới phíaNam của tiểu khu 34, cắt sang và ôm lấy toàn bộ khoảnh 1, 2, 3 và 4 của tiểu khu 38.Từ đó, chạy ngược lên phía Bắc, ôm lấy khoảnh 2 và 3 của tiểu khu 26, tới đỉnh cao1.028m, theo dông núi chạy xuống ngã ba suối Tam Ya Vour, tiếp tục theo khe đingược lên phía Bắc, gặp một dãy dông chạy ngang thì cắt khoảnh 5, 6 và 7 của tiểukhu 23 theo hướng Tây tới suối Za Vua, tiếp tục chạy theo hướng Tây của suối này tớitiểu khu 24 thì lấy khoảnh 1, 2, 3 và 4 của tiểu khu này, tiếp tục sang hướng Tây lấykhoảnh 1 của tiểu khu 26, khoảnh 1 của tiểu khu 16, chạy theo hướng Tây Bắc trênđỉnh dông tới điểm cao 982m, rồi tiếp tục chạy theo dông cắt tiểu khu 14 tới đườngHồ Chí Minh thì ngoặt theo hướng Tây Nam, tới gặp ranh giới xã A Nông thì theo
ranh giới xã hướng lên Tây Bắc đến biên giới Việt Lào (Bản đồ số 2, Phần Phụ lục)
Trang 131 2 Hiện trạng về mặt pháp lý và lịch sử thành lập:
Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số522/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam, là đơn vị sự nghiệptrực thuộc Chi cục Kiểm lâm, Sở NN&PTNT Quảng Nam với chức năng quản lý, bảovệ, xây dựng và sử dụng Khu rừng đặc dụng đã đề xuất theo đúng quy định của phápluật
Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam được phê duyệt đề án thành lập theo Quyết địnhsố 2265/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam Khu bảo tồn nằm
phía Tây Bắc của tỉnh, trên địa phận hành chính 4 xã: Bhalêê, AVương (huyện Tây
Giang), Tà Lu và Sông Kôn (huyện Đông Giang), với diện tích 15.800 ha
Khu bảo tồn thành lập dựa trên cơ sở pháp lý sau:
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 vàNghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ vàPhát triển rừng
Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và Nghị định65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một sốđiều của Luật Đa dạng sinh học
Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lýhệ thống rừng đặc dụng
Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợvà tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009của Chính phủ về bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗtrợ và tái định cư
Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ vềquyền hưởng lợi, nghĩa vụ hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoánrừng và đất lâm nghiệp
Quyết định 192/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Chiến lược quản lý hệ thống Khu BTTN Việt Nam đến năm 2010
Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 10/02/2005 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn về việc ban hành tiêu chí phân loại rừng đặc dụng
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt Chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.Quyết định số 2370/QĐ-BNN-KL ngày 05/8/2008 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn về việc phê duyệt Đề án về chương trình đầu tư xây dựng và hoànthiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn 2008 - 2020
Thông tư 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang
Trang 14rừng sản xuất và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặcdụng sau rà soát quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005của Thủ tướng Chính phủ.
Chiến lược bảo tồn tài nguyên và đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam, giai đoạn2005-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1332/QĐ-UBND ngày 04/5/2005 củaUBND tỉnh Quảng Nam
Quyết định số 48/2007/QĐ-UBND ngày 30/10/2007 của UBND tỉnh Quảng Namphê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Quảng Nam, trong đó có quyhoạch khu rừng đặc dụng Sao la
Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam vềviệc thành lập Ban quản lý khu bảo tồn loài Sao la trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnhQuảng Nam
Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam vềviệc phê duyệt dự án thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la
1 3 Các đặc điểm tự nhiên:
1 3.1 Khí hậu:
Khu vực quy hoạch nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa thuộc tiểu vùngchuyển tiếp giữa vùng Bắc và Nam dãy Trường Sơn, nóng ẩm mưa nhiều theo mùa.Tuy trong năm bắt đầu có sự phân chia thành hai mùa khô và mưa như ở khu NamTrường Sơn nhưng chưa thực sự điển hình; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 dươnglịch và mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 dương lịch Nhưng do chịu ảnh hưởng của khíhậu Bắc Hải Vân và không khí lạnh từ dãy Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) và núi Bà Nà(Quảng Nam) nên thời tiết ở khu vực thường có rét lạnh kéo dài Cụ thể các đặc trưngvề khí hậu khu vực như sau:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23,50C, cao nhất là 380C, thấp nhất là 80C.Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7; tháng có nhiệt độ thấp nhất vàotháng 12 Biên độ nhiệt/năm khoảng từ 5 - 7%
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm ở khu vực này thuộc loại lớn nhất
so với khu vực khác trong tỉnh Quảng Nam (chỉ sau khu vực Trà My) Tổng lượngmưa bình quân/năm phổ biến từ 2.000 - 2.500mm, có khi lên đến 4.000mm Lượngmưa phân bố không đều trong năm, hàng năm có từ 4 - 5 tháng có lượng mưa <100mm, lượng mưa ít nhất xảy ra vào tháng 6 và nhiều nhất tập trung vào tháng 10,
11 dương lịch
- Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên Độ ẩm
trung bình hằng năm trong khu vực khoảng 86%, trong các tháng mùa mưa thì cũngchỉ đạt khoảng 93% (tháng 9 đến tháng 3 năm sau), trong các tháng mùa khô có độ
ẩm khoảng 83% (từ tháng 4 đến tháng 8)
Trang 15- Chế độ gió: Gió thịnh hành theo hai hướng chính là gió mùa Đông Bắc và gió
Tây Nam Gió mùa Đông Bắc: trong mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, giómùa Đông Bắc xuất hiện, thời tiết lạnh và kèm theo mưa lớn Gió Tây Nam: trongmùa khô từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 dương lịch (từ giai đoạn tiết Hạ chí đến Đạithử) thường xuất hiện những đợt gió mùa Tây Nam (gió Lào), thời tiết khô hanh vànóng
- Ngoài ra, trong năm thường xuất hiện bão từ tháng 9 đến tháng 12, tốc độ gió cókhi đạt hơn 30m/s Lũ lụt xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch thường kèmtheo các đợt gió mùa Đông Bắc
1 3.2 Địa hình và địa lý:
Địa hình khu vực đề xuất Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la hầu hết là núi caotrung bình, nổi trội bởi dãy núi chạy theo hướng từ Tây sang Đông và từ Bắc xuốngNam, với đỉnh cao nhất là 1.446m nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Nam vàThừa Thiên Huế còn lại các đỉnh khác cao trên dưới 1.000 m Do sự phức tạp trongquá trình kiến tạo địa hình nên khu vực có địa hình rất dốc, gồ ghề (độ dốc từ 15 -
400) Phía Bắc và Đông Bắc dốc mạnh, phía Tây Nam ít dốc hơn Độ chia cắt sâurất lớn, đặc biệt là ở phía Bắc và Đông Bắc (300 - 500m); mức độ chia cắt ở phíaTây Nam yếu hơn (100 - 300m), các thung lũng thường hẹp và gần như không có,thay vào đó là các lòng suối hẹp dốc, nhiều thác ghềnh
1.3.3 Địa chất:
Các tài liệu nghiên cứu về nền địa chất khu vực tỉnh Quảng Nam cho thấy, nền địachất khu nằm trong tiểu vùng chuyển tiếp giữa Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Namthuộc địa đới Kon Tum Chúng được hình thành trong giai đoạn cổ kiến tạo, thuộc Đạitrung sinh, có tuổi địa chất cách đây trên 500 triệu năm trở về trước, được cấu tạo chủyếu trên nền địa chất vững chắc của các thành tạo biến chất tạo móng kết tinh vỏ lụcđịa, gồm các đá biến chất của các đá trầm tích phun trào nguyên sinh có tuổi Ackêôzôi
- Ocđôvic sớm
Trải qua các thời kỳ kiến tạo quan trọng và các pha chuyển động đứt gãy, khốitảng và uốn nếp đã liên tục tạo ra các dãy núi trùng điệp do chuyển động nâng cao vàcác bồn trầm tích do chuyển động sụt lún, đóng vai trò như nguyên nhân của mọinguyên nhân để tạo ra tính đa dạng về địa chất, địa hình - địa mạo, mạng lưới thủyvăn và tính đa dạng trong khu vực
1 3.4 Thổ nhưỡng:
Trên cơ sở nền đá mẹ và trải qua quá trình biến đổi sâu sắc và liên tục tầng mặtcủa đá dưới tác dụng chủ yếu của sinh vật và nhiều yếu tố tự nhiên khác đã tạo ra cácloại đất chính trong khu vực như sau:
1) Đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi (Humic Acrisols):
Trang 16- Đặc điểm: Loại đất này chiếm khoảng 42% tổng diện tích tự nhiên, được hình
thành chủ yếu trên đá macma axit và phân bố ở độ cao tuyệt đối từ 900m trở lên, độdốc từ 15 - 25°, có nơi trên 300 Do nằm ở địa hình cao, dốc, nên dễ bị xói mòn, Ca2+,
Mg2+ bị rửa trôi mạnh, đất có phản ứng chua, độ no bazơ thấp (50%), độ chua thủyphân cao
- Hướng sử dụng: Phần lớn diện tích ở loại đất này vẫn còn rừng tự nhiên, một số
diện tích đã bị tác động nhưng ở mức độ nhẹ; vì vậy, cần phải có biện pháp bảo vệnghiêm ngặt những diện tích rừng hiện có; đối với diện tích đất trống không rừng ởnơi có độ dốc lớn thì nên để tự phục hồi bằng tái sinh tự nhiên tạo sinh cảnh cho Saola
2) Đất Feralit đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất: (Ferralic Acrisols)
- Đặc điểm: Đất này được phát sinh từ các loại đá phiến sa thạch, phiến thạch sét,
phiến mica, gơnai, và phân bố ở độ cao tuyệt đối từ 900m trở xuống và tập trungnhiều ở xã: Bhalêê, A Vương và một phần ở xã: Tà Lu và Sông Kôn Loại đất này códiện tích khoảng 36% tổng diện tích tự nhiên, tầng đất dày trên 1,5 m, thành phần cơgiới trung bình và nặng
- Hướng sử dụng: Đây là loại đất có tính chất tốt trong các loại đất trong khu vực,
những diện tích rừng còn lại đã bị tác động mạnh Vì vậy cần phải bảo vệ những diệntích rừng còn lại và khoanh nuôi bảo vệ những nơi đất trống không rừng và có độ dốclớn để tự phục hồi bằng tái sinh tự nhiên
3) Đất Feralit đỏ vàng trên đá macma axit: (Ferralic Acrisols)
- Đặc điểm: Đá mẹ hình thành đất chủ yếu là granit, riolit, pecmatit, là những
loại đá giàu SiO2 nên đã hình thành nên loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, thường cókết cấu kém, tầng đất trung bình (thường nhỏ hơn 1,2 m), tỷ lệ đá lẫn ít Loại đất nàycó diện tích khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên, phân bố từ độ cao < 900m và chủyếu ở những nơi có địa hình dốc > 150, nên thường bị xói mòn mạnh ở những nơikhông còn rừng Vì vậy, cần thiết phải bảo vệ tốt những diện tích rừng hiện có, đểrừng dần dần tự phục hồi trên toàn vùng
4) Đất phù sa ngòi suối (Dystric Fluvisols):
- Đặc điểm: Loại đất này chiếm diện tích rất nhỏ trong khu vực (khoảng 4%),
phân bố tập trung nhiều ở xã: Bhalêê, AVương, Sông Kôn Đất hình thành do sự lắngđộng của phù sa sông suối lớn trong khu vực, nên thành phần cơ giới thường thô, nhẹlẫn nhiều khoáng vật nguyên sinh bền Độ phì nhiêu tự nhiên tùy từng nơi mà rất khácnhau, nhưng nói chung đất có phản ứng chua đến rất chua, hàm lượng mùn trungbình, đạm tổng số khá, lân và kali nghèo, tầng đất dày từ 70 – 80cm
- Hướng sử dụng: Tuy là diện tích không nhiều, nhưng loại đất này rất phù hợp
trồng các loài cây nông nghiệp và cũng có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết lương
Trang 17thực cho người dân sống trên địa bàn Vì vậy, đất này dễ bị tác động bởi người dân,cần có các biện pháp bảo vệ.
