Chúng ta sẽ thảo luận kỹ hơn về vấn đề “ làm thế nào để tổ chức lại việc liên kết giữa sản xuất, chế biến thịt và thị trường nhằm đáp ứng được những chi tiết về chất lượng thịt của thị t
Trang 1Các yếu tố cần xem xét khi phát triển các hệ
thống giống bò thịt
B.M Burns, J.D Bertram, R.G Holroyd, G.J Fawcett, R.G Miller, B Dunn, A.D Herring
Giới thiệu
Các mục tiêu truyền thống của nhân giống bò
thịt xuất phát từ nước Anh vào giữa thế kỷ 18
Trong thời kỳ này, tỷ lệ người biết đọc, biết viết
còn thấp và kỹ thuật xác định các mục tiêu chọn
giống còn rất hạn chế Do đó các tiêu chuẩn chọn
lọc chỉ căn cứ vào sự khác nhau giữa các giống
và giữa các con vật trong cùng một giống về một
số tính trạng như mầu sắc, loại thịt và ngoại hình
Trong vài thập kỷ qua, các công cụ đầu tiên cải
tiến di truyền bò thịt là chọn lọc và lai giống
Chọn lọc trong đàn (trong giống) cải tiến được
giá trị giống một cách bền vững và liên tục Bên
cạnh đó, lai giống cũng thúc đẩy được năng suất
thông qua việc tổ hợp các đặc điểm kinh tế quan
trọng của các giống khác nhau (bổ sung) và khai
thác ưu thế lai Bất cứ một chương trình giống
nào cũng đều dựa vào chọn lọc trong đàn, lai
giống hoặc phối hợp cả hai biện pháp này (chẳng
hạn, phát triển giống hỗn hợp)
Do yêu cầu của công nghiệp chăn nuôi thương
phẩm mà công nghiệp đàn hạt nhân tồn tại Bất
cứ lúc nào, những người sản xuất giống thuần
cũng có thể bán một phần lớn đàn giống của họ
cho những người sản xuất giống thuần khác Tuy
nhiên, người sản xuất giống thuần cũng phải bán
con giống của mình cho những người sản xuất
thương phẩm để họ tiếp tục duy trì đàn giống
Thập kỷ trước là thời kỳ suy giảm thương mại
của những người sản xuất thịt bò Hiện nay, công
nghiệp thịt bò đang chuyển dịch từ chỗ cung cấp
hàng đơn thuần thành một ngành công nghiệp
phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng với yêu cầu
ngày càng cao về chất lượng sản phẩm Ngoài ra
còn có sự cạnh tranh đang tăng lên về thị trường
giữa thịt bò và thịt lợn, thịt gà; các ngành công
nghiệp sản xuất thịt lợn, gà đã có những tiến bộ
trong việc giảm thấp được chi phí sản xuất, chế biến và thị trường so với công nghiệp thịt bò Việc giảm thấp các chi phí này là do tốc độ cải tiến di truyền cao, phối hợp tốt các công thức khẩu phần và tăng năng suất sản phẩm Những thử thách này đã đòi hỏi những người sản xuất thịt bò ở úc phải xác định lại các mục tiêu của mình Ngay lập tức cần có chiến lược phát triển mang tính cạnh tranh cao hơn nhằm lấy lại, cũng như tăng thêm niềm tin của những người tiêu thụ, tăng thêm nhu cầu và lợi nhuận thông qua việc phát triển các sản phẩm thịt có độ vân, độ mềm
và tính ngon miệng Để có thể tồn tại được trong tương lai, công nghiệp thịt bò phải trở thành
“chỗ dựa giá trị” đối với việc sản xuất sản phẩm
có chất lượng
Để có thể cạnh tranh toàn cầu trên thị trường, công nghiệp thịt bò phải khẩn cấp tạo được những kênh thông tin thông qua hệ thống dây chuyền cung cấp thịt bò, do đó mỗi bộ phận trong dây chuyền này phải thông báo một cách
có kết quả và hữu hiệu cho các bộ phận khác về các nhu cầu của họ Ví dụ như các kênh thông tin giữa người sản xuất giống hạt nhân và người sản xuất thương phẩm được trình bầy trong hình 1 Chúng ta sẽ thảo luận kỹ hơn về vấn đề “ làm thế nào để tổ chức lại việc liên kết giữa sản xuất, chế biến thịt và thị trường nhằm đáp ứng được những chi tiết về chất lượng thịt của thị trường nội địa
và xuất khẩu” trong chương “Quản lý các hệ thống dây chuyền cung cấp thịt bò”
Trang 2Hình 1: Quan hệ giữa người sản xuất giống hạt nhân và
