1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THUYẾT MINH TỔNG HỢP ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ BỜ Y

220 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là Khu kinh tế trọng điểm trong hệ thống các khu kinh tế cửa khẩucủa Việt Nam, khu có 01 cửa khẩu Quốc tế với Lào và 01 cửa khẩu phụ vớiCampuchia ; Là một trong ba trung tâm kinh tế

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

ĐỊA ĐIỂM QUY HOẠCH : HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KONTUM.

QUY MÔ NGHIÊN CỨU : 68.570 HA

CƠ QUAN CHỦ QUẢN ĐẦU TƯ : BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QT BỜ Y

CƠ QUAN CHỦ ĐẦU TƯ : BAN QL CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

CƠ QUAN TƯ VẤN : CÔNG TY TƯ VẤN & THIẾT KẾ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

CHỦ NHIỆM ĐỒ ÁN : KTS LÊ TUẤN.

QUẢN LÝ DỰ ÁN : KS NGUYỄN TUẤN.

CHỦ TRÌ CÁC BỘ MÔN CHUYÊN NGÀNH QUY HOẠCH:

 KIẾN TRÚC: KTS ĐỖ TRÍ PHƯƠNG.

 KINH TẾ : KS NGUYỄN VIỆT HÙNG.

 GIAO THÔNG: KS NGUYỄN NGỌC HÀ.

 THUỶ LỢI : TS NGUYỄN VĂN TÀI.

 THUỶ CÔNG: KS TÔN THẤT VĨNH.

 CẤP THOÁT NƯỚC & MÔI TRƯỜNG: KS ĐỖ DUY THÔNG.

 ĐIỆN: KS TRẦN GIA TIẾN.

 CHUẨN BỊ KT: KS NGUYỄN VIỆT HƯNG.

 TRẮC ĐỊA ĐỊA HÌNH: KS VŨ HÔNG LÂM.

QUẢN LÝ KỸ THUẬT: TRẦN TOÀN THẮNG, NGUYỄN LÊ QUANG, NGUYỄN TUẤN, PHẠM TUYẾN, NGUYỄN VÂN LONG, NGUYỄN HỒNG THỤC

CƠ QUAN TRÌNH DUYỆT

BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QT BỜ Y

TRƯỞNG BAN

PHẦN MỞ ĐẦU

SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH, CƠ SỞ, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ

&

Trang 2

QUAN ĐIỂM LẬP QUY HOẠCH.

****

I SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH:

- Khu kinh tế của khẩu quốc tế Bờ Y (gọi tắt là khu kinh tế) được thànhlập theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 05/01/1999 của Thủ tướng Chínhphủ Đây là Khu kinh tế trọng điểm trong hệ thống các khu kinh tế cửa khẩucủa Việt Nam, khu có 01 cửa khẩu Quốc tế với Lào và 01 cửa khẩu phụ vớiCampuchia ; Là một trong ba trung tâm kinh tế trên tuyến hành lang kinh tếĐông - Tây của Việt Nam; Được Thủ tướng 3 nước Việt nam- Lào-Campuchia Tuyên bố tại Viêng Chăn ngày 28/11/2004 Về việc Thiết lập Tamgiác phát triển 3 nước Việt Nam- Lào-Campuchia ; Là đầu mối giao lưu kinh

tế quan trọng trong khu vực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội củatỉnh Kon Tum và cả nước Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y là điểm nhấntrong chiến lược liên kết nhằm tạo cơ hội hợp tác, phát triển đồng đều giữa cácnước ASEAN và tiểu vùng sông MêKông, là giao điểm quan trọng trên hànhlang kinh tế Đông - Tây nối liền các tỉnh Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung,Đông - Nam bộ Việt Nam với các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan,Campuchia và Mianma

Hiện tại các quốc gia Việt Nam, Lào, Thái Lan đang tiến hành xây dựngnhiều tuyến đường nối các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, Lào, TháiLan qua cửa khẩu Quốc tế Bờ Y như: Đường Hồ Chí Minh Việt Nam; Quốc lộ16A từ Pak Sế đến thị xã Attapư(Lào); Cầu Pak Sế qua sông Mê Kông (Lào,Thái Lan); Đường 18B thị xã Attapư (Lào) đến cửa khẩu Phu Cưa nối vớiđường QL40 của Việt Nam, tạo cho khu kinh tế những cơ hội phát triển mớitrong xu thế hội nhập cao với khu vực

- Quy hoạch chung khu Bờ Y đã được lập và duyệt theo Quyết định số1369/QĐ-TTg ngày 19/04/2001 Thủ tướng Chính phủ có quy mô 400 ha đãđược thực hiện từ năm 2000 đến nay Nhưng hiện nay do xuất hiện nhữngnhân tố mới tác động tích cực đến khu vực như: Nền kinh tế của đất nước vàkhu vực miền Trung đang tăng trưởng mạnh với tốc độ trên 7,5% với cơ cấukinh tế phấn đấu đến 2020 là nước công nghiệp chiếm tỷ trọng trên 40% Việctham gia vào khu vực thương mại tự do ASEAN và hội nhập với tổ chứcthương mại Quốc tế WTO và xu hướng toàn cầu hoá kinh tế làm tăng dòngvốn đầu tư FDI vào khu vực nội địa; Mặt khác chương trình hợp tác quốc tế

Trang 3

giữa 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia và hợp tác liên kết tiểu vùng sông

Mê kông cũng tác động mạnh đến khu vực và tạo cho khu vực 1 cơ hội mới

Qua các buổi làm việc tại khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y, các đồng chí lãnhđạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ đều có chung quan điểm chỉ đạolà: Để phát huy được vị trí địa lí, chính trị đặc biệt quan trọng của khu kinh tếcửa khẩu Quốc tế Bờ Y với chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh - quốcphòng, đồng thời khai thác có hiệu quả các điều kiện về vị trí địa lí, chính trị,kinh tế, văn hoá - xã hội trong quá trình giao lưu kinh tế quốc tế để thúc đẩyphát triển kinh tế, phát huy tác dụng lan toả của khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế

Bờ Y đối với tam giác phát triển ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trongquá trình hội nhập cần phải ban hành một chính sách đặc thù đặc biệt ưu đãi

về tổ chưc và hoạt động cho khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y để đủ điềukiện phát triển xây dựng khu kinh tế đạt được mục tiêu đã đề ra như: Có môitrường đầu tư, kinh doanh thuận lợi nhất bao gồm hạ tầng kinh tế, xã hội vàchính sách ưu đãi đặc biệt nổi trội, cơ chế quản lí linh hoạt thuận lợi cho cáchoạt động sản xuất kinh doanh; Dịch vụ; Du lịch, đi lại, cư trú phù hợp với cơchế thị trường để thu hút tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển của cácnhà đầu tư trong và ngoài nước, cũng như tạo ra điểm hội nhập, giao lưu rộnglớn, toàn diện trên tinh thần hữu nghị, hợp tác và phát triển và ngày 05/9/2005Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 217/2005/QĐ-TTg về việc banhành quy chế về tổ chức và hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Yvới quy mô: Gồm 6 xã (Saloong, Đắk Kan, Bờ Y, Đắk Xú, Đắk Nông, ĐắkDục), 01 thị trấn (PlâyKần) và 01 khu trung tâm có tổng diện tích tự nhiênkhoảng 68.570 ha

Với những nhân tố ảnh hưởng đã nêu ở trên; Đồ án cũ không còn đápứng nhu cầu phát triển về nhiều mặt như: Quy mô dân số, các yêu cầu pháttriển và mở rộng đô thị đặc biệt là về đầu tư công nghiệp, hạ tầng xã hội, hạtầng kỹ thuật, Vệ sinh môi trường v.v

Vì vậy việc điều chỉnh quy hoạch chung để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụmới của khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y là hết sức cần thiết

II CÁC CĂN CỨ VÀ CƠ SỞ LẬP QUY HOẠCH:

- Nghị định số 140/2004/NĐ-CP, ngày 25/6/2004 của Chính phủ Quyđịnh chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia

- Quyết định 53/2001/QĐ-TTg, ngày 19/4/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về Chính sách đối với Khu kinh tế cửa khẩu biên giới

Trang 4

- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11, được Quốc hội nước CHXHCNViệt Nam khoá XI, kì họp thứ 4 (từ ngày 21/10 – 26/11 năm 2003) thông qua.

- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/1/2005 của Chính Phủ về Quyhoạch xây dựng

- Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 05/01/1999 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt dự án phát triển KTXH khu vực cửa khẩu Bờ Y Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum

Quyết định số 1369/QĐ TTg ngày 19/04/2001 Thủ tướng Chính phủphê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y- Ngọc Hồi -Tỉnh Kon Tum đến năm 2010

- Quyết định số 217/2005/QĐ-TTg v/v Ban hành quy chế về tổ chức vàhoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y

- Quyết định số 603/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 v/v Phê duyệt nhiệm vụđiều chỉnh quy hoạch chung khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y

- Báo cáo 69/BC-BQLCK ngày 5/10/2006 của ban QL khu kinh tế củaKhẩu QT Bờ Y về Tình hình thực hiện đầu tư phát triển năm 2006 và kế hoạchvốn đầu tư năm 2007 của khu kinh tế cửa khẩu QT Bờ Y

- Quy hoạch phát triển KTXH của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và

- Các tài liệu điều tra cơ bản có liên quan

- Các sơ đồ và đồ án quy hoạch có liên quan

- Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/ 500.000, 1/250.000, 1/100.000, 1/50.000 và1/10.000

- Bản đồ không ảnh vùng nghiên cứu quy hoạch và vùng liên quan trựctiếp

Trang 5

- Báo cáo thăm dò nước ngầm do liên đoàn địa chất thuỷ văn thực hiệntháng 7/2006.

III QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỒ ÁN:

3.1.Quan điểm nghiên cứu:

- Phát triển kinh tế-xã hội khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y một cáchtoàn diện trong mối quan hệ mật thiết với khu vực Miền Trung- Tây Nguyên,

Cả nước và vùng tam giác phát triển (TGPT) 3 nước Việt Nam Lào Campuchia trên cơ sở phân công hợp tác cùng có lợi

Phát triển bền vững thành khu kinh tế trọng điểm, là động lực pháttriển kinh tế quan trong cho vùng Tây Nguyên nói riêng và hành lang kinh tếĐông Tây nói chung

- Khai thác hiệu quả các thế mạnh nông nghiệp, lâm nghiệp, khoángsản, du lịch văn hoá và cảnh quan

- Tận dụng tối đa những cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật hiện có

- Khai thác hiệu quả các thế mạnh của các khu vực tiềm năng về điềukiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế, điều kiện phát triển du lịch

- Phát triển kinh tế-xã hội trên cơ sở xây dựng bền vững hệ thống đô thị,điểm dân cư nông thôn gắn với các vùng sản xuất kinh tế, bảo vệ an ninh quốcphòng và bảo vệ môi trường sinh thái

- Phân bố hệ thống đô thị và điểm dân cư một cách tập trung có trọngđiểm trên toàn vùng nghiên cứu Trong đó Đô thị sẽ là điểm tựa, là cơ sở hỗtrợ cho các vùng nông thôn phát triển

3.2 Mục tiêu đồ án:

3.2.1.Mục tiêu chung: Góp phần cụ thể hóa Quyết định số 217/2005/QĐ-TTgv/v ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc

tế Bờ Y (sau đây gọi tắt là khu kinh tế):

- Xây dựng và phát triển khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y trở thànhvùng động lực, trung tâm liên kết trên hành lang kinh tế Đông - Tây trong tamgiác phát triển ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia

- Xây dựng khu trung tâm, khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y trởthành đô thị biên giới, khai thác có hiệu quả các điều kiện về vị trí địa lý,chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội trong quá trình giao lưu kinh tế Quốc tế

để thúc đẩy phát triển kinh tế, phát huy tác dụng lan toả của Khu kinh tế

Trang 6

cửa khẩu Quốc tế Bờ Y đối với tam giác phát triển ba nước Việt Nam Lào - Campuchia trong quá trình hội nhập.

Thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn, biên giới và hạn chế tác độngtiêu cực đến môi trường sinh thái, văn hoá - xã hội, dân tộc, trật tự an ninhquốc phòng trên cơ sở tạo được nhiều việc làm, thúc đẩy đào tạo, nâng caodân trí và chất lượng nguồn nhân lực

- Tạo điều kiện bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới Quốcgia, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân, bảo đảm đoàn kết dân tộc, tăng cường mối quan hệhợp tác hữu nghị với các Quốc gia trong khu vực

- Hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế, phát huy tiềm năng và nguồn lựccủa Huyện và Tỉnh trong vùng;

- Làm công cụ điều phối, kiểm soát phát triển kinh tế xã hội trong khukinh tế

3.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, hiện trạng, các nguồn lực phát triển, cơ

sở hạ tầng kỹ thuật & xã hội trên địa bàn vùng nghiên cứu, phân tích mối quan

hệ liên vùng với khu vực, cả nước và Quốc tế

- Dự báo phát triển kinh tế - xã hội; Nghiên cứu các cơ sở hìnhthành và phát triển đô thị, dân cư nông thôn, cơ sở kinh tế - kỹ thuật; Sửdụng đất đai và lựa chọn các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật phát triển phù hợpvới vùng nghiên cứu

- Rà soát các quy hoạch, dự án đã, đang và sẽ thực hiện trong khu vực

để nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vàđịnh hướng quy hoạch mới Nghiên cứu, phát hiện, làm rõ thêm những tiềmnăng của khu vực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội

- Xác định tiền đề và động lực phát triển vùng, dự báo dân số Lào động,kinh tế xã hội phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung củaKhu kinh tế Bờ Y

- Xây dựng định hướng phát triển không gian chung, định hướng pháttriển không gian cho các cơ sở kinh tế, các đô thị và dân cư nông thôn, địnhhướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và kế hoạch sửdụng đất cho khu kinh tế đến 2025

- Báo cáo đánh giá tác động môi trường

Trang 7

- Kiến nghị các chính sách và biện pháp thực hiện quy hoạch xây dựngtoàn khu kinh tế

Trang 8

PHẦN II.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG

PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ.