5) Các loại đất khác:
- Ngoài những loại đất nói trên, trong khu vực còn có một số loại đất khác với diệntích nhỏ phân tán trong khu vực như: đất thung lũng dốc tụ (Dystric Gleysols), đấtnâu vàng trên phù sa cổ (Ferralic Acrisols), đất mặt nước Các loại đất này chiếmkhoảng 2% tổng diện tích tự nhiên của KBT
1 3.5 Thủy văn:
1.3.5.1 Nguồn nước mặt:
Với địa hình khu vực hầu hết là núi cao trung bình, độ dốc lớn và bị chia cắt thànhnhiều vùng, đã hình thành nên hệ thống thủy văn sông suối lớn nhỏ với mật độ sôngsuối biến động từ 0,5 - 1 km/km2 như: sông Kôn, sông A Vương, sông A Bốc, suối
Kanin, suối Za Vua, suối Bruah, suối R’Lai, suối B’Nơ,…(Bản đồ 3, Phần Phục lục).
Đặc điểm các hệ thủy đều có lòng hẹp, trắc diện trẻ, độ dốc lớn, vì vậy tác dụng xâmthực còn rất lớn Trong mùa mưa thường xuyên xuất hiện những trận lũ lớn rất đột ngộtvà hung dữ, gây nên hiện tượng lở bờ sông suối, sụt đất hai bên đường giao thông, pháhỏng các công trình thủy lợi cũng như cầu cống Mùa khô các dòng suối trong khu vực bịcạn dần; việc tưới tiêu cho các vùng đất thấp gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, lớp thảm
rừng còn tốt và có diện tích lớn, độ dày tầng phong hóa khá dầy, nên khả năng trữ nước
ngầm khá cao Trong mùa khô các dòng sông suối chính vẫn duy trì dòng chảy củachúng và các dòng sông phía hạ lưu có nước chảy quanh năm
Hệ thủy Sông Kôn: Bắt nguồn từ huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế đi quacác xã A Ting, xã Sông Kôn, xã Jơ Ngây, xã Kà Dăng, xã Đại Lãnh rồi đổ ra sông VuGia (huyện Đại Lộc)
Hệ thủy Sông A Vương: Bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, đi qua địa phận cácxã Bhalêê, xã AVương, Thị trấn P’rao, xã Zà Hung, xã Arooi, xã Mà Cooih rồi đổ vàosông Boung
1.3.5.2 Nguồn nước ngầm:
Thay đổi theo cấp địa hình, ở những nơi có địa hình cao mức nước ngầm ở độ sâutừ 8 - 15m, ở những nơi có địa hình thấp mực nước ngầm ở độ sâu từ 4 - 8m Hiệnnay, nguồn nước ngầm chưa được khai thác hiệu quả, người dân trong khu vực đa số
sử dụng nước uống và sinh hoạt từ nguồn nước tự chảy qua bể lắng Trong tương lainguồn nước ngầm nếu được khai thác hiệu quả sẽ đáp ứng đủ cho sinh hoạt và tướitiêu, do thảm thực vật rừng còn độ che phủ cao
1 4 Các đặc điểm về sinh học:
1 4.1 Khu hệ và thảm thực vật rừng:
Trang 18Khu hệ : Khu hệ thực vật khu bảo tồn chưa được điều tra đầy đủ, nhưng kết quả
thống kê bước đầu đã ghi nhận 9 loài trong Sách Đỏ Thế giới (IUCN 2010) và 50 loàiđược ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 9 loài xếp vào nhóm IA và IIA của Nghịđịnh 32/2006/NĐ-CP Những loài cây gỗ quý hiếm điển hình như: Trầm hương
(Aquilaria crassna), Sến mật (Madhuca pasquiari), Trắc (Dalbergia cochinchinensis), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Kiền kiền (Hopea pierrei), (Danh sách các loài thực
vật được mô tả tại Bảng 9, Phần Phụ lục)
Thảm thực vật rừng
Khu KBT Sao la được ghi nhận là nơi có tính đa dạng cao do chỉ trong một diệntích không lớn lắm nhưng có chứa đựng nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau Thêm vàođó, khu vực KBT lại nằm trong vùng ranh giới địa lý sinh vật giữa Bắc và Nam ViệtNam, và giữa dãy Trường Sơn và vùng đồng bằng ven biển Các kiểu rừng chủ yếutìm thấy trong KBT là rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao dưới 900m vàrừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao trên 900m Tuy nhiên, do hậu quả tácđộng của con người, cho nên rừng còn lại hiện nay tại ở đây đều mang dấu ấn của sựtác động đó
1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới ở độ cao từ 900m trở lên:
Kiểu rừng này có diện tích khá lớn và có đầy đủ các trạng thái rừng nhưng phổ biếnnhất là trạng thái rừng IIIA1, IIIA2, rất ít IIIA3 và một số diện tích nhỏ rừng IIA, IIB vàđất trống IB, IC Kiểu rừng này do ảnh hưởng của việc rải chất diệt cỏ và bom đạntrong chiến tranh trước đây, cũng như đã bị người dân tác động nên ở một số địa điểmrừng đã bị ảnh hưởng đáng kể, trừ một số nơi có độ dốc lớn và xa dân cư
Trong kiểu rừng này còn chứa nhiều loài cây có giá trị như: Trầm hương
(Aquilaria crassna), Sồi duối (Quercus setulosa), Dẻ lỗ (Lithocarpus fenestratus), Song bột (Calamus poilanei) và Cau rừng (Areca sp.) Có nhiều loài lan quý như: Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Hoàng lan thủy tiên (Dendrobium amabile), Phương dung (Dendrobium devonianum), Thạch hộc (Dendrobium nobile Lindl), và Hồng nhung nam (Renanthera annamensis ),
2) Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở độ cao dưới 900m:
Kiểu rừng này phân bố tập trung ở độ cao dưới 900m, với các trạng thái chính nhưrừng thứ sinh sau khai thác kiệt (IIIA1), rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, lửarừng và khai thác trắng (IIA, IIB) và một số ít diện tích các trảng cỏ cây bụi mọc saunương rẫy với các trạng thái (IA, IB, IC)
Đặc điểm của kiểu rừng này là tầng cây gỗ cao từ 18 - 22m và tạo nên tán chính
của rừng Tại đây chủ yếu gặp các loài cây trong họ Trám (Burseraceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae), và họ Dẻ (Fagaceae),…Tầng thảm tươi có đại diện của ngành Rêu (Bryophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), và Ngọc lan (Magnoliophyta) Đây là kết
Trang 19chiến tranh, và bị khai thác quá mức những cây gỗ lớn, cũng như tình trạng đốt rừng
làm rẫy nên còn lại phần lớn là rừng thứ sinh sau khai thác và rừng phục hồi (Bản đồ
4, Phụ lục số).