người sản xuất thương phẩm
Người sản xuất giống hạt nhân
Triển vọng ở nước ngoài/thế giới
Đổi mới/ sáng tạo
Chấp nhận thay đổi
Rủi ro - không rủi ro, không thưởng, không tiến bộ
Dịch vụ thông tin di truyền
Dịch vụ sau bán hàng
Người sản xuất thương phẩm
Triển vọng địa phương
Đổi mới/sáng tạo
Chấp nhận thay đổi
Tập trung
Giai đoạn ngắn
Do vậy trong chương này chúng ta sẽ thảo luận
về các hệ thống giống của người sản xuất thương
phẩm, các sơ đồ chọn giống thích hợp, phát triển
các chương trình giống có cấu trúc, động cơ thúc
đẩy cải tiến di truyền và các chương trình đánh
giá di truyền trong đàn và giữa các đàn
Các hệ thống giống của người sản
xuất thương phẩm
Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản của hầu hết các
chương trình giống vật nuôi thương phẩm Lợi
nhuận là một hàm của (1) chi phí đầu vào, (2)
hiệu quả sản xuất và (3) giá trị các sản phẩm sản
xuất được Đầu vào gồm chi phí đất và điều kiện
sản xuất, chi phí thức ăn và cải tiến điều kiện
chăn thả, chi phí lao động và máy móc, chi phí
con giống phải mua
Hiệu quả sản xuất chịu ảnh hưởng bởi tất cả các
khía cạnh của chương trình quản lý, bao gồm
quản lý chăn thả, chương trình nuôi dưỡng, sự
kéo dài của mùa phối giống và những khía cạnh
khác của quản lý sinh sản, hệ thống giống bao
gồm chọn lọc giống, những giống nào được sử
dụng và những cá thể nào được dùng làm giống
Các sản phẩm sản xuất được bao gồm đàn dự trữ,
đàn vỗ béo hoặc đàn giết thịt và đàn giống loại
thải Trong bất cứ trường hợp đặc biệt nào cũng khó đánh giá trực tiếp được sự khác nhau về lợi nhuận giữa các chương trình giống khác nhau, cần phải đồng thời xem xét các yếu tố đã đề cập
ở trên Tuy nhiên, có một số lượng lớn các chương trình giống tồn tại Để thiết kế được những chương trình giống thích hợp (hoặc gần như là thích hợp) cần phải có các tiêu chuẩn so sánh Ba yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoặc lợi nhuận của các chương trình giống thương phẩm khác nhau là (1) các đặc điểm của giống được sử dụng (2) ưu thế lai (nếu có) được sử dụng ở đời con (trực tiếp), ở mẹ, hoặc có thể ở bố và (3) đặc
điểm ảnh hưởng tới hiệu quả của hệ thống các giống được sử dụng làm bố và làm mẹ (các đặc
điểm truyền cho đời con và tạo được ưu thế lai)
Các đặc điểm giống được sử dụng là rất quan trọng Từ “giống” ở đây được dùng trong dấu ngoặc kép vì các đặc điểm thực tế của con vật có một vai trò quan trọng Nghĩa là, sự khác biệt về
di truyền giữa các cá thể trong một giống có thể
ảnh hưởng tới hiệu quả của hệ thống tương tự như ảnh hưởng của sự khác biệt giữa các giống Tuy nhiên, đặc điểm di truyền của các giống đều
đã được xác định và lựa chọn giống luôn luôn là quyết định quan trọng đối với việc phát triển các chương trình giống thương phẩm
Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận về các nhóm giống bò thịt chủ yếu, nhân giống cận huyết, chiến lược chọn lọc trong một giống (Breedplan và Group Breedplan) và lai giống
Sơ đồ chọn lọc thích hợp
Sơ đồ chọn lọc thích hợp thường cân bằng và linh hoạt do đó có thể sẵn sàng thích ứng với những biến đổi của thị trường Các sơ đồ này cần có những đặc điểm sau:
• Sản xuất từ những bò cái đẻ mỗi năm một lứa với chi phí thấp
• Bê sinh trưởng tốt đến khi cai sữa do có tiềm năng di truyền phù hợp và được ăn khẩu phần thức ăn hạt tại các cơ sở vỗ béo
• Bê sinh trưởng tốt, có thể vỗ béo trên bãi chăn có chất lượng cao hoặc được nuôi bằng thức ăn gieo trồng
Trang 3Trong sản xuất bò thịt ở Australia, năng suất của
đàn bò thịt phụ thuộc vào tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ
sinh sản, tốc độ sinh trưởng và chất lượng thân
thịt Một số mục tiêu chính mà các chương trình
giống nên hoặc là chọn lọc trực tiếp các tính
trạng này hoặc là chọn lọc gián tiếp dựa vào mối
tương quan di truyền của các tính trạng
Đương nhiên là con vật phải khoẻ mạnh, các
chức năng hoạt động bình thường Các sơ đồ
chọn lọc thích hợp cần sản xuất được thân thịt
mà thị trường mong muốn có tỷ lệ thịt bán được,
dày mỡ, diện tích mắt thịt, độ vân thịt và độ mềm
thích hợp Các sơ đồ này cũng cần phải giải
quyết các mâu thuẫn giữa sinh trưởng và tăng
khối lượng sơ sinh giữa chi phí nuôi bò cái cao
hơn với việc sản xuất sản phẩm đáp ứng yêu cầu
của thị trường với chi phí thấp nhất
Phát triển các chương trình giống
Khi đã có được một sơ đồ chọn lọc thích hợp,
cần xem xét thủ tục tiếp theo để phát triển một
chương trình giống Các bước như sau:
1 Xác định mục tiêu giống Đây là hướng đi
mà chương trình giống sẽ thực hiện Mục
tiêu này sẽ xác định hướng kinh tế của xí
nghiệp sản xuất thịt kết quả cuối cùng mà
người sản xuất thịt bò mong muốn đạt được
từ chương trình giống của mình Khi thị
trường có nhiều đòi hỏi hơn, việc xác lập các
mục tiêu giống sẽ đòi hỏi cao hơn nếu như
người sản xuất muốn có được cải tiến di
truyền cao nhất Khi lựa chọn các mục tiêu
giống, người sản xuất đàn hạt nhân cần xem
xét các yêu cầu của khách hàng (người sản
xuất thương phẩm) do đàn gia súc của khách
hàng có xu hướng được chọn lọc bởi người
sản xuất đàn hạt nhân
2 Lựa chọn các tiêu chuẩn chọn lọc Một số
đặc điểm của con vật sẽ được đánh giá hoặc
xác định, các tính trạng thông thường này sẽ
tạo cơ sở cho tiêu chuẩn dùng đánh giá giá
trị giống của cá thể được dùng làm bố mẹ
trong thế hệ tiếp theo Tổ hợp các tính trạng
này sẽ hình thành nên tiêu chuẩn chọn lọc để
sử dụng cho chọn lọc thay thế đàn giống
3 Phát triển sơ đồ ghi chép hệ phả và năng suất Thu thập các thông tin về các tính trạng thuộc tiêu chuẩn chọn lọc và hệ phả cần thiết cho đánh giá di truyền Việc thu thập các thông tin này đòi hỏi phải có một hệ thống hoặc sơ đồ nhằm đảm bảo được mức độ chính xác và thực thế khi thực hiện và xác
định
4 Đánh giá di truyền Các số liệu năng suất và
hệ phả được phối hợp để phân tích ước tính giá trị giống các tính trạng thuộc tiêu chuẩn chọn lọc Các mô hình thống kê phân tích các số liệu năng suất sẽ được sử dụng và cũng sẽ ước tính các tham số di truyền và kiểu hình nhằm sử dụng trong các phân tích
5 Sử dụng các con vật được chọn lọc Các quyết định đối với cấu trúc di truyền của quần thể sẽ được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu giống một cách tối ưu Các quyết định này bao gồm việc đánh giá phạm
vi sử dụng nhân giống nhân tạo, phát triển các đàn hạt nhân tốt nhất và vai trò của các giống, các con lai khác nhau
Tất cả các bước này có thể bị ảnh hưởng của cấu trúc công nghiệp, đặc biệt là đối với các tính trạng ảnh hưởng tới lợi nhuận và các tính trạng
có giá trị đối với người sản xuất hoặc khách hàng Nếu là một cấu trúc sản xuất kết hợp sẽ có các con vật được nuôi từ sơ sinh tới lúc giết thịt
và các tính trạng liên quan tới các con vật như sinh sản, sinh trưởng, vỗ béo sẽ là các tính trạng quan trọng Còn trong một cấu trúc sản xuất từng phần, các con vật sẽ được nuôi và bán cho những người sản xuất khác, họ sẽ vỗ béo chúng để giết thịt Nếu con vật được bán lúc cai sữa, tính trạng sinh sản và dễ đẻ sẽ được chú trọng trong chương trình giống, tuy vậy cũng cần chú trọng tới các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thịt xẻ
Thúc đẩy cải tiến di truyền
