1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đề án Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM Việt Nam

66 394 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM Việt Nam
Tác giả Phạm Quang Hải
Người hướng dẫn Th.S Trần Thị Thanh Tú
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 601,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi suất như các số tiền gửi vào sổ tiết kiệm hay các tài khoản định kỳ.. ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một bản l

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

LỚP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 45 C

TCDN45C@yahoo.com TCDN45C@gmail.com

Tài liệu chỉ được sử dụng vì mục đích nghiên cứu khoa học.

Nghiêm cấm sử dụng với mục đích thương mại.

Xin liên hệ trực tiếp tác giả để biết thêm chi tiết.

Trang 2

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Đề tài: Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở

các NHTM Việt Nam

Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thị Thanh Tú

Sinh viên thực hiện : Phạm Quang Hải

Lớp : Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Hà Nội - 2006

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1 Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM 4

1.1 Khái niệm và đặc điểm tiền gửi trong các NHTM 4

1.2 Vai trò của tiền gửi trong NHTM 8

2 Phân loại tiền gửi trong các NHTM 9

2.1 Tiền gửi không kỳ hạn 9

2.2 Tiền gửi có kỳ hạn 13

2.3 Tiền gửi tiết kiệm 16

3 Chi phí đối với các loại tiền gửi 17

3.1 Chi phí huy động tiền gửi 17

3.2 Các phương pháp định giá tiền gửi 18

4 Cơ cấu tiền gửi trong một NHTM 25

4.1 Các yếu tố quyết định cơ cấu tiền gửi trong một NHTM 25

4.2 Cơ cấu tiền gửi trong NHTM 25

5 Quản lý nguồn tiền gửi 29

5.1 Quản lý lãi suất: 30

5.2 Quản lý quy mô và cơ cấu 35

5.3 Quản lý kỳ hạn 36

5.4 Phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn 40

CHƯƠNG 2 49

LIÊN HỆ THỰC TIỄN 49

1 Tình hình huy động và quản lý tiền gửi tại các NHTM Việt Nam 49

1.1 Thực trạng huy động tiền gửi tại các NHTM Việt Nam 50

1.2 Thực trạng quản lý tiền gửi tại các NHTM Việt Nam 56

2 Khả năng ứng dụng các mô hình quản lý tiền gửi tại NHTM Việt Nam 56

2.1 Quản lý lãi suất 57

2.2 Quản lý quy mô và cơ cấu 58

2.3 Quản lý kỳ hạn 60

2.4 Phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 4

mở rộng kinh doanh, nhu cầu về vốn cho nền kinh tế đã tăng lên Hiện nay

ở nước ta, thị trường tài chính chưa phải là kênh phân bổ vốn một cách có hiệu quả, do đó vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh

tế vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng Với vai trò là một trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại (NHTM) đã trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế Sự thịnh vượng và phát triển của một NHTM căn cứ vào đâu? Cũng như để hoàn thành tốt vai trò là cầu nối, là “người” cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, cho nền kinh tế, các NHTM phải dựa trên cơ sở nào Câu trả lời đó chính là Tiền gửi Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của Ngân hàng (NH)

Xuất phát từ vai trò quan trọng của Tiền gửi đối với mỗi NH nói riêng, cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, nên em chọn đề tài “Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM Việt Nam” để có điều kiện củng cố lại những kiến thức đã học và tiếp xúc với thực tế để biết thêm về hoạt động của các NHTM hiện nay

Trên cơ sở kiến thức đã học ở trường, các tài liệu tham khảo, một số kiến thức có được từ thực tế và qua sách báo em đã thực hiện đề án này Kết cấu của đề án gồm hai phần chính:

Trang 5

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiên gửi và quản lý nguồn tiền gửi

Chương 2: Liên hệ thực tiễn hoạt động huy động và quản lý tiền gửi tại các NHTM Việt Nam

Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của NH là rất đa dạng và phong phú Nhưng vì thời gian và khả năng tiếp cận của bản thân có hạn, vì thế em chưa thể phân tích một cách sâu sắc các hoạt động của NH, nên phạm vi đề tài của em chỉ tập trung nghiên cứu quá trình huy động và quản

lý tiền gửi của NH Và cũng do còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu nên đề

án của em vẫn còn những thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được sự đánh giá, góp ý và sửa chữa của cô

Em xin chân thành cảm ơn cô

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM.

1.1 Khái niệm và đặc điểm tiền gửi trong các NHTM

1.1.1 Khái niệm

Lịch sử phát triển hoạt động ngân hàng cho thấy rằng, hình thức ban đầu của nghiệp vụ tiền gửi là việc nhờ bảo quản những đồng tiền vàng Người chủ bảo quản phải đảm bảo trả lại chính những đồng tiền mà họ được chuyển giao để bảo quản Tất nhiên trong những điều kiện như vậy, người bảo quản không thể tiến hành các nghiệp vụ cho vay những đồng tiền nhân bảo quản đó, và không thể thu lợi nhuận để có thể trả lợi tức cho người gửi tiền Dần dần xã hội phát triển đã tạo điều kiện mà người gửi tiền không yêu cầu phải trả lại chính những đồng tiền mà họ gửi, mà chỉ yêu cầu trả lại tổng số tiền mà họ gửi Thời hạn bảo quản cũng kéo dài thêm Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền vay mượn đó để cấp tín dụng thu lợi tức và trả lãi cho người gửi tiền Nếu như trước đó việc cấp tín dụng dựa vào vốn tự có, thì bây giờ còn có thể sử dụng vốn vay mượn, đồng thời phải chú ý tới những điều kiện gửi tiền

Thông thường người ta xem tiền gửi là các số tiền do khách hàng gửi vào và để lại trong tài khoản của họ tại ngân hàng Hiểu như thế chưa trọn nghĩa

+ Đối với người gửi tiền, ý nghĩa của tiền gửi phụ thuộc vào mục đích

sử dụng của người gửi tiền, có thể tập hợp vào hai trường hợp: (1) Khách

Trang 7

hàng gửi tiền xin mở tài khoản để hưởng các lợi ích của các phương tiện

mà ngân hàng cung cấp cho họ Tiền gửi ở đây là số tiền được gửi vào để

sử dụng cho các nghiệp vụ trong tương lai hoặc do các nghiệp vụ phát sinh

từ trước còn lại (2) Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi suất như các số tiền gửi vào sổ tiết kiệm hay các tài khoản định kỳ Khi đó khách hàng không còn quyền sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như dùng séc để thanh toán chẳng hạn

+ Đối với Ngân hàng, các loại tiền gửi tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đối với NHTM, có nhiều loại tiền gửi khác nhau, nhưng nó chú trọng nhiều hơn đến hai nguồn chủ yếu: Tiền gửi của doanh nhân & Tiền gửi của dân cư

Qua những điều trình bày ở trên, người ta nhận thấy có khó khăn trong việc định nghĩa “tiền gửi” ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một bản luật: “Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền của người tiền gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng… hay bất cứ bằng cách nào khác; cũng thâu nhập vào khoản tiền tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho người gửi”

“Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”1 Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NH

1 Luật các TCTD 1997: điều 20, khoản 9.

Trang 8

Như vậy, về phương diện phỏp lý, người gửi tiền cú quyền lựa chọn cỏc loại tiền gửi theo yờu cầu và được hưởng cỏc dịch vụ ngõn quỹ do ngõn hàng cung ứng hoặc được hưởng lói suất, đồng thời cú nghĩa vụ để ngõn hàng tuỳ nghi sử dụng cỏc số tiền gửi cho hoạt động kinh doanh của ngõn hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả vào thời điểm mà người gửi yờu cầu (đối với loại tiền gửi khụng kỳ hạn) hoặc vào ngày đỏo hạn đối với loại tiền gửi cú kỳ hạn Cỏc khỏi niệm về tiền gửi theo quy định phỏp lý nờu trờn cú mối liờn quan mật thiết với tài khoản của khỏch hàng tại ngõn hàng Ngày nay người gửi cú nhiều hỡnh thức gửi tiền và cú thể làm cho tài sản bằng tiền sản sinh ra lói theo cỏc dự đoỏn của mỡnh.