1.4.2 Khu hệ động vật:
Đặc điểm chung: Các kết quả nghiên cứu trước đây về khu hệ động vật trong khubảo tồn cho thấy tại đây đã ghi nhận được 154 loài động vật có xương sống trên cạnthuộc 48 họ, 17 bộ
1.4.2.1 Khu hệ thú: bao gồm 31 loài thú, thuộc 12 họ, 6 bộ
1.4.2.2 Khu hệ chim: Chim có 61 loài, 22 họ, 8 bộ
1.4.2.3 Khu hệ Bò sát và ếch nhái: bò sát có 34 loài, 9 họ, 2 bộ, Ếch nhái 28 loài,
5 họ, 1 bộ Trong số đó có 33 loài được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (2007), 10 loài ghivào Danh lục đỏ của IUCN (2006) và 34 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP Đặc
biệt, trong các loài trên có 4 loài đặc hữu Đông Dương: Sao la (Pseudoryx
nghetinhensis), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), và Trĩ sao (Rheinardia ocellata)
Bảng 3: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn khu bảo tồn loài
TT Hạng mục Loài Họ Bộ SĐVN.2007 SĐTG.2006 NĐ 32
Các nhóm loài động vật khác và côn trùng chưa được điều tra nghiên cứu
1.4.3 Lịch sử nghiên cứu về sinh học:
Do được đánh giá là khu vực có tính đa dạng sinh học cao vì vậy từ năm 1996khu vực này được nhiều nhà khoa học, đoàn khảo sát đến nghiên cứu; tuy nhiên, cácnghiên cứu thường chủ yếu tập trung về các loài động vật như: Sao la, Mang TrườngSơn…Về thực vật còn ít được chú ý Một số nghiên cứu cụ thể đã thực hiện bởi:
- Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam - Đà Nẵng (1996) Nghiên cứu khảo sát về Sao latại thôn Aréc, xã Avương, huyện Hiên (bây giờ là Tây Giang) Kết quả đã ghi nhận vềcác dấu hiệu sọ, sừng của Sao la tại các thôn bản và phỏng vấn người dân địa phương
- Dự án MOSAIC (Barney Long, Minh Hoàng) của WWF Việt Nam từ năm 2000
- 2006 đã có nhiều nghiên cứu, khảo sát về Sao la và các loài thú móng guốc, linhtrưởng tại khu vực xã Avương, Bhalêê huyện Tây Giang, xã Sông Kôn huyện ĐôngGiang
Trang 20- Các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu của các nhà khoa học như Đỗ Tước(2007), Nguyễn Xuân Đặng (2007) về đặc điểm sinh học và nguyên nhân gây suy
thoái quần thể Sao la (Bản đồ 5: Thông tin phân bố Sao la, Phần Phụ lục)
1.5 Dân số và vấn đề sử dụng đất:
1.5.1 Quản lý nhà nước và dân số:
Theo phương án quy hoạch thì trong ranh giới khu bảo tồn không có dân cư sinhsống Tổng dân số trong vùng đệm có 10.294 người, thuộc 6 xã, 43 thôn và 2.277 hộ.Trung bình mỗi hộ có từ 4 - 5 người và phần lớn có 3 thế hệ trong một hộ gia đình, rấtít các đôi vợ chồng trẻ mới cưới tách ra ở riêng Tỉ lệ tăng dân số trung bình trongvùng khá cao 1,89% Mật độ dân số trung bình trong vùng thấp 21 người/km2 Hệthống quản lý hành chính về dân số của nhà nước được áp dụng cho tất cả các địaphương từ miền núi đến đồng bằng ven biển và thành phố
Phần lớn các thôn phân bố thành cụm, dọc ven hai bên đường Hồ Chí Minh vàđường tỉnh lộ ĐT 604 Duy nhất chỉ có thôn Aur của xã AVương có 7 hộ đã chuyểnvào khu kinh tế mới theo chủ trương của huyện Tây Giang, giáp với ranh giới quyhoạch Khu bảo tồn loài Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các thôn, đông nhấtlà các thôn Aung, xã Bhalêê có 92 hộ, 450 khẩu; thôn Aréc, xã AVương 79 hộ, 429khẩu Thấp nhất là các thôn ở gần với ranh giới được quy hoạch như: thôn Aur có 97khẩu, 18 hộ; thôn Atép 2 có 230 khẩu, 41 hộ
Bảng 4: Dân số và mật độ dân số thuộc sự quản lý của các xã vùng đệm
TT Xã Số thôn Số hộ Số khẩu Mật độ (người/km 2 )
Năm 2009, thực hiện chương trình bê tông hoá giao thông nông thôn: xã
Trang 21km đường; xã Bhalêê làm được 0,4 km đường và 01 cầu treo… tạo thuận lợi trongviệc đi lại cho nhân dân các xã vùng đệm.
Ngoài ra, từ đường 604 tại Đông Giang, đường Hồ Chí Minh tại Tây Giang đềucó các đường liên thôn và đường mòn rất thuận lợi để đi vào khu bảo tồn và các vùng
lân cận (Bản đồ 2, Phần Phụ lục)
1 5.3 Lịch sử các dân tộc:
Quảng Nam là một trong các tỉnh nằm dọc theo vùng duyên hải vùng Trung bộViệt Nam; tuy nhiên, về phía Bắc và Tây là vùng rừng núi tiếp giáp với tỉnh ThừaThiên Huế và tiếp đó là khu vực có đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhândân Lào Toàn bộ các vùng rừng núi rộng lớn ở đây cũng như vùng Tây Nguyên bao
la ở phía Tây Nam từ xưa đến nay là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộcthiểu số, một số trong đó thuộc các dân tộc vùng núi tỉnh Quảng Nam
Thành phần dân tộc sinh sống ở vùng đệm của KBT (được mô tả ở Bảng 5) chủ
yếu là người Cơ Tu (chiếm 91,02%); người Kinh chiếm 8,51 %, chủ yếu là các hộbuôn bán, một số ít là giáo viên đã dạy lâu năm ở đây Các dân tộc còn lại như: dântộc Mường, Thái, Tày, Tà Ôi, Hre chiếm tỉ lệ rất ít (0,47 %), chủ yếu từ nơi khácchuyển đến do lấy vợ, lấy chồng hoặc bố mẹ đi theo con cái
Người Cơ Tu cư trú lâu đời ở miền núi Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, Tây Nam tỉnhThừa Thiên Huế, liền khoảnh với địa bàn phân bố tộc Cơ Tu bên Lào Họ thuộc số cưdân cư trú lâu đời ở vùng rừng núi dãy Trường Sơn - Tây Nguyên, sử dụng ngôn ngữMôn - Khơ Me và chữ viết có nguồn gốc chữ La tinh
Bảng 5: Thành phần dân tộc các xã vùng đệm
Đơn vị tính: Người
TT Xã Tổng Chia theo thành phần dân tộc Tỉ lệ tăng dân
số % Kinh Cơ Tu Khác
Nguồn: Theo Thống kê huyện (2009) và số liệu điều tra các xã (2010)
1.5.4 Lịch sử văn hóa:
Tương tự như ở nhiều dân tộc sinh sống tại các vùng rừng núi vùng Trung bộViệt Nam hiện nay, phong tục tập quán của người Cơ Tu theo phụ hệ Nam giới đượccoi là người chủ gia đình và là người thừa kế tài sản, quản lý các nguồn lực như: sửdụng các lâm sản, quyền sử dụng đất, quyết định về đầu vào cho sản xuất, tiếp cận
Trang 22đến thông tin và kỹ thuật, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, hoa lợi và các quyết định kháctrong sản xuất.
Tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà
Ôi, Bru - Vân Kiều Chữ viết ra đời từ thời xa xưa, trên cơ sở dùng chữ La-tinh đểphiên âm nhưng hiện nay ít người sử dụng và tiếng Việt được sử dụng trong cáctrường học phổ thông
Những luật tục về bảo vệ thôn, bảo vệ rừng vẫn tồn tại; già làng, trưởng bản cótiếng nói quan trọng trong cộng đồng Đây là đặc điểm cần được ứng dụng trong côngtác bảo vệ ở khu bảo tồn sau này
Về mặt xã hội, đã có sự bình đẳng giữa nam, nữ và đặc biệt nhờ ảnh hưởng củatổ chức Hội phụ nữ nên hiện nay những người phụ nữ có nhiều cơ hội hơn được thamgia các hoạt động cộng đồng, xã hội và thường đảm đương nhiều nhiệm vụ hơn namgiới trong việc gia đình
Về truyền thống văn hóa, từ trước đến nay, hàng năm tại các thôn bản của người Cơ
Tu có hai lễ hội chính; đó là, Lễ hội mừng lúa mới được tổ chức sau khi thu hoạch xong(vào tháng 10, 11) và Lễ đâm trâu được tổ chức để chào đón xuân hay trong các dịp vui.Trong các lễ hội có có tổ chức biểu diễn cồng chiêng và trình diễn các điệu múa hát củangười Cơ Tu trong màu áo truyền thống, nam nữ thanh niên và người cao tuổi đều nhiệttình tham gia
1.5.5 Sử dụng đất:
- Theo kết quả rà soát quy hoạch phân chia ba loại rừng năm 2007 (phòng hộ,rừng đặc dụng và rừng sản xuất) tại Quyết định 48/2007/QĐ-UBND ngày 30/10/2007của UBND tỉnh Quảng Nam và được bổ sung cập nhật bằng ảnh vệ tinh Spot 5 thìtrong diện tích Khu bảo tồn Sao la chỉ có 11.635.03 ha rừng đặc dụng, do diện tíchnhỏ nên khi quy hoạch thành lập Khu bảo tồn UBND tỉnh đã đồng ý đưa thêm4.164.94 ha rừng phòng hộ, sản xuất và đất khác ở khu vực liền kề (Phòng hộ:3.205,68 ha; sản xuất: 791,61 ha; đất khác: 167,65 ha) vào KBT, nâng diện tích lên15.800 ha Diện tích 4.164.94 ha rừng này sẽ được chuyển thành rừng đặc dụng trong
thời gian đến (Bảng 2 Phần Phụ lục)
- Diện tích đất có rừng là 14.600,73 ha, chiếm 92,41% tổng diện tích và chủ yếulà rừng tự nhiên Bao gồm rừng trung bình đã bị tác động 7.398,66 ha chiếm 50,67%tổng diện tích đất có rừng; Rừng nghèo đã bị tác động 5.838,79ha chiếm 39,99% tổngdiện tích đất có rừng; Rừng phục hồi 1.348,30ha chiếm 9,23% tổng diện tích đất córừng; rừng lồ ô 14,98ha, chiếm 0,11% tổng diện tích đất có rừng
- Diện tích đất trống không có rừng là 1.190,74 ha, chiếm 7,54% tổng diện tích đấttự nhiên
Trang 23Hạng mục Đ.vị Bhalêê A Vương Ta Lu Sông kôn Tổng Tổng diện tích tự nhiên Ha 7,111.83 14,784.49 7,925.46 7,936.62 37,758.40
1 Đất nông nghiệp Ha 6,070.38 13,656.36 6,884.34 7,236.42 33,847.50 1.1 Đất sản xuất