- Lân cận với các đơn vị hành chính như sau:

o Bắc giáp : Huyện Đắk Glei

o Nam giáp : Huyện Sa Thầy

o Đông giáp : Đắk Pô Kô

o Tây giáp : CHDCND Lào và Vương Quốc Campuchia.1.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu trực tiếp: Bao gồm 6 xã: Đắk Nông, Đắk Dục,Đắk Xú, Saloong, Bờ Y, Đắk Kan và thị trấn Plây Kần Tổng diện tíchnghiên cứu quy hoạch: 70.440 ha (Theo thống kê của Trường đại học Nôngnghiệp I về việc đánh giá sử dụng đất)

- Phạm vi nghiên cứu gián tiếp: Các tỉnh thuộc vùng Bắc Tây Nguyên

và các Huyện lân cận của Tỉnh Kon Tum Các trọng điểm kinh tế trong khuvực Miền trung –Tây Nguyên và cả nước Các vùng kinh tế trọng điểm trongTGPT 3 nước Việt nam- Lào-Campuchia và Các hành lang kinh tế, vòngcung kinh tế trong khu vực Quốc gia và Quốc tế

II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:

2.1 Địa hình:

- Khu vực nghiên cứu quy hoạch là Huyện thuộc vùng núi cao của tỉnhKon Tum, nằm ở chân sườn núi phía Đông của dãy Trường Sơn Dãy núi cócác đỉnh Ngok Cem Put, Ngok Bia, Ngok Kơ Neng như mái nhà phân chia haivùng Đông và Tây rõ nét Phía Tây có địa hình núi cao, chạy dài đến sát biêngiới, chia cắt hiểm trở, độ dốc 10˚- 20˚, địa hình nghiêng về phía Đông Nam;Phía Đông trải rộng đến sông PôKô có địa hình bằng phẳng tập trung ở xã Đắk

Xú, Đắk Nông, Đắk Dục, thị trấn Plây Kần, chia cắt nhẹ, tầng đất dày hơn50cm Có thể nói địa hình vùng này là pha trộn giữa địa hình đuôi sườn phía

Trang 9

Đông của dãy Trường Sơn với địa hình đầu vùng cao nguyên Vì vậy địa hình

đa dạng bao gồm: Đồi núi, cao nguyên và thung lũng, xen kẽ nhau rất phứctạp Các đỉnh núi thường tập trung thành từng dãy từ Đông sang Tây, từ Bắcxuống Nam hay quần tụ theo dạng bát úp, điển hình dạng núi bát úp là khuphía Bắc Vườn Quốc gia Chưmomray Đặc điểm chung các đỉnh nối thành dải

có độ dốc lớn dần từ sườn xuống chân, còn từ sườn lên đỉnh bằng, càng lêncao càng thoải Phân cách giữa các dãy núi là các khe suối, thung lũng

Dựa vào các đặc trưng địa hình, kết hợp với độ cao, độ dốc, chiều dài,cách phân bố tự nhiên các đỉnh núi có thể phân ra 10 dãy đỉnh, một số cáctriền núi và hai khu vực đặc thù: Vườn Quốc gia Chưmomray, khu vực bìnhnguyên dọc sông PôKô như sau:

- Dãy các đỉnh thứ nhất (Núi Ngọk Long):

Dãy này có dạng núi cánh cung, chạy dọc biên phía Bắc giáp huyệnĐắk Glei đến đường biên giới Việt Lào Từ Đông sang Tây có 09 đỉnh, theothứ tự cao dần vào trung tâm: 664m, 683m, 933m, 1132m (trung tâm) và thấpdần về phía biên giới Việt - Lào: 806m (Ngọc Lang) 852m, 722m, 724m và561m

Chiều dài núi cánh cung khoảng 18km, khoảng cách giữa các đỉnh núi

từ 2,5km đến 3,0km, Chênh lệch độ cao trung bình ở sườn Đông 210m, ởsườn Tây khoảng 80m đến 180m, độ dốc trung bình giữa các đỉnh trên cùngdải: 6˚đến 8˚

- Dãy các đỉnh thứ hai (Ngọk Cem Put-Ngọk Bia-Ngọk Kơ Neng):

Là hệ thống các đỉnh nối liền nhau, chạy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam dài khoảng 11km, gồm 09 đỉnh, các đỉnh cách nhau khoảng 1,2km đến2,0km Dãy núi như mái nhà, phân cách tự nhiên giữa thung lũng sông PôKô

và vùng núi phía Tây Xuất phát từ đỉnh 776m, 1023m, 1265m, Ngọk Cem Putcao1209, đỉnh Ngọk Bia cao 1283m, 1228m, 1015m, 1057m và đỉnh Ngọk KơNeng cao 1085m (phía Nam) Giữa các đỉnh là các triền đồi thấp có độ cao từ900m đến 1000m, Chênh cao trung bình 250m, độ dốc nối các đỉnh 8-10˚

- Dãy các đỉnh thứ ba (Ngọk Cem Put- Núi Sut):

Dãy này chạy dọc theo triền suối Đắk Lào, dài 12km, có 07 đỉnh, điểmxuất phát là đỉnh Ngọk Cem Put cao 1209m tiếp đến đỉnh 908m, 810m, 822m,806m, 810m (Núi Sut), 710m và đỉnh 574m Khoảng cách giữa các đỉnh từ1,5km đến 2,5km, Chênh cao trung bình 250m, độ dốc trung bình 7,5˚- 8,5˚

Nằm giữa dãy thứ nhất và dãy thứ ba là lưu vực suối Đắk Lào và suốiĐắk Vai Suối Đắk Lào chảy về phía Tây (biên giới), suối Đắk Vai chảy ra

Trang 10

sông Pôkô Hai bên suối Đắk Vai là hệ thống các đồi thấp khá bằng phẳng, códiện tích 4000 ha, trải dài 8000 m từ Tây sang Đông, chiều rộng 500 m, cao

độ đỉnh phía Tây 752 m, đỉnh phía Đông (giáp sông Pôkô) 684 m, Chênh cao

- Dãy các đỉnh thứ tư (Ngọk Kơ Neng- Ngọk Lah):

Dãy này bao gồm các đỉnh núi phía Bắc suối Đắk Xú, dài 15km, có 10đỉnh: Ngok Kơ Neng cao 1085 m, 1057 m, 1015 m, 778 m, 724 m, 794 m, 782

m, 725 m, 574 m và 461 m Địa hình thấp dần từ Đông sang Tây, khoảng cáchgiữa các đỉnh từ 2,0 km đến 2,5 km, Chênh cao trung bình 70 m- 100 m, độdốc trên đỉnh khoảng 7˚ Chân của các đỉnh núi là suối Đắk Xú, địa hình rấtdốc, các đỉnh nhọn, không bằng như các dãy trước Địa hình bị chia cắt nhiều,nên các đỉnh không thành giải, chia cắt bởi các suối Đắk Lào, Đắk Sat, ĐắkSut và Đắk Lào; phần còn lại gồm các ngọn núi nối với nhau liền giải Dướichân ngọn núi Cem Put (1209 m), ngọn Ngok Bia (1233 m) và núi Kơ The, làthung lũng rộng khoảng 300ha, đầu nguồn của suối Đắk Lào Dòng Đắk Làohẹp, việc đắp đập chắn nước có thể tạo ra các hồ nước nhân tạo

- Dãy các đỉnh thứ năm (phía Nam suối Đắk Xú):

Tập hợp gồm 11 đỉnh, nằm phía Nam suối Đắk Xú, dài khoảng 14 km.Xếp theo thứ tự từ Đông sang Tây: Cao độ các đỉnh 654 m, 682 m, 632 m, 693

Trang 11

kẹp giữa suối Đắk Xú và suối chạy dọc biên giới diện tích khoảng 1200 ha, cóthể trồng cây ăn quả hay các loài cây có giá trị kinh tế cao.

- Dãy các đỉnh thứ sáu (Đắk Xú - Ngọk PhaKang Trat):

Dãy các đỉnh nằm phía Bắc đường 40, từ Đông sang Tây gồm 12 đỉnh,cao độ như sau:715m, 688m, 714m, 841m, 824m, 918m, 1015m, 1048m,1034m, (Ngọk PhaKang Trat), 883m, 884m và 529m Dãy kéo dài 15km,khoảng cách giữa các đỉnh từ 1,5km - 2,5km Địa hình cao dần vào giữa và từgiữa thấp về phía biên giới Chênh cao từ phía Đông đến đỉnh trung tâm 330m,

độ dốc 8˚, từ trung tâm về phía Tây 200m, độ dốc 5˚ Độ dốc nội bộ từng núitrung bình 18˚, cao nhất 30˚ Chia cắt dãy bởi 02 suối: Đắk La, Đắk Nil

Vùng kẹp giữa dãy đỉnh thứ năm và dãy đỉnh thứ sáu diện tích khoảng2000ha, địa hình dạng gợn sóng, khởi đầu từ đỉnh Ngok Pha Kang Tiat cao độ1034m, thoải dần về phía thị trấn Plây Kần, có độ cao 650m, khá bằng phẳngrất thuận tiện cho công tác xây dựng các khu công nghiệp vì xung quanh cócác dãy núi cao che chắn, hạn chế tác động xấu đến môi trường sống các khuvực lân cận

Địa hình kẹp giữa dãy đỉnh thứ sáu và đường QL40, bằng phẳng nằmtrên cao trình 760m đến 820m, bề rộng trung bình 1000m, bề dài dọc theođường QL40, từ biên giới đến thị trấn Plây Kần

- Dãy các đỉnh thứ bảy (suối Đắk La - Đắk H’Niêng):

Dãy nằm phía Nam đường QL 40, dọc theo suối Đắk La từ thị trấn PlâyKần đến cửa khẩu Bờ Y, dạng hình cánh cung, gồm 10 đỉnh, dài khoảng20km, khoảng cách giữa các đỉnh từ 2,0km - 2,5km, cao độ sắp xếp như sau:701m, 710m, 836m, 768m, 897m là cụm đỉnh độc lập, độ dốc nội bộ từngđỉnh 3,5˚- 5,5˚; Còn các đỉnh: 848m, 950m, 942m, 900m và 900m nối liềnnhau, kéo dài 4000m, không bị chia cắt, độ dốc toàn dãy 2˚45´, so với suốikhoảng 2˚- 3˚ với cao trình 800m; còn từ 800m trở lên độ dốc 1˚- 1,5˚ Nhưvậy địa hình ở đây bằng phằng thuận tiện cho công tác quy hoạch giao thông

và các quy hoạch xây dựng khác

Nằm giữa dãy đỉnh thứ sáu và đỉnh thứ bảy là suối Đắk La, suối ĐắkH’Niêng, lòng suối dạng chữ “U”, chảy về phía Đông hợp với sông ĐắkPôkô, độ dốc không lớn, vùng thượng lưu dân cư thưa thớt, rất thuận lợi chocông tác đắp đập tạo thành các hồ nhân tạo Hiện tại khu vực làng Lêk, Takathuộc xã Bờ Y đã đắp đập ngăn suối Đắk H’Niêng tạo ra hồ Đắk H’Niêng códiện tích 18,7ha phục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt

- Khu vực địa hình vườn Quốc gia Chưmomray:

Trang 12

Tiếp giáp với dãy đỉnh thứ bảy là Vườn Quốc gia Chưmomray, có thểchia địa hình ra 2 khu: Khu phía Bắc và khu phía Nam.