Các nhà sản xuất đàn hạt nhân là những người tạo nguyên liệu di truyền cho công nghiệp bò thịt thương phẩm, họ là những người đầu tiên kinh doanh thu lợi nhuận Khách hàng của họ là những người sản xuất thịt bò thương phẩm, các nhà sản xuất thực phẩm này cũng kinh doanh thu
Trang 4lợi nhuận Lợi nhuận của người sản xuất chịu ảnh
hưởng của nhu cầu người tiêu thụ sản phẩm của
họ Lợi nhuận cho phép các nhóm người này tồn
tại trong nền công nghiệp thịt bò, cung cấp lợi
nhuận cho gia đình họ, giáo dục con cái họ và
thực hiện các nhu cầu mong muốn khác của họ
Lợi nhuận xuất hiện khi giá trị của thu nhập có
được vượt quá chi phí đầu vào và các chi phí sản
xuất sản phẩm Trong trường hợp sản xuất bò
thịt, sản phẩm chủ yếu là thân thịt ngay cả đối
với cả trường hợp bán con vật sống Chi phí sản
xuất chủ yếu là thức ăn, tiền mua con giống, điều
kiện chăn nuôi và công lao động
Việc mua đàn giống không chỉ là chi phí của hệ
thống sản xuất mà còn là việc cung cấp ảnh
hưởng thuận lợi vận hành cho cả hệ thống sản
xuất, ảnh hưởng dương tính này có thể giảm
được các chi phí khác đồng thời cũng có thể tăng
được thu nhập đầu ra Người sản xuất có thể đễ
dàng trả giá cao cho đàn giống nếu như họ nhận
thấy rõ ràng là lợi nhuận được đảm bảo
Khi bán sản phẩm, người sản xuất con giống sẽ
có thu nhập để trang trải các chi phí chủ yếu từ
đàn giống như tinh dịch, phôi Bất cứ cố gắng
nào nhằm cải tiến giá trị của sản xuất (có thể
mang lại thu nhập) sẽ tăng thêm phần chi phí cho
người sản xuất con giống, công lao động tăng
thêm để ghi chép số liệu, đăng ký kiểm tra, máy
tính, thị trường giết mổ Do vậy, người sản xuất
con giống sẽ tăng đầu tư các chi phí đó, nếu như
họ thấy rõ ràng là thu nhập của họ sẽ tăng lên, họ
sẽ bán được nhiều con giống hơn với giá cao
hơn
Gần đây, thị trường thịt có chất lượng cao đã
xuất hiện nhiều trong các tư liệu khoa học cũng
như các ấn phẩm chăn nuôi Chiến lược này đề
cập tới việc bán con vật trên cơ sở thân thịt của
chúng với nhiều cách đánh giá chính xác hơn và
trả tiền theo chất lượng thịt Người ta hy vọng
rằng cách quản lý thị trường này sẽ thúc đẩy các
nhà sản xuất thịt sản xuất được thân thịt có chất
lượng tốt hơn Sự dàn xếp này sẽ tăng được thu
nhập và lợi nhuận cho người sản xuất nếu như họ
tăng được khoản thu cao hơn các chi phí phải
thêm vào do việc cải tiến chất lượng thịt Tiếp
cận chung giữa người sản xuất và nhà chế biến sẽ
được ngành công nghiệp thịt Australia tán đồng
để đảm bảo cho sự tiếp tục phát triển trong nền công nghiệp toàn cầu hiện nay Nguyên tắc này công bằng và thích hợp chung cho người sản xuất thương phẩm và người sản xuất giống Nếu như thu nhập khi bán đàn giống tỷ lệ với lợi nhuận mà khách hàng mong muốn có được thì người sản xuất giống sẽ không có lý do gì mà không cố gắng phát triển đàn giống của mình nhằm cải tiến năng suất cho hệ thống sản xuất của khách hàng của họ
Như vậy rõ ràng là giá cả thị trường của đàn giống quyết định chiến lược cải tiến di truyền Tuy nhiên, cần nhớ rằng lịch sử đã cho thấy đàn giống được người sản xuất giống buôn bán chỉ dựa vào các đặc điểm và nguồn thông tin đơn giản liên quan tới đóng góp của đàn giống đối với lợi nhuận của hệ thống sản xuất của khách hàng Nếu các thông tin đầy đủ về thị trường