nông nghiệp Ha 371.38 391.36 237.77 365,1 1,000.51 1.2 Đất Lâm nghiệp Ha 5,699.00 13,265.00 6,646.57 6,871.32 32,481.89
2 Đất phi nông nghiệp Ha 1,011.52 894.17 72.22 286.91 2,264.82 2.1 Đất thổ cư Ha 10.5 10.35 9.14 19.44 49.43 2.2 Đất chuyên dùng Ha 1,001.02 883.82 63.08 267.47 2,215.39
3 Đất khác Ha 29.93 233.96 968.9 413.29 2,426,39
Tổng 21,305.56 44,119.51 22,807.48 23,397.47 112,082.94
1.6 Các chương trình quản lý hiện nay:
Mặc dầu khu bảo tồn mới được thành lập còn nhiều khó khăn về mọi mặt, nhưngvới sự quyết tâm của Ban quản lý cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và Dựán CarBi/WWF Great Mekong nên một số chương trình quản lý bảo vệ đã được triểnkhai, mặc dầu kết quả còn nhiều hạn chế, trong thời gian tới cần phải tiếp tục thực hiện.Có thể nêu một số hoạt động đó như sau:
- Phòng cháy chữa cháy rừng: đây là hoạt động thường xuyên tiến hành
- Hướng dẫn các hộ gia đình khai thác gỗ rừng trồng:
Thông qua Kiểm lâm địa bàn, tham mưu xác nhận khai thác gỗ rừng trồng theoThông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản, Thông tư số35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vềhướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ; kiểm tra và khai thác gỗlàm nhà tại chổ cho hộ nghèo theo Quyết định 167/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ,
- Chương trình đào tạo cho Ban lâm nghiệp xã:
Thông qua một số chương trình về tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực từngbước cho Ban lâm nghiệp xã, các Tổ đội quần chúng bảo vệ rừng trong khu vực vùngđệm
- Tham mưu công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn cho xã Bhalêê và Avươnghuyện Tây Giang trong hoạt động của kiểm lâm địa bàn xã
- Bước đầu triển khai một số hoạt động thuộc dự án CarBi của WWF Great Mekong(Carbon sink and Biodiversity- Carbi):
+ Đẩy mạnh hoạt động tuần tra rừng, truy quét và ngăn chặn mọi xâm phạm khubảo tồn;
Trang 24+ Kết hợp tuần tra rừng với giám sát đa dạng sinh học và Sao la, thu thập số liệu; + Tập huấn năng cao năng lực: sử dụng phần mềm MIST, kỹ thuật giám sát;
Nhận xét sơ bộ: Việc triển khai dự án CarBi đã có tác dụng bước đầu về nâng caonăng lực của Khu bảo tồn về cơ sở vật chất, khả năng quản lý và bảo vệ tài nguyên Theođó, 20 lao động được hợp đồng để cùng cán bộ KBT thường xuyên tuần tra truy quét viphạm tài nguyên rừng, giám sát đa dạng sinh học do dự án tài trợ kinh phí Từ khi độibảo vệ rừng đi vào hoạt động, công tác tuần tra truy quét được thực hiện thường xuyên,từng bước mang lại hiệu quả cao, góp phần vào việc ngăn chặn các hành vi vi phạmtrong khu bảo tồn như: săn bắt, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ… ghi nhận các thôngtin về đa dạng sinh học, nhất là thông tin về Sao la
Những số liệu thu thập được từ hoạt động tuần tra bảo vệ rừng được cập nhật vàquản lý bởi phần mềm MIST (Management Imformation System) Đây là một phần mềmmới về quản lý dữ liệu và giám sát có hiệu quả
Lực lượng Kiểm lâm bảo vệ rừng của KBT đã được tập huấn về kỹ năng tuần tra,phương pháp giám sát đa dạng sinh học, quản lý và sử dụng phần mềm MIST do Dự ánCarBi tổ chức
1.7 Du lịch:
Về chương trình du lịch sinh thái trong KBT hiện nay chỉ đang ở dạng tiềm năng,
KBT chưa có kế hoạch và quy hoạch về phát triển DLST
1.8 Các chương trình phát triển:
Trên địa bàn các xã vùng đệm hiện có các chương trình hỗ trợ phát triển sinh kếcho người dân địa phương về các lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, khuyếnkhích nông lâm, phát triển hạ tầng đã góp phần rất lớn vào việc xóa đói giảm nghèo,định canh định cư, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho người dân địa phương,giảm tình trạng sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng Chỉ đạo thực hiện các chươngtrình này là UBND các huyện
Bảng 7: Các chương trình phát triển tại vùng đệm
TT Tên dự án Nguồn vốn Cơ quan thực hiện Nămthực
hiện
Lĩnh vực hoạt động
1 Chương trình giảm
nghèo nhanh và bền
vững (30a) của Chính
phủ
Vốn Nhà
nước UBND huyện Đến 2015 - Bảo vệ, phát triển rừng
- Hỗ trợ cơ sở hạ tầng, xóa nhà tạm
2 Hành lang bảo tồn đa
dạng sinh học Tiểu vùng
Vốn vay Ngân hàng
UBND huyện
2012 - 2018
- Bảo vệ, phát triển rừng
Trang 25MêKông mở rộng giai
đoạn 2 phát triển Châu Á
(ADB)
Tây Giang - Hỗ trợ cơ sở hạ tầng
3 Khuyến khích bảo tồn và
sử dụng bên vững tài
nguyên rừng tại huyện
Tây Giang, miền Trung
Việt Nam
Vốn tài trợ, Malteser International Đà Nẵng
UBND huyện Tây Giang
2012 -
1014 - Khuyến nông khuyến lâm
- Bảo vệ, phục hồi rừng
4 Dự trữ cacbon và bảo
tồn đa dạng sinh học Vốn tài trợ, WWF Greater
Mêkong
UBND huyện T.Giang, CCKL Q.Nam
2012 -
1014 - Giao khoán bảo vệ rừng
- Trồng rừng.
1 9 Chương trình hoạt động tại các vùng giáp ranh:
1.9.1 Về mặt địa lý:
Lâm phận khu bảo tồn Sao la Quảng Nam nằm trên 4 xã thuộc 2 huyện ĐôngGiang và Tây Giang Trong đó: xã Bhalêê và Avương giáp với KBT Sao la ThừaThiên Huế, xã Sông Kôn giáp với Vườn Quốc gia Bạch Mã Đặc biệt, xã Bhalêê,thuộc huyện Tây Giang có đường biên giới hơn 1 km với bản Tà Vàng, huyện K’Lùm,tỉnh Sê Kông, Lào
Giao thông đi lại vùng này tương đối khó khăn do địa hình chia cắt phức tạp, chỉcó những lối mòn nhỏ phục vụ việc đi lại thăm hỏi nhau giữa các hộ gia đình thânquen Các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa hầu như không diễn ra
1.9.2 Chính sách và quản lý:
Hiện trạng chính sách và quản lý giữa KBT Sao la Quảng Nam và các Khu bảovệ khác trong vùng chưa có Chính quyền huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam vàhuyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế định kỳ giao ban 1 lần/quý về các lĩnh vực kinhtế xã hội, an ninh quốc phòng trong đó có lĩnh vực bảo vệ rừng vùng giáp ranh
Hiện nay, giữa huyện Tây Giang và K’Lùm của Lào có những hợp tác về quản lýchung đường biên giới, mỗi năm có họp giao ban 1 lần luân phiên tại mỗi nước vềcông tác phối hợp tuần tra quản lý biên giới, phòng chống xâm nhập bất hợp phápgiữa lãnh thổ 2 nước KBT Sao la cũng được mời tham dự trong các cuộc họp này UBND huyện Tây Giang cũng thường niên có sự giúp đỡ về nhiều mặt cho nhândân các bản ven biên giới phía Lào như: lương thực, thực phẩm, các nông cụ sản xuấtnông nghiệp, huấn luyện quân sự… Chính quyền và nhân dân 2 nước vùng biên giớicó nhiều mối quan hệ truyền thống tốt đẹp với chiều hướng phát triển tốt
Trang 26PHẦN HAI ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT LUẬN
2 1 Lý giải về khu bảo tồn
Vào tháng 5/1992, lần đầu tiên các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện 4 cặpsừng của “dê sừng dài” tại xã Kim Quang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tiếp đóvào tháng 11/1992 đã có cuộc khảo sát thứ 2 ở Khu BTTN Vũ Quang và người ta tìmthấy tại đây 20 cặp sừng tương tự cùng với bộ da lông; tiếp đó vào năm 1993, dê sừngdài tiếp tục phát hiện ở 1 số nơi khác, cho đến ngày 26/3/1993, trên tạp chí “Nature”
số 263 loài dê sừng dài trên được công bố là loài thú mới có tên là Sao La (Pseudoryx
nghetinhensis)
Phát hiện loài Sao la tại khu vực thuộc Dãy Trường Sơn là một sự kiện quantrong trong lịch sử thú học vì trong suốt cả 100 năm chỉ có 5 loài thú mới được pháthiện trên toàn thế giới
Tại Thừa Thiên Huế, một số mẫu sừng, sọ của Sao la được tìm thấy ở huyện NamĐông, A Lưới (Hoàng Ngọc Khanh, 2004) Vào tháng 12/1996, các cuộc khảo sát ởQuảng Nam, trên địa bàn huyện Tây Giang và Đông Giang ngày nay cũng đã ghi nhậncó Sao la phân bố tại một số nơi tại các huyện trên Tại Lào, cặp sừng Sao la đầu tiênđược phát hiện vào năm 1993 tại một Khu bảo tồn, từ đó Sao la được ghi nhận có vùngphân bố dọc theo Dãy Trường Sơn (cả về phía Việt Nam và Lào)
Nhiều nghiên cứu tiếp theo sau đó từ những năm 1993 ở nhiều nơi thuộc vùngTrung Trường Sơn trong đó có đoàn khảo sát của WWF đã kết luận tất cả các địaphương trước đây có ghi nhận về sự hiện diện của Sao la đều đã bị suy giảm nhiều.Các kết quả điều tra nghiên cứu cuối cùng đã hỗ trợ cho việc thành lập các Khubảo tồn Sao la ở Quảng Nam, Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế và VQG Bạch Mãmở rộng Về phía Lào, tiếp cận với các khu trên ở Việt Nam có Khu bảo tồn đa dạngsinh học quốc gia Sê Xáp Về hình thể chung, đây là các Khu bảo tồn Sao la nối tiếp
nhau nằm dọc theo khu vực biên giới của hai quốc gia (Bản đồ số 1, Phụ lục bản đồ).