1.1.2 Đặc điểm

Tiền gửi phải được thanh toỏn khi cú sự yờu cầu của khỏch hàng, ngay

cả khi đú là tiền gửi cú kỡ hạn chưa đến hạn Hoạt động nhận tiền gửi được

nhỡn nhận như là một nghiệp vụ kinh doanh của NHTM, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi của khỏch hàng thụng qua mở cho khỏch hàng một tài khoản như tài khoản gửi định kỡ (tiền gửi cú kỳ hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kỳ (tiền gửi khụng kỳ hạn) và tài khoản tiền gửi tiết kiệm Giao dịch nhận tiền gửi của NH được hiểu là cam kết song phương giữa NHTM với khỏch hàng gửi tiền, thụng qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi Giai đoạn đầu, nú chỉ đơn thuần là một hợp đồng dịch vụ gửi giữ tài sản, theo đú NH đúng vai trũ là bờn nhận gửi giữ để được nhận thự lao Về sau,

do nhu cầu khỏch quan của hoạt động kinh tế, giữa NH và khỏch hàng cú thờm thoả thuận NH cú thể sử dụng chớnh số tiền này để đầu tư nhằm mục đớch sinh lợi, với điều kiện là phải hoàn trả cho người sử dụng tũan bộ số vốn đó sử dụng kốm theo một khoản tiền lói nhất định tuỳ thuộc vào thời gian mà NH giữ khoản tiền đú Giao dịch nhận tiền gửi đã đợc nhìn nhận là hành vi vay tiền từ công chúng với cam kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi

đó cùng với nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi Việc NH giữ cỏc khoản tiền gửi này cho khỏch hàng khụng đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản

Trang 9

hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao (như giai đoạn khởi thuỷ) mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi vay của NHTM từ nền kinh tế Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì

NH buộc phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng

Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác Thông thường

chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng “Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng Đây là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng”2

Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc nên chi phí tiền gửi cao hơn trả lãi cho tiền gửi Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ

bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại Hiện nay, hầu hết các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng Mặt khác, ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi vì điều này sẽ làm giảm mức thu nhập tiềm năng của ngân hàng Hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường cung cấp các dịch vụ tài chính càng làm cho vấn đề nêu trên trở nên phức tạp hơn bởi vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi trong khi làm giảm thu nhập dự kiến

từ hoạt động đầu tư và cho vay

ở nhiều nước ngân hàng phải mua bảo hiểm tiền gửi NH là một tổ chức

có quan hệ mật thiết với các lĩnh vực, ngành kinh tế khác rất chặt chẽ, hơn nữa các NHTM cũng có mối quan hệ với nhau rất mật thiết Do đặc tính

2 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 459, NXB Tài chính.

Trang 10

phải thanh toán khi có yêu cầu của khách hàng nên các NHTM luôn luôn phải đảm bảo khả năng thanh toán của mình Khi một NHTM có nguy cơ sụp đổ rất có thể sẽ dẫn đến hiệu ứng Đôminô đối với các NHTM khác Vì vậy một số nước yêu cầu NHTM phải mua bảo hiểm tiền gửi, là để tránh rủi ro cho khách hàng gửi tiền, tạo tâm lý an toàn hơn cho khách hàng Như vậy sẽ đảm bảo an toàn cho cả hệ thống NHTM của quốc gia đó.

1.2 Vai trò của tiền gửi trong NHTM

Các khách hàng doanh nhân thông qua việc mở tài khoản để được ngân hàng cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài vụ một cách nhanh chóng và an toàn Những nghiệp vụ này nếu tự khách hàng đứng ra đảm trách sẽ tốn rất nhiều công sức và thời gian Về phía ngân hàng, qua nghiệp

vụ này, cũng thu hút được một số lượng tiền gửi của khách hàng trên tài khoản và một lệ phí nhất định

Đối với khách hàng thuộc tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một số séc để thuận tiện chi trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng

về tài chính có sinh lời Trong nền kinh tế thị trường, một công dân muốn tích luỹ vốn trước hết có hai khả năng lựa chọn: hoặc giữ đồng tiền tích luỹ được của mình trong két sắt, hoặc mua cổ phần (của các công ty cổ phần) hay mua trái phiếu (của nhà nước và của công ty) Cả hai khả năng này đều

có rủi ro hoặc ít khả năng thanh toán Do đó, họ phải có cách lựa chọn thứ ba: gửi tiền vào ngân hàng để vừa gữ được vốn tích lũy của mình tương đối

an toàn, vừa thu được một khoản lợi tức nhất định

Đối với các NHTM, tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác Tiền gửi là cơ sở chính cho các khoản cho vay của NHTM, là nguồn gốc xâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của Ngân hàng Khi huy động tiền gửi, ngân hàng

Trang 11

phải duy trì sự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại Khả năng huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng đánh giá tính hiệu quả trong quản lý ngân hàng Ngoài ra Ngân hàng còn thu được một khoản lệ phí nhất định.

2 Phân loại tiền gửi trong các NHTM.

2.1 Tiền gửi không kỳ hạn.

Là các loại tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi

có quyền rút tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn Ngân hàng sẽ sắp xếp loại tiền gửi này vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời gian không xác định Người vừa mới gửi tiền vào sáng nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày Nếu không có nhu cầu

sử dụng, anh ta có thể một thời gian sau mới rút ra Tính bất định về thời gian gửi, cùng với địa điểm có thể rút ra bất cư lúc nào đã làm cho loại tiền gửi này có tên gọi theo tiếng Anh là tiền gửi theo yêu cầu

Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong các tài khoản không kỳ hạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc chuyển nhượng khi cần Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền trong tài khoản séc (checking accounts) Khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú trọng đến tiền lãi Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền

tệ này bằng một hình thức tiền tệ khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt Khả năng tiện lợi của tiền gửi không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM đã phát hành ra nó Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp nơi trên lãnh thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì séc do chủ tài khoản viết ra

có hiệu lực thanh toán và được chấp nhận nhanh chẳng kém gì tiền mặt Đó

là lý do để tiền gửi không kỳ hạn được xem là loại hình gần tiền mặt nhất

Trang 12

trong tất cả các loại tiền của NHTM Khả năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là nhanh nhất vào bất cứ lúc nào và vì thế ở các nước phát triển, người

ta xem nó như là một loại tiền mạnh Tuy nhiên, nếu ngân hàng mà chúng

ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh hoặc không quan hệ tốt với các ngân hàng khác, séc của nó do chúng ta viết ra được chấp nhận trong thanh toán

ở vùng này, nhưng chưa chắc đã được chấp nhận ở các vùng khác Có lẽ vì

lý do này mà ở các nước mới phát triển, tiền séc vẫn chưa được xem là tiền mạnh

Tiền gửi loại này có thể phát xuất từ khách hàng là một thương nhân hay từ một công dân bình thường Việc phân biệt giữa các tài khoản vãng lai (current account) mở cho thương nhân và các tài khoản sec (checking account) mở cho công dân rất cần thiết cho ngân hàng không những về mặt pháp lý mà cả về mặt kỹ thuật Khoản tiền khách hàng gửi vào thực chất là một khoản khách hàng cho ngân hàng vay Ngân hàng sẽ phải trả lãi cho khách hàng hàng tháng mặc dù rất thấp Do đó, đối với ngân hàng nó là một khoản nợ, khoản nợ này sẽ được trả theo nhu cầu của người gửi

Xã hội càng phát triển càng có tính đa dạng Và vì thế, ở các nước phát triển, sự tồn tại nhiều loại tiền gửi không kỳ hạn để thỏa mãn tất cả những nhu cầu đa dạng của xã hội, của cá nhân là điều tất nhiên ở các nước này, tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:

a) Tiền gửi dùng séc (đã được trình bày ở trên) (checking deposits) b) Tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng (ordinary deposits) thực hiện qua máy rút tiền (canh dispensers) máy nhận rút và chuyển tiền

tự động (automated teller machine máy ATM)

c) Tài khoản ATS (automatic transfer service account) tài khoản phối hợp tài khoản tiết kiệm và tài khoản séc ở Mỹ

d) Tiền gửi có thông tri (deposits at notice), tiền gửi hẹn rút (deposits at call) hay tiền gửi có báo trước (dépôts à préavis): là loại tiền gửi không có

Trang 13

qui định một kỳ hạn nào, nhưng các bên có thỏa thuận việc thông báo trước (từ 8 đến 5 ngày) Xuất hiện câu hỏi là việc thông báo trước, có làm biến mất tính chất khả dụng, nghĩa là làm cho khoản tiền gửi mất tính chất pháp

lý cơ bản của nó chăng ?