được bổ sung thì ngành công nghiệp giống bò thịt sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Tuy nhiên, trước tình hình này các nhà sản xuất giống sẽ phải nhận trách nhiệm cung cấp thông tin cho các khách hàng của mình để họ tin tưởng vào việc trả thêm tiền cho đàn giống được cải tiến Cũng theo cách đó, ngành công nghiệp bò thịt sẽ thực hiện đánh giá di truyền một số tính trạng năng suất Nhiệm vụ còn lại là phối hợp giá trị giống thành cách xác định đơn giản ở con vật theo mục tiêu lợi nhuận của khác hàng Mục tiêu giống của người sản xuất giống sẽ phản ảnh ảnh hưởng của đàn giống của họ đối với lợi nhuận của người sản xuất bò thịt sau khi họ mua và sử dụng chúng làm giống
Chương trình đánh giá di truyền trong đàn và giữa các đàn
Mục đích của chương trình đánh giá di truyền là phối hợp các nguồn thông tin khác nhau và thường là rất lớn của một cá thể thành một giá trị
và sử dụng giá trị đó để xếp hạng con vật Trong thời gian gần đây ở Australia đã có những phương pháp tốt để đánh giá di truyền, ví dụ chương trình BREEDPLAN Chương trình này
Trang 5đánh giá giá trị di truyền của bò thịt thông qua
việc xử lý các thông tin về hệ phả và các ghi
chép năng suất con vật
Sản phẩm của phương pháp này là các giá trị
giống ước tính (EBV) của các con vật Nhiệm vụ
khó khăn ở đây là phải tính toán giá trị giống về
các tính trạng khác nhau của tất cả các con vật
tham gia chọn lọc và người ta sẽ quyết định có sử
dụng chúng trong chương trình giống hay không
Các chiến lược đánh giá di truyền sẽ được xem
xét như một phương tiện để đi tới đích chứ không
phải bản thân chúng đã là đích Đích cuối cùng
là tăng hiệu quả kinh tế của sản phẩm sản xuất
cho người tiêu thụ
Phương pháp BREEDPLAN dựa trên "mô hình
động vật", mô hình này phối hợp các thủ tục
phân tích nhiều tính trạng để tính EBV của các
con vật dựa trên các ghi chép số liệu năng suất
các tính trạng Tuy nhiên, chương trình này chỉ
đề cập tới các con vật trong đàn của một giống
Việc tăng cường sử dụng thụ tinh nhân tạo cho
phép hầu hết các đàn trong một giống phát triển
các liên kết di truyền với các đàn khác Điều này
cho phép người ta so sánh chéo đàn trên cơ sở
EBV của chương trình GROUP BREEDPLAN và
chương trình này đã nhanh chóng được sử dụng
rộng rãi Chương trình này là công cụ chọn lọc
mạnh hơn chương trình BREEDPLAN vì nó cho
phép đánh giá di truyền xảy ra qua nhiều đàn
trong một giống và do đó có thể đạt được tiến bộ
di truyền cao hơn
Các kết luận
• Các nhà sản xuất bò thịt Australia cần phải
xác định lại các mục tiêu và các chiến lược
phát triển của mình nhằm mang tính cạnh
tranh hơn, nhằm lấy lại và tăng thêm niềm
tin của người tiêu thụ, tăng nhu cầu và lợi
nhuận thông qua việc phát triển các sản
phẩm phù hợp với độ vân, độ mềm và tính
ngon miệng
• Nền công nghiệp bò thịt của chúng ta muốn
tồn tại phải sản xuất được các sản phẩm có
giá trị cao
• Các sơ đồ chọn lọc thích hợp sẽ cân bằng và
mềm dẻo để thích hợp với những thay đổi
của thị trường Con vật phải thể hiện được sức khoẻ và bình thường về chức năng
• Các sơ đồ phải cân bằng được mâu thuẫn giữa sinh trưởng và tăng khối lượng sơ sinh, giữa chi phí nuôi bò cái cao hơn với sản xuất
được sản phẩm rẻ cho người tiêu dùng
• Thủ tục sử dụng để phát triển chương trình giống gồm các bước sau:
1 Xác định mục tiêu chương trình giống,
2 Lựa chọn tiêu chuẩn chọn lọc,
3 Phát triển hệ thống ghi chép hệ phả và số liệu năng suất,
4 Đánh giá di truyền, và
5 Sử dụng các con vật được chọn lọc
• Cấu trúc nền công nghiệp thịt bò phải đảm bảo sản xuất có lợi nhuận cho người sản xuất giống, người sản xuất thương phẩm, người sản xuất cỏ hoặc thức ăn và người chế biến
• Các chiến lược đánh giá di truyền phải hỗ trợ
được người sản xuất bò thịt chú ý tới sinh sản, sinh trưởng và đặc tính thịt xẻ khi phát triển chương trình giống bò thịt đảm bảo
được lợi ích kinh tế của họ