Hiện trạng phân bố và số lượng các quần thể Sao la trong các khu bảo tồn trênđều đang cần được tiếp tục điều tra nghiên cứu và đề xuất các chương trình quản lýbảo tồn hữu hiệu trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài
Việc xây dựng Kế hoạch quản lý cho các khu bảo tồn Sao la đều hướng đến mụctiêu bảo tồn và khôi phục Sao la cùng với sinh cảnh vùng cư trú của chúng Bảo vệ Sao lacũng chính là góp phần bảo vệ các loài bảo tồn quan trọng có ý nghĩa quốc tế khác cùngvới hệ sinh thái rừng trên đai địa hình đất thấp vùng Trung Trường Sơn Trung TrườngSơn là điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học trên dãy Trường Sơn và Thế giới Sự thamgia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động quản lý bảo tồn tại đây và việc hỗ trợnâng cao đời sống của họ, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số trong các Khu bảo tồn
Trang 27Với những đặc điểm đó, việc thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao laQuảng Nam là rất cần thiết Được sự đồng ý của UBND tỉnh Quảng Nam với sự hỗtrợ về tài chính và kỹ thuật của Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF GreatMekong), Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam đã phối hợp với Trung tâm Tài nguyên vàMôi trường lâm nghiệp - Viện Điều tra Quy hoạch rừng tiến hành khảo sát xây dựngdự án thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam Cho đến nay, dự ánđã được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt tại Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày13/7/2012.
Được sự hỗ trợ của Dự án CarBi, Ban quản lý xây dựng Kế hoạch quản lý thời kỳ2012-2015 và định hướng đến năm 2020 cho Khu bảo tồn Kế hoạch quản lý này sẽ đượcđệ trình cho UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt để tổ chức thực hiện
2.2 Mục tiêu quản lý:
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam mới được đề xuất thành lập từnăm 2011 Và đây là Kế hoạch quản lý mang tính chiến lược dài hạn để thực hiện mụctiêu quản lý khu bảo tồn
Mục tiêu tổng quát: Bảo vệ, bảo tồn và phát triển loài Sao la cùng với các hệsinh thái và sinh cảnh vùng cư trú thích hợp của loài này, bảo vệ các nguồn gen quýcòn tồn tại trong Khu bảo tồn
2.3 Tình trạng quản lý và phát triển hiện nay:
2.3.1 Nhân lực:
2.3.1.1 Nguồn nhân lực thuộc biên chế: 11 người trong đó:
- Lãnh đạo: 01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc
- Bộ phận kỹ thuật: 02
- Kế toán: 01
- Phụ trách địa bàn: 05
- Tạp vụ: 01
2.3.1.2 Nguồn nhân lực hợp đồng tuần tra bảo vệ rừng: 20 người
Như vậy, tổ chức Ban quản lý của KBT cụ thể là Ban giám đốc, các Phòng banchức năng, lực lượng Kiểm lâm và các Trạm quản lý bảo vệ rừng cũng như nguồnnhân lực hiện có rõ ràng chưa đáp ứng yêu cầu như quy định của Quyết định186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chếquản lý rừng, Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chứcquản lý hệ thống rừng đặc dụng và Thông tư 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết thi hành Nghị định117/2010/NĐ-CP Số lượng 20 người hợp đồng phục vụ công tác tuần tra bảo vệ rừngtrước mắt đang chỉ là lực lượng được Dự án CarBi hỗ trợ về đào tạo, trang bị cá nhânvà chi trả kinh phí, mặc dầu rất quan trọng nhưng chưa đủ và cũng chưa bảo đảm tínhlâu dài
Trang 28Bảng 8: Thống kê hiện trạng nhân lực Khu bảo tồn
TT Phòng ban Số lượng Trình độ
văn hoá
Trình độ
chuyên môn
Nguồn
3 Tổ Kiểm lâm lưu động 03 12/12 Trung cấp Biên chế
2 3.2 Cơ sở hạ tầng và vật tư trang thiết bị:
Cơ sở vật chất ban đầu còn thiếu thốn và thô sơ Hiện tại BQL làm việc tại nhàtạm là Trạm Kiểm lâm cũ thuộc Hạt Kiểm lâm Tây Giang với các trang thiết bị ít ỏiphục vụ cho công tác và các hoạt động hàng ngày
Bảng 9: Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện có
TT Tên hạ tầng, trang thiết bị Số lượng Hiện trạng Ghi chú
I Cơ sở hạ tầng
II Trang thiết bị
cung cấp 07 xeNhư vậy, tương tự như kết quả đánh giá trên đây về cơ cấu tổ chức Ban quản lý vànguồn nhân lực của KBT thì tình trạng về cơ sở hạ tầng và vật tư trang bị cũng chưa đápứng được yêu cầu của các hoạt động quản lý bảo vệ, đặc biệt nghiêm trọng là Ban quản lýKBT chưa có nhà làm việc, các Trạm quản lý bảo vệ rừng cũng chưa được xây dựng…Tất cả những tồn tại trên đây đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của mọi hoạtđộng hiện nay tại KBT và nó cần được sớm khắc phục Mọi sự hỗ trợ về phía tỉnh Quảng
Trang 29Nam, Dự án CarBi và các nguồn tài trợ khác trong giai đoạn hiện nay cũng như trongtương lai đối với KBT là hết sức cần thiết
2.4 Các đe dọa chính và những vấn đề về quản lý:
2.4.1 Các mối đe dọa:
Do KBT mới thành lập và Ban quản lý chỉ bắt đầu triển khai một số hoạt độngvới sự trợ giúp ban đầu của Dự án CarBi nên đã và đang phải chịu nhiều áp lực tháchthức Phần lớn các đe dọa lên KBT chủ yếu là do con người gây nên, đặc biệt là cộngđồng người dân Cơ Tu trong vùng đệm Hoàn cảnh đời sống còn nhiều khó khăn vềnhiều mặt, thu nhập chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng, sự hiểu biết về bảo tồn còn hạnchế, họ chưa hiểu rõ cũng như chưa được hưởng lợi trực tiếp từ KBT mang lại v.v
(Bảng 10 Phần Phụ lục)
2.4.2 Những vấn đề về quản lý:
- Hệ thống tổ chức BQL Khu bảo tồn đã được thành lập, nhưng chưa được cấutrúc hoàn thiện theo Nghị định 117/2010/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức quản lý hệthống rừng đặc dụng; điều này đã làm hạn chế năng lực của BQL và tiềm năng củaKhu bảo tồn trong nhiều hoạt động
- Nguồn đầu tư kinh phí của Nhà nước cho hoạt động QLBVR còn nhiều hạnchế Nguồn kinh phí hỗ trợ bên ngoài hiện nay chỉ có từ dự án CarBi làm hạn chế việctriển khai các hoạt động cho công tác bảo tồn
- BQL và các cộng đồng địa phương vùng đệm chưa có sự hợp tác tốt và thườngxuyên trong các hoạt động như truyền thông giáo dục, bảo tồn ĐDSH, thực thi phápluật và cải thiện sinh kế của người dân vùng đệm
- Người dân vùng đệm thiếu đất sản xuất, còn duy trì tập tục cũ phát nương làmrẫy, không có ngành nghề phụ để tăng nguồn thu nhập và cải thiện cuộc sống, làmgiảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng
- Khu bảo tồn và chính quyền địa phương chưa có cơ hội để xây dựng Dự ánphát triển kinh tế - xã hội vùng đệm, do vậy các giải pháp về sản xuất, chăn nuôinhằm nâng cao sinh kế của người dân một cách bền vững còn bị hạn chế
- Khu bảo tồn chưa có điều kiện để phát huy tiềm năng về DLST
2 5 Những hạn chế về quản lý:
2.5.1 Độ lớn:
Địa bàn KBT Sao la Quảng Nam cực kỳ phức tạp, tuy diện tích 15.800 ha làkhông lớn, nhưng nó lại trải dài từ biên giới Việt – Lào đến dọc vùng giáp ranh giữa 2tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam và nằm trên địa bàn của 2 huyện thuộc vùng
rừng núi Tây Giang và Đông Giang (Bản đồ 1, Phụ lục bản đồ)
2.5.2 Hình dạng:
Trang 30KBT có hình dạng, thon, dài có chổ chiều ngang chỉ khoảng 1,5 km, lại nằmhoàn toàn trên vùng rừng núi, địa hình bị chia cắt rất mạnh, phức tạp
2.5.3 Do có hình dạng nói trên nên đã làm cho giao thông đi lại bên trong cũng
như khả năng tiếp cận từ bên ngoài vào KBT khó khăn, gây cản trở trong việc triểnkhai công tác và quản lý địa bàn
2.6 Tình trạng về pháp lý:
Ban quản lý KBT Sao la Quảng Nam được thành lập theo Quyết định UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam, trực thuộc Chi cục Kiểm lâmtỉnh; cán bộ KBT được điều động từ các đơn vị trực thuộc Chi cục Kiểm lâm, đây làmặt thuận lợi trong công tác chỉ đạo điều hành và thực hiện các công việc chuyênmôn trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng UBND tỉnh Quảng Nam cũngđã phê duyệt dự án thành lập KBT tại Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày13/7/1012