- Xét về khía cạnh kinh tế, thông tri báo trước một vài ngày nhằm mục đích giúp cho ngân hàng có thời gian gom đủ số tiền cần thiết cho việc thanh toán, thì tiền gửi có báo trước đúng là một loại tiền gửi

- Xét về phương diện pháp lý, tiền gửi có báo trước không cho phép khách hàng sử dụng sec để rút tiền trong các tài khoản có báo trước Do đó tiền gửi có báo trước phụ thuộc quy tắc cho vay Những loại tiền gửi có báo trước thường cũng được trả lãi; nhưng thấp hơn so với các tiền gửi có kỳ hạn

Có nhiều ngân hàng đã dung hợp hai lối tiền gửi có kỳ hạn và báo trước Khách hàng lúc gửi tiền ấn định một kỳ hạn, nhưng gặp khi cần tiền có thể rút tiền trước kỳ hạn miễn là báo trước mấy ngày hoặc một tuần, tùy theo

số tiền lớn hay nhỏ

đ) Tài khoản NOW: Ra đời ở Anh trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20, sự kết hợp giữa tiền gửi giao dịch không hường lãi và tiền gửi tiết kiệm đã xuất hiện dưới hình thức tài khoản NOW - negotiable order of withdrawal - tài khoản lệnh rút tiền có thể thương lượng NOW là tài khoản giao dịch được hưởng lãi, do đó nó cho phép Ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải thông báo trước về việc rút tiền Do đòi hỏi này ít khi được thực hiện nên NOW được sừ dụng như là một tài khoản phát séc để chi trả cho việc mua hàng hoá và dịch vụ Từ năm 1981, NOW được chấp nhận rộng rãi trên toàn nước Mỹ theo Luật về Phi quản lý hoá Các tổ chức nhận tiền gửi (Depository Institutions Deregulation Act of 1980) Tuy nhiên loại tài khoản này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận (nonprofit institutions) Khi NOW được chấp nhận trên toàn nước

Trang 14

Mỹ, chính phủ Mỹ cho phép ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chuyển vốn tự động, trong đó khách hàng uỷ quyền trước (preauthorize) cho ngân hàng trong việc chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản séc đền bù đắp thấu chi (overdraft) Kết quả cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch tương đương với lãi thu được từ tài khoản tiền tiết kiệm.e) Tài khoản MMDA: “Với việc thông qua Đạo luật về các tổ chức nhận tiền gửi Garn-st Germain năm 1982, hai loại hình tài khoản giao dịch hưởng lãi quan trọng được hình thành Ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm phi Ngân hàng có thể đưa ra một loại hình tiền gửi mới để cạnh tranh với tài khoản đầu tư chứng khoán có lãi suất cao hơn, được cung cấp bởi các quỹ trên thị trường tiền tệ và được bảo đảm bằng không danh mục đầu tư

chứng khoán có chất lượng cao Kết quả là đưa tới sự ra đời của tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản Super NOW”3 Hai

loại tài khoản này trả lãi theo lãi suất trên thị trường tiền tệ và khách hàng

có thể thực hiện thanh toán cho các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ thông qua việc phát séc hay hối phiếu uỷ quyền trước (preauthorised draft).MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài tháng và Ngân hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thu hút và nắm giữ tiền gửi của khách hàng Có tới sáu hối phiếu uỷ quyền trước được phép thực hiện trong một tháng nhưng số lượng séc phát hành chỉ được giới hạn là 3 lần Đối với lệnh rút tiền cá nhân thì không có hạn chế (mặc

dù ngân hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho số lượng lệnh rút tiền cá nhân) Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi

cả doanh nghiệp và cá nhân

g) Tài khoản Super NOW (SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với MMDA nhưng tài khoản này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các

tổ chức phi lợi nhuận Không có quy định nào hạn chế số lượng séc người gửi tiền có thể phát hành Tuy nhiên, Ngân hàng áp dụng một mức lãi đối

3 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 461, NXB Tài chính.

Trang 15

với SNOW thấp hơn cả với MMDA bởi vì SNOW có thể được phát séc thường xuyên hơn Do dó, các nhà quản lý trung ương xếp MMDA vào nhóm tiền gửi tiết kiệm Tuy vậy, chúng ta xếp lài khoản loại này vào phần tài khoản giao dịch vì chúng có đặc quyền phát séc.

đ) Tiền gửi đặc biệt

Nhằm phát triển tiền gửi, một số ngân hàng áp dụng loại tiền gửi đặc biệt với các nội dung sau:

- Các bên có thể thỏa thuận về số tiền gửi sẽ được phong tỏa Thông thường thì các vụ rút tiền được quì định trong phạm vì một phần số tiền gửi, người gửi cam kết không sử dụng vào phần tối thiểu qui định Đối với các số tiền phong tỏa, người ta sẽ áp dụng lãi suất cao hơn Nếu khách hàng rút tiền ra trước ngày đã dự định, thì hoặc không được hưởng lãi suất hoặc hưởng một lãi suất thấp

- Có khi khách hàng ký gửi một số tiền vào ngân hàng để chuẩn bị cho một doanh vụ đã có dự định trước Cũng có khi dùng loại tiền gửi này để tạo một bảo đảm cho chính ngân hàng hay một bên thứ ba, hoặc tiền gửi được dùng để tạo một khoản dự phòng để trả lãi công trái, hoặc là các khoản tiền đã được gửi nhằm dể mua các chứng khoán, để dự đính vào vốn của một công ty dang thành lập hoặc tăng vốn hay là để thanh toán một hối phiếu

Qua các giả thuyết trên đây chỉ kể ra một số mà thôi , có thể thấy tiền gửi ngân hàng phụ thuộc cho một nghiệp vụ pháp lý khác

2.2 Tiền gửi có kỳ hạn.

Là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng Như vậy, về nguyên tắc, khách hàng gửi tiền chỉ được rút tiền ra, khi đến hạn đã thỏa thuận

Trang 16

Thực ra, các loại tiền gửi định kỳ này không phải là những tiền gửi theo nghĩa của pháp lý, mà nó có dạng như một khoản tiền vay của ngân hàng nhưng không thể hiện bằng một phiếu khoán Nó là một ngoại lệ của quy tắc khả dụng, bởi vì ngân hàng chỉ phải hoàn lại số tiền tiền gửi vào ngày đáo hạn ghi trên hợp đồng Tiền gửi có kỳ hạn có những đặc điểm sau:

+ Tên gọi "có kỳ hạn" có nghĩa là khoản tiền được gửi sẽ có thời gian

gửi tối thiểu theo thỏa thuận giữa ngân hàng và thân chủ, và không được rút ra trước hạn kỳ đã định nói trên Nếu vì lý do đặc biệt phải rút tiền ra trước hạn kỳ, NHTM có một trong ba cách xử lý: 1) Từ chối Họ đã từng

có quyền làm như vậy trước đây, bởi vì việc gửi tiền của khách hàng là một hợp đồng cho vay với thời hạn đã thống nhất Khi khách hàng đòi lại trước thời hạn, điều đó sẽ gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, thông thường ngân hàng áp dụng hai cách mềm dẻo hơn, là 2) yêu cầu khách hàng phải báo trước, ít nhất một khoảng thời gian nào đó về

ý định rút tiền và 3) với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi của khách hàng sẽ rất thấp, do khách hàng phải chịu lãi suất phạt vì đã lâm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, thực tế hiện nay do áp lực của cạnh tranh, ngân hàng thường cho phép khách hàng rút ra trước hạn với điều kiện hàng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, hoặc ngân hàng có thể cho vay bằng cách mở một tài khoản đặc biệt cho việc này trong giới hạn số dư tài khoản tiền gửi định kỳ của khách hàng