* Khu phía Bắc có diện tích khoảng 2500 ha địa hình bằng, dạng gợnsóng theo hướng Đông - Tây, độ cao đồng đều, thấp nhất 870m, cao nhất900m, núi có dạng hình mâm xôi, các đỉnh nối liền nhau, không bị phân cắt.Phần lớn các đỉnh núi tạo thành các tứ giác, cao ở đỉnh, thấp ở chân tạo thànhcác thung lũng tụ nước, sình lầy, mùa mưa nước ngập, mùa khô còn lại lớpnước nông, hoà với đất bồi từ các đồi trôi xuống tạo thành lớp bùn dày, ướt,dân thường gọi là khu sình lầy, đi lại khó khăn, nhưng độ ẩm lớn nên hệ sinhthái động thực vật phát triển Về mùa khô các khu đầm lầy là những nơi trúngụ của các loài động vật như Heo rừng, Hươu, Nai, Kỳ đà…

* Khu phía Nam diện tích khoảng 5000 ha, địa hình dạng gợn sóng theohướng Bắc Nam, nghĩa là các đỉnh liên kết nhau theo hướng Bắc Nam thànhcác lớp như sau:

o Lớp địa hình chạy bên trái suối Đắk RơKoy (chạy dọc biên giớiCampuchia ): đây là dãy đỉnh, dài khoảng 9 km, gồm 5 đỉnh, thấp dần

từ Bắc (708m) xuống Nam (625m) Phân cách giữa các đỉnh là vùngtrũng có bề rộng khoảng 200m-300m, dài 500m- 700m, cửa mở vềphía suối Đắk RơKoy Địa hình bằng, mùa mưa ngập nước, mùa khôvẫn có lớp nước nông, tạo nên vùng sình lầy, giữ độ ẩm nên động,thực vật ở đây phong phú

o Lớp địa hình chạy bên phải suối Đắk RơKoy, kéo dài 9,0km, rộng3,0km, gồm 5 đỉnh, thấp dần từ Bắc (844m) xuống Nam (677m) Dãynày như cánh cung ôm lấy lưu vực suối Đắk RơKoy Địa hình dạnggợn sóng, nối thành giải chạy dài không bị phân cắt, nằm trên triền địahình có cao độ trung bình 750m Từ giữa dãy trở về cuối có thunglũng lớn tạo bởi 6 đỉnh ở vòng cung phía ngoài: 844m - 839m - 882m

- 743m - 677m -561m và 4 đỉnh: 659m - 672m - 653m - 844m ở vòngcung phía trong, thông với suối Đắk RơKoy bằng 2 cửa Thung lũng

có diện tích 400 ha, mùa mưa các dòng chảy tụ lại thành những hồnước lớn, là dạ dày của Vườn Quốc gia Suối Đắk RơKoy chạy giữa 2lớp địa hình trên, đầu nguồn dốc, lòng hẹp, phần giáp với huyện SaThầy suối bằng hơn, lòng rộng, dòng chảy không rõ, nước tràn ra haibên tạo ra hồ chứa nước vào mùa mưa, sình lầy vào mùa khô

Có thể nói Vườn Quốc gia Chưmomray khu phía Bắc địa hình có dạngmâm xôi xen lẫn thung lũng vừa và nhỏ; ở khu phía Nam địa hình có dạng gợn

Trang 13

sóng, nối với nhau thành từng dải theo hướng Bắc Nam, xen kẽ là các thunglũng vừa và lớn Các thung lũng này là hồ tích nước mùa mưa, giữ nước vàomùa khô, là nguồn sống cho các loài đông vật Đây là đặc điểm chính làm nênVườn Quốc gia Tây Nguyên với hệ sinh thái phong phú, đa dạng, còn tồn tạinhiều loài động thực vật quý hiếm có trong sách đá Việt Nam và thế giới.

- Dãy các đỉnh thứ tám (dọc suối Đắk Long):

Là lớp các đỉnh nằm bên phải suối Đắk Long: Dãy đồi có hình gợnsóng, thuộc xã Sa Loong, kéo dài khoảng 12km, theo hướng Đông Bắc - TâyNam, bề rộng 2,0km, là tập hợp 9 đỉnh đồi có cao độ lần lượt: 782m, 788m,784m, 820m, 825m, 851m, 820m, 746m và 757m Dãy đồi này cao ở giữathấp dần về hai đầu Chênh cao không lớn, về phía Bắc 38m, độ dốc < 2˚, vềphía Nam 63m, độ dốc < 2,5˚ Các quả đồi nối liền nhau thành một dải trênnền địa hình có cao độ chung khoảng 750m Trên cơ sở bản đồ địa hình đã thểhiện, kết hợp với thực tế khảo sát, chúng ta thấy khu vực này rất thuận lợi bốtrí công tác quy hoạch sân bay hay khu đô thị trên cao

Lớp địa hình bên phải suối Đắk Long là dải bình nguyên trải dài 15km

từ biên giới huyện Sa Thầy đến thôn Hoà Bình xã Đắk Kan, kết hợp với dảibình nguyên rộng lớn thuộc hạ lưu suối Đắk H’Niêng phía Nam thị trấn PlâyKần tạo thành vùng đồng bằng rộng Ven tuyến đường xuyên dọc dải bìnhnguyên suối Đắk Long có nhiều làng bản thuộc cộng đồng các dân tộc sinhsống

- Dãy các đỉnh thứ chín (suối Đắk Hơ D’Rai) :

Dãy địa hình này nằm giữa dãy địa hình thứ tám và suối Đắk Hơ

D’Rai, gồm 3 đỉnh, phía Bắc đỉnh có cao độ 807m, đỉnh ở giữa cao 874 và

đỉnh ở phía Nam cao 1035m Địa hình có dạng hình xương quạt, phân cắt lớnbởi hệ thống nhiều khe, suối, độ dốc lớn > 20˚nhất là từ sườn lên tới đỉnh,càng về gần suối Đắk Hơ D’Rai địa hình bằng, tạo nên dải bình nguyên hẹp

- Dãy địa hình thứ mười (Ngọk Long Rôua- Ngọk Ring Pong- NgọkBơrBoang):

Khu địa hình kẹp giữa đường Quốc lộ 14 và 14C, có dạng hình sốngtrâu, cao ở giữa, thoải về hai phía: Đông và Tây Các đỉnh liên kết thành mộtdải gồm 7 đỉnh, cao dần về phía Nam và sắp xếp như sau: 846m (Ngọk LongRôua), 828m, 827m, 945m, 1001m và 1154m (NgọkBoang) SườnTây thoải

về suối Đắk Long, tạo nên bình nguyên hẹp dọc suối Đắk Sir Sườn Đôngthoải về phía sông PôKô tạo nên những dãy đồi lượn sóng, có diện tíchkhoảng 700ha Phân cắt dẫy đồi này bởi suối Đắk J’yang Với địa hình ở đây

Trang 14

có thể quy hoạch khu quần thể vui chơi giải trí, thuận lợi nhất là quy hoạchsân gôn.

- Khu địa hình dọc sông Đắk PôKô:

Đây là dải bình nguyên (đồng bằng) chạy dọc dòng sông PôKô từ phíaBắc, nơi hợp lưu giữa sông Đắk RơLong với sông PôKô xuống phía Nam,

có chiều dài khoảng 23 km, bệ rộng chỗ hẹp nhất 500 m (khu vực thôn ChảNội), nơi rộng nhất 4000m (khu vực Dục Nội), trung bình 2500m, có diện tíchtương đương 5500ha Đồi núi ở đây kết thành một dải trùng điệp, theo dạnglượn sóng, có độ cao gần như bằng nhau, phân cắt bởi 13 con khe nhỏ, cáchđều nhau (1,8km-2,0km), lòng khe bằng phẳng, hình chữ “U”, mùa mưa chứađầy nước, mùa khô là khu vực sình lầy, đa số là ruộng lúa nước của cộng đồngdân cư Các dòng chảy tự nhiên này nếu được đắp chắn lại tạo thành những hồnhân tạo Dải bình nguyên này chính là kết quả của sự lan toả qua quá trìnhtạo sơn của dẫy Ngọk CemPat - NgọkBia - Ngọk KơNang chắn ở phía Tây

- Tóm lại địa hình khu cửa khẩu quốc tế Bờ Y có 4 dạng chính:

o Các đỉnh nối liền với nhau thành dải, không bị phân cắt, có khả năngquy hoạch phát triển hệ thống giao thông đường bộ và xây dựng

o Các đỉnh độc lập bị phân cắt nhiều, chia cắt các đỉnh này là các khesuối hay các thung lũng dưới nhiều dạng: nhỏ, vừa, lớn có thểngăn đập thành các hồ chứa nước nhân tạo trữ lượng lớn

o Các triền núi chạy dài theo các khe, suối, hầu hết có độ dốc trungbình, khá bằng phẳng, có thể khai thác đất cho xây dựng

o Khu đất bằng phẳng dạng gợn sóng, tập trung ở lưu vực suối ĐắkVai thuộc xã Đắk Dục, dọc sông Đắk Pô Kô, khu hạ lưu suối ĐắkH’Niêng và lưu vực suối Đắk Long, Đắk Kal là khá thuận lợi choviệc khai thác đất xây dựng

o Các đỉnh núi độc lập kết hợp với các dải núi chạy song song với cáckhe suối, hình thành các thung lũng có dạng lòng chảo hay dạng hồ,đặc trưng địa hình Vườn Quốc gia Chưmomray Những khu vực nàyrất đẹp có thể khai thác du lịch

2.2 Địa mạo: Bề mặt của khu nghiên cứu quy hoạch có thể phân chia theo nguồngốc và tuổi tác khác nhau như sau:

2.2.1 Các bề mặt cùng nguồn gốc:

- Địa hình kiến tạo và kiến trúc bào mòn: Sườn bóc mòn thạch học tuổiNeoge(N) Sườn này phát triển trên dãy núi Ngọk Kon Kring, Ngọk Kring,

Trang 15

Ngọk Plok Chúng đặc trưng cho cấu trúc bóc mòn dương dạng tuyến trên các

đá có độ bền cơ học cao Sườn có 2 cấp độ dốc: a-dốc 20-30˚, b- dốc 10-20˚

- Địa hình bóc mòn: Sườn bóc mòn tổng hợp tuổi Neogen (N): Sườnnày phát triển trên các dãy và khối núi: Ngọk Kơ Bang, Ngọk Loat, Ngọk Bia.Chúng đặc trưng cho quá trình nâng bóc mòn mạnh Sườn có 3 cấp độ dốc: a-dốc > 30˚, b- dốc 20˚-30˚, c- dốc 10˚-20˚

- Bề mặt san bằng được chia thành 5 bề mặt:

o Bề mặt Paleogen cao 1500 1900m, bảo tồn dạng đỉnh sót dài hẹpkhông liên tục, chúng bị biến dạng vòm nghiêng 8-10˚

o Bề mặt Miocen sớm, cao 1000- 1500m, bảo tồn dạng dải hẹp,chúng bị biến dạng vòm nghiêng 8-10˚

o Bề mặt Miocen giữa, cao 700-1000m, bảo tồn dạng tập hợp đồi, bềmặt nghiêng thoải 5-8˚

o Bề mặt Miocen muộn, cao 500m- 700m, bảo tồn dạng đồng bằng,nghiêng 3-5˚

o Bề mặt Pliocen, cao 300- 450m, phát triển kiểu Pedimen, nghiêng1-3˚

- Sườn xâm thưc bóc mòn tuổi Neogen - Đệ Tứ: Sườn này phân bố ở rìacác khối nâng, cắt lộ đá gốc Sườn có 2 cấp độ dốc: a- dốc 20-30˚, b- dốc 10-20˚

- Sườn đổ lở tuổi Neogen: Sườn này phân bố ở núi Ngohk Wil trên đágốc nứt nẻ mạng Sườn dốc >30˚

- Sườn xâm thực tuổi Đệ Tứ: Sườn phân bố dọc các thung lũng cấp III Chúng đặc trưng cho quá trính xâm thực của sông, suối, cắt lộ đá gốc vàtạo thác ghềnh Sườn có 3 cấp độ dốc: a- dốc 20-30˚, b- dốc 10-20˚, c- dốc 5-10˚

- Bề mặt thềm tích tụ bậc I tuổi cuối Plâystocen muộn: Bề mặt pháttriển không liên tục dọc theo các thung lũng, Chênh cao tương đối 8-10m

- Bề mặt bãi bồi cao, tuổi Holocen giữa Bề mặt phát triển dạng dàikhông liên tục dọc theo các thung lũng, chênh cao 2- 4m

Trang 16

- Bề mặt tích tụ bãi bồi thấp, tuổi Holocen muộn: Bề mặt phát triển từngđoạn ở phần thấp của các thung lũng, chênh cao 1-2m.

2.3.3.Bề mặt thềm tích tụ hỗn hợp sông - đầm lầy tuổi Holocen: Bề mặt pháttriển trên lũng hẹp, kín hoặc nửa kín

- Kết luận: Với cấu trúc bề mặt như trên; Kết cấu nền của khu nghiêncứu quy hoạch rất bền vững, khả năng trượt trôi bề mặt hầu như không có, khảnăng hình thành lũ ống lũ quét là cực kỳ hiếm nếu như không có những biếnđộng lớn của thiên nhiên sinh ra như động đất, sóng thần vv

2.3 Đặc điểm địa chất:

2.3.1 Địa tầng - Kiến tạo:

- Vùng quy hoạch nằm ở phần tiếp giáp 2 đơn vị kiến tạo lớn: Khu vựcphía Tây, Tây Bắc, Tây Nam thuộc đới uốn nếp Neoproterozoi - mesozoi sớm;Ngọc Hồi- MaD’rak - Đắk Lin với đặc trưng uốn nếp cơ bản phương TâyBắc - Đông Nam và khu vực Bắc - Đông Bắc thuộc đới uốn nếp Paleo-Mesoproterozoi Sơn Hà - Đắk Tô với đặc trưng uốn nếp cơ bản phương ĐôngBắc - Tây Nam tương ứng

Khu vực cửa khẩu Quốc tế Bờ Y có bề mặt moho dạng nghiêng phẳng,cắm về Tây với độ sâu nhất đạt 38km ở khu vực ngã 3 biên giới Việt - Lào -Campuchia và nông dần về phía Đông bề mặt konrat cũng có dạng nghiêngphẳng cắm về phía Tây - Tây Nam với độ sâu nhất 18km ở khu vực Tây Namnúi NgọkTơba và nông dần về phía Đông Bắc với độ sâu khoảng 15km ở khuvực Đắk Hà

Cấu tạo nền vùng gồm các đá thuộc 5 giới và 4 phức hệ thạch anh - kiếntạo khác nhau, phản ảnh 4 giai đoạn phát triển kiến tạo của khu quy hoạch nóiriêng và phía Tây khối nhô của Kon Tum nói chung Mỗi phức hệ thạch - kiếntạo bao gồm nhiều tổ hợp thạch - kiến tạo, mỗi tổ hợp thạch - kiến tạo gồm cácthành hệ đá khác nhau Qua đánh giá sơ bộ, khu vực nghiên cứu quy hoạch cócột địa tầng tổng thể như sau:

1 Giới Paleoproteozoi- mesoprotzoi (phức hệ Ngọc Linh - Hệ tầngTắcPô (PP-MPtp): Là đá biến chất phân hệ tầng trên, thành phần chính là greis

2 mecia, greis biotit hạt nhỏ, plagiogneis biotit, đá phiến thạch anh- mica, đá phiến thạch anh - biotit: Lớp máng quarzit, thêu kính amphibolit.Chiều dày 1900m-2150m

felspat-2 Giới NEOPROTEROI - Phụ giới PLEOZOI Hạ: Giới có phức hệkhâm đức, bao gồm 2 hệ tầng:

Trang 17

o Hệ tầng Đắk Tolir: Là đá biến chất lộ ra thành 2 dải hẹp chạy dàitheo hướng Tây Bắc - Đông Nam; Cấu trúc tầng có 2 lớp bị nén épbiến vị mạnh Thành phần thạch học amphibolit xen kẽ đá thạch anh

- actinolit-mica-plagigneis)

o Hệ tầng Đắk H’Niêng: Là đá biến chất phân làm 2 hệ tầng trên vàdưới, thành phần chủ yếu là đá pagiogneis xen kẽ một số đá khácnhư thạch anh, mi ca

3 Giới panleozoi - phụ giới paleozoi hạ (Hệ tầng Pô Kô(PZ1pc): Là đá

thuộc hệ Pô Kô lộ thành 2 dải chính có phương kéo dài theo hướng Tây Bắc Đông Nam Mặt cắt điển hình cho hệ tầng được mô tả ở thượng nguồn ĐắkH’Niêng, Ngọk Kon Kring, Tây Nam Ngọk Hơi, Tây Nam xã Bờ Y, chiều dày

-hệ tầng khoảng 700m - 1050m Thành phần chủ yếu là Quarzit có sericit hạtthô, quarzit sạch hạt nhỏ, quarzit sericit xen những lớp máng đá phiến thạchanh- sericit

4.Giới Mesodoi - Hệ Triat: Giới này chủ yếu là hệ tầng Mang yang lộ ởthượng nguồn sông Đắk Long Thành phần chủ yếu là đá cát kết, sỏi sạn kết

và 1 ít đá gốc tuf ryolit-dacit pholit

5 Giới Kazonoi: Gồm hệ tầng Neogien, hệ tầng Kontum, hệ Đệ tứ Thống Pliestocen, hệ tầng Đắk Tô (ap,lQ1đt) Chạy liên tục theo các trũngdọc, theo các sông suối và dọc theo QL14, thung lũng, triền sông suối Thànhphần thạch học chủ yếu là cát, sạn sỏi cuội kết, đá kết vv bề dày biến đổi từ15-20m Ngoài ra còn có những vùng trầm tích khác như: Aluvi thềm bậc I, II(aQ1²-³) và trầm tích bãi bồi thấp (aQ1²-³) dày từ 3-5m cũng tập trung ở những

-triền sông, dòng chảy; Thành phần chủ yếu là cuội sạn đa khoáng, cát sét màu

vàng bị latenrit kết vón loang lổ

- Các đặc điểm kiến tạo:

o Đặc điểm uốn nếp: Trong khu cửa khẩu Quốc tế Bờ Y các đá trầm tíchbiến chất Paleo- Mesproterozoi bị uốn nếp mạnh mẽ và phức tạp nhất ởphương trục nếp uốn theo phương Đông Bắc - Tây Nam, các đá trầmtích Neoproterozoi- Paleozoi hạ bị uốn nếp với mức độ phức tạp kémhơn với phương trục uốn nếp theo phương Tây Bắc- Đông Nam, tậptrung chủ yếu ở phía Tây Nam Các trầm tích Meso - Kainozoi hầu nhưkhông bị uốn nếp biến dạng

o Đặc điểm đứt gãy: Trong khu cửa khẩu Quốc tế Bờ Y phát triển 4 hệthống đứt gãy chính sau:

Trang 18

o Hệ đứt gãy phương Tây Bắc- Đông Nam: Nhóm đứt gãy phương 310gồm các đứt gãy F6, F7, F8, trong đó đứt gãy F8 có vai trò quan trọngtrong việc phân đới cấu trúc nghiên cứu khu vực, được mang tấn đứtgãy Đắk Kon - Đắk Tô- Đắk Uy, phát triển trong giai đoạn Miocen.

o Hệ đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam: Bao gồm các đứt gãy F9,F10, F11, F12, trong đó các đứt gãy theo phương 115-130 xuyên cắttrong các đá biến chất vào thời kỳ Triat Các đứt gãy còn lại xuyên cắtvào trong trầm tích Đệ Tứ, phát sinh vào Kainozoi

o Hệ đứt gãy phương kinh tuyến: Bao gồm các đứt gãy F1, F2, F3, F4xuyên cắt hầu hết các thành tạo địa chất có mặt trong vùng quy hoạch

và xuyên cắt vào hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam, phátsinh trong thời kỳ Kainozoi

o Hệ đứt gãy phương vĩ tuyến: Hệ đứt gãy theo phương vĩ tuyến pháttriển kém hơn so với các đứt gãy khác trong vùng quy hoạch, điển hình

có đứt gãy F5 kéo dài từ Ngọk Long đến Ngọk Piah, đứt gãy phương vĩtuyến có tuổi trẻ nhất, phát sinh trong Pliocen- Đệ Tứ

- Kết luận: Với cấu trúc địa chất & kiến tạo ở trên, hệ địa chất của khu vựckhông có hang động Caxter, trượt trôi rất bền vững thuận lợi cho xây dựngcông trình

2.4 Các yếu tố khí hậu:

2.4.1 Nhiệt độ:

Khu vực nằm trong vùng khí hậu Tây Trường Sơn; Chịu ảnh hưởng chủyếu gió mùa Tây Nam, mùa hè - mùa thu mưa nhiều và đều đặn; Mùa ĐôngXuân hầu như không có mưa, khô hạn Nhiệt độ bình quân 22˚C đến 23˚C, có

xu thế tăng dần từ Nam ra Bắc và từ cao xuống thấp chỉ từ 4-5˚C, nhưng biên

độ nhiệt trong ngày cao, có thời kỳ đạt tới 15˚

2.4.2 Lượng mưa: Mưa có xu hướng tăng dần từ vùng thấp lên vùng cao Doảnh hưởng của địa hình, sự phân bố mùa theo không gian rất phức tạp: Cácsườn núi có hướng đón gió luợng mưa tăng lên rõ rệt từ 2600 - 2800mm.Ngược lại thung lũng khuất gió, lượng mưa năm giảm đáng kể chỉ còn 1100-1200mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85% đến 90% tổng lượngmưa trong cả năm Số giờ nắng trong năm 2508,5 giờ Mùa khô từ tháng 11đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm 10% tổng lượng mưa cả năm Theo trạm thuỷvăn Đắk Tô có tài liệu 24 năm (từ năm 1981- 2004):

o Lượng mưa bình quân: H = 1900mm

o Số ngày mưa trung bình năm: 140 ngày

Trang 19

o Lượng mưa năm lớn nhất: Hmax = 2428,6mm.

o Luợng mưa năm nhỏ nhất: Hmin = 1161,7mm

o Lượng mưa ngày lớn nhất bình quân năm là: 141mm

o Số ngày mưa trung bình: 140 ngày

2.4.3.Độ ẩm: Độ ẩm của Tây Nguyên nói chung và huyện Ngọc Hồi nói riêngbiến động theo mùa, thời kỳ hình thành gió mùa Tây Nam (tháng 5 đến tháng10) là thời kỳ có độ ẩm cao (từ 87% - 90%) và thời kỳ hình thành gió mùaĐông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) là thời kỳ khô hạn, độ ẩm thấp(74- 81%) Độ ẩm trung bình năm 79,5% trong đó các vùng núi cao như vùngngã ba biên giới, vùng vườn Quốc gia Chưmomray có độ ẩm cao 85% Cácvùng bình nguyên, vùng trũng thấp độ ẩm 75- 80% vào mùa mưa đủ thừa độ

ẩm nhưng mùa khô thiếu ẩm

2.4.4 Lượng bốc hơi: Cũng mang đặc thù của vùng Tây Nguyên, khu vựchuyện Ngọc Hồi có lượng bốc hơi khá lớn, trung bình trên 1232,9mm

2.4.5 Hướng gió: Mùa mưa hướng gió Tây Nam, mùa khô hướng gió ĐôngBắc, tốc độ gió trung bình 5,2m/s Khu vực Ngọc Hồi hầu như không có bãolớn

2.5 Thuỷ văn:

2.5.1 Nước mặt:

Hệ thống sông suối trong khu cửa khẩu quốc tế Bờ Y có nguồn nướcmưa khá dồi dào Lượng mưa trung bình nhiều năm trên khu vực 1921mm.Như vậy tổng lượng nước mưa trong năm khoảng 6,67tỷm³ Lượng nước mưanày ngoài phần tổn thất do bốc hơi sẽ là nguồn cung cấp nước ngầm và hìnhthành dòng chảy mặt ở các sông suối Toàn vùng có 5 hệ thống:

1 Sông: Có sông Đắk Pô Kô

2 Hệ thống suối: 07 suối lớn có tấn: Đắk Lào, Đắk Xú, Đắk Vai,Đắk La (Đắk H’Niêng), Đắk Kal và Đắk Long

3 Hệ thống khe: Phụ lưu sông Pô Kô: 13 khe Phụ lưu suối ĐắkLào: 08 khe Phụ lưu suối Đắk Xú: 20 khe Phụ lưu suối ĐắkLa: Hơn 15 khe Phụ lưu suối Đắk Kal: 04 suối Phụ lưu suốiĐắk Rơ Koy: 05 suối

4 Hệ thống ao, hồ: Có 18 hồ chứa nước vừa và nhỏ

5 Hệ thống thung lũng tụ nước, hệ thống các dòng chảy nhỏ xen

kẽ giữa các dãy núi, đồi

- Sông Pô Kô: Sông Pô Kô nguyên phát từ vùng núi Tây Bắc NgọkHaye, ở địa đầu ranh giới Quảng Nam - Kon Tum, chảy qua huyện Ngọc Hồi

Trang 20

là ranh giới phía Đông của khu cửa khẩu Đặc trưng hình thái lưu vực, thông

số về sông PôKô như sau:

Bảng 1: Đặc trưng hình thái lưu vực, thông số về sông Đắk PôKô

Sông Đắk

PôKô

Độ cao nguồn(m)

Độ dài Sông(km )

Độ dài Lưu vực(km)

Diện tích lưu vục (km²)

Độ cao

TB lưu vực(m)

Độ rông

TB lưu vực(km)

Độ dốc TB lưu vực(%)

Độ sâu Hmax(m)

Độ sâu Hmin(m)

o Suối Xú: Phát nguồn từ phía Nam núi Ngọk Mơrang, dài khoảng28km, lưu vực 29.000ha, nước chảy xiết khoảng 25-30m/s, cácsuối nhỏ khoảng 5-7m/s, mùa khô lưu lượng 1-3m/s Đầu nguồnchảy theo hướng Đông Bắc, dài khoảng 10km, sau chuyển hướngNam Bắc, dài khoảng 2,5km, phần còn lại chảy theo hướng ĐôngNam - Tây Bắc và từ hợp lưu với suối Lào chảy theo hướng ĐôngBắc - Tây Nam sang địa phận Nam Lào sau đó đổ vào sông MêKông Suối chảy qua triền núi phía Bắc đường 40, qua chân củadãy Ngọk Cem Put- Ngọk Bia- Ngọk Kơ Neng và hai dãy phía Bắc

và phía Nam Đắk Xú Vì suối chảy qua nhiều vùng có địa hìnhphức tạp nên dòng chảy cũng uốn lượn theo Nhìn chung lòng suốirất khúc khuỷu Vì vậy độ dốc thay đổi: Đầu suối 15%, đoạn chảylên phía Bắc 12%, đoạn giữa 10% và cuối nguồn 6% Suối Đắk Xú