522/QĐ-Tuy diện tích KBT là 15.800 ha, nhưng trong Quyết định 48/2007/QĐ-UBNDngày 30/10/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam về quy hoạch 3 loại rừng tại đây chỉ có11.635.03 ha; vì vậy, diện tích còn lại cần phải chuyển đổi sang chức năng rừng đặcdụng để phù hợp về mặt pháp luật quy định hiện hành
2.7 Kế hoạch phân vùng:
Dựa trên tình hình thực tế, theo đề án quy hoạch, KBT được chia thành 02 phânkhu chức năng: Đó là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu hành chính - dịch vụ.Vùng đệm của KBT có diện tích là 35.135,44 ha bao gồm các xã: Bhalêê, Avương,
Anông huyện Tây Giang; Tàlu, Sông Kôn, Ating huyện Đông Giang (Bảng 3, Phần
Phụ lục)
2.8 Các vấn đề về cộng đồng:
Các cộng đồng dân cư trong vùng đệm, chủ yếu là dân tộc Cơ Tu từ lâu đời naycó đời sống phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn tài nguyên rừng Họ lấy củi đun,thu mật ong, lấy cây thuốc v.v để sử dụng trong gia đình theo phương pháp truyềnthống, số còn lại đem trao đổi buôn bán tại tại các chợ gần các khu dân cư, tập quánvới cuộc sống tại làng bản Người dân luôn đối mặt với tình trạng thiếu phương tiện đilại, đường giao thông đi lại rất khó khăn
Người Cơ Tu vẫn giữ truyền thống phát nương làm rẫy xung quanh các vùng núicao và thung lũng hẹp Đất sản xuất lâm-nông dần dần trở nên thiếu khi dân số ngàycàng tăng Mặc dầu vậy, nhưng các vùng đất định cư của họ ít có thay đổi và khôngcòn tái diễn đời sống du canh du cư mà hàng chục thế hệ xưa kia đã để lại dấu tích.Nghề chăn nuôi đại gia súc ít phát triển Một cuộc sống tự cung tự cấp tuy nghèo nànnhưng từ lâu đã quen đối với mỗi gia đình Tuy nhiên, dần dần cuộc sống của họ đãthay đổi theo hướng đổi mới của đất nước, nhu cầu đời sống gia tăng, người ta bắt đầubị phụ thuộc nhiều hơn, khai thác nhiều hơn các nguồn tài nguyên rừng như: mây
Trang 31song, chặt gỗ và săn bắt các loài động vật rừng, không chỉ còn để sử dụng trong giađình, làm thực phẩm hàng ngày mà còn đem buôn bán trao đổi với các vùng xa hơn.Sôi động hơn nữa là các hoạt động khai khoáng bất hợp pháp, tuy xảy ra ở vùng đệmnhưng cũng đã và đang gây hậu quả bất lợi và đã trở thành các mối đe dọa đối với
KBT (xem Bảng 10, Phần Phụ lục)
Trước tình trạng các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt,chất lượng rừng suy giảm, đất đai cho sản xuất cũng trở nên chật hẹp, lao động dưthừa ngày một gia tăng, và nhu cầu đời sống lại ngày một cao hơn v.v Vì vậy, khiKBT thành lập, tuy chỉ mới từ năm 2011 nhưng đã bộc lộ ngày càng rõ rệt các đe dọalên tài nguyên đa dạng sinh học, tạo sức ép ngày càng gia tăng của các cộng đồng dân
cư địa phương đối với các hoạt động quản lý bảo vệ của KBT dễ hình thành nhiềuxung đột Tuy cuộc sống của người dân đã dần được cải thiện, nhưng trước thực trạnghiện nay đòi hỏi KBT cần nhanh chóng có các giải pháp để từng bước kịp thời ngănchặn các đe dọa do chính người dân gây ra Song song với việc gia tăng hoạt độngkiểm tra, giám sát và thực thi luật, cần áp dụng nhiều hình thức tuyên truyền giáo dụcngười dân phù hợp và quan trọng hơn cả là cùng với chính quyền địa phương tìmkiếm các giải pháp nhằm nâng cao đời sống của các cộng đồng dân cư thôn bản, nhấtlà đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng đệm
2.9 Sinh cảnh đại diện:
Khu bảo tồn được đánh giá là khu vực có sinh cảnh rất quan trọng đối với loàiSao la, các loài thú móng guốc, linh trưởng và chim Trĩ Cùng với Sao la, KBT còn làvùng phân bố của Mang Trường Sơn, cũng là loài thú lớn đặc hữu mới được phát hiệncho khoa học tại khu vực rừng núi Trung Trường Sơn
Khu bảo tồn Sao la là nơi còn sót lại hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới trên đai địa hìnhnúi thấp (lowlands) ở vùng Trung bộ Việt Nam Đây là hệ sinh thái rừng có tính đa dạngsinh học cao, thể hiện trong sự đa dạng về cấu trúc thành phần loài, chứa đựng trong đónhiều loài đặc hữu, quý hiếm đối với cả khu hệ thực vật, động vật (cả thú, chim, bò sátếch nhái), vi sinh vật và nấm Đồng thời, cũng cần lưu ý rằng loại rừng trên đai địa hìnhnúi thấp luôn là đối tượng được ưu tiên trong quá trình tìm kiếm, khai thác và sử dụngcủa con người; vì vậy, ngày nay ít thấy nó được còn lại với diện tích lớn và cũng vì thếmà hệ sinh thái rừng còn lại trên đai địa hình núi thấp luôn bị đe dọa về nhiều mặt (khaithác gỗ, săn bắt, khai phá đất cho sản xuất nông lâm nghiệp và tái định cư); đây là hệ sinhthái rừng có giá trị bảo tồn cao đối với Việt Nam và Thế giới (WWF, 2008), hay cònđược coi là các điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu (ICBP/ InternationalCouncil for Bird Preservation, 1992)
2.10 Xác định ranh giới và mốc giới:
Quyết định phê duyệt thành lập KBT theo Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày13/7/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam đã nêu rõ diện tích, lô, khoảnh, tiểu khu vềlâm phận của KBT Tuy nhiên, ranh giới ngoài thực địa chưa được khảo sát, cắm mốc
Trang 32rõ ràng Điều này gây khó khăn trong công tác quản lý Vì vậy, trong thời gian tớiBQL cần kiểm tra lại ranh giới KBT cả trên bản đồ và trên thực địa, chú ý khu vực cóđất sản xuất của người dân tại thôn Aur, xã AVương và thôn Atép 2, xã Bhalêê củahuyện Tây Giang
Việc xác định ranh giới và cắm mốc giới liên quan đến quá trình xử lý các viphạm mà trước tiên là trong việc giải quyết các vi phạm về lấn chiếm đất lâm nghiệpdọc theo ranh giới KBT
2.11 Nâng cao nhận thức về môi trường:
Nâng cao nhận thức về môi trường cũng như về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên làhoạt động được KBT quan tâm và triển khai tại các thôn bản vùng đệm như giới thiệuvề Khu bảo tồn, về pháp luật bảo vệ tài nguyên rừng, về các loài động vật rừng quýhiếm trong đó có Sao la Tuy nhiên, những hoạt động này còn rời rạc, không thườngxuyên, theo thời vụ và nghèo nàn về nội dung, nên chưa thu hút được đối tượng cầntuyên truyền Nguyên nhân là do thiếu tư vấn và kinh nghiệm về lĩnh vực này, kinhphí còn hạn hẹp, chưa có điều kiện tổ chức biên soạn tài liệu tuyên truyền phù hợpcũng như tổ chức các chiến dịch truyền thông sâu rộng đến từng người dân trong cácthôn bản cũng như tại các trường học
2.12 Hiện trạng các khu vực giáp ranh: (khu vực nội địa và dọc biên giới Việt
Lào)
2.12.1 Quan hệ hợp tác quốc tế:
Mới bước đầu có hoạt động giao ban về an ninh biên giới định kỳ giữa 2 bên ViệtNam, Lào ở cấp huyện (huyện Tây Giang thuộc tỉnh Quảng Nam và huyện A Lưới của
tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Ka Lùm của Lào) (Mục 9, Phần 1)
2.12.2 Các xung đột tại vùng giáp ranh:
Tại các khu vực giáp ranh dọc biên giới Việt - Lào cho đến nay chưa hề có bất kỳxung đột nào xẩy ra
Tuy nhiên, tại các vùng giáp ranh giữa KBT và các địa phương lân cận còn tồntại một số khó khăn, tiềm ẩn nguy cơ:
- Tranh dành đất đai do chưa xác định cụ thể ranh giới tỉnh, huyện, xã Vì vậy,trong xác định đất canh tác chưa rõ ràng giữa các địa phương
- Khó giải quyết các vấn đề liên quan giữa ranh giới về bảo tồn và nhu cầu khaithác tài nguyên rừng của người dân địa phương vùng đệm
- Khó khăn trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng giữa các địa phương, thayđổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi (như khai hoang để trồng cao su, phát triển chăn nuôi),và trong quy hoạch các dự án về phát triển công nghiệp, dịch vụ của chính quyền cácđịa phương
Trang 33- Còn tồn tại tình trạng người dân của các huyện: Tây Giang (Quảng Nam),Alưới, Nam Đông (Thừa Thiên Huế) săn bắt động vật giữa vùng giáp ranh gây khókhăn trong công tác tuần tra.