+ Xuất phát từ loại hình tiền gửi có kỳ hạn, một khái niệm được hình

thành đó là "thời gian đáo hạn" hay "đến hạn (maturity) thanh toán" của các loại chứng thư tiền gửi Khi khách hàng gửi tiền vào một ngân hàng tại tài khoản có kỳ hạn 3 tháng rồi nhận một cuốn passbook (quyển sổ) do ngân hàng cấp, hoặc dùng tiền, mua một trái phiếu tiết kiệm (savings bong) cũng của chính ngân hàng đó phát ra với thời hạn thanh toán sau ba tháng Hai việc làm này tính chất không khác nhau, ngoại trừ một điểm là trái phiếu

Trang 17

không được đổi lại thành tiền mặt nửa chừng như passbook: Vấn đề cơ bản

ở đây là cả hai loại chứng thư này đều có thời hạn thanh toán tiền mặt về nguyên tắc là đến ngày cuối cùng của tháng thứ ba Đúng hơn, khách hàng chỉ có thể và chỉ có quyền (theo hợp đồng) dùng các loại chứng thư nói trên

để đổi trở lại thành tiền mặt vào ngày cuối cùng của tháng thứ ba Ngày nói trên là ngày đáo hạn Khoảng thời gian hay kỳ hạn ba tháng của chứng thư được gọi là "thời gian đến hạn" kể từ ngày chứng thư được phát ra Thời gian đến hạn của các khoản gửi có kỳ hạn như tiền tiết kiệm passbook và các loại trái phiếu khác là tiêu chuẩn hay cơ sở để đánh giá khả năng thanh tiêu của các loại tài sản nói trên Khả năng thanh tiêu là khả năng chuyển đổi trở lại thành tiền mặt của các loại tài sản mà chúng ta sở hữu Với cách xác định như thế, một khoản gửi có kỳ hạn hoặc một trái phiếu tiết kiệm ba tháng có khả năng thanh tiêu cao hơn rất nhiều lần so với một khoản gửi hoặc một trái phiếu cố thời gian đến hạn 10 năm

+ Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định Tuy nhiên, giữa các

loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau Tiền gửi

có kỳ hạn với thời gian càng lâu, lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn có thể dùng tiền gửi này đem đầu tư vào những dịch vụ hoặc sản xuất

có tính lâu dài hơn, lợi tức cao và ổn định hơn; Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn Lý do ở đây là, ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay với thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Vì thế tiền thù lao nó trả cho khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa

Khác với tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán), tiền gửi định kỳ là tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc là tiền để dành của cá nhân, vì vậy mục đích gửi tiền vào ngân hàng là nhằm tìm kiếm lợi tức Tiền gửi có kỳ hạn thường phụ thuộc vào ba thông số chính: 1) Lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp, 2) lãi suất của các loại hình đầu tư khác như trái phiếu, cổ phiếu

Trang 18

và 3) thu nhập của nhân dân Thông số đầu tiên là quan trọng nhất Vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suất như thể nào để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng kỹ trị của các NHTM

Tiền gửi có kỳ hạn thường dưới các dạng:

a) các chứng chỉ tiền gửi (Certificate of depoits – CD)

b) Chứng thư tiết kiệm (savings certificates)

c)Trái phiếu tiết kiệm

2.3 Tiền gửi tiết kiệm.

Tiền gửi tiết kiệm (savings deposits) hay tài khoản dùng sổ (passbook account) Một khoản ký thác dưới hình thức tiết kiệm rất đa dạng và phổ biến trong nền kinh tế được NHTM huy động là các khoản tiền tiết kiệm trong xã hội, Loại ký thác này có dặc điểm: người gửi tham gia gửi tiền vào ngân hàng rất dông, nhưng số tiền gửi từng lần thường ít, về số lượng tuyệt đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng trong cơ cấu vốn ký thác huy động được Thông thường có hai loại tiền gửi tiết kiệm sau:

a) Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

b) Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Nguồn vốn từ loại tiết kiệm không kỳ hạn có lãi suất thấp, làm cho lãi suất đầu vào của ngân hàng rất thấp và rất có lợi khi cho vay

Việc điều hành các tài khoản này, tại phần lớn các nước được qui định như sau: Các sổ tiết kiệm chỉ được mở cho các thể nhân và chỉ mở một sổ cho mỗi người Người gửi tiền, khi mở sổ tiết kiệm, phải cam đoan chưa

mở một tài khoản tiết kiệm nào ở một ngân hàng khác

- Số dư tối đa của sổ tiết kiệm cũng được qui định cụ thể cho từng thời kỳ

Trang 19

Các nghiệp vụ cho phép thực hiện được hạn chế tối đa: chỉ có thể gửi tiền mặt và chỉ có chủ tài khoản mới được rút tiền, không cấp tập sec.

- Các nghiệp vụ thực hiện phải chẵn số, nghĩa là phải là bội số của l00đ hay l000đ chẳng hạn

3 Chi phí đối với các loại tiền gửi.

3.1 Chi phí huy động tiền gửi.

Mỗi loại tiền gửi mà chúng ta đã nghiên cứu đều mang một mức lãi suất khác nhau Lãi suất sẽ quyết định chi phí, và chi phí cho các nguồn tiền gửi khác nhau có sự khác nhau Giả định rằng các yếu tố khác không đổi, ngân hàng sẽ huy động vốn bằng cách cung cấp các loại hình gửi tiền có chi phí thấp nhất, hay thu nhập ròng tạo ra từ việc sử dụng các nguồn vốn tiền gửi này là lớn nhất sau khi đã trừ đi mọi chi phí Nếu một ngân hàng có thể huy động toàn bộ tiền gửi từ các nguồn có chi phí thấp nhất và đầu tư vào các tài sản có mức lãi suất cao nhất, ngân hàng sẽ tối đa hoá mức chênh lệch lãi suất, và có thể tối đa hoá thu nhập ròng của cổ đông Nhưng đâu là nguồn tiền gửi có chi phí tháp nhất? Và loại tiền gửi nào tạo ra thu nhập ròng cao nhất? Khoản chi phí lớn nhất cho đến nay là lãi tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm Khoản chi phí này năm 1986 chiếm hơn 50% tổng chi phí của các NHTM năm đó

Nói chung, theo lý thuyết giá trị của tiền theo thời gian và theo mối quan hệ tỷ lệ thuận trong đường cong thu nhập thì tiền gửi có kỳ hạn thanh toán càng dài sẽ tạo ra mức lãi càng cao cho người gửi tiền Ví dụ tài khoản NOW và tài khoản tiết kiệm đều có thể được rút tiền ngay lập tức, và

do đó khách hàng được hưởng mức lãi thấp nhất trong số tất cả các loại tiền Ngược lại ngân hàng trả lãi suất tiền gửi cao nhất cho chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng với kỳ hạn một năm hoặc dài hơn

Trang 20

Quy mô và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành lãi suất tiền gửi Ví dụ các ngân hàng ở New York, Lon don hay Tokyo nhờ vào quy mô lớn và sức mạnh tài chính nên có thể thu hút tiền gửi ở mức lãi suất bình quân thấp nhất, trong khi lãi suất được thông báo tại các ngân hàng khác thường cao hơn Những yếu tố quan trọng là triết lý về Marketing và mục tiêu của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng Ngân hàng nào quyết định chọn mục tiêu là cạnh tranh giành tiền gửi sẽ luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo khách hàng khỏi các đối thủ cạnh tranh Ngược lại khi ngân hàng muốn hạn chế quy mô của một loại hình tiền gửi nào đó, ngân hàng sẽ hạ lãi suất công bố thấp hơn mức lãi suất của các đối thủ cạnh tranh đưa ra.