Trang 21

hợp lưu với 4 suối và 9 khe Đoạn từ chân đỉnh Ngọk Kơ Neng đếnngã 3 suối Đắk Sut dòng chảy đi qua nhiều thung lũng và nhiềuchỗ lòng hẹp, việc đắp đập chắn tạo thành hồ chứa nước rất thuậntiện

o Suối Đắk Vai: Bắt nguồn từ thung lũng Ngọk Lang, dài khoảng9km, diện tích lưu vực khoảng 30km², đổ vào sông Pô Kô, chảyqua địa hình bằng phẳng, từ hướng Tây về hướng Đông và hầu nhưkhông thay đổi; Cao độ đầu nguồn 700m, cuối nguồn 620m, độ dốctrung bình 8%, lòng suối hình chữ “U”, nhiều chỗ có dạng bậcthang, là ruộng lúa nước về mùa khô Có thể ngăn suối nhiều bậctạo ra các hồ chứa nước phục vụ cho cuộc sống và điều hoà môitrường

o Suối Đắk La (Đắk H’Niêng): Phát nguồn từ núi Ngọk Kang Tiatchảy từ Tây sang Đông, dọc theo đường 40 dài khoảng 22 km, diệntích lưu vực 1000 ha, chảy vao sông Pô Kô cạnh cầu Đắk Mốt.Đoạn từ thượng lưu đến thôn Tà Ka xã Bờ Y, chảy qua 2 triền núiphía Bắc và phía Nam đường 40, có địa hình phức tạp nên lòngsuối uốn lượn nhiều Đoạn từ thôn Tà Ka đến đường QL14 chảyqua khu vực có địa hình bằng phẳng, dòng chảy không rõ nét, chânđồi là bờ và cũng là lòng suối, vì vậy lòng suối ở những khu vựcnày thường rộng, nhiều chỗ là ruộng lúa; Đoạn từ đường QL14 đếnsông Pô Kô suối chảy qua khu đồi có dạng gợn sóng nên suối chảyquanh co, khúc khuỷu Vì suối chảy giữa hai triền núi cao nên cóhơn 20 khe, suối con đổ vào, cung cấp một lượng nước đáng kể,hiện tại trên dòng suối này đã có hồ chứa nước Đắk H’Niêng

o Tóm lại do đặc điểm địa hình, địa mạo, có nhiều phụ lưu nên trêndòng suối Đắk La có thể tạo một số hồ chứa nước lớn bằng cáchđắp đập ngăn dòng chảy

o Suối Đắk Kal: Phát nguồn từ trung tâm vườn Quốc giaChưmomray, dài khoảng 15km, diện tích lưu vực khoảng 4500ha,hợp lưu với suối Đắk Long tại thôn Hoà Bình xã Đắk Kal(QL14) Căn cứ dòng chảy có thể phân ra 2 đoạn chính: Đoạn từđầu nguồn đến thôn Bun Ngai xã Sa Loong, chảy qua khu vực cónúi, đồi nhiều, địa hình phức tạp, nên dòng suối uốn lượn nhiều;Đoạn còn lại suối chảy qua khu bình nguyên nên dòng chảy hầunhư không đổi hướng, độ dốc khoảng 5% mùa khô hình thành

Trang 22

lạch nươc nhỏ ở giữa, còn lại là vùng sinh lầy, nhiều đoạn làruộng lúa Có 4 phụ lưu: Đắk Koi, Đắk Há No, Đắk Dol và ĐắkHlala Hiện tại ở thôn Bun Ngai đã có hồ chứa nước Sa Loong.

o Suối Đắk Long: Phát nguồn từ vùng núi thuộc Vườn Quốc giaChưmomray, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, dài khoảng18km, diện tích lưu vực khoảng 9000 ha, hợp lưu với suối ĐắkH’Niêng ở phía Nam thị trấn Plây Kần Phần lớn suối chảy quavùng đồng bằng hẹp tạo bởi 2 triền núi vườn Quốc gia Chưmomray

và triền núi phía Nam xã Sa Loong, nên dòng chảy ít uốn lượn,càng về phía hạ lưu suối rộng dần Có 18 phụ lưu, là nguồn bổsung nước cho suối Trên dòng chính của suối hay trên các phụ lưu

có thể ngăn dòng tạo thành hồ chứa nước rất thuận tiện

o Suối Đắk Rơ Koy: Phát nguồn từ vùng núi Vườn Quốc giaChưmomray, chảy theo hướng Bắc Nam về phía huyện Sa Thầy,dài khoảng 10km (thuộc huyện Ngọc Hồi), diện tích lưu vựckhoảng 6500ha Hơn một nửa nguồn nước mưa của vùng núiVườn Quốc gia Chưmomray đều chảy vào suối này

Bảng 2: Các suối chính thuộc khu cửa khẩu Bờ Y

dài(km) Diện tích lưu vực (ha)

- Hệ thống các hồ chứa nước: Đây là các hồ lấy nước phục vụ nông nghiệp và

sinh hoạt của khu vực Theo thống kê của phòng thuỷ nông huyện Ngọc Hồihiện nay có 18 hồ chứa nước vừa và nhỏ Phần lớn các hồ này được tạo ra dođắp đập ngăn dòng chảy trên các suối; Trong đó có 5 hồ diện tích tương đốilớn: Hồ Đắk Kal: 2,0ha, hồ Đắk Giang: 3,5ha, hồ Đắk Trui:11,5ha, hồ ĐắkH’Niu: 19,44ha và hồ Sa Loong: 36,5ha

- Tóm lại: Hệ thống khe, suối, ao, hồ khu vực nghiên cứu quy hoạch rất đadạng, diện tích lưu vực từ 4.500 ha đến 14.000 ha phân bố tương đối đều, chảy

về bốn hướng, hình dạng quanh co chữ U, len lái qua nhiều dạng địa hình, tạo

Trang 23

ra nhiều thung lũng, là những nơi tích tụ và giữ trữ nước mưa tự nhiên Cáckhu vực này là tiền đề để tạo ra các hồ chứa nước nhân tạo để trữ nước chophát triển kinh tế - xã hội.

- Phức hệ chứa nước lỗ hổng trầm tích Plâystocen (Q II-III): Phức hệchứa nước lỗ hổng trầm tích Plâystocen (Q II-III) phân bổ dọc thung lũngsông Đắk Pô Kô và tạo thành dải kéo dài từ Bắc xuống trung tâm thị trấnPlây Kần và phía Tây Nam vùng nghiên cứu Diện tích tổng cộng khoảng34,5km² Thành phần chủ yếu là cát, bột sét, phần dưới là sạn, cuội đákhoáng Bề dày thay đổi từ 3 đến 19m, thường gặp 10-15m Nước dưới đấtthuộc dạng không áp, mực nước thay đổi từ 4,0 đến 15,5m, thường gặp từ 8,0đến 10m, lưu lượng các giếng đào từ 0,1 đến 0,2 l/s, đủ cung cấp nước sinhhoạt gia đình Độ khoáng hoá thay đổi từ 0,026 đến 0,148g/l, thường gặp từ0,03 đến 0,05 g/l, thuộc loại siêu nhạt Nguồn cung cấp cho phức hệ chứanước lỗ hổng trầm tích Plâystocen là nước mưa rơi trực tiếp

- Phức hệ chứa nước khe nứt trầm tích Neogen (N2kt): Trầm tích hệNeogen hệ tầng Kon Tum phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Nam vùngnghiên cứu, với diện tích khoảng 5km² Bề dày trầm tích thay đổi từ 5m đến21,5m( Lỗ khoan I) Nước trong trầm tích Neogen thuộc loại có áp, đôi nơi có

áp lực cục bộ, độ mực nước thay đổi từ 0,4 đến 11,0m, thường gặp từ 4,0mđến 7,0m Lưu lượng giếng thay đổi từ 0,1 đến 0,3 l/s, một số giếng bị cạn vàomùa khô Hệ số thêm từ 0,27 đến 1,5m/ng, thường gặp 0,5 đến 0,8m/ng

Mực nước biến đổi theo mùa, giao động giữa mùa mưa và mùa khôkhoảng 0,5 đến 1,0m Nhìn chung nước có chất lượng tốt, độ khoáng hoá thayđổi từ 0,026 đến 0,052 g/l, thuộc loại nước siêu nhạt

- Nước trầm tích trong biến chất Paleozoi(PZ): Các đá trầm tích biếnchất Paleozoi phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc, Đông và Nam khu nghiên cứuvới diện tích 350km² Bề dày lớn khoảng 600m- 850m Đá cấu tạo khối, ít nứt

Trang 24

nẻ, khả năng chứa nước kém Tuy nhiên, do hoạt động kiến tạo đá một số nơi

bị nứt nẻ phá huỷ có khả năng chứa nước tốt, tạo nên các khu vực có triểnvọng chứa nước Có 2 lỗ khoan trong đứt gãy kiến tạo thuộc khu vực này cólưu lượng từ 0,1 đến 4,5l/s

Nước trong thành tạo này thường trong, không mùi, vị nhạt, có chất lượngtốt, tổng độ khoáng hoá từ 0,04 đến 0,042g/l, thuộc siêu nhạt Giá tri PH từ 6,6đến 7 thuộc nước trung tính

- Đới chứa nước trong và phong hoá Granit: Các khối đá magma xâmnhập phân bố dọc bờ trái sông Đắk Pô Kô và rải rác trong toàn vùng nghiêncứu, với diện tích 25km² Chúng tạo nên những khối và dãy núi, ít nứt nẻ, khảnăng chứa nước kém, hoặc không chứa nước

- Nước trong hệ thống khe nứt kiến tạo: Địa bàn huyện Ngọc Hồi nóichung và khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y nói riêng, khi có hệ thống đứt gãy kiếntạo thì đây là một đối tượng chứa nước khá phong phú, rất đáng quan tâm điềutra

- Sơ bộ về trữ lượng nước dưới đất: Theo báo cáo của đề tài điều tranước trên khu vực huyện Ngọc Hồi, thì trữ lượng nước dưới đất thuộc lưu vựcsông Đắk Pô Kô đã được đánh giá sơ bộ như sau:

o Trữ lượng động tự nhiên: 114 653 m³/ ngày

o Trữ lượng tĩnh: 480.106m³/ ngày

o Trữ lượng khai thác tiềm năng: 150.268 m³/ ngày

2.6 Địa chất vật lý:

Theo tài liệu của viện vật lý địa cầu: Khu vực khu kinh tế cửa khẩu Quốc

tế Bờ Y nằm trong vùng dự báo có động đất cấp 6 với tần suất lặp lại B1 >0,002 (chu kì T < 500 năm (xác suất xuất hiện chấn động P > 0,1 trong khoảngthời gian 50 năm) Vì vậy khi thiết kế và xây dựng các công trình cần phảiđảm bảo an toàn cho các công trình nằm trong vùng dự báo có cấp động đấtnêu trên

2.7 Địa chất khoáng sản: Theo tài liệu đã được điều tra nghiên cứu, khoáng sản vùngkinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y có thể sơ bộ được đánh giá theo các nhómkhoáng sản như sau:

2.7.1 Nhóm khoáng sản kim loại :

2.7.1.1 Phụ nhóm khoáng sản kim loại màu:

- Điểm quặng Asen Đắk H’Niêng: Phân bố ở thượng nguồn ĐắkH’Niêng thuộc địa phận xã Pơ Y Điểm quặng phân bố trên diện lô các đáthuộc hệ tầng Đắk H’Niêng Thân quặng là đới quặng hoá có bề dầy khoảng

Trang 25

0,5-1m, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam đến trên 700m, hàm lượng

As khoảng 0,7%, trữ lượng không đáng kể

- Điểm quặng Asen Đông Nam đinh 1042: Điểm quặng nằm về phíaNam - Đông nam đỉnh 1042 khoảng 600m gần sát đường biên giới Việt Nam -Lào, thuộc xã Pờ Y Thân quặng phân bố trên diện lộ các đá thuộc về hệ tầngĐắk H’Niêng Thân quặng rộng khoảng 7-10m, kéo dài dự đoán trên 1000mtheo phương Tây Bắc - Đông Nam, hàm lượng As khoảng 2,16% Trữ lượngkhông đáng kể

- Điểm quặng Asen Đông Nam đinh 1042: Thuộc xã Pơ Y, đá vâyquanh thân quặng là đá phiến thạch anh - felspat - mica Thân quặng rộngkhoảng 0,5-2,5m, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam dự đoán khoảng500m, hàm lượng As khoảng 0,52% Trữ lượng không đáng kể

2.7.1.2 Phụ nhóm khoáng sản nhóm kim loại quý: Trong vùng nghiên cứuchưa phát hiện có mỏ vàng sa khoáng hầu hết đã được dân địa phương khaithác bằng kĩ thuật thủ công Vàng sa khoáng trong vùng nghiên cứu tập trungchủ yếu dọc theo một số sông suối lớn và phụ lưu của Đắk Pô Kô, ĐắkHơdrai và rải rác dọc theo các suối nhỏ Đắk H’Niêng, Đắk Ruil, vv…Về vịtrí địa chất các biểu hiện quặng hoá vàng sa khoáng nằm trong hai thành tạochủ yếu: Deluvi và thành tạo aluvi

Các thân quặng vàng sa khoáng phần lớn đều nằm trong lớp lót đáy mặtcắt trầm tích thềm bậc I và II, hoặc trầm tích lòng hiện đại, dầy 0,2-2m, dài200-500-1.200-1.500m, rộng 10-40-70-100-200 và 500m

Hàm lượng vàng trong các sa khoáng không cao, phần lớn chỉ vài bahạt/10dm3 đến 25 hạt/10dm3 Trữ lượng loại khoáng này không đáng kể

2.7.1.3 Phụ nhóm khoáng sản nhóm kim loại phóng xạ - đất hiếm:

- Điểm quặng đất hiếm Đắk Kal: Điểm quặng nằm cạnh đường ô tôNgọc Hồi đi Sa Thầy, thuộc thị trấn Plây Kần Quặng hoá đất hiếm phân bốtrong vá phong hoá granit biotit phức hệ Diên Bình, có dạng thêu kính máng,dầy 0,5-1m kéo dài không liên tục theo phương Tây Bắc - Đông Nam khoảng200m Cường độ phóng xạ trong thân quặng dao động từ 80-260µR/h Trữlượng không đáng kể

- Điểm quặng đất hiếm - thori Plây Long Lô (Hào Nưa): Điểm quặngnằm phía Nam thị trấn Plây Kần khoảng 6-7km, thuộc xã Sa Long Thânquặng phân bố trong vá phong hoá thành phần cát bột, có dạng thêu kính rộng202,5m, dày 3-4m, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam khoảng 40-

Trang 26

50m Cường độ phóng xạ trong thân quặng dao động lớn từ 50-300µR/h, phổbiến là 180-200µR/h, cá biệt đến 540µR/h Trữ lượng không đáng kể.

