1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc kạn

123 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính đến hết năm 2019, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có gần 1.000 doanh nghiệp đang hoạt động với hơn 20 nghìn lao động làm việc, trong đó số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có nguy cơ

Trang 2

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI NỮ HOÀNG ANH

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới

sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Nữ Hoàng Anh Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 06 năm 2020

Học viên

Phạm Văn Trọng

Trang 4

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Bùi Nữ Hoàng Anh người hướng dẫn và cũng là người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu này Cảm ơn các lãnh đạo cơ quan, đơn vị, đã cung cấp những thông tin thiết thực trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện đề tài

Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên và giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng bài luận không tránh khỏi những thiếu sót; tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy cô, các cán bộ quản lý và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 06 năm 2020

Học viên Phạm Văn Trọng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 4

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Vai trò của công tác an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp 5

1.1.3 Nguyên tắc quản lý về an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp 6

1.1.4 Sự cần thiết phải quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp 8

1.1.5 Nội dung quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp 9

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp 13

1.2 Kinh nghiệm quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp của một số địa phương 15

1.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 15

1.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai 16

1.2.3 Bài học kinh nghiệm quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp đối với tỉnh Bắc Kạn 20

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 21

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 21

2.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 21

2.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 21

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 24

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 25

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 25

2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn 25

2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thực trạng quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 25

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 29

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn 29

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 29

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31

3.1.3 Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 33

3.2 Khái quát về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn 35

3.2.1 Cơ cấu tổ chức của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn 35

3.2.2 Vị trí và chức năng 36

3.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn 36

3.3 Thực trạng quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 38

3.3.1 Công tác ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động 38

3.3.2 Công tác tổ chức tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động 42

3.3.3 Công tác điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 46

3.3.4 Công tác đào tạo, tập huấn và phòng ngừa, ứng phó với sự cố gây mất an toàn, vệ sinh lao động 51

3.3.5 Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động 56

Trang 7

3.3.6 Xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động 60

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 63

3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 63

3.4.2 Công tác quản lý Nhà nước về vệ sinh, an toàn lao động 64

3.4.3 Người sử dụng lao động 68

3.4.3 Người lao động 71

3.5 Đánh giá chung về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 73

3.5.1 Những kết quả đạt được 73

3.5.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 75

Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 77

4.1 Dự báo tình hình lao động sản xuất và an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 77

4.1.1 Dự báo tình hình phát triển doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh và những vấn đề phát sinh về an toàn, vệ sinh lao động 77

4.1.2 Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đến công tác an toàn, vệ sinh lao động 77

4.2 Phương hướng và mục tiêu quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 78

4.2.1 Phương hướng quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 78

4.2.2 Mục tiêu quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến 2025 79

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh, an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 80

4.3.1 Hoàn thiện việc ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 80

Trang 8

4.3.2 Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền quy định của pháp luật về an

toàn, vệ sinh lao động 83

4.3.3 Hoàn thiện công tác đào tạo, tập huấn và phòng ngừa, ứng phó với sự cố gây mất an toàn, vệ sinh lao động 85

4.3.4 Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động 86

4.3.5 Hoàn thiện công tác điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 89

4.3.6 Tăng cường xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động 91

4.4 Kiến nghị với các bên liên quan 92

4.4.1 Đối với Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng 92

4.4.2 Đối với nhà nước và Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan 92

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 100

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2 ATVSLĐ An toàn, vệ sinh lao động

21 TTTT Thông tin truyền thông

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng điều tra khảo sát lãnh đạo DN và NLĐ trong DN 23Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017 - 2019 31Bảng 3.2 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tính đến

31/12/2019 33Bảng 3.3 Tình hình ban hành, triển khai thực hiện văn bản quản lý về an

toàn, vệ sinh lao động tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017-2019 40Bảng 3.4: Kết quả khảo sát về ban hành và quản lý thống nhất các quy định

của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động 41Bảng 3.5 Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền về an toàn, vệ sinh lao

động tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017-2019 43Bảng 3.6: Kết quả khảo sát về công tác thông tin, tuyên truyền về an toàn,

vệ sinh lao động 44Bảng 3.7 Kết quả điều tra, thống kê tai nạn lao động tại tỉnh Bắc Kạn giai

đoạn 2017-2019 47Bảng 3.8 Kết quả thống kê tình hình khám, giám định BNN của lao động

tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017-2019 49Bảng 3.9 Kết quả khảo sát về công tác điều tra, thống kê TNLĐ và BNN 50Bảng 3.10 Kết quả thực hiện công tác tập huấn, huấn luyện về an toàn, vệ

sinh lao động tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017-2019 51Bảng 3.11 Tình hình doanh nghiệp và người lao động có nguy cơ bị mất an

toàn, vệ sinh lao động trong quá trình sản xuất, kinh doanh 52Bảng 3.12 Kinh phí dành cho công tác quản lý về an toàn, vệ sinh lao động

tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017-2019 54Bảng 3.13 Kết quả khảo sát về công tác đào tạo, tập huấn và phòng ngừa,

ứng phó với sự cố gây mất an toàn, vệ sinh lao động 55Bảng 3.14 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện

an toàn, vệ sinh lao động tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2017-2019 57Bảng 3.15 Kết quả khảo sát về công tác thanh tra, kiểm tra an toàn, vệ sinh

lao động 57Bảng 3.16 Tình hình xử lý vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động tại tỉnh Bắc

Kạn giai đoạn 2017-2019 61Bảng 3.17 Kết quả khảo sát về xử lý vi phạm ATVSLĐ 61Bảng 3.18 Tình hình tai nạn lao động lĩnh vực khai thác khoáng sản trên địa

bàn tỉnh Bắc Kạn 63

Trang 11

Bảng 3.19 Số lượng cán bộ trong bộ máy quản lý ATVSLĐ trên địa bàn

tỉnh Bắc Kạn 67Bảng 3.20 Kết quả đánh giá của NLĐ về NSDLĐ đối với công tác quản lý