3.2 Các phương pháp định giá tiền gửi.

3.2.1 Định giá tiền gửi theo phương pháp tổng hợp chi phí - thu nhập

Trong hoạt động ngân hàng ngày nay, các nhà quản lý nhìn chung không chấp nhận quan điểm cho rằng khách hàng là người phải chịu toàn

bộ chi phí dịch vụ liên quan đến tiền gửi Cho đến vài năm gần đây, luận điểm "khách hàng nên được sử dụng miễn phí các dịch vụ về tiền gửi" được xem như một đường lối khôn ngoan nhằm đối phó với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt phía các trung gian tài chính khác trên thị trường truyền thống của ngân hàng Tuy nhiên, rất nhiều ngân hàng đã sớm nghi ngờ tính hiệu quả của chiến lược Marketing mới này bởi vì nó làm gia tăng số lượng các tài khoản có số dư nhỏ với mức độ nhạy cảm cao và do đó buộc ngân hàng phải đối mặt với tình trạng bùng nổ trong chi phí hoạt động

Sự phát triển của tiền gửi thanh toán hưởng lãi, đặc biệt là tiền gửi trong tài khoản NOW đã tạo cơ hội cho các ngân hàng xem xét lại phương pháp định giá đối với các dịch vụ về tiền gửi Thật không may, nhiều ngân hàng mới tham gia thị trường đã liều lĩnh chấp nhận định giá dưới mức chi phí nhằm mở rộng nguồn vốn tiền gửi Khách hàng chỉ phải trả một khoản lệ

Trang 21

phí nhỏ, thấp hơn chi phí hoạt động và chi phí quản lý chung cho việc cung cấp các khoản tiền gửi giao dịch và các khoản tiền gửi khác Kết quả là tỷ

lệ thu nhập khách hàng được hưởng tăng lên đáng kể, người ta gọi đây là lãi suất ẩn – chênh lệch giữa chi phí cho việc cung cấp dịch vụ tiền gửi và

số tiền thực tế khách hàng phải thanh toán

“Ở Mỹ, việc thay đổi lãi suất ẩn là phương pháp cạnh tranh chủ yếu mà hầu hết các ngân hàng thực hiện nhằm tăng cường khả năng huy động tiền gửi tiền gửi suốt 50 năm từ sau Đại khủng hoảng kinh tế tới những năm đầu thập kỷ 80 Sự ra đời của đạo luật Glass Steagal năm 1933 quy định về lãi suất trần áp dụng cho tiền gửi chính là nguyên nhân khiến cho phương pháp cạnh tranh này trở nên phổ biến Thông qua luật này, chính phủ muốn bảo vệ hệ thống ngân hàng tránh khỏi một mức lãi suất quá cao, điều đó có thể đẩy ngân hàng tới chỗ phá sản Tuy nhiên, các ngân hàng Mỹ lại chuyển từ cạnh tranh về lãi suất danh nghĩa sang cạnh tranh về thu nhập tiềm ẩn thông qua các dịch vụ như ngân hàng cam kết trả phí cả đi lẫn về cho các dịch vụ của mình hay thiết lập các hệ thống chi nhánh nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng Không may, phương pháp cạnh tranh phi giá cả (nonprice competition) như vậy đã bóp méo sự phân bổ nguồn lực khan hiếm trong lĩnh vực ngân hàng Cuối cùng, đến năm 1980 Quốc hội đã phải thông qua Đạo luật phi quản lý hoá các tổ chức nhận tiền gửi (Depository Institutions Deregulation) nhằm đối phó với tình trạng này Đạo luật mới thông qua ung hộ việc từng bước xoá bỏ lãi suất trần Ngày nay, ở Mỹ và ở cả các quốc gia công nghiệp hàng đầu khác, việc định giá tiền gửi không còn là trách nhiệm của nhà chức trách nữa mà nó đã được chuyển sang cho khu vực tư nhân - ngân hàng và khách hàng của họ”4.Việc định giá dịch vụ diễn ra linh hoạt hơn sau khi những quy định về lãi suất trần được xoá bỏ Do cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với sự tăng lên của lệ phí bảo hiểm, chi phí trung bình của ngân hàng cho một

4 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 492, NXB Tài chính.

Trang 22

khoản tiền gửi đã tăng lên Điều này có nghĩa là ngân hàng tiến hành định giá tiền gửi độc lập, tách biệt khỏi các khoản cho vay và các dịch vụ khác Đồng thời, mỗi dịch vụ liên quan tới tiền gửi thường được định giá sao cho khoản thu đủ bù đắp tất cả hoặc phần lớn chi phi cho việc cung cấp dịch vụ

đó Giá của các dịch vụ này được xác định theo công thức tổng hợp chi phí

- thu nhập như sau:

1 đơn vị dịch

vụ tiền gửi

+

Chi phí quản lý cung dự tính phân

bổ cho bộ phận nhận tiền gửi

+

Định mức lợi nhuận từ 1 đơn vị dịch

vụ tiền gửi

Phương pháp định giá theo chi phí như công thức trên khuyến khích các ngân hàng đặt giá sát hơn với chi phí và loại bỏ nhiều dịch vụ trước đây miễn phí Ví dụ, ngày càng nhiều ngân hàng Mỹ áp đặt phí cho dịch vụ chấp nhận thấu chi, tăng lệ phí đối với các tờ séc bị máy rút tiền tự động ATM, tính phí hàng tháng cho việc duy trì tài khoản kể cả đối với tài khoản tiết kiệm nhỏ, đồng thời nâng cao mức quy định về số dư tiền gửi tối thiểu Trong hầu hết các trường hợp, những khoản phí dịch vụ này dường như tăng nhanh hơn tỷ lệ lạm phát Kết quả của những xu hướng này nói chung

có lợi cho ngân hàng, thu nhập từ phí dịch vụ vượt trội tổn thất do những khách hàng khó tính đóng tài khoản của họ tại ngân hàng

3.2.2 Sử dụng chi phí cận biên để xác định lãi suất tiền gửi

Nhiều nhà phân tích tài chính cho rằng nếu như điều kiện cho phép, các ngân hàng không nên dùng chỉ tiêu chi phí bình quân mà nên sử dụng chi tiêu chi phí cận biên – chi phí tăng thêm cho một đồng vốn mới - trong việc định giá các khoản tiền gửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng Lý do ở đây là sự thay đổi liên tục của lãi suất sẽ làm cho chi phí trung bình trở

thành một tiêu chuẩn không trung thực và phi thực tế trong việc định giá

tiền gửi Ví dụ, nếu lãi suất đang giảm, chi phí tăng thêm (chi phí cận biên biên) để huy dộng một nguồn vốn mới có thể giảm đáng kể, xuống dưới

Trang 23

mức chi phí nguồn vốn bình quân của ngân hàng Một số khoản tín dụng và đầu tư có thể được coi là không sinh lợi khi đánh giá theo chi phí nguồn vốn trung bình nhưng lại có thể là sinh lợi nếu đánh giá theo chỉ tiêu chi phí lãi cận biên bởi vì hiện tại ngân hàng đang huy dộng vốn với lãi suất thấp hơn để thực hiện các khoản tín dụng và đầu tư này Trái lại khi lãi suất đang tăng, chi phí cận biên của các khoản vốn mới có thể lớn hơn chi phí nguồn vốn trung bình đáng kể Nếu việc xét duyệt những khoản cho vay mới được thực hiện trên cơ sở chi phí trung bình thì khả năng sinh lời của các khoản cho vay này có thể sẽ rất hạn chế khi đánh giá theo chi phí huy động vốn cận biên - một chỉ tiêu đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây.