2.7.2 Nhóm khoáng sản nhóm không kim loại

- Điểm quặng serpentinit Norking: Phân bố ở khu vực giáp biên giớiViệt Nam - Lào - Campuchia , thuộc xã Pờ Y Serpentinit có nguồn gốc biếnchất từ các đá siêu mafic phức hệ Hiệp Đức Thân quặng có diện lộ hẹp, chiềudầy trung bình 3m, kéo dài không liên tục, dự đoán khoảng 100m Đá có màuxanh cẩm thạch, xám xanh, lốm đốm da rắn, đá dễ gọt đẽo, vân hoá khá đẹp,

có thể sử dụng tạc tượng, trang lát và có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuấtphân bón (MgO:33,2-34,3%, P2O5:0,1%) Nhưng trữ lượng nhỏ không đángkhai thác

2.7.3 Nhóm khoảng sản nguyên liệu vật liệu xây dựng

- Má đá gabro Ngọc Hồi: Má nằm cạnh đường ô tô từ Ngọc Hồi đi biêngiới, thuộc xã Pơ Y Đá gabro là các thể có dạng thêu kính nằm rải rác từphương Tây Bắc - Đông Nam, gồm 3 thân quặng

- Má sét gạch ngói Đắk Kal: Nằm cạnh đường ô tô từ Ngọc Hồi đi xã

Sa Loong, thuộc xã Sa Loong Quặng sét phân bố trong thành tạo trầm tích bởi

rêi thuộc hệ tầng Đắk Tô, có bề mặt khá bằng phẳng Thân quặng lộ ngay trênmặt là lớp sét màu nâu vàng loang lổ, có chiều rộng khoảng 300 - 700m, trungbình khoảng 500m: Kéo dài khoảng 2000m; Bề dày thân quặng 0,5-2m Trữlượng nhỏ không đáng khai thác

- Quargrit ngã ba biên giới, thuộc địa phận xã Pơ Y Thân quặng cóhình “trái trám”, kéo dài 1000m theo phương Tây Bắc - Đông Nam, chỗ rộngnhất 200m, trung bình khoảng 100m Quarzit có màu trắng sạch, hàm lượngSiO2: 97-98,19%; Al2O3: 0,53-1,1%; Fe2O3<1%, trong thân quặng có xen cáclớp máng quarzit sericit Trữ lượng không đáng kể

- Quargrit Plây Kyong Kuan Khon, thuộc địa phận xã Pờ Y Thận quặngsạch, phân bố trong tập quarzit có chiều dày trung bình 100m, kéo dài theophương Tây bắc - Đông Nam khoảng 1300m dạng “ô van” thót nhỏ hai đầu.Quarzit có màu trắng xám, xám, phân lớp dày Hàm lượng SiO2: 96,12-98,06%; Al2O3: 0,53-1,04%; Fe2O3 : 1,24-1,72% Trữ lượng không đáng kể

- Cát sỏi: Có trữ lượng rất lớn chủ yếu nằm ở phụ lưu sông Pô Kô, cátchất lượng tốt và rất sạch

Nhìn chung: Ngoài cát ở phụ lưu sông Pô Kô có trữ lượng lớn có thểdùng để khai thác xây dựng; Các khoáng khác rất đa dạng nhưng hàm lượngrất thấp không đủ khai thác

Trang 27

III ĐẶC ĐIỂM HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1 Hiện trạng kinh tế :

3.1.1 Tăng trưởng kinh tế

- Khu tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y chiếm 82.49 % diện tích của huyệnNgọc Hồi (trừ xã Đắk Ang) Hiện nay đang trong quá trình hình thành và xâydựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch cũ được phê duyệt năm 2001 Kinh tế - xãhội khu vực chủ yếu được thể hiện qua các xã của huyện Ngọc Hồi thuộc ranhgiới quy hoạch Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của khu vực được thểhiện trong bảng sau:

Bảng 3 : Chỉ tiêu kinh tế hiện trạng trong khu vực nghiên cứu

TT Các chỉ tiêu chủ yếu Tỉnh Kon Tum Khu vực quy hoạch So với

Tỉnh Kon Tum %

Giá trị (tr.đ)

Tỷ lệ

%

Giá trị (tr.đ)

tế của khu vực quy hoạch nghiêng về nông, lâm nghiệp (KV1) chiếm tỷ trọng41.2% GDP Trong khu vực chỉ có thị trấn Plây Kần là tương đối phát triển

- Tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001-2005 của huyện là 11,6 %/năm, caohơn mức bình quân chung của cả nước (cả nước thời kỳ này là 7,5%/năm).Trong đó công nghiệp xây dựng tăng 12,8%, nông lâm nghiệp tăng 9,5% vàdịch vụ tăng khoảng 22,7% Điều kiện sống và mức sống của nhân dân trong

Trang 28

Tỉnh được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ đói nghèo bình quân hàng năm giảm được0,5% hiện nay còn khoảng 13%.

3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Cơ cấu kinh tế theo ngành, theo lĩnh vực và theo thành phần đã từngbước có sự chuyển dịch theo hướng khai thác lợi thế của từng ngành, từng tiểuvùng trong Khu vực Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 58% năm 2000 xuống còn41,2% năm 2005 và ước khoảng 38,4% năm 2006, bình quân giảm gần 3% cảthời kỳ 2001-2005 Tương ứng thời gian trên tỷ trọng công nghiệp và xâydựng tăng từ 25,6% năm 2000 lên 37,3% năm 2005, bình quân mỗi nămchuyển dịch tăng lên khoảng trên 2% mỗi năm thời kỳ 2001-2005 do có sựđầu tư mạnh vào cửa khẩu Khu vực dịch vụ tăng 16,9% năm 2000 lên 21,5%năm 2005, trung bình mỗi năm chuyển dịch tăng 1%

- GDP bình quân đầu người năm 2000 đạt trên 2 triệu đồng/người, đếnnăm 2005 khoảng 3,78 triệu đồng và dự kiến năm 2006 khoảng 4,12 triệuđồng Tuy vậy, năm 2005 GDP bình quân đầu người của khu vực mới bằng92% của Tỉnh KonTum và 3,75% mức bình quân cả nước

- Tổng sản lượng lương thực: 10.820tấn (Thóc: 7.870 tấn) Định mứclương thực: 346,4 kg/ người

3.1.3 Tỷ lệ huy động Ngân sách từ GDP

Thu ngân sách Nhà nước khá thấp, tốc độ tăng thu ngân sách bình quân

5 năm 2001-2005 đạt 24,5%, tỷ lệ huy động GDP vào Ngân sách Nhà nướccủa khu vực cũng vào loại rất thấp, so với mức bình quân chung của cả nước,chỉ đạt khoảng 5% năm 2005 thu Ngân sách của khu vực đạt khoảng 27 tỷ Cơcấu nguồn thu cũng có những thay đổi, từ thu thuế nông nghiệp là chủ yếuchiếm tới 85% chuyển sang thu thuế công thương; Nay tỷ lệ thu thế côngthương đã chiếm tới trên 60%

Tổng chi ngân sách Nhà nước thời kỳ 2000 - 2005 đều ở mức khoảng55-57tỷ đồng/năm, trong đó chi phí lớn nhất là cho các sự nghiệp Văn hoá,Giaó dục Y tế chiếm trên 50% ngoài ra cho đầu tư phát triển khác Năm 2005tổng chi Ngân sách khoảng 57 tỷ đồng Như vậy, thu, chi ngân sách của khuvực luôn trong tình trạng căng thẳng do tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thấp.Hàng năm Ngân sách Trung ương vẫn phải hỗ trợ bổ sung lớn, thời kỳ 2000-

2005 khoảng 57 - 52% so tổng thu Ngân sách địa phương tại địa bàn khu vực.3.1.4 Tổng vốn đầu tư xã hội

- Do nhu cầu đầu tư của khu Kinh tế cửa khẩu Bờ Y ; Tổng vốn đầu

tư phát triển xã hội 5 năm 2001-2005 khá lớn đạt trên 500 tỷ đồng, trong đó

Trang 29

vốn trong nước là chủ yếu, vốn đầu tư nước ngoài hầu như chưa có Vốnđầu tư từ Ngân sách Nhà nước chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội (Khoảng

145 tỷ đồng), và tập trung chủ yếu cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xãhội Đầu tư cho sản xuất, kinh doanh chủ yếu là nguồn vốn đầu tư của dândoanh, vốn tín dung Cơ cấu đầu tư có sự chuyển dịch ngày càng phù hợpvới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khu vực

3.1.5 Tình hình hoạt động của cửa khẩu với Lào & Campuchia :

Tình hình xuất nhập cảnh và xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất nhập khẩuqua cửa khẩu Quốc tế Bờ Y kể từ năm 2004 đến nay tăng lên đáng kể Nhất từkhi hoàn thành đưa vào sử dụng QL18B của Lào vào tháng 5/2006

- Lượng người xuất nhập cảnh năm 2005 đạt 207% so với năm 2004,riêng 6 tháng đầu năm 2006 đạt 166,94% so với cả năm 2005 Về phương tiệnqua lại thì 6 tháng đầu năm 2006 đạt 331,86% so với năm 2005

- Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2006 đạt 56,21% so với năm2005

- Hàng hoá xuất khẩu qua cửa quốc tế Bờ Y là sắt xây dựng, xi măng,muối, dầu diezen, máy móc thi công vv Hàng nhập khẩu từ Lào chủ yếu là

gỗ tròn, gỗ xẻ: Năm 2004 nhập khẩu 52.357m3, năm 2005 nhập khẩu87.457m3 và 6 tháng đầu năm 2006 là 15.194m3 gỗ xẻ

Từ khi QL18B được đưa vào sử dụng, giao lưu kinh tế giữa hai nướcViệt Nam và Lào thông qua cửa khẩu Quốc tế Bờ Y trở nên rất thuận lợi.Hiện tại Lào đang xây dựng công trình thuỷ điện Sê Ca Mán và các doanhnghiệp Việt Nam đầu tư trồng cây công nghiệp tại Lào như cao su, cà phê;Đồng thời ngành Du lịch mở nhiều tuyến du lịch qua cửa khẩu sẽ làm tănglượng người xuất nhập cảnh và lượng hàng hoá qua lại cửa khẩu Quốc tế

Bờ Y Điều này khẳng định sự phát triển của cửa khẩu Quốc tế Bờ Y tronggiai đoạn là khả thi Do đó, cần thiết phải đầu tư để hoàn thành các côngtrình hạ tầng tại Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y, tạo điều điều kiệnthuận lợi cho việc giao thương qua lại tại cửa khẩu

Tình hình xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Quốc tế Bờ y từ năm 2004 đến31/6/2006 như sau:

Bảng 4: Tình hình xuất nhập khẩu qua cửa khẩu

ST

đầu năm 2006

Trang 30

12.649.12 9

104,69 56,21Tổng lượng giá trị hàng hóa xuất, nhập khẩu qua hệ thống cửa khẩuhiện nay đạt 25 triệu USD, năm sau cao hơn năm trước 8-10% Tuy vậy, việcphát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có Việc buôn bánqua biên giới chủ yếu bằng đường tiểu ngạch và dân sinh, hàng hóa xuất chủyếu là nguyên liệu và sản phẩm thô, nhập siêu năm sau cao hơn năm trước,buôn lậu và trốn thuế đang tiếp diễn; Cơ chế, chính sách cần được bổ sung vàcần điều chỉnh

3.1.6 Thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực

3.1.6.a Nông nghiệp, lâm nghiệp & thuỷ sản:

a Ngành Nông nghiệp: Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất chính của

khu vực quy hoạch, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (theo giá hiện hành)

năm 2001 là: 32,063 tỷ đồng, chiếm 43,14% cơ cấu của nhóm ngành, năm

2005 là 50.021 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2001 - 2005của giá trị sản xuất là: 13,18%; Dự kiến giai đoạn 2005 - 2010 là 18,24%;Bình quân mỗi năm tăng 6,0 tỷ đồng Sản xuất nông nghiệp đã dần phát triển,

cơ cấu cây trồng, vật nuôi có bước chuyển dịch, một bộ phận sản xuất nôngnghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá Diện tích ngô lai, lúa laichiếm tỷ trọng lớn; Diện tích lúa rẫy giảm dần Bước đầu đã phát triển rau,đậu tại các xã khu vực III (vùng sâu, vùng xa)

- Trồng trọt: Cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển biến tích cực, đặc biệt là

cây công nghiệp lâu năm: Cao su cà phê từ 4.813 ha năm 2001 tăng lên 5.041

ha năm 2005 Hiện tại trồng trọt tập trung vào hai nhóm cây chính: Cây lương

thực (lúa, ngô) và cây nông sản hàng hóa (cao su, cà phê) Năm 2005, hai

nhóm cây này chiếm 75,5% giá trị sản xuất ngành trồng trọt và 65% giá trị sảnxuất ngành nông nghiệp

 Cây lương thực: Diện tích trồng cây lương thực ổn định, sản lượnglương thực tăng từ 1324 tấn năm 2001 lên 12.150 tấn năm 2005 và 17.800 tấnnăm 2010, bình quân hàng năm tăng 2165 tấn Bình quân lương thực đầungười tăng từ 261,5 kg năm 2001 lên 378,4 kg năm 2005 và 394,4kg năm