Giữa các bên liên quan về phương diện quốc tế hay nội bộ trong nước đều sẽphải cần đến các thỏa thuận về hợp tác trong các hoạt động liên quan giữa các cấpchính quyền và Ban quản lý khu bảo tồn…
Trang 34PHẦN BA CÁC NỘI DUNG QUẢN LY
3.1 Mục tiêu:
Như đã trình bày ở Phần 2 của KHQL, Khu bảo tồn mới được thành lập nên các
mục tiêu quản lý đã đề xuất từ đầu hiện vẫn chưa có gì thay đổi (xem Phần 2, Mục 2)
Chủ yếu cần tập trung vào các mục đích cụ thể như sau:
(1) Bảo vệ và phục hồi số lượng quần thể loài Sao la;
(2) Bảo vệ, phục hồi quần thể các loài đặc hữu và bảo tồn quan trọng khác;
(3) Bảo vệ và phục hồi các thảm thực vật và hệ sinh thái điển hình;
(4) Giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về KBT;
(5) Triển khai sự hợp tác về bảo tồn và an ninh biên giới giữa các bên liên quantại các khu vực giáp ranh (ở cấp độ quốc gia và quốc tế)
3.2 Hiện trạng về luật pháp:
- Ban quản lý KBT hiện đã có quyết định thành lập và UBND tỉnh Quảng Namđã ra quyết định thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la; là những cơ sở pháplý quan trọng để Ban quản lý KBT tiến hành triển khai các hoạt động đề xuất, đặc biệtlà các thủ tục về cấp đất, xác định ranh giới và cung cấp nguồn kinh phí cho Ban quảnlý KBT
- Các chương trình phát triển, quản lý, bảo vệ và tổ chức Khu bảo tồn đều tuânthủ theo các văn bản pháp lý đã có trước đây của Nhà nước như: Luật bảo vệ và pháttriển rừng, Luật đa dạng sinh học, Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 củaThủ tướng Chính phủ, Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủvà Thông tư 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn
3.3 Ranh giới và phân vùng:
3.3.1 Ranh giới:
Ngày 13/7/2012, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số UBND về việc phê duyệt dự án thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la; đây làmột văn bản quan trọng, là cơ sở để thực hiện các nội dung trong đề án quy hoạchKBT Một trong những hoạt động quan trọng đầu tiên là tổ chức bàn giao địa bànquản lý một cách hợp pháp để tiến hành mắc mốc phân định ranh giới KBT của các
2265/QĐ-cơ quan chức năng và các bên liên quan về ranh giới để tìm tiếng nói chung và sựđồng thuận chung của các bên
3.3.2 Các vùng quản lý:
Trang 35Dựa trên tình hình thực tế, theo đề án quy hoạch, KBT được chia thành 02 phân
khu chức năng: đó là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu hành chính - dịch vụ
3.3.2.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 15.800 ha, bao gồm 22 tiểu khu rừng,được quy hoạch dựa theo các đặc điểm chủ yếu sau:
- Mục tiêu chính ưu tiên hàng đầu giống như tên gọi đây là khu bảo tồn là loài vàsinh cảnh Sao la Chủ yếu là bảo vệ và bảo tồn loài Sao la đang ở tình trạng cực kỳnguy cấp (CR) cùng với các hệ sinh thái và sinh cảnh vùng sống của chúng Tại đây,như chúng ta đã biết đây còn là nơi cư trú của 2 loài thú mới đang nguy cấp là Manglớn và Mang Trường Sơn
- Căn cứ vào phân bố loài Sao la, đặc điểm rừng là sinh cảnh vùng sống của Sao lacho thấy, độ che phủ của rừng tại nơi đây chiếm trên 92% diện tích, đặc điểm rừng và
đa dạng sinh học tương đối đồng nhất, rừng đã phục hồi tương đối tốt, những khu vựcđất trống cỏ, cây bụi cũng là sinh cảnh của các loài móng guốc và các loài động vậtkhác, đặc biệt tại đây có vùng rừng đầu nguồn với các dòng suối có nhiều đá, nơi qualại của Sao La
- Căn cứ vào tình hình phân bố dân cư, các vùng rừng được quy hoạch là phânkhu bảo vệ nghiêm ngặt nằm cách xa khu dân cư ở vùng đệm
Trên cơ sở đó, để có điều kiện bảo vệ loài Sao la một cách có hiệu quả nhất, dựán quy hoạch KBT đã không tuân thủ việc phân chia khu bảo tồn thành 3 phân khuchức năng theo thông lệ của các văn bản pháp lý hiện hành mà chỉ phân KBT thành 2phân khu chức năng như đã phân tích trên đây
3.3.2.2 Phân khu dịch vụ - hành chính:
Chức năng của phân khu này là nơi có trụ sở Ban quản lý Khu bảo tồn với cácphòng ban chức năng, là địa điểm tổ chức dịch vụ du lịch, các hoạt động hỗ trợ pháttriển kinh tế xã hội và tuyên truyền giáo dục trong toàn khu vực
Diện tích: Phân khu hành chính dịch vụ có diện tích là 22 ha (bao gồm 2 ha của 4
Trạm Kiểm lâm)
3.3.2.3 Vùng đệm:
Phạm vi ranh giới: Theo Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 củaChính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng thì các xã có diện tích trongKhu bảo tồn hoặc có ranh giới giáp với Khu bảo tồn được quy hoạch vào vùng đệm.Trên cơ sở đó vùng đệm của KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam được đề xuấtthuộc điạ bàn của 6 xã, gồm phần diện tích còn lại sau khi đề xuất quy hoạch vùng lõikhu bảo tồn thuộc xã: Bhalêê, AVương (Tây Giang); Tà Lu, Sông Kôn (Đông Giang);ngoài ra, còn có 2 xã giáp ranh khác cũng được đề xuất thuộc vùng đệm KBT đó là:xã A Nông (Tây Giang) và A Ting (Đông Giang) Hầu hết diện tích đất canh tác nôngnghiệp của 6 xã trên đều nằm ngoài và tương đối xa khu vực đề xuất thành lập Khu
Trang 36bảo tồn loài (trừ một số ít khu vực bị lấn chiếm bất hợp pháp) Diện tích đất lâmnghiệp quy hoạch rừng sản xuất và giao về địa phương quản lý để giao hộ gia đình đủđể người dân có đất rừng nhằm phát triển các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp.
Toàn bộ vùng đệm có diện tích là 35.135,44 ha, thực hiện chức năng như một
vành đai bảo vệ, là hàng rào chắn phòng hộ cho Khu bảo tồn (xem cụ thể tại phụ lục
3)
3.4 Các chương trình quản lý:
3.4.1 Quản lý tài nguyên:
Về hoạt động quản lý tài nguyên theo như các mục tiêu đã xác định, chủ yếu tập
trung vào quản lý tài nguyên rừng, ưu tiên hàng đầu là quản lý các loài hoang dã, tiêubiểu là Sao la và một số loài động thực vật đặc hữu, quý, hiếm và bị đe dọa ở mức độcao, có ý nghĩa bảo tồn quan trọng đối với thế giới, cùng với việc bảo tồn các nguồngen có giá trị
Song song với việc quản lý các loài là việc quản lý các hệ sinh thái đại diện, chứađựng trong đó các nguồn gen quý, các sinh cảnh hay vùng cư trú thích hợp của cácloài đặc hữu
Để quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên, trong các hoạt động tuần tra bảo vệcần ưu tiên việc thực thi luật, đồng thời tổ chức hệ thống kiểm tra và PCCCR, nhất làtrong mùa khô nóng
3.4.1.1 Bảo vệ và thực thi luật:
Ngoài các hoạt động đã nêu ở trên, chương trình bảo vệ được coi là một trọng tâmkhi mà sự hiểu biết và đời sống của người dân địa phương còn hạn chế, các phong tụctruyền thống của họ trong đời sống và sản xuất chưa thay đổi, nhất là đối với các cộngđồng dân tộc người thiểu số chiếm đa số trong các vùng dân cư tiếp giáp với KBT.Một số hoạt động cụ thể cần thực hiện:
- Tổ chức các đợt tuần tra truy quét nhằm vào các điểm tập trung các đối tượng viphạm theo định kỳ và đột xuất tại hầu hết các lâm phận trên địa bàn (ưu tiên các điểmnóng/hot pots), thông qua đó đẩy mạnh việc thực thi pháp luật
- Tại các điểm có tính chất phức tạp thì tổ chức phối hợp truy quét theo quy chếphối hợp giữa KBT và các đơn vị liên quan như: Công an, Quân đội, lực lượng Biênphòng, Chính quyền địa phương các cấp, lực lượng Kiểm lâm Đông Giang và TâyGiang đồng thời huy động sự tham gia của người dân
- Rà soát, tổ chức mạng lưới PCCCR giữa BQL, chính quyền các cấp và hộ giađình nhận khoán bảo vệ rừng; Tổ chức tập huấn thường kỳ về hoạt động này
- Thường xuyên chú ý đến việc đào tạo, nâng cao năng lực về thực thi luật chocán bộ KBT, lực lượng Kiểm lâm, cán bộ địa phương v.v Thông qua các khóa tập
Trang 37huấn được tổ chức tại KBT hoàn thiện các thể chế, các văn bản liên quan để tăngcường công tác bảo vệ.