Thật vậy, “nguyên nhân của một trong những vụ phá sản được biết tới nhiều nhất trong lịch sử - Vụ sụp đổ của Franklin National Banh of New York năm 1974 - cũng một phần bắt nguồn từ chiến lược quản lý mà theo

dó nhà quản lý so sánh tỷ lệ thu nhập dự tính của các khoản tín dụng mới với chi phí nguồn vốn trung bình Nếu thu nhập dự tính của khoản tín dụng lớn hơn chi phí nguồn vốn trung bình từ 1 % trở lên, cán bộ tín dụng của Franklin được phép cho vay Không may khi lãi suất huy dộng vốn tăng lên đáng kể thì 0,5% lợi nhuận biên của Franklin so với chi phí trung bình trở lên quá nhỏ bé Thu nhập thực tế từ một lượng lớn các khoản tín dụng

và đầu tư khổng lồ không đủ bù đắp chi phí nguồn vốn hiện tại Điều này

đã làm suy giảm vốn tự có của Franklin”5

“Nhà kinh tế học James E Mc Nulty đã khuyên các ngân hàng nên sử dụng phương pháp chi phí cận biên để xác định lãi suất cho các tài khoản tiền gửi mới Để hiểu rõ phương pháp xác định giá theo chi phí cận biên do

Mc Nulty đề xướng hãy giả định rằng một ngân hàng dự lính sẽ huy động dược 25 triệu USD tiền gửi khi đặt lãi suất ở mức 7% Nhà quản lý dự đoán rằng nếu ngân hàng nâng lãi suất lên 7,5%, 8%, 8,5% và 9% thì lượng tiền

5 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 499, NXB Tài chính.

Trang 24

gửi sẽ tăng lên tương ứng là 50 triệu USD, 75 triệu USD, 100 triệu USD và

125 triệu USD Lượng tiền này bao gồm các khoản tiền gửi mới và các khoản tiền gửi hiện có ở ngân hàng được khách hàng giữ lại để hưởng lãi suất cao hơn Giả định là nhà quản lý tin rằng việc đầu tư bằng các khoản tiền gửi mới sẽ mang lại tỷ lệ thu nhập là 10%, đây chính là thu nhập cận biên - thu nhập gia tăng từ việc cho vay hay đầu tư bằng nguồn vốn mới huy dộng Với giả định này, ngân hàng nên đặt lãi suất tiền gửi ở mức nào?”6

3.2.3 Phương pháp định giá xâm nhập thị trường

Xâm nhập thị trường là một phương pháp định giá không nhấn mạnh tới vấn đề lợi nhuận, ít nhất là ngắn hạn Ý tưởng ở đây là nâng cao lãi suất, thường là cao hơn hẳn mặt bằng lãi suất thị trường hoặc thu phí dịch vụ thấp hơn mức phí thị trường để có thể thu hút được số lượng khách hàng tối

đa Nhà quản lý hy vọng rằng sự gia tăng nhanh chóng của quy mô tiền gửi

và của những khoản tín dụng sẽ bù đắp một phần sự giảm sút trong lợi nhuận cận biên Với chiến lược này, ngân hàng muốn tối đa hóa thị phần tron một thị trường đang tăng trưởng nhanh chóng

Đối với khách hàng, chọn ra được một ngân hàng có đủ uy tín để gửi tiền là một công việc rất tốn kém Do vậy, khách hàng thường tập trung mua dịch vụ của một ngân hàng Một tài khoản tiền gửi có thể là điều kiện nền tảng cho các khoản vay, dịch vụ ủy thác và các dịch vụ khác Việc cắt đứt quan hệ thường gây ra những thiệt hại lớn nên khách hàng có xu hướng trung thành với ngân hàng họ đã lựa chọn Bởi vậy, tiền gửi có thể được xem là một yếu tố ổn định tiền gửi hoạt động ngân hàng Tiền gửi thường kém nhạy cảm hơn các nguồn tiền khác trước những thay đổi trong lệ phí, lãi suất và chính sách huy động vốn của ngân hàng đối thủ Nếu ngân hàng

có thể đưa ra lãi suất cao hơn mức bình quân thị trường trong một thời gian

đủ dài để tạo ra sự trung thành của khách hàng thì trong tương lai, khách

6 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 499, NXB Tài chính.

Trang 25

hàng vẫn sẽ gửi tiền vào ngân hàng dù rằng lãi suất mà ngân hàng đưa ra không còn cao như trước Chi phí không nhỏ cho việc lựa chọn và thay đổi ngân hàng là nguyên nhân giải thích cho hành vi nêu trên của khách hàng.Trên thực tế, sự thất bại của các ngân hàng trong chiến lược thu hút thêm tiền gửi bằng cách giảm lệ phí hoặc nâng cao lãi suất bắt nguồn từ tính ổn định tương đối của tiền gửi: khách hàng thường không thay đổi ngân hàng ngay lập tức bởi vì chi phí và rủi ro cho sự thay đổi này là không nhỏ Các công ty và các hộ gia đình trước khi quyết định gửi tiền vào một ngân hàng nào đều xem xét đến rất nhiều yếu tố, không chỉ có lãi suất.

3.2.4 Phương pháp Bảng tỷ lệ phí tiền gửi

Khách hàng sẽ phải trả một khoản lệ phí rất nhỏ thậm chí là không phải trả lệ phí nếu số dư tiền gửi bình quân của họ cao hơn một mức nhất định hoặc khách hàng sẽ phải trả lệ phí cao hơn nếu số dư tài khoản trung bình thấp hơn mức giới hạn Do đó, mức giá dịch vụ mà khách hàng phải trả phụ thuộc vào việc anh ta sử dụng tiền gửi như thế nào

Giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi thay đổi trên cơ sở một hoặc một

+ Kỳ hạn của tiền gửi theo ngày, tuần, hoặc tháng

Khách hàng phải lựa chọn ngân hàng và xây dựng kế hoạch tiền gửi sao cho mức lệ phí là thấp nhất và (hoặc) nhận được thu nhập cao nhất trên cơ

sở dự kiến về số séc viết, số tiền gửi vào và rút ra cũng như số dư trung bình của tài khoản Đương nhiên khách hàng cũng phải xem xét tới các khía cạnh khác như mức độ an toàn và sự sẵn có của các dịch vụ

Trang 26

3.2.5 Định giá mục tiêu trọng điểm.

Một số ngân hàng, nhất là những ngân hàng ở các thành phố lớn, có nhiều tài khoản tiền gửi với số dư lớn, ổn định, thường mạnh dạn sử dụng phương pháp định giá mục tiêu trọng điểm Các chương trình quảng cáo công phu ở họ thường hướng những người có địa vị trong xã hội và các gia đình khá giả tới những dịch vụ của ngân hàng Đối với những tài khoản khác, đặc biệt là các tài khoản có số dư thấp, ít ổn định, việc định giá có thể nhằm vào mức hòa vốn hoặc ngân hàng có thể hạn chế các tài khoản này bằng việc định giá cao hơn Chiến lược này thường được kết hợp với chương trình nhà ngân hàng cá nhán (personal banker), theo đó mỗi khách hàng lớn được một cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm đáp ứng tất cả các nhu cầu về dịch vụ ngân hàng

“Điều tra ở New England do Crane và Reilly Murphy và Mandell thực hiện cho thấy một số khách hàng - đặc biệt là khách hàng lớn - có phản ứng rất nhanh đối với sự thay đổi về giá cả tiền gửi.”7 Ngày nay, trên các thị trường tiền gửi, sức cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng cùng với việc ngày càng nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp định giá mục tiêu trọng điểm đã khiến cho khách hàng được thông tin tốt hơn và nhạy cảm hơn với giá tìm được cho mình những điều khoản có lợi nhất

3.2.6 Định giá tiền gửi trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng.Với ý tưởng nhằm tranh thủ những khách hàng tốt nhất, ngân hàng đã tiến hành định giá tiền gửi theo số lượng dịch vụ mà khách hàng sử dụng Những khách hàng sử dụng từ hai dịch vụ trở lên có thể phải chịu lệ phí ở mức thấp, thậm chí không phải trả lệ phí, còn những khách hàng chỉ có quan hệ hạn chế với các ngân hàng sẽ phải trả lệ phí cao Nhà quản lý cho rằng việc sử dụng một số lượng lớn các dịch vụ sẽ làm tăng sự phụ thuộc của khách hàng vào ngân hàng và điều này sẽ khiến cho khách hàng gặp

7 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 512, NXB Tài chính.

Trang 27

nhiều khó khăn hơn khi muốn tìm kiếm một ngân hàng khác Bởi vậy, ít nhất là trên lý thuyết, chính sách định giá trên cơ sở quan hệ sẽ tạo sự trung thành của khách hàng và làm cho họ kém nhạy cảm hơn với lãi suất tiền gửi cũng như phí dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.