2010 Nhưng mới chỉ đảm bảo ở mức tiêu thụ bình thường và hạn chế nạnthiếu đói giáp hạt, còn lượng dự trữ trong nhân dân và Nhà nước chưa đáng

kể, chưa đạt mức an toàn lương thực

Trang 31

Sản xuất cây lúa tăng nhanh và ổn định cả về diện tích và sản lượng.Diện tích gieo trồng tăng từ 3.114ha năm 1995 lên 4269ha năm 2000 và6.539ha năm 2004, sản lượng lương thực tăng từ 1324tấn năm 2001, tăng12.150 tấn năm 2005 Cơ cấu mùa vụ và cây trồng đã hình thành rõ rệt, giảmdiện tích lúa trồng nương Trình độ thâm canh cây lúa nước của nông dâncũng được áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là giống mới cónăng suất cao, đã sử dụng các giống mới như: Giống lúa lai nhị ưu trồng trênđịa bàn ở các xã Đắk Dục, Đắk Nông, Đắk Kan, giống lúa ĐR2 được trồng thíđiểm tại các xã Đắk Xú, Sa Loong Loại giống lúa này chịu được lạnh và đấtchua phèn Các loại giống lúa này đã cơ bản ổn định có thể đưa vào gieo trồngnhân rộng đại trà trên địa bàn Từ đó góp phần đưa năng suất lúa tăng từ 23,14tạ/ha năm 2001 lên 25,52 tạ/ha năm 2003 và 29,74tạ/ha năm 2005

Cây ngô cũng được chú trọng phát triển, áp dụng các giống mới cónăng suất cao như: Ngô ĐK 88, VNL10 trồng đại trà trên địa bàn các xã SaLoong, Đắk Nông Hai loại giống ngô này đã trồng ổn định trên địa bàn, năngsuất thu hoạch đạt 28 tạ/ha

Cây chất bột lấy củ phát triển tốt, nhất là cây sắn chiếm 96% tổng diệntích cây chất bột lấy củ Từ diện tích 494ha năm 1995 lên 1.247ha năm 2000

và 3.280ha năm 2004, bình quân hàng năm tăng 407ha Sản lượng sắn năm

2004 đạt 43.994tấn Giai đoạn này, cây sắn được dùng chủ yếu cho chế biếnrượu Ghè và xuất ra ngoài tỉnh bằng sắn lát khô, một phần nhỏ dùng làm thức

ăn chăn nuôi

 Cây công nghiệp: Diện tích gieo trồng đã có sự chuyển dịch từngnhóm loại cây trồng, từ cây hàng năm sang cây lâu năm, mà trong đó cây côngnghiệp lâu năm là cao su, cà phê, chè ngày càng chiếm ưu thế Diện tích càphê 1.251ha năm 2004, có sản lượng 1204tấn, cây cao su 3.790ha, có sảnlượng 862tấn năm 2004 Diện tích cây công nghiệp lâu năm 5.041ha Tuynhiên, giá cả biến động trong những năm qua đã ảnh hưởng đến việc chămsóc, trồng mới của các loại cây trồng này Cây Bời lêi, Quế được nghiên cứu

và được đưa vào trồng Bước đầu cho thấy hai loại cây này rất thích hợp vớivùng đồng bào dân tộc bởi lẽ những cây dễ trồng, dễ chăm sóc, không yêucầu kỹ thuật cao trong khâu trồng, chăm bón và vốn đầu tư ít

 Cây ăn quả: Chiếm tỷ trọng thấp trong cây dài ngày; diện tích tăng từ85ha năm 2001 lên 143 ha năm 2004 và hàng năm tăng khoảng 10-15% Cây

ăn quả chủ yếu được trồng trong vườn nhà, quy mô nhỏ, rải rác, thông quaviệc cải tạo vườn tạp, do đó chưa có khả năng cạnh tranh với thị trương để

Trang 32

phát triển, các hộ gia đình chưa quan tâm đầu tư phát triển trong lĩnh vực kỹthuật và kinh nghiệm trồng trọt Tuy nhiên, trên địa bàn đã đưa một số câynhư: Cây nhãn, cây vải, cây hồng, cây quýt ghép có năng suất và chất lượngcao vào trồng tại các thôn xã bản làng Đã có một số loại cây trồng cho kết quảtương đối cao đó là cây nhãn lồng.

- Chăn nuôi: Thông qua công tác hỗ trợ cho vay vốn các chương trình

quốc gia như (vốn xoá đói giảm nghèo, vốn phụ nữ nghèo, vốn giải quyết việclàm ) đã khuyến khích hộ nông dân mở rộng đầu tư, tăng số lượng đàn giaXúc, tuy nhiên quy mô đàn vẫn còn nhỏ Đàn bò tăng từ 3920 con năm 2001lên 5034 con năm 2004, đàn trâu tăng từ 797con năm 2001 lên 939 con năm

2004, đàn lợn tăng từ 7.046 con năm 2001 lên 7495 con năm 2004, ngoài racòn phát triển đàn dê và đàn gia cầm Sản lượng thịt hơi xuất chuồng bìnhquân đầu người tăng từ 16,74kg năm 2001 lên và 20,2kg năm 2004

Chăn nuôi bước đầu đã đem lại hiệu quả, ngoài cung cấp nguồn thựcphẩm tươi sống cho thị trương tiêu thụ, thực phẩm tại chỗ và đem lại nguồnthu nhập cho hộ gia đình, nhất là các xã ở khu vực III Tuy nhiên, chăn nuôi ởhuyện chưa phát triển mạnh, do chưa quy hoạch được các vùng chăn nuôi tậptrung; Hình thức chăn thả rông, chưa tận dụng triệt để sản phẩm phụ của trồngtrọt, chuồng trại chưa đảm bảo, công tác phòng ngừa dịch bệnh gia Xúc, giacầm chưa thực sự tốt; Thiếu vốn, thiếu kiến thức và kinh nghiệm trong chănnuôi; Chưa quen chăn nuôi theo phương thức công nghiệp; Phân chuồng lànguồn lợi lớn phục vụ cho sản xuất vẫn chưa tận dụng một cách triệt để, sảnphẩm về chăn nuôi chưa trở thành sản phẩm hàng hoá, kết hợp một số yếu tốkhác đã làm cho chăn nuôi chưa phát huy lợi thế

 Chăn nuôi trâu bò: Ngoài việc cung cấp phân bón và sức kéo chongành trồng trọt, đàn bò dần dần phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá;Bình quân hộ gia đình 1-2 con

 Chăn nuôi lợn tuy nuôi phân tán trong hộ gia đình, nhưng ngày càngphát triển về quy mô và chất lượng; Bình quân một hộ gia đình là 1,0 con/hộ  Chăn nuôi gia cầm: Chủ yếu là nuôi trong hộ gia đình, chăn nuôitheo hướng công nghiệp chưa phát triển Chương trình gà nhà vườn đã triểnkhai thực hiện tại thị trấn Plây Kần và xã Đắk Xú, hiện đang trong giaiđoạn nuôi thử nghiệm

- Hoạt động cuả các cơ sở sản xuất nông nghiệp và dịch vụ nông

nghiệp: Hiện tại các tổ chức kỹ thuật và mạng lưới khuyến nông đã hoạt động

tương đối có hiệu quả, thường xuyên bám sát và cung cấp kịp thời các dịch vụ

Trang 33

nông nghiệp cho địa bàn xã Đã xây dựng nhiều mô hình trình diễn làm điểmphù hợp với từng tiểu vùng; Thường xuyên cung cấp thông tin như tài liệu,báo chí phục vụ sản xuất nông nghiệp cho đồng bào.

- Chương trình chuyển giao kỹ thuật: Hàng năm tập huấn cho hàng

ngàn lượt người tham gia chuyển giao kỹ thuật, tham gia các loại giống cây cónăng suất cao; Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và đờisống của bà con nông dân Từ đó góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng vậtnuôi, thâm canh tăng vụ cho năng suất cao

- Kinh tế trang trại: Những năm gần đây, trên địa bàn Huyện đã xuất

hiện mô hình kinh tế trang trại cây công nghiệp Cơ cấu đầu tư chủ yếu chovườn cây, chưa đầu tư máy móc thiết bị cơ giới hoá để nâng cao năng suất Làođộng, hạ giá thành sản phẩm Cơ cấu nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có Nhìnchung, giá trị hàng hoá bán ra và thu nhập bình quân một trang trại trên địabàn Huyện còn thấp do trang trại mới đưa vào kinh doanh; Mặt khác trang trại

là trồng cây lâu năm, do giá cả biến động nên ảnh hưởng đến thu nhập của chủ

hộ trang trại

b Lâm nghiệp: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp luôn tăng trưởng, trong đó

trồng rừng chiếm 34,7% cơ cấu của nhóm ngành, khai thác gỗ chiếm 53,9%

cơ cấu ngành Hàng năm ngành lâm nghiệp đóng góp từ nguồn thuế tài

nguyên và tiền bán cây đứng đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách địa phương, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động là con em đồng bào dântộc

- Quản lý bảo vệ rừng: Diện tích rừng tự nhiên của khu vực quy hoạch

18.974 ha, một phần đã giao cho các hộ dân quản lý Thực hiện Quyết định số327/QĐ-TTg, ngày 15/9/1992 của Thủ tướng Chính phủ, công tác giao đất,giao rừng được tiến hành có kết quả tốt nâng cao ý thức bảo vệ rừng, ổn địnhsản xuất nông nghiệp theo phương thức thâm canh, Diện tích được giao khoánbảo vệ chiếm tỷ lệ thấp so với diện tích đất có rừng, diện tích đất rừng còn lạichưa có chủ quản lý chiếm một tỷ trọng đáng kể, còn một số diện tích bị tácđộng tiêu cực của con người như phát rừng làm rẫy, khai thác gỗ không có kếhoạch…

- Công tác trồng rừng: Công tác phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhằm

bảo vệ môi trường sinh thái, đóng vai trò bảo vệ rừng phòng hộ, cung cấp mộtlượng gỗ lớn cho nhu cầu của các ngành công nghiệp chế biến, xây dựng trongđịa phương và Tỉnh Những năm qua, nguồn thuế tài nguyên và tiền bán câyđứng được tập trung cho công tác bảo tồn và phát triển rừng Tính đến nay,diện tích rừng trồng được phát triển trên địa bàn 4.900,47ha rừng sản xuất

Trang 34

Nếu so sánh với diện tích đất trống đồi núi trọc hiện có thì tốc độ phủ xanhrừng còn chậm, loài cây trồng chưa phong phú, giá trị kinh tế chưa cao Tỷ lệthành rừng so với diện tích rừng trồng chưa cao, mới đạt trên 70% Thông quacông tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đã góp phần nâng độ che phủ của rừng

từ 62,7% năm 2001 lên 63% năm 2005

- Khai thác lâm sản phụ: Hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn huyện dần

dần chuyển từ khai thác sang trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nên các sản phẩmthu hoạch từ rừng có xu thế giảm xuống; Khai thác gỗ đã hạn chế đến mứcthấp nhất Một số bộ phận người dân vào rừng lấy củi cành, cây khô để làmcủi, đem bán và khai thác một số lâm sản phụ dưới tán rừng như: Bong đót,Bời lêi, sa nhân, tre, nứa, lồ ô, song mây Lượng sản phẩm khai thác từ rừngchủ yếu là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp như: Chế biến đũa trexuất khẩu, song mây tinh chế và các mặt hàng chế biến từ mây tre xuất khẩu

c.Thuỷ sản: Năm 2004 diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 73ha, sản

lượng 87tấn Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản (theo giá hiện hành) năm 2004 là

1,044 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,7% cơ cấu của nhóm ngành Hoạt động nuôitrồng thuỷ sản trên địa bàn chủ yếu nuôi cá nước ngọt trên diện tích ao, hồ.Nghề nuôi trồng thuỷ sản chưa được đầu tư phát triển; Sản xuất phân tán trong

hộ gia đình, sản phẩm chủ yếu chỉ mang tính chất tự cung tự cấp, phục vụ đờisống gia đình, giá trị hàng hoá không đáng kể

3.1.6.b Công nghiệp & xây dựng:

- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp (theo giá hiện hành) năm 2001 là

25.695 tỷ đồng, năm 2005 là 45.2861 tỷ đồng, dự kiến năm 2010 là 119,44tỷtốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 của giá trị sản xuất là11,75%, giai đoạn 2005 - 2010 dự kiến là 8,48% Sản xuất công nghiệp trênđịa bàn chưa phát triển, tuy nhiên đã đem lại hiệu quả thiết thực, từng bướcthực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá Giải quyết được mộtphần Lào động chưa có công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện phân công lại lao động xãhội, bước đầu hình thành tác phong Lào động công nghiệp cho một bộ phậnlao động

- Toàn huyện hiện có 100 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó côngnghiệp chế biến là một ngành mũi nhọn chiếm ưu thế 100% Công nghiệp chếbiến tăng trưởng về số lượng và chất lượng qua sơ chế, chế biến trước khi tiêuthụ Trong công nghiệp chế biến, số cơ sở sản xuất thực phẩm đồ uống, chếbiến lâm sản và sản xuất đồ gỗ, sản xuất sản phẩm khoáng - phi kim loại