3.4.1.2 Quản lý sinh cảnh: (vùng cư trú của các loài)
- Tăng cường bảo vệ các khu rừng lá rộng trên địa hình núi thấp hiện có, đây làvùng địa hình thường bị tác động mạnh, nhất là tại địa bàn huyện Đông Giang;
- Triển khai các chương trình phục hồi rừng, đặc biệt là trên vùng đã bị thoái hóavà thay thế bằng thảm cỏ và tre nứa;
- Gia tăng kiểm tra cháy và hoàn thiện phương pháp kiểm tra PCCCR;
- Hạn chế tối đa hoạt động khai khác không hợp lý hay hướng dẫn khai thác sửdụng hợp lý các loại lâm sản ngoài gỗ như: củi đun, mây song, và cây thuốc v.v ;
- Căn cứ vào các vùng sản xuất nông - lâm nghiệp để xác định nguồn gốc của cáctác động dựa theo mốc giới giữa KBT và khu dân cư Kết quả giám sát về tác độngcủa con người (được giới thiệu tại Mục 3.4.3.2) sẽ cho thấy rõ hơn chiều hướng củaloại hình tác động này lên KBT
3.4.1.3 Quản lý các loài hoang dã:
- Tăng cường cảnh giác, tuần tra bảo vệ, nghiêm cấm tuyệt đối các hoạt động sănbắt (bắn, bẫy) các loài hoang dã, đặc biệt đối với Sao la Khi có các vi phạm xảy racần phối hợp với các cơ quan pháp luật để xử lý nghiêm
- Tổ chức điều tra toàn diện về Sao la, các khu vực phân bố của Sao la và các loài
thú bảo tồn quan trọng khác còn lại trong KBT (xem Mục 3.3.1)
- Xây dựng chương trình giám sát về đa dạng sinh học, tập trung vào Sao la nhưlà một trong các loài mục tiêu quan trọng của chương trình này (bên cạnh loài MangTrường Sơn, Voọc và Trĩ sao…) để thường xuyên bổ sung các số liệu về hiện trạng và
xu hướng thay đổi quần thể của chúng trong KBT (xem Mục 3.4.3.2)
- Để triển khai hoạt động này đạt hiệu quả cao cần bố trí cán bộ kỹ thuật, Kiểmlâm viên có kinh nghiệm trong hoạt động hiện trường và theo định kỳ cần tổ chức tậphuấn nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc của các đối tượng này Trong trường hợpcần thiết nên mời chuyên gia chuyên ngành trực tiếp tham gia Cần cung cấp các vật
tư trang bị đáp ứng yêu cầu của các hoạt động này (xem Mục 3.3.2)
- Phối hợp với các khu bảo tồn giáp ranh (KBT Sao la Thừa Thiên Huế, VQGBạch Mã mở rộng và cả khu Sê Xáp thuộc Lào) để trao đổi mọi thông tin và triển khaicác hoạt động liên quan trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài, hướng đến việcxây dựng cơ sở dữ liệu điều tra trên cơ sở sử dụng phần mềm hiện sử dụng MISTphục vụ nghiên cứu, cung cấp và trao đổi thông tin
3.4.2 Quản lý các hoạt động của con người: (Management of Human Use)
3.4.2.1 Đối với các hộ gia đình, đơn vị ở dọc ranh giới:
Trang 38Về ranh giới
Hiện nay KBT đã có ranh giới, nhưng vẫn phải coi là ranh giới tạm thời đượcquy hoạch lúc đầu, sau này có thể còn phải điều chỉnh lại khi thực hiệm cắm mốc ranhgiới
Quá tình tiến hành hoạt động phân định ranh giới chính thức và cắm cột mốccũng như điều chỉnh ranh giới sau này cần có sự tham gia của chính quyền và ngườidân địa phương Các hội nghị với cộng đồng về ranh giới phải được tổ chức trước khibắt đầu và sau khi đã hoàn thiện hoạt động cắm mốc giới Quá trình được bắt đầu từtrên bản đồ cho đến khi thực hiện tại thực địa phải tiêu tốn khá nhiều thời gian, kinhphí của các bên liên quan và đại diện người dân Quá trình thực hiện phải sử dụng cáctrang thiết bị, dụng cụ hiện đại để xác định đúng các tọa độ khi cắm mốc; chủng loạivà số lượng mốc giới được xác định theo theo tiêu chí ghi trong các văn bản quy địnhcủa nhà nước Mọi tranh chấp về ranh giới và quyền sử dụng đất của các bên liênquan và người dân (nếu có) sẽ được phân định theo pháp luật hiện hành
Các vùng quản ly
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam hiện có chỉ được phân chiathành 2 phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và Phân khu dịch vụ hành
chính (Bảng số 10 tại Phần 2 của KHQL mô tả về diện tích cụ thể của từng khu vực)
và sẽ có thay đổi về diện tích khi có sự điều chỉnh khi cắm mốc ranh giới KBT saunày Hoạt động về phân vùng quản lý KBT thực hiện theo Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày24/12/2010 của Chính phủ và Thông tư 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 củaBộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chính quyền và các đơn vị, các hộ gia đình này là các thành viên quan trọngtrong hoạt động hoạch định ranh giới KBT, đóng cột mốc, tham gia hội nghị ranhgiới; BQL của KBT cần có các hoạt động kiểm soát và tuyên truyền vận động các bênliên quan tham gia và thực hiện nghiêm các văn bản pháp luật liên quan
Công tác bảo tồn Sao la cũng như bảo vệ tài nguyên rừng thường chứa đựng mâuthuẫn với phát triển kinh tế - xã hội, nhưng thực chất là mâu thuẫn tích cực Trước hết,nó làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân nên cần phải có giải pháp phù hợp để hàihòa giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội
Trước mắt, khi thành lập Khu bảo tồn Sao la thì một số lợi ích từ việc khai tháclâm sản từ rừng sẽ hạn chế hơn Kết quả điều tra kinh tế - xã hội tại các xã trong khuvực cho thấy, hiện tại còn một số lợi ích của một bộ phận người dân (mặc dù hầu hếtlà trái phép) như khai thác gỗ, săn bắt (chủ yếu là trái phép) động vật, khai thác lâmsản ngoài gỗ và chăn thả gia súc cần được kiểm soát Cũng theo kết quả điều tra thì sốlượng thợ săn không chỉ là người địa phương mà còn có một số người từ nơi khác;đặc biệt, những người buôn bán lâm sản thì chủ yếu từ nơi khác tới Từ những hoạt
Trang 39động này đã dẫn đến một số xung đột trong công tác quản lý, giữa cán bộ bảo vệ vàngười đi khai thác buôn bán lâm sản.
Dưới đây là một số giải pháp được đề xuất nhằm giảm thiểu những mâu thuẫngiữa bảo tồn thiên nhiên và lợi ích kinh tế trong khu vực:
- Nhanh chóng xây dựng dự án đầu tư phát triển bền vững vùng đệm theo hướngdẫn của của Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chứcvà quản lý hệ thống rừng đặc dụng Từ đó có thể khai thác được tiềm năng phát triểnkinh tế, kêu gọi các nguồn vốn hỗ trợ phát triển vùng đệm, giảm áp lực tới Khu bảotồn Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la sẽ là chủ đầu tư của dự án vùng đệm theo quyđịnh của Nghị định này
- Khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật,đồng thời chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu mùa vụ nâng cao năngxuất sản phẩm, cải thiện đời sống người dân; đặc biệt, chú ý tới các kỹ thuật khai tháctrên đất dốc Nếu khai thác hết tiềm năng đất nông nghiệp trong khu vực thì chắc chắn
sẽ đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng dân cư
- Tiếp tục giao đất lâm nghiệp cho người dân, đồng thời khai thác tiềm năng đấtđai và tài nguyên rừng đã được giao, phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng sản xuấtcây công nghiệp có năng suất cao, phát triển các loài gỗ quý trong các khu rừngkhoanh nuôi bảo vệ cho lâu dài Từ đó sẽ phát huy vai trò kinh tế lâm nghiệp đối vớicộng đồng, để người dân sinh sống gần rừng có thể sống và làm giàu được bằng nghềrừng
- Có chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân trong phát triển kinh tế nông,lâm nghiệp nhằm khai thác và phát huy lợi thế về đất đai trong khu vực Trong khuvực hiện có một số loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao nên đưa vào các môhình phát triển kinh tế vườn rừng như: Ba kích, lòn bon, cao su, mây nước (chú ýkhông nên trồng mây nếp, hay còn gọi là mây tắt trong khu vực vì không có thịtrường); các loài này trong các mô hình vườn rừng
- Huy động người dân tham gia bảo vệ Sao la và quản lý tài nguyên rừng, có chínhsách chi trả hợp lý các hợp đồng khoán bảo vệ rừng chẳng hạn như dịch vụ môitrường rừng để cộng đồng dân cư thấy được những giá trị của rừng và có thêm nguồnthu nhập
- Phát triển các ngành nghề khác như: chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, nuôiong, công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, để tăng nguồn thu nhậpcải thiện đời sống
- Thực hiện tốt chương trình tuyên truyền giáo dục đã đề xuất trong dự án này, từđó nâng cao nhận thức của các tầng lớp xã hội, thấy được vai trò quan trọng của Khubảo tồn đối với đời sống hàng ngày: Phòng hộ cho nông nghiệp, cung cấp nước sinhhoạt, tạo cảnh quan môi trường Thông qua chương trình sẽ giúp nâng cao tráchnhiệm của các tầng lớp xã hội trong việc giữ gìn và ổn định lâu dài về đời sống vật
Trang 40chất và tinh thần cho các thế hệ, phục vụ phát triển bền vững, giảm mọi áp lực lênKBT Do vậy, BQL cần nhanh chóng xây dựng dự án phát triển KT-XH vùng đệm vàtriển khai các hoạt động của dự án với vai trò là chủ đầu tư.
Đồng quản ly
Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la hoạt động sẽ hiệu quả hơn nếu có được sự phốikết hợp của chính quyền, ban ngành các cấp từ xã đến tỉnh và khu vực với các giảipháp cơ bản như sau:
- Xây dựng quy chế phối hợp các hoạt động quản lý bảo vệ giữa các khu rừng đặcdụng là Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam, Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế vàVườn quốc gia Bạch Mã vì 3 khu rừng đặc dụng này hiện nối liền ranh giới với nhauvà đều có chung mục tiêu là bảo tồn loài Sao la
- Bên cạnh đó là sự phối hợp chặt chẽ hơn của Ban quản lý KBT với các đơn vịkhác trong vùng như: Hạt Kiểm lâm các huyện, các đơn vị Quân đội, Công an vàCảnh sát môi trường, Bộ đội Biên phòng; Chính quyền địa phương các cấp từ huyệnđến xã và thôn bản, kể cả các già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộngđồng dân cư
- Vì KBT mới thành lập nên mức độ phối hợp chung cũng như sự tham gia củacộng đồng địa phương còn nhiều hạn chế trong các hoạt động về quản lý, bảo vệ Cáchoạt động đồng quản lý chắc chắn còn cần thêm thời gian với các giải pháp cụ thể kểcả việc nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của cộng đồng về khu bảo tồn và các hoạtđộng quản lý mà Ban quản lý hiện đang giữ vai trò độc tôn
- Xác định rõ vai trò của Ban quản lý với các cơ quan cấp huyện, xã Đặc biệt làm
rõ mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm lâm rừng đặc dụng và Kiểm lâm huyện, có cơ chếphối hợp để không chồng chéo
- Cộng đồng dân cư tham gia phục hồi rừng, trồng rừng, nhất là trồng cây phântán Thông qua hệ thống tổ chức về PCCCR ở địa phương, các hộ gia đình nhận giaokhoán bảo vệ rừng tham gia các hoạt động này; đồng thời KBT tổ chức thu hút cộngđồng tham gia các hoạt động dịch vụ hệ sinh thái, tuần tra bảo vệ, phát hiện và ngănchặn mọi hành vi xâm hại tài nguyên rừng và đất rừng
- Xây dựng các mô hình sản xuất, chăn nuôi, hỗ trợ kỹ thuật tăng cường hoạt độngkhuyến nông - lâm, từng bước cải thiện đời sống cộng đồng
3.4.2.2 Các chương trình dịch vụ hệ sinh thái rừng:
+ Chương trình du lịch và du khách
Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam mới thành lập nên chưa có chương trình du lịchvà du khách Chương trình này có thể được xây dựng trong tương lai
+ Các chương trình DFES, REDD và REDD+