3.2.7 Định giá tiền gửi để đạt mục tiêu của ngân hàng

Chính sách định giá tiền gửi nên được sử dụng với mục đích bảo vệ và tăng cường khả năng sinh lời cho ngân hàng Với công cụ này, ngân hàng không nên chỉ hướng vào mục tiêu đơn thuần là thu hút khách hàng hay chiếm đoạt thêm thị phần từ các đối thủ cạnh tranh Thật vây, khi ngân hàng đưa ra một công cụ tiền gửi mới, cơ hội cho sự thành công nằm trong tay các khách hàng hiện tại của ngân hàng Các khách hàng này sẽ không

tự động trả giá cao hơn cho các dịch vụ tiền gửi Họ sẽ không trả cho ngân hàng nhiều hơn những gì họ nhận được từ tài khoản tiền gửi Chắc chắn rằng khách hàng sẽ tìm tới những ngân hàng khác khi lợi ích mà họ nhận được giảm xuống thấp hơn giá cả của dịch vụ tiền gửi

4 Cơ cấu tiền gửi trong một NHTM.

4.1 Các yếu tố quyết định cơ cấu tiền gửi trong một NHTM.

Nhu cầu của công chúng đối với các loại hình dịch vụ nhận và tiền gửi

là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định cấu trúc (cơ cấu) nguồn vốn tiền

gửi của một ngân hàng Yếu tố quan trọng thứ hai là chính sách huy động vốn (fund raising policy), bao gồm việc thu phí dịch vụ tương quan lãi suất

giữa các loại tiền gửi khác nhau, sự tích cực trong hoạt động quảng cáo thời gian và quy mô vốn đầu tư vào việc thu hút và duy trì các khách hàng gửi tiền

4.2 Cơ cấu tiền gửi trong NHTM.

Trang 28

Bảng 1.1 Sự thay đổi trong cơ cấu tiền gửi ở Mỹ (đơn vị %)

Khoản mục tiền gửi 1983 1985 1987 1989 1991 1993 1996

Tiền gửi không hưởng

lãi

37,9 22,3 20,5 19,9 17,9 20,8 19,8

Tiền gửi hưởng lãi 62,1 77,7 79,5 81,0 82,1 79,2 80,2 Tổng tiền gửi 100 100 100 100 100 100 100 Tiền gửi giao dịch 31,9 32,5 32,3 29,9 29,7 33,4 29,3

Tiền gửi phi giao dịch 68,1 67,5 67,7 70,1 70,3 66,6 70,7 Tổng tiền gửi 100 100 100 100 100 100 100 Tiền gửi giao dịch 24,5 25,1 22,9 20,6 19,1 20,2 22,1

Tiền gửi tiết kiệm* 30,2 32,8 36,2 33,5 38,3 41,2 39,8

Tiền gửi kỳ hạn 44,4 42,1 40,9 45,9 42,6 38,6 38,1 Tổng tiền gửi 100 100 100 100 100 100 100

* Tiền gửi tiết kiệm bao gồm cả tiền gửi trong tài khoản trên thị trường tiền tệ (MMDA)

Nguồn: Bảo hiểm tiền gửi liên bang, thống kê ngân hàng

_ Trong những năm gần đây, loại hình tiền gửi mà ngân hàng sẵn sàng cung cấp nhất là tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm Như bảng trên thể hiện, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn chiếm xấp xỉ 4/5 toàn bộ tiền gửi trong nước tại các ngân hàng tài khoản được bảo hiểm ở Mỹ (US - Insured Commericial Banks) vào cuối nam 1993 Thật không có gì đáng ngạc nhiên khi mà tiền gửi liệt kiệm và tiền gửi kỳ hạn chiếm phần lớn trong nguồn vốn tiền gửi tại mọi ngân hàng Ngược lại, tiền gửi không hưởng lãi đã giảm dáng kể và chỉ chiếm khoảng 1/5 tổng lượng tiền gửi ở Mỹ

Nhìn chung, nếu được phép tự quyết định cho bản thân mình về cơ cấu tiền gửi tối ưu, các ngân hàng sẽ hướng về một tỷ trọng cao đối với tiền gửi giao dịch, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn lãi suất thấp Các tài khoản này thuộc những nguồn vốn có chi phí thấp nhất của ngân hàng và thường chiếm một tỷ lệ lớn trong lượng tiền gửi cơ sở (core deposits) Đây là cơ sở vốn tiền gửi ổn định ít nhạy cảm với những biến động của lãi suất trên thị

Trang 29

trường và thường được duy trì tại ngân hàng Mặc dù, phần lớn tiền gửi cơ

sở (như tiền gửi tiết kiệm) có thể bị rút ngay lập tức nhưng kỳ hạ thực tế của các tài khoản này thường kéo dài nhiều năm Thực tế là ngân hàng nhỏ

có thể nắm giữ một khối lượng lớn tiền gửi cơ sở và điều này góp phần giải thích tại sao trong những năm gần đây ngân hàng lớn và các Công ty sở hữu ngân hàng đều nỗ lực vào việc giành quyền sở hữu các ngân hàng nhỏ nhằm tiếp cận tới những cơ sở tiền gửi ổn định hơn với chi phí thấp hơn Tuy nhiên tác động tổng thể của lạm phát, của việc giảm bới các quy định quản lý, của tình trạng cạnh tranh gay gắt và trình độ nhận thức cao hơn của khách hàng đã tạo ra nhiều thay đổi lớn đối với cấu trúc nguồn tiền gửi của ngân hàng

Chi phí cho hoạt động phục vụ các tài khoản gửi tiền đã tăng mạnh trong những năm gần đây “Ví dụ, chi phí trả lãi tiền gửi của tất cả các ngân hàng thương mại được bảo hiểm ở Mỹ đạt mức 10,5 tỷ USD năm

1970 tương đương 38% tổng chi phí hoạt động, nhưng chi phí này đã tăng lên hơn 100 tỷ USD, chiếm khoảng 50% tổng chi phí hoạt động của ngân hàng vào những năm 90”8 Đồng thời, sự phát triển của các loại hình tiền gửi mới mang lãi suất cao hơn và nhạy cảm hơn với những thay đổi của lãi suất đã buộc ngân hàng phải nâng mức lãi suất cho các khoản tiền gửi mà

nó huy động Những ngân hàng không theo kịp mặt bằng lãi suất thị trường

sẽ phải tăng cường dự trữ để đối phó với sự tăng lên trong nhu cầu thanh khoản - tiền gửi bị rút ra và những biến động trong lượng tiền gửi vào Đối đầu với một áp lực lớn về chi phí trả lãi, ngân hàng buộc phải tìm mọi cách

nhằm cắt giảm các chi phí khác, nâng cao hiệu quả hoạt động

Bảng 1.2 Thay đổi trong cơ cấu sở hữu tiền gửi của các ngân hàng Mỹ

(Đơn vị %)

Nhóm sở hữu 1983 1985 1987 1989 1991 1993 1996

8 Peter S.Rore, 2004, Quản trị Ngân hàng thương mại, trang 465, NXB Tài chính.

Trang 30

tiền gửi

Cá nhân và công ty 73,5 75,2 77,0 80,3 82,2 89,2 88,5 Chính phủ Mỹ 0,2 0,2 0,3 0,2 0,3 0,3 0,3 Chính quyền bang và

các tổ chức chính trị 4,5 4,8 4,5 4,3 3,7 3,5 3,7Tiền gửi của các cơ

quan nước ngoài 16,7 15,2 14,6 12,2 11,3 4,1 4,5Các khoản tiền gửi

Như bảng 1.2 đã trình bày, tiền gửi tại các ngân hàng trong nước Mỹ chủ yếu thuộc khu vực tư nhân (bao gồm cá nhân, công ty), chiếm tới 4/5 tổng lượng tiền gửi của hệ thống ngân hàng Lượng tiền gửi lớn thứ hai thuộc về Chính quyền Liên bang và chính quyền địa phương (dưới 5% tổng tiền gửi), đây là những quỹ do chính quyền các thành phố, và các cơ quan chính quyền địa phương tích luỹ Các khoản tiền gửi này biến động thất thường với biên độ lớn, tăng mạnh trong kỳ từ thuế hay khi trái phiếu được phát hành, giảm nhanh khi chính phủ phải trả lương hay khi các công trình công cộng bắt đầu được xây dựng Mặc dù không mang lại mức lợi nhuận cao nhưng các ngân hàng thường chấp nhận tiền gửi của chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương như hình thức dịch vụ cho cộng đồng nơi ngân hàng hoạt động