Trang 35

chiếm tỷ trọng lớn Công nghiệp của nhà nước 02 cơ sở, có quy mô vừa, trình

độ công nghệ chưa thực sự tiên tiến Các cơ sở sản xuất CN-TTCN chủ yếu làcông nghiệp ngoài quốc doanh là 98 cơ sở, phát triển ở trung tâm thị trấn vớiquy mô nhỏ, chủ yếu là gia công, sửa chữa, chế biến nhỏ (như xay xát, gò hàn,sản xuất công cụ cầm tay, may mặc, mộc dân dụng, vật liệu xây dựng) Các cơ

sở chế biến lương thực, thực phẩm đồ uống, sản xuất cơ khí phục vụ kinh tế cáthể được sản xuất tại nhà, nằm đan xen với dân cư, một mặt diện tích nhỏ, mặtkhác gây ồn ào, bụi, các cơ sở sản xuất gạch ngói tuy đã được sắp xếp lạinhưng vẫn chưa chuyển đổi công nghệ hoàn toàn Nhìn chung công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp còn manh núm, nhỏ bé sản xuất lạc hậu chưa tạo được vịtrí là nơi khai thác thế mạnh tài nguyên tại chỗ và giải quyết việc làm cho sốđông Lào động Về công nghệ, thiết bị công nghệ của các cơ sở sản xuất phầnlớn là lạc hậu, chưa có sự đổi mới đáng kể Các loại sản phẩm sản xuất ra ít,mức tiêu thụ trên địa bàn hẹp; Số lượng tiêu thụ hạn chế; sản phẩm sản xuất rakhông mang tính chất thương mại mà chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại chỗnhư sản phẩm đan lát, còn các sản phẩm khác để cung cấp ra thị trương rất ít

Lào động công nghiệp: Số lao động bình quân tham gia sản xuất trongcác ngành công nghiệp chiếm tỷ lệ thấp bao gồm số lượng và chất lượng,trong đó Lào động có trình độ đại học, trung cấp còn ít, chủ yếu là lao độngphổ thông

Hoạt động của các làng nghề truyền thống còn nhỏ lẻ, không có vốn đầu

tư ban đầu, quy mô theo hộ gia đình là chính, công nghệ thủ công, sử dụngnguyên vật liệu và lao động tại chỗ; Dụng cụ, công cụ để sản xuất đơn giản,thô sơ tự chế, không thể hiện được doanh thu và thu nhập đối với các hộ làmnghề

3.1.6.c Thương mại, dịch vụ: Giá trị sản xuất ngành thương mại, du lịch,

khách sạn, nhà hàng (theo giá hiện hành) năm 2001 là 16,568 tỷ đồng, năm

2005 là 26,103 tỷ đồng, dự kiến năm 2010 97,65 tỷ Tốc độ tăng bình quânhàng năm thời kỳ 2001 - 2005 của giá trị sản xuất là 12,5%, giai đoạn 2005 -

2010 dự kiến là 30,00% Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn Huyệnnhững năm qua có nhiều khởi sắc Hệ thống thương mại được phát triển và mởrộng đến tận các thôn, bản Hoạt động kinh doanh thương mại đã đáp ứnghàng hoá phục vụ nhu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân, thu mua và tiêuthụ những sản phẩm nông lâm nghiệp do nhân dân sản xuất, bước đầu có tácđộng tích cực đến phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu dịch vụ, góp phần

Trang 36

nâng cao đời sống nhân dân nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số và một bộphận công đồng dân cư ở vùng sâu, vùng xa.

a Thương mại:

- Hiện nay có hệ thống cửa hàng mua bán ở Huyện lỵ và các xã Chủyếu kinh doanh các mặt hàng chính sách trợ cước trợ giá như: Muối, dầu lửa,phân bón, giống cây trồng, sách vở và thu mua nông sản được trợ cước vậnchuyển Tỷ trọng hàng hoá bán lẻ của các DNNN chiếm khoảng 18 - 20% trêntổng mức lưu thông trên thị trường Tuy nhiên, DNNN chưa phát huy được vaitrò chủ đạo, điều tiết thị trường ở địa bàn nông thôn Cửa hàng tại các xã,ngoài việc bán mặt hàng trợ giá, trợ cước còn kinh doanh một số mặt hàng tiêudùng nhưng số lượng không nhiều, chưa cạnh tranh được với các hộ tư nhânkhác

- Thương nhân thuộc các thành phần khác hoạt động kinh doanh thươngmại - dịch vụ trên địa bàn các xã khu vực II, III Mỗi xã có từ 8 - 10 thươngnhân, 100% số thôn có thương nhân hoạt động Số cơ sở kinh doanh thươngmại, du lịch và khách sạn nhà hàng chỉ tập trung ở thị trấn Plây Kần Làođộng hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ năm 2004 là 579 người.Dịch vụ phục vụ đời sống hàng ngày do tư thương vận chuyển hàng tới tậnbản làng để bán, hoặc thu đổi hàng lấy nông - lâm sản, thực phẩm Hoạt độngcủa các hộ kinh doanh rất thuận lợi cho nhân dân, họ đi đến từng thôn, bản,từng nhà nhằm đáp ứng nhu cầu, cung cấp kịp thời hàng đến tay người tiêudùng, thu gom hết sản phẩm mà nhân dân có nhu cầu bán Tuy nhiên, hoạtđộng này vẫn còn nhiều bất cập, quy mô kinh doanh quá nhỏ, hàng bán ra đắt,hàng mua vào rẻ, hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng hết hạn sử dụng, gianlận trong khâu cân, đo, đong, đếm, kinh doanh không đăng ký quyền lợi ngườitiêu dùng trên địa bàn chưa được đảm bảo

- Mạng lưới chợ nông thôn chưa phát triển do tập quán mua bán tại chợcủa nhân dân nông thôn chưa có, chưa quen Hiện tại Huyện có một chợ tạitrung tâm thị trấn Chợ xây dựng theo chương trình trung tâm cụm xã, hiệnnay đã đưa vào sử dụng nhưng ít người đến chợ, chợ xa khu dân cư, khôngthuận lợi cho việc mua bán đi lại

- Chính sách trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu phục vụ đồng bàodân tộc và trợ cước tiêu thụ nông sản đã góp phần quan trọng nhằm bình ổngiá cả thị trường, tạo cho đồng bào được hưởng sự bình đẳng trong mua, bánmột số mặt hàng thiết yếu; Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao năng suất,

Trang 37

tăng thu nhập; Ổn định đời sống của đồng bào nhất là đồng bào khu vực đặcbiệt khó khăn.

b Dịch vụ khác:

- Dịch vụ vận tải: Từ khi đường Hồ Chí Minh hoàn thành (GĐI), nhucầu vận tải hàng hoá, hành khách tăng, lượng đầu xe tham gia vận tải tăngđáng kể góp phần phục vụ việc đi lại và trao đổi hàng hoá của người dân, đặcbiệt là giao lưu với tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng Hiện có một số hộ kinh doanhvận tải hành khách, hàng hoá

- Dịch vụ kỹ thuật: Đây là các dịch vụ cung cấp vật tư hàng hoá, kỹthuật cây giống, chuyển giao công nghệ, máy móc, thông tin đến nay, dịch vụnày có bước phát triển, nhưng thực tế số lượng chưa nhiều, chưa đáp ứng đượcyêu cầu của người dân

- Dịch vụ công nghiệp: Chưa phát triển, chỉ mới hình thành các dịch vụsửa chữa nhỏ như: Sửa chữa mô tô, ti vi, đồng hồ tập trung ở thị trấn PlâyKân, xã BờY và một số điểm sửa chữa xe trên tuyến đường Hồ Chí Minh điqua

- Dịch vụ tài chính tín dụng: Hoạt động ngân hàng đã hỗ trợ vốn chocác hoạt động kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân và nhóm, hộ kinh doanh,

- Đây là khu vực có 17 dân tộc cùng sinh sống người các dân tộc chiếm66.5% dân số toàn khu vực Trong đó dân tộc đông nhất là Giẻ Chiêng, XêĐăng, Gia Rai còn lại là các dân tộc ít người khác như : Brâu, RơMâm

Bảng 5 : Dân số hiện trạng trong khu vực quy hoạch

STT TÊN KHU VỰC DÂN CƯ DÂN SỐ (NGƯỜI-2005) DÂN TỘC THIỂU SỐ (NG-2005 )

Trang 38

Tổng 3.1496 20.945

- Thành phần dân cư:

o Bộ phận cộng đồng dân cư bản địa: Chủ yếu là đồng bào dân tộc ít

người có lối sống cộng đồng nông thôn, tương đối độc lập, tách biệt,khép kín về khu vực canh tác, khu vực cư trú có thiết chế xã hội chặtchẽ; Hình thái tổ chức của đồng bào là Plây, làng Sản xuất tự cung, tựcấp, trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán còn lạc hậu Một số

bộ phận nhỏ bắt đầu hoà nhập vào nền kinh tế thị trường, biết cách làm

ăn và sản xuất chủ yếu dọc đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 14 và 40

o Bộ phận dân cư phân công di cư xây dựng kinh tế mới: Được điều

chuyển tư các tỉnh phía Bắc vào để xây dựng kinh tế Tây Nguyên.Nhóm dân cư này còn có các đối tượng khác như: Dân di cư theo giađình quân nhân, gia đình cán bộ công nhân, các hộ tiểu thương buônbán Phần lớn số dân di cư này là người kinh có trình độ văn hoá, hiểubiết khoa học kỹ thuật, có tinh thần đoàn kết cần cù Lào động và sángtạo Phần lớn số dân trên sinh sống tại thị trấn Plây Kần

o Bộ phận cộng đồng dân cư di cư tự do: Dân cư tự do, chủ yếu định cư

trên địa bàn các xã Đắk Nông, Đắk Xú, Đắk Long, Bờ Y Đa số hộ dân

di cư tự do trên địa bàn hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số Khu vựclàng Đắk Mế xã Bờ Y là địa bàn sinh sống dân tộc Brâu, cuộc sốngkinh tế của các hộ này còn gặp nhiều khó khăn vì trình độ canh tác cònlạc hậu, trình độ dân trí còn hạn chế…

- Phân bố dân cư: Trên địa bàn khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y có 2 khuvực chính mà các cộng đồng dân cư sinh sống: Đô thị và nông thôn

o Khu vực đô thị: Theo thống kê của huyện Ngọc Hồi năm 2005 có

9.281 người sinh sống tại thị trấn Plây Kần chiếm tỷ lệ 29,3% dân

số toàn Huyện, phần lớn là người kinh

o Khu vực nông thôn: Năm 2005 huyện Ngọc Hồi có 22.215 người

sống ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ 70,7% dân số toàn huyện, hầuhết là cộng đồng các dân tộc bản xứ và cộng đồng các dân tộc thiểu

số ở các tỉnh phía Bắc di cư vào

- Tôn giáo: Trên đia bàn Khu vực quy hoạch có các tôn giáo như Đạo TinLành chiếm 20%, Ki tô giáo chiếm 15% các tôn giáo khác chiếm 35%, còn lại

là đạo Phật và không theo tôn giáo nào Trong những năm qua, các hoạt động

của tổ chức tôn giáo cơ bản tuân thủ theo quy định của pháp luật

Trang 39

- Văn hoá và ngôn ngữ: Các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên có nền văn

hoá giàu bản sắc rất gần với thiên nhiên mang tính hoang sơ, phồn thực có dấu

ấn của đạo Bà la môn, Hin Đu Nghiên cứu văn hoá truyền thống của dân tộc

Dẻ Triêng, Xơ Đăng về lễ hội Cồng Chiêng, Đâm Trâu, Bỏ Mả, các truyềnthuyết như: Trường ca Đam San, Xinh nhã, Đẻ đất đẻ nước và các làng nghềtruyền thống cho ta thấy các dân tộc Tây Nguyên nói chung và huyện NgọcHồi nói riêng có nền văn hoá phong phú, giàu bản sắc, mang sắc thái riêng hoàtrong một sắc thái chung của mái nhà chung Tây Nguyên Tiếng nói và chữviết theo hệ Malayo - polyn seian (đa đảo)

3.2.2 Lao động:

- Số người trong độ tuổi lao động là 15728,12 người (2005), chiếm49,9% dân số Cụ thể thống kê theo bảng sau:

Bảng 6 : Dân số và Lào động hiện trạng trong khu vực quy hoạch

STT TÊN KHU VỰC DÂN CƯ DÂN SỐ

(NGƯỜI)

TỶ LỆ LAO ĐỘNG/TỔNG DÂN SỐ (%)

LAO ĐỘNG (NGƯỜI)

Trang 40

IV Lao động đang làm việc phân theo ngành:

- Hiện nay, trên địa bàn có khoảng 700 lao động đang làm việc trongkhối cơ quan nhà nước huyện Ngọc Hồi, trong đó đại học chiếm 18,2%, caođẳng 15,0%, trung cấp 47,6%, sơ cấp 13,2 Cán bộ cơ sở tính đến 2005, trênđịa bàn huyện có 150 cán bộ của 19 chức danh ở 6 xã, thị trấn; Trình độ vănhoá, cấp I chiếm 52,7%, cấp II chiếm 39,8%, cấp III chiếm 7,5%

3.2.3.Tốc độ đô thị hoá: Tốc độ đô thị hoá thấp đạt 1 - 2%/năm Tỉ lệ đô thịhoá toàn vùng: 2- 2,5 %/năm(thị trấn Plây Kần và khu dịch vụ cửa khẩu vớiLào & Campuchia )

3.3 Hiện trạng sử dụng đất đai: Hiện trạng đất đai trong khu vực nghiên cứu đượcthống kê theo bảng sau:

Bảng 8: Hiện trạng sử dụng đất đai trong khu vực quy hoạch

ST

1 ĐẤT Ở HIỆN TRẠNG (TRONG ĐÓ 220.1HA LÀ ĐẤT Ở THỊ

4 ĐẤT RỪNG TẠP VÀ NÔNG NGHIỆP GIẢI RÁC 9874 14,02%

Ngày đăng: 28/09/2020, 18:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w