ATVSLĐ trong doanh nghiệp 69Bảng 3.21 Kết quả đánh giá của NSDLĐ về NLĐ đối với công tác quản lý

ATVSLĐ trong doanh nghiệp 72

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Kạn 29 Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức của Sở LĐ-TB và XH tỉnh Bắc Kạn 35

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Cùng với việc cải thiện môi trường sống, chất lượng cuộc sống tại các đô thị, các cơ sở, nhà máy sản xuất đã được quy hoạch tập trung vào những khu công nghiệp là vấn đề rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay Sản xuất tập trung có nhiều

ưu điểm và phù hợp với xu thế phát triển, nhưng cũng bộc lộ nhiều bất cập, nhiều khó khăn trong công tác quản lý, nhất là khi việc xây dựng hành lang pháp lý, hệ thống chính sách còn chưa theo kịp với tốc độ phát triển của thực tế

Trong các doanh nghiệp, hàng ngày, hàng giờ luôn có hàng trăm ngàn người lao động tiến hành quá trình lao động sản xuất với hàng chục ngàn máy móc thiết bị

từ đơn giản đến những máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật an toàn Quá trình lao động luôn gắn với công cụ, phương tiện lao động, môi trường làm việc, máy móc thiết bị… vì thế luôn phát sinh những mối nguy hiểm, rủi ro làm cho người lao động có thể bị tai nạn lao động, bị nhiễm và mắc các bệnh nghề nghiệp Trong khi đó, không phải tất cả người lao động hay tất cả người sử dụng lao động đều ý thức và chấp hành nghiêm những quy định về kỹ thuật an toàn, xây dựng môi trường làm việc an toàn Những vụ tai nạn lao động vẫn diễn ra, có thể giảm về số lượng nhưng thiệt hại về người và tài sản lại có nguy cơ tăng cao

Tính đến hết năm 2019, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có gần 1.000 doanh nghiệp đang hoạt động với hơn 20 nghìn lao động làm việc, trong đó số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động cần phải thực hiện tốt công tác an toàn, vệ sinh lao động là 437 doanh nghiệp, bao gồm các ngành khai thác khoảng sản, hóa chất, cơ khí, luyện kim, dầu khí, điện, vật liệu nổ công nghiệp, xây dựng Tính theo ngành thì các ngành có nguy cơ cao về tai nạn lao động hiện có 5.583 lao động, trong đó lao động trực tiếp 4.797 người, lao động đang làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là 4.117 người; cán bộ làm công tác an toàn, vệ sinh lao động 407 người, an toàn, vệ sinh viên 141 người Giai đoạn 2015- 2019, trên địa bàn có 10 người chết do tai nạn lao động, chủ yếu là lĩnh vực khai thác khoáng sản, khai thác vật liệu xây dựng Hiện nay, công tác đầu

tư cho việc nâng cao các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động chưa cao, trong khi các vụ tai nạn lao động xảy ra gây thiệt hại lớn về tài sản của doanh nghiệp, mỗi vụ tai nạn lao động chết người ước tính gây thiệt hại khoảng 85 triệu đồng, bao gồm tiền bồi thường và các khoản chi phí khác Bên canh đó, khi có tai nạn lao động xảy ra gây tâm lý hoang mang cho người lao động, người lao động không yên tâm làm việc gây ảnh hưởng đến năng suất lao động nói riêng và tình

hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung [21]

Trang 14

Xuất phát từ những vấn đề quan trọng của công tác an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đối với hoạt động sản xuất và sức khỏe, tính mạng con người, sự phát triển kinh tế và nhằm giảm thiểu thiệt hại cho doanh nghiệp, với mong muốn nghiên cứu, phân tích kỹ hơn vai trò của quản lý đối với công tác ATVSLĐ trong doanh nghiệp và góp phần đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà

nước về ATVSLĐ trong doanh nghiệp, tác giả chọn vấn đề "Quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài Luận

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động

tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Về thời gian: Thông tin phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu thập trong

giai đoạn 2017 - 2019, số liệu điều tra, khảo sát năm 2019

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về công tác quản lý đối với vấn đề an toàn, vệ

sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Trang 15

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về bản chất, vai trò, đặc điểm, nguyên tắc và nhân tố ảnh hưởng đến quản lý về an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp

- Kết quả nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động

- Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương trong nước và kết quả phân tích thực trạng, bài học kinh nghiệm và các giải pháp khả thị được đề xuất

để tăng cường quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp; đồng thời phải đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luậṇ văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại

các doanh nghiệp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ

AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Trong nghiên cứu này, doanh nghiệp được hiểu là “tổ chức có tên riêng, có tài sản,

có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích

Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015), có các khái niệm sau đây:

- An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy

hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá

trình lao động

- Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây

bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động

- Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong

cho con người trong quá trình lao động

- Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong

quá trình lao động

- Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động là hư hỏng của máy, thiết

bị, vật tư, chất vượt quá giới hạn an toàn kỹ thuật cho phép, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và

môi trường

- Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng là sự cố kỹ

thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động lớn, xảy ra trên diện rộng và vượt khả năng ứng phó của cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ quan, tổ chức, địa phương hoặc liên

quan đến nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, địa phương

- Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng

nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao

động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động

- Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề

nghiệp tác động đối với người lao động

Trang 17

- Quan trắc môi trường lao động là hoạt động thu thập, phân tích, đánh giá số

liệu đo lường các yếu tố trong môi trường lao động tại nơi làm việc để có biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe, phòng, chống bệnh nghề nghiệp

- Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của

người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội

- Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc

sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này

Bảo hiểm tai nạn lao động là bảo hiểm nhằm bồi thường và chi trả cho người

lao động về những thương tật, thương tích do tai nạn lao động gây ra [19]

1.1.2 Vai trò của công tác an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

An toàn, vệ sinh lao động có vị trí, vai trò rất quan trọng là bảo vệ người lao động - yếu tố quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất trong các doanh nghiệp Mất ATLĐ đã, đang và sẽ gây ra những tổn thất lớn cho các doanh nghiệp, bao gồm cả ngành sản xuất và dịch vụ

Xuất phát từ yêu cầu của sản xuất là “sản xuất phải an toàn”, thông suốt để hoàn thành các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch sản xuất kinh doanh - dịch vụ Vì thế, chế độ chính sách ATVSLĐ ra đời phải là những công cụ quản lý sắc bén để thúc đẩy sản xuất an toàn và phát triển

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác ATVSLĐ, mỗi doanh nghiệp phải

đề cao trách nhiệm thực hiện các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, hành chính để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên môi trường lao động an toàn, lành mạnh, ngăn ngừa tai nạn lao động và các thiệt hại khác đối với người lao động Đồng thời, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động là trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng đơn vị, doanh nghiệp vững mạnh toàn diện Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 21 Công ước của ILO, với 12 Công ước liên quan trực tiếp đến công tác ATVSLĐ Các Công ước quy định các nước thành viên phải chủ động các bước để tiến đến môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua chính sách, hệ thống và chương trình quốc gia về ATVSLĐ phù hợp Vì vậy, các cam kết quốc tế về ATVSLĐ đã được nội luật hóa trong Luật

Trang 18

ATVSLĐ và các văn bản hướng dẫn Đặc biệt, Luật ATVSLĐ đã được Quốc hội

thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016

Thực tế cho thấy phần lớn nguyên nhân các vụ tai nạn lao động chủ yếu là do con người Do đó thực hiện công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao đông tại các doanh nghiệp và việc phòng, chống tai nạn lao động phải bắt đầu từ việc người lao động

có ý thức tự bảo vệ mình, chấp hành nội quy, quy trình an toàn lao động

Để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường và tăng cường khả năng hội nhập, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động đồng thời các doanh nghiệp luôn chú trọng đầu tư trang thiết bị, máy móc, công nghệ mới nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động

Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều người lao động, đặc biệt là thành phần lao động chân tay, thường nhật phải đối phó với những rủi ro và nguy hiểm nơi làm việc Xây dựng ATVSLĐ giúp tránh các tai nạn gây thương tích hay tử vong cho chính mình, đồng nghiệp

Nhằm đưa công tác an toàn, vệ sinh lao động trong lao động trở thành trách nhiệm và ý thức tự giác, thường nhật của mọi người, trở thành văn hoá ứng xử trong lao động ở doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo phải xem Văn hóa An toàn lao động cũng là một bộ phận không thể tách rời của Văn hóa Doanh nghiệp, luôn song hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp

Trong bối cảnh lan tỏa mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0, khi mọi bước đi cần phải nhanh và liên tục để bắt kịp những xu hướng chung của thế giới Xây dựng văn hóa trong an toàn lao động trở thành vũ khí tối thượng cho đòn bẩy thành công của các doanh nghiệp trong thời đại ngày nay Có như vậy các doanh nghiệp mới tạo ra môi trường văn hóa mang bản sắc riêng của doanh nghiệp mình Đặc biệt tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, đối tác an tâm liên doanh liên kết với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển một cách bền vững

1.1.3 Nguyên tắc quản lý về an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

Thứ nhất, Nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ an toàn lao động, vệ sinh

lao động

An toàn lao động, vệ sinh lao động là có liên quan trực tiếp đến đến sức khỏe, tính mạng của người lao động Xuất phát từ tầm quan trọng này mà Nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ bảo hộ lao động từ khâu ban hành văn bản pháp luật đến tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; ban

Trang 19

hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, về an toàn lao động, vệ sinh lao động Các đơn vị sử dụng lao động có nghĩa vụ cụ thể hóa các quy định này cho phù hợp với đơn vị minh và nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định này Trong số 6 nhiệm

vụ của thanh tra lao động thì nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành an toàn lao động, vệ sinh lao động được xếp hàng đầu

Có thể nói trong số các chế định của pháp luật lao động, chế định về an toàn lao động, vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc cao mà các chủ thể hầu như ít được thỏa thuận như các chế định

Thứ hai, thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động, vệ sinh lao động

Nguyên tắc thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động, vệ sinh lao động thể hiện trên các mặt sau :

- An toàn lao động và vệ sinh lao động là bộ phận không thể tách rời khỏi các khâu lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh

- An toàn lao động và vệ sinh lao động là trách nhiệm của không chỉ người sử dụng lao động mà còn của cả người lao động nhằm bảo đảm sức khỏe tính mạng của bản thân và môi trường lao động…

- Bất kỳ ở đâu có tiếp xúc với máy móc, công cụ lao động… thì ở đó phải có

an toàn lao động, vệ sinh lao động [19]

Thứ ba, đề cao và đảm bảo quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong

việc thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động

- Công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính quần chúng rộng rãi,

do vậy chúng là một nội dung quan trọng thuộc chức năng của bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động của tổ chức công đoàn

- Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình, Công đoàn được quyền

tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng như xây dựng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh

lao động Trong phạm vi đơn vị cơ sở, tổ chức công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động tuyên truyền giáo dục người lao động tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động Công đoàn còn tham gia thực hiện quyền kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động…

- Tôn trọng các quyền của công đoàn và đảm bảo để công đoàn làm tròn trách nhiệm của mình trong lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động là trách nhiệm của người sử dụng lao động và các bên hữu quan [19]

Trang 20

1.1.4 Sự cần thiết phải quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong DN đảm bảo thực hiện tốt định hướng, chiến lược, quy hoạch tổng thể về khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn với ATVSLĐ Không làm ảnh hưởng đến cảnh quan, thiên nhiên, môi trường, an ninh quốc phòng và di sản văn hóa Phải gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường; khai thác tài nguyên một cách hợp lý, tiết kiệm, chủ động, có kế hoạch Quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong DN thúc đẩy và tạo lập môi trường pháp

lý ngày càng đầy đủ, ổn định và hiệu quả đảm bảo ATVSLĐ đối với các DN

Môi trường pháp lý đáp ứng yêu cầu đảm bảo ATVSLĐ đối với các DN thể hiện trước hết ở việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, đó là:

Bộ Luật lao động; Luật ATVSLĐ; Các văn bản dưới Luật: Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành

Thông qua các văn bản pháp luật, điều chỉnh được các mối quan hệ xã hội, các chủ thể doanh nghiệp, cá nhân người lao động phải đảm bảo ATVSLĐ trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, từ đó tạo dựng nên một môi trường lao động đảm bảo được các yêu cầu về ATVSLĐ, giúp cho người lao động yên tâm làm việc

ổn định, lâu dài, tăng năng suất lao động, giảm giá thành góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các DN

Quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong doanh nghiệp góp phần tạo lập môi trường kinh tế - xã hội, đảm bảo công tác ATVSLĐ được thuận lợi và đạt hiệu quả cao, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Để tạo dựng cho người lao động có được môi trường làm việc an toàn không TNLĐ, giảm tối thiểu nguy cơ TNLĐ, BNN và mang lại lợi ích về kinh tế cho các

DN mà vẫn đảm bảo ATVSLĐ, đồng thời tạo ra cơ hội để cạnh tranh trên thị trường, thu hút vốn đầu tư cũng như tăng cơ hội cho đầu ra của sản phẩm thì nhà nước là cơ quan có vai trò trong việc đưa ra các giải pháp như: Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị, công nghệ tiên tiến nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu sản xuất và luôn đảm bảo ATVSLĐ; Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích đào tạo, nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn trong quản lý về ATVSLĐ và năng lực cho đội ngũ cán bộ, công nhân

kỹ thuật; Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính Quản lý nhà nước về an toàn - vệ sinh lao động là sự tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh của Nhà nước (thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước) đến việc đảm bảo điều kiện làm việc an toàn cho người lao động trong quá trình sản xuất; chấn chỉnh trật tự, duy trì

Trang 21

hoạt động đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước bằng pháp luật

1.1.5 Nội dung quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

1.1.5.1 Ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn - vệ sinh lao động là một bộ phận, một phần của quản lý nhà nước về lao động

Quản lý nhà nước an toàn - vệ sinh lao động là các cơ quan có thẩm quyền quản lý hoạt động an toàn - vệ sinh lao động thông qua việc nhà nước lập chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động các giai đoạn (2011 - 2015;

2015 - 2020); ban hành các văn bản pháp luật, đầu tư, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh (hỗ trợ huấn luyện, tuyên truyền, trang thiết bị an toàn, vệ sinh lao động…)

Tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương mà các cơ quan quản lý nhà nước về

an toàn vệ sinh lao động sẽ cụ thể hóa các quy phạm đó và xây dựng các quy trình

an toàn lao động phù hợp với điều kiện sản xuất tại các doanh nghiệp Đồng thời sẽ tiến hành triển khai và giám sát việc thực hiện các quy phạm và các quy trình chính sách và chuẩn mực về an toàn lao động đảm bảo ngăn ngừa tai nạn lao động đến mức tối đa

1.1.5.2 Tổ chức tuyên truyền các quy định của pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động

Việc chấp hành quy phạm ATVSLĐ phụ thuộc vào mức độ nhận thức và tính tự giác chấp hành của người sử dụng lao động và người lao động Do đó việc tuyên truyền cần phải tiến hành sâu rộng trên nhiều phương diện và công cụ khác nhau như phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức phối hợp giữa tổ chức công đoàn và cơ quan quản lý để tuyên truyền Đồng thời tư vấn, hỗ trợ các đơn vị, phòng, ban chức năng trong công việc thực hiện chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động

- Tuyên truyền, huấn luyện, phổ biến về công tác an toàn - vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp là công việc quan trọng, tiết kiệm và hiệu quả nhằm phòng ngừa rủi ro về ATVSLĐ, giảm thiểu tối đa TNLĐ, BNN

- Các hình thức tuyên truyền như: thông qua phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài…); phát hành tờ rơi, tổ chức các hội thi tìm hiểu về ATVSLĐ, huấn luyện ATVSLĐ tại cơ sở…

- Để công tác tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp được hiệu quả thì đội ngũ giảng viên cần được nâng

Trang 22

cao trình độ thông qua các lớp tập huấn chuyên sâu, quan tâm đến các đối tượng quản lý ở cấp xã, phường, hình thành đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền tại

cơ sở

1.1.5.3 Công tác điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Đây là nội dung rất quan trọng vì những kết quả điều tra sẽ cho phép rút ra những bài học và nguyên nhân dẫn tới tai nạn lao động từ đó phát hiện những khiếm khuyết trong các quy phạm về an toàn lao động cũng như công tác quản lý để có điều chỉnh cần thiết Việc điều tra và thống kê còn cho phép hạn chế việc các doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm khi xảy ra tình trạng mất an toàn lao động và nhắc nhở doanh nghiệp và người lao động phải chấp hành nghiêm các quy phạm được đề

ra Bệnh nghề nghiệp luôn đi cùng với đặc thù của ngành sản xuất và môi trường làm việc không đúng tiêu chuẩn Tiến hành điều tra thống kê nhằm phát hiện những vấn đề đột biến và các nguyên nhân phát sinh để điều chỉnh tiêu chuẩn quy trình về

vệ sinh lao động Phải kiểm tra các yếu tố có hại trong môi trường lao động trong

các doanh nghiệp và có biện pháp xử lý kịp thời Có hồ sơ lưu trữ và theo dõi kết quả đó theo quy định Đồng thời tiến hành giám định khả năng lao động của người lao động mắc bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác

Việc điều tra sẽ do Sở Lao động và Thương binh xã hội địa phương thực hiện, trong nhiều trường hợp sẽ có sự tham gia của các cơ quan chức năng khác như Công đoàn, Trung tâm y tế dự phòng, công an,…

1.1.5.4 Tổ chức đào tạo, tập huấn và phòng ngừa, ứng phó với sự cố gây mất an toàn, vệ sinh lao động

* Đối với công tác đào tạo, tập huấn

- Đối tượng tham gia khóa học an toàn lao động:

+ Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn - vệ sinh lao động

+ Nhóm 2: Người làm công tác an toàn - vệ sinh lao động

+ Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn -

vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn - vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành

+ Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm 1, 2, 3, 5,6; bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động

+ Nhóm 5: Người làm công tác y tế

Trang 23

+ Nhóm 6: An toàn - vệ sinh viên theo quy định tại điều luật 74 Luật an toàn,

vệ sinh lao động

- Nội dung huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động:

+ Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động;

+ Nghiệp vụ công tác an toàn - vệ sinh lao động;

+ Nội dung huấn luyện chuyên ngành;

+ Chuyên môn về y tế lao động;

+ Kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn - vệ sinh viên

* Đối với công tác phòng ngừa, ứng phó với sự cố gây mất an toàn, vệ sinh lao động

Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động đối với việc phòng ngừa, ứng phó với sự cố gây mất an toàn, vệ sinh lao động, nhằm hướng tới mục tiêu:

- Người sử dụng lao động phải có phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng, ứng cứu khẩn cấp và định kỳ tổ chức diễn tập theo quy định của pháp luật; trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế để bảo đảm ứng cứu, sơ cứu kịp thời khi xảy ra sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng, tai nạn lao động

- Trong trường hợp xảy ra sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng, ứng cứu khẩn cấp thì: Người sử dụng lao động phải ra lệnh ngừng ngay hoạt động của máy, thiết bị, việc sử dụng vật tư, chất, hoạt động lao động tại nơi làm việc có nguy cơ gây tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc nếu các nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của người lao động chưa được khắc phục; thực hiện các biện pháp khắc phục, các biện pháp theo phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng, ứng cứu khẩn cấp để tổ chức cứu người, tài sản, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động, người xung quanh nơi làm việc, tài sản và môi trường; kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương nơi xảy ra sự cố hoặc ứng cứu khẩn cấp;

1.1.5.5 Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn - vệ sinh lao động

Thanh tra nhà nước về an toàn - vệ sinh lao động là chức năng chủ yếu của cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động, nhằm đảm bảo chính sách và pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc và hiệu quả

Trang 24

Thanh tra nhà nước về an toàn - vệ sinh lao động là hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động thanh tra có hiệu quả

Công tác an toàn - vệ sinh lao động cần được kiểm tra, giám sát, phát hiện để ngăn chặn kịp thời những nguy cơ có thể xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Ngoài ra ý thức chấp hành các quy định về an toàn vệ sinh lao động của người sử dụng lao động còn yếu, chưa quan tâm đến việc bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho người lao động Mặc khác, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, nghèo nàn, công tác

kỹ thuật an toàn - vệ sinh lao động còn nhiều sơ hở, thiếu kinh nghiệm Do đó, đòi hỏi công tác thanh tra kịp thời nhằm phát hiện và chấn chỉnh sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, nhằm ngăn chặn các nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố sản xuất, bảo đảm tính mạng, sức khỏe, tạo tâm lý an tâm làm việc cho người lao động; góp phần tích cực vào đảm bảo sản xuất liên tục, năng suất Công tác thanh tra cần phải tiến hành thường xuyên nghiêm túc không hình thức để nhắc nhở và điều chỉnh những sai xót trong việc thực hiện Tuy nhiên cũng cần xử phạt nghiêm những trường hợp vi phạm có tính chất hệ thống

Việc thanh tra có thể thực hiện bằng các hình thức sau:

- Thanh kiểm tra của cơ quan QLNN từ bên ngoài gồm Thanh kiểm tra định kỳ

- Thanh kiểm tra của bản thân doanh nghiệp về việc thực hiện bên trong doanh nghiệp mình và của người lao động

1.1.5.6 Xử lý các vi phạm về an toàn - vệ sinh lao động

Xử lý các vi phạm về an toàn lao động là công việc cần thiết để bảo đảm tính

hiệu lực và hiệu quả của các quy phạm về ATVSLĐ Chỉ có xử lý nghiêm mới có tác dụng với cả doanh nghiệp và người lao động

Nhà nước ta còn quy định rất chặt chẽ công tác xử phạt về ATVSLĐ Tổ chức,

cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật an toàn - vệ sinh lao động sẽ bị phạt tiền, cấm hoạt động còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khắc phục, sửa chữa đối với các máy, thiết bị không bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn - vệ sinh lao động; buộc kiểm định và đăng ký các loại máy, thiết

bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn - vệ sinh lao động Tuy nhiên,

để các quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự đầu tư về vật chất và đồng lòng của tất cả các bên liên quan trong quan hệ lao động, đặc biệt là sự cam kết thực hiện pháp luật an toàn - vệ sinh lao động của người sử dụng lao động

và người lao động

Trang 25

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

1.1.6.1 Các yếu tố khách quan

(*) Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

- Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến

sự phát triển kinh tế của địa phương, từ đó quyết định đến an toàn, vệ sinh lao động

Điều kiện tự nhiên của mỗi vùng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới an toàn - vệ sinh lao động Điều kiện tự nhiên bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, gió, nắng và thời gian nắng… là những nhân tố tạo ra điều kiện vi khí hậu quyết định tới môi trường làm việc của lao động Ngoài ra điều kiện tự nhiên còn tác hại tới điều kiện an

toàn lao động khi nó chính là nhân tố gây xuống cấp các thiết bị an toàn lao động

- Điều kiện kinh tế - xã hội: Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong các

thành phần kinh tế có tính chất quyết định đến nội dung quản lý nhà nước về an toàn - vệ sinh lao động trên địa bàn Sự phát triển của lực lượng sản xuất vừa tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung quản lý nhà nước về an toàn -

vệ sinh lao động một cách hợp lý, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung quản lý

ATVSLĐ trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng phát triển của địa phương

(*) Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước về quản lý an toàn vệ sinh lao động: Với sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể

thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản lý an toàn vệ sinh lao động nói riêng Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ

1.1.6.2 Các yếu tố chủ quan

(*) Tổ chức bộ máy quản lý ATVSLĐ: Bộ máy quản lý ATVSLĐ ngày càng

được hoàn thiện và chuyên môn hóa, phân định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong quản lý ATVSLĐ; bên cạnh đó việc phân công, phân cấp hoàn thiện quy chế làm việc của các cơ quan trong quản lý ATVSLĐ cũng được chỉ đạo triển khai khá đồng bộ đã tạo sự chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo điều hành cho các cấp, góp phần nâng cao hiệu quả ATVSLĐ

(*) Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ trong bộ máy quản lý ATVSLĐ: Hiệu quả của quản lý ATVSLĐ trước hết phụ thuộc vào trình độ năng lực

và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý Việc quản lý điều hành tốt hay không phụ thuộc vào cán bộ quản lý Trình độ của bộ máy quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến việc đề ra biện pháp quản lý Hiện nay đội ngũ cán bộ quản lý ATVSLĐ đã

Trang 26

được chuẩn hóa cả về số lượng và chất lượng, phẩm chất năng lực, tinh thần thái độ, trách nhiệm phục vụ ngày càng được nâng lên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ quản lý ATVSLĐ

(*) Khả năng về nguồn lực tài chính: căn cứ vào ngân sách nhà nước và các

khoản đóng góp khác (đóng góp từ doanh nghiệp) đồng thời căn cứ vào nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương để đề ra kế hoạch triển khai công tác ATVSLĐ hàng năm

hỗ trợ tiền ăn giữa ca, hỗ trợ con em khi đi học, hỗ trợ tiền thuê nhà…)

Khác với biện pháp quản lý nhà nước về lao động là thông qua các biện pháp cưỡng chế, xử phạt vi phạm hành chính thì biện pháp quản lý lao động của người sử dụng lao động mang tính chất tác động đến hành vi xử sự cụ thể của người lao động trong quá trình làm việc Các biện pháp tác động quản lý nhà nước của người sử dụng lao động vừa mang tính cưỡng chế theo qui định pháp luật, vừa mang tính động viên, khuyến khích người lao động trong quá trình làm việc

(*) Người lao động trong doanh nghiệp

Người lao động là người hoạt động trong môi trường lao động và chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố trong đó Một phần trong việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động là phụ thuộc vào ý thức chấp hành kỷ luật trong khi làm việc của họ Nếu tất cả mọi người lao động trong cùng một công xưởng đều thực hiện tốt công việc của mình theo đúng các tiêu chuẩn về an toàn - vệ sinh lao động thì sự an toàn của mỗi người đều được nâng cao

Quản lý về an toàn - vệ sinh lao động còn phụ thuộc vào những yếu tố thuộc

về bản thân người lao động như:

- Tuổi tác, sức khỏe, giới tính, tâm lý không phù hợp với công việc

- Trạng thái thần kinh, tâm lý không bình thường, có những đột biến về cảm xúc: vui, buồn, lo sợ, hoảng hốt

- Vi phạm kỷ luật lao động, nội quy an toàn và những điều nghiêm cấm

- Tính chủ quan do không sử dụng đầy đủ bảo hộ lao động đã được trang bị làm việc trong tình trạng mất ngủ, say rượu, sức khỏe không đảm bảo

Trang 27

1.2 Kinh nghiệm quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp của một số địa phương

1.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là đơn vị có nhiều doanh nghiệp hoạt động, việc quản lý về an toàn

vệ sinh lao động khá phức tạp nhưng Bắc Ninh đã thực hiện tốt và đạt được những kết quả tốt trong quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, cụ thể:

- Nhiều mô hình an toàn lao động được xây dựng tại các làng nghề; hơn 18 nghìn lao động được khám sức khỏe định kỳ và gần 8 nghìn lượt lao động được khám, chữa bệnh nghề nghiệp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với Trung tâm huấn luyện an toàn lao động, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động - Môi trường và Giám định y khoa tỉnh tổ chức huấn luyện an toàn lao động cho hàng trăm chủ sử dụng lao động và hàng nghìn lao động trong toàn tỉnh

- Việc thanh, kiểm tra đột xuất, sâu sát của ngành chức năng đã góp phần hạn chế những tổn thất do mất an toàn lao động gây ra, mà mục tiêu cao nhất là bảo

vệ tính mạng, sức khỏe con người và sự phát triển của doanh nghiệp

- Các Sở, ngành tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng các chính sách, văn bản quy định chặt chẽ về chế độ cho người lao động, công tác an toàn lao động, bảo hộ lao động , nhất là chế độ hỗ trợ thai sản cho lao động nữ đối với doanh nghiệp khi vào đầu tư tại tỉnh, để người lao động yên tâm gắn bó cùng các doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững

- Nhiều năm nay, các doanh nghiệp đã có ý thức trong việc trang bị bảo hộ lao động, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc thông thoáng, sạch sẽ, đóng bảo hiểm cho người lao động Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn tổ chức huấn luyện an toàn lao động và kiểm tra nghiêm ngặt những kiến thức cơ bản

về an toàn lao động đối với người lao động trước khi được tuyển dụng vào công ty làm việc

- Số vụ tai nạn lao động đã giảm so với những năm trước Năm 2014, toàn tỉnh xảy ra 32 vụ cháy làm chết 14 người, bị thương 118 người Năm 2019 còn 14 vụ tai nạn lao động, làm chết 7 người và bị thương nặng 7 người

- Nhận thức rõ những thiệt hại khôn lường do mất an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ, Bắc Ninh liên tục nhiều năm thực hiện Chương trình Quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động Quá trình này tác động mạnh vào cộng đồng doanh nghiệp nên hiện nay công tác an toàn vệ sinh lao động - phòng chống

Trang 28

cháy nổ được nhiều doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh xác định là một trong những nội dung không thể thiếu trong kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm; các ứng dụng công nghệ, cải tiến kỹ thuật được áp dụng từng bước giải phóng sức lao động con người

- Theo đánh giá của Ban quản lý Chương trình Quốc gia về an toàn lao động tỉnh, thì hiện tại nhiều doanh nghiệp thực hiện tốt việc áp dụng hệ thống quản lý an toàn lao động - phòng chống cháy nổ, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng xuất khẩu Trước, trong và sau Tuần

lễ Quốc gia về an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ lần thứ 17 năm 2015

với chủ đề “Mỗi doanh nghiệp, người lao động chủ động các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và cháy nổ để bảo vệ chính mình, doanh nghiệp và xã hội”, các đoàn kiểm tra chủ động kiểm tra công tác an toàn vệ sinh lao

động - phòng chống cháy nổ 20 doanh nghiệp tại các Khu Công nghiệp Yên Phong, Quế Võ, Tiên Sơn và một số cơ sở sản xuất làng nghề Qua đó giúp chủ doanh nghiệp và người lao động hiểu rõ hơn tầm quan trọng trong công tác bảo đảm an toàn lao động và phòng, chống cháy nổ, góp phần hạn chế những nguy cơ gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

- Đồng thời yêu cầu các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và người lao động cần tích cực triển khai, đôn đốc thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ Tăng cường công tác thanh kiểm tra, đẩy mạnh tư vấn, hỗ trợ, tuyên truyền pháp luật về an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ và các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Tiếp tục phong trào thi đua Xanh - Sạch - Đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động nhằm xây dựng văn hóa an toàn trong lao động vì sự phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp

- Bên cạnh việc tiếp tục triển khai Chương trình Quốc gia về an toàn vệ sinh lao động - phòng cháy chữa cháy, tổ chức huấn luyện an toàn lao động, các ban, ngành chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, coi đó là khâu quyết định trong việc đôn đốc, chỉnh đốn công tác an toàn lao động ở khối doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và ở

các làng nghề, cụm công nghiệp nhỏ lẻ trong tỉnh [23]

1.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai

Một số kết quả đạt được trong công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động trên địa bàn tỉnh Lào Cai:

Trang 29

Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 148-CT/TU ngày 26/12/2013

về thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đẩy mạnh công tác an toàn, vệ sinh lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai với 7 mục tiêu, 6 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện;

Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt các Nghị quyết về giao chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng năm trong đó có chỉ tiêu về ATVSLĐ; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 08/KH-UBND ngày 08/01/2016 thực hiện Chương trình hành động số 148-CT/TU của Tỉnh ủy; Quyết định số 2942/QĐ-UBND ngày 08/9/2016 phê duyệt Chương trình ATVSLĐ tỉnh giai đoạn 2016 - 2020

Một số kết quả cụ thể trong công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai:

- 100% doanh nghiệp nhà nước và nhiều doanh nghiệp dân doanh đã thành lập được Hội đồng An toàn, vệ sinh lao động, bố trí cán bộ làm công tác ATVSLĐ chuyên trách hoặc bán chuyên trách; xây dựng kế hoạch công tác ATVSLĐ hàng năm gắn với kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư cải thiện điều kiện lao động, sử dụng thiết bị, công nghệ mới, từng bước

cơ giới hóa và tự động hóa nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác ATVSLĐ Thực hiện kiểm định kỹ thuật an toàn các máy, thiết bị, vật tư, các chất

có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ; chấp hành chế độ tự kiểm tra ATVSLĐ, thực hiện thống kê, báo cáo định kỳ về ATVSLĐ, tai nạn lao động Các chế độ, quyền lợi của người lao động về ATVSLĐ ngày càng được quan tâm như: huấn luyện ATVSLĐ, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ; thực hiện thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, giảm thời giờ làm việc đối với lao động làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, Trong 5 năm (2014-2019) đã có 83.608 lượt người lao động được huấn luyện ATVSLĐ, trong đó

có 30.036 người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ được cấp thẻ

an toàn lao động; kinh phí thực hiện công tác ATVSLĐ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 455.707,92 triệu đồng

- Các sở, ngành, địa phương tăng cường kiểm tra, quản lý, sử dụng các máy,

thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ trong các cơ quan, đơn

vị trên địa bàn; yêu cầu các đơn vị thực hiện kiểm định kỹ thuật an toàn, chấp hành khai báo, đảm bảo an toàn trước khi đưa vào sử dụng theo quy định Trong 5 năm đã

có 9.263 lượt máy, thiết bị được kiểm định kỹ thuật an toàn, việc đăng ký, khai báo

sử dụng thực hiện tại Bộ phận một cửa đảm bảo thuận lợi cho cơ quan, doanh nghiệp

Trang 30

- Ngành Y tế đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và người lao động, trong đó có công tác quản lý sức khỏe nghề nghiệp và vệ sinh lao động Trong 5 năm (2014 - 2019) đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho trên 70.000 lượt người lao động; tổ chức đo kiểm tra môi trường lao động tại 171 doanh nghiệp với tổng số 21.745 mẫu, trong đó 2.336 mẫu không đạt tiêu chuẩn, chủ yếu là các yếu tố vi khí hậu, bụi, hơi khí độc và tiếng ồn

- Tình hình tai nạn lao động: Trong 5 năm (2014 - 2019) trên địa bàn tỉnh còn

để xảy ra 118 vụ TNLĐ làm 130 người bị TNLĐ, trong đó có 42 vụ TNLĐ chết người, làm 42 người chết; 69 người bị thương nặng Trong 118 vụ tai nạn lao động

có 41 vụ tai nạn giao thông (chiếm 34,75% về số vụ), làm 41 người bị tai nạn được tính là tai nạn lao động (chiếm 31,54% về số người); có 16 người bị chết do tai nạn giao thông (chiếm 38,09% về số người bị chết do tai nạn lao động); 06 người bị chết do đột quỵ (chiếm 14,28% về số người chết do tai nạn lao động) Khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động xảy ra 33 vụ tai nạn lao động, làm 35 người bị tai nạn, trong đó có 29 người chết Sự cố gây mất an toàn và tai nạn lao động đã gây thiệt hại 7349,5 triệu đồng, trong đó thiệt hại về tài sản 396,5 triệu đồng, thiệt hại chi phí đối với người lao động 6.953 triệu đồng

- Tình hình khám, phát hiện bệnh nghề nghiệp: Giai đoạn 2014 - 2019 toàn tỉnh có 4.630 người được khám bệnh nghề nghiệp, trong đó có 23 người được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp, chủ yếu là bệnh bụi phổi silic, tất cả số lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp đều đã được giám định và hưởng chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp theo quy định, nâng tổng số người bị bệnh nghề nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh đến nay là 26 lao động

- Hằng năm UBND tỉnh tã tổ chức tốt các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ-PCCN và Tháng hành động về ATVSLĐ trên phạm vi toàn tỉnh; cấp phát 48.663 sách, tài liệu, tranh áp phích, tờ rơi tuyên truyền về công tác ATVSLĐ đến người lao động và người sử dụng lao động; tổ chức hội thảo, toạ đàm, diễn tập công tác PCCN, sơ cấp cứu người bị tai nạn lao động; tổ chức thi an toàn vệ sinh viên giỏi, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá công tác ATVSLĐ năm trước và đề ra nhiệm vụ của những năm tiếp theo

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng phòng tránh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo đảm ATVSLĐ được tỉnh quan tâm chỉ đạo

- Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xây dựng giáo trình, tài liệu giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công tác ATVSLĐ, phòng tránh tai

Trang 31

nạn lao động, bệnh nghề nghiệp để đào tạo, bồi dưỡng cho học sinh, người lao động

và được lồng ghép trong chương trình đào tạo của nhà trường Trong 5 năm các cơ

sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đào tạo, bồi dưỡng kiến thức ATVSLĐ cho 5.695 học sinh và người lao động theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Trường Cao đẳng Lào Cai đã phối hợp với Sở Công thương tổ chức đào tạo kỹ thuật an toàn cho trên 200 học viên học nghề kinh doanh xăng dầu, khí hóa lỏng

- Ngành Giáo dục tỉnh Lào Cai đã tổ chức tập huấn, phổ biến, trang bị kiến thức về ATVSLĐ và các biện pháp bảo đảm ATVSLĐ trong các cơ sở giáo dục và tới toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh trong ngành, lồng ghép vào các chương trình giảng dạy, hoạt động ngoại khóa

- Công tác huấn luyện ATVSLĐ cán bộ quản lý, người lao động trong các doanh nghiệp được thực hiện nghiêm túc quy quy định của Luật ATVSLĐ Các sở, ngành chức năng đã chủ trì, phối hợp với các địa phương tổ chức trên 449 lớp tập huấn, huấn luyện về ATVSLĐ, PCCN, quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho trên 30.230 lượt người lao động, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ làm công tác ATVSLĐ và người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh;

- Công tác huấn luyện cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động và khu vực nông lâm nghiệp đã được các sở, ngành quan tâm, đưa vào nội dung triển khai các dự án thuộc Chương trình ATVSLĐ tỉnh giai đoạn 2011 - 2020,

từ năm 2014 đến 2019 đã có 1.033 người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động trên địa bàn tỉnh được tập huấn, huấn luyện, phổ biến kiến thức về ATVSLĐ, góp phần ngăn ngừa, hạn chế xảy ra TNLĐ trong quá trình tham gia lao động, sản xuất

- Tỉnh đã đầu tư nguồn kinh phí triển khai các dự án trong một số lĩnh vực, ngành nghề, công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại nguy hiểm bằng những máy, thiết bị, công nghệ cao nhằm cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, như:

Dự án xây dựng nhà máy xử lý giác thải thành phố Lào Cai; Dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng và thành phố Lào Cai

- Công tác nghiên cứu khoa học cải thiện điều kiện lao động và thẩm định tính khả thi các dự án đầu tư sản xuất, khai thác, chế biến khoáng sản, được giao cho

Sở Khoa học và Công nghệ và Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành có liên quan thực hiện nhằm ngăn ngừa sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường lao động và trong nhân dân

Trang 32

- Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mua sắm thiết bị, công nghệ mới (cơ giới hóa

và tự động hóa, ) phục vụ cho sản xuất và thi công để nâng cao năng suất lao động, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động

- Công tác quan trắc môi trường được các ngành và doanh nghiệp triển khai nhờ

đó loại trừ được các yếu tố có hại cho sức khỏe, ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp [22]

1.2.3 Bài học kinh nghiệm quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp đối với tỉnh Bắc Kạn

Qua nghiên cứu, tìm hiểu quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại một số địa phương, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp đối với tỉnh Bắc Kạn đó là:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp ủy

Đảng, chính quyền các cấp, MTTQ, các đoàn thể và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh để nâng cao, nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động, người lao động và toàn xã hội trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về ATVSLĐ

Hai là, các sở, ngành, địa phương cần thực hiện thường xuyên phối hợp thực

hiện công tác tuyên truyền, giáo dục, thanh tra, kiểm tra, giám sát đánh giá hiệu quả việc thực hiện pháp luật về