Ngân hàng thương mại cũng nắm giữ một số lượng nhỏ tiền gửi của chính phủ MỸ Trên thực tế, Kho bạc Mỹ gửi phần lớn vốn hoạt động tại các ngân hàng trong nước trên tài khoản "Thuế và nợ của Kho bạc" (Treasury Tax and Loan Account - TT&L) Khi thu thuế hay khi bán các chứng khoán Kho bạc, Chính phủ trung ương luôn gửi thẳng tiền vào tài khoản TT & L, nhằm mục đích giảm thiểu tác động của những hoạt động này đối với hệ thống ngân hàng Kho bạc sau đó sẽ rút tiền định kỳ (chuyển

Trang 31

tiền vào tài khoản tại Ngân hàng dự trữ liên bang) khi có nhu cầu chi tiêu Hiện nay Kho bạc trả phí quản tiền gửi và hưởng lãi trên số dư tiền gửi tại các ngân hàng.

Một khoản mục tiền gửi quy mô lớn khác là tiền gửi của chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài Phần lớn lượng tiền gửi này được huy động thông qua các chi nhánh của ngân hàng tại nước ngoài Tiền gửi của

các tổ chức nước ngoài tăng mạnh trong suốt thập kỷ 60 - 70, lên tới 1/5

tổng lượng tiền gửi tại các ngân hàng Mỹ trong năm 1980 Con số này thể hiện sự tăng trưởng chóng mặt trong quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế của các công ty Mỹ Tuy nhiên, tỷ trọng của tiền gửi nước ngoài trong nguồn vốn của ngân hàng đã giảm bởi vì lãi suất nội địa trong những năm gần đây đã giảm đáng kể Hơn nửa cuộc khủng hoảng nợ trên thế giới và việc nền kinh tế trong nước tăng trưởng nhanh hơn đã khiến các ngân hàng

Mỹ giảm quy mô của kế hoạch bành trướng ra nước ngoài

Khoản mục tiền gửi quan trọng cuối cùng là Tiền gửi của các ngân hàng khác, bao gồm tiền gửi của ngân hàng đại lý - đây là tiền gửi mà các

ngân hàng nắm giữ của nhau thanh toán cho các dịch vụ đại lý Ví dụ một ngân hàng tại khu trung tâm cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu, vi tính hoá hoạt động ghi sổ, tư vấn các vấn đề thuế và đầu tư, tham gia cho vay, thanh toán bù trừ và thu séc cho các tổ chức nhận tiền gửi nhỏ ở nông thôn và ở những khu xa trung tâm Khi nhận tiền gửi từ các ngân hàng khác, ngân

hàng sẽ ghi vào tài khoản tiền gửi của ngân hàng khác (deposits due to banks) thuộc bên nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán Ngân hàng sở hữu khoản tiền gửi đó sẽ ghi vào bên tài sản tại tài khoản Tiền gửi tại ngân hàng khác (deposits due from banks)

5 Quản lý nguồn tiền gửi.

Có 4 nội dung quản lý:

Trang 32

5.1 Quản lý lãi suất:

Giá trong kinh doanh NH chủ yếu bao gồm phí và lãi suất, tạo nên thu nhập và chi phí của NH khi thực hiện việc cung cấp các sản phẩm tiền gửi

và cho vay để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Các sản phẩm NH thực hiện rất phong phú và đa dạng Việc định giá cho các sản phẩm này là một vấn đề phức tạp và khó khăn, vì một mặt NH phải đảm bảo duy trì được lợi nhuận, mặt khác phải đảm bảo giá của sản phẩm đủ sức cạnh tranh

Có thể nói, yếu tố cấu thành giá của sản phẩm tiền gửi của khách hàng

và cho vay khách hàng là lãi suất Nói cách khác, lãi suất là yếu tố cơ bản

để huy động vốn và cho vay ngân hàng

5.1.1 Định nghĩa:

Quản lý lãi suất của các khoản nợ là xác định các loại và cơ cấu lãi suất trả cho các nguồn tiền khác nhau nhằm đảm bảo duy trì quy mô và kết cấu nguồn phù hợ với yêu cầu sinh lợi của NH

5.1.2 Nguyên nhân phải quản lý lãi suất:

Hiện nay, hầu hết các NH ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang phải đối mặt với sự cạnh tranh thu hút khách hàng về phía mình trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi, một loại nguồn vốn chủ yếu của NH Một mặt, NH phải trả một mức lãi suất đủ lớn để thu hút và phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi điều này sẽ làm giảm mức thu nhập tiềm năng của NH NH thường phải lựa chọn giữa 2 mục tiêu tăng trưởng

và khả năng sinh lời Trả lãi quá cao cho các khoản tiền gửi và các nguồn vốn khác giúp cho NH tăng trưởng nhanh, nhưng chiến lược cạnh tranh này khiến cho lợi nhuận của NH suy giảm nghiêm trọng Do đó phải quản lý lãi suất và đưa ra được mức lãi suất phù hợp

NH không thể tự xác định mức lãi suất hoặc dự đoán chắc chắn về xu hướng vận động của lãi suất Nói cách khác, NH không thể là người “tạo

Trang 33

giá” mà chỉ là người “chấp nhận giá”, chấp nhận và lập kế hoạch hoạt động trên cơ sở mức độ hiện tại và khuynh hướng vận động của lãi suất Quá trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc sử dụng vốn và huy động vốn thường không cân xứng nhau về kỳ hạn và độ thanh khoản, làm NH phải chịu rủi ro nhiều về lãi suất hoặc có thể nâng cao được lợi nhuận Lãi suất thực sự là giá cả của tiền tệ được hình thành chủ yếu do quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Đây là điều kiện để các NHTM nâng cao tính tự chủ trong định giá các sản phẩm NH, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, thích nghi với cơ chế lãi suất thị trường Giá cả (lãi suất) chính là công cụ mà mỗi NH có thể chọn để nâng cao khả năng sinh lợi và các mục tiêu khác, dù rằng mỗi NH không thể tự quyết định giá mà là do thị trường dẫn dắt.

Một lãi suất hợp lý (cao hoặc thấp) đều có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của DN Khi lãi suất quá cao, các DN sẽ không dám vay vốn của NH, nhiều dự án có hiệu quả cao sẽ không được thực thi, nhiều cơ hội kinh doanh của DN sẽ bị mai một mất Khi đó nguồn vốn NH sẽ ứ đọng, dẫn đến giảm sút lợi nhuận, thậm chí là thua lỗ

Ngược lại, nếu lãi suất quy định quá thấp, các DN sẽ dễ dàng vay được vốn, thậm chí vay vốn không sử dụng đúng mục đích, dẫn đến sử dụng vốn lãng phí, không hiệu quả Sự rủi ro của DN sẽ kéo theo sự rủi ro của NH và ảnh hưởng không ít đến cả sự phát triển chung của nền kinh tế Do đó, NH cần phải có sự quản lý lãi suất Với một lãi suất hợp lý cho phép các DN tính toán được lợi nhuận thu về từ các dự án khả thi vì vậy sẽ chiếm lĩnh được cơ hội kinh doanh Đồng thời với một lãi suất hợp lý, DN sẽ có lợi nhuận sau khi trừ chi phí lãi tiền vay, kích thích các DN mở rộng danh mục đầu tư, thực hiện tái sản xuất, đẩy mạnh các hoạt động của DN

5.1.3 Mục tiêu quản lý:

Ngày đăng: 20/10/2013, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Sự thay đổi trong cơ cấu tiền gửi ở Mỹ (đơn vị  %) - Đề án Lý luận và thực trạng quản lý tiền gửi ở các NHTM Việt Nam
Bảng 1.1 Sự thay đổi trong cơ cấu tiền gửi ở Mỹ (đơn vị %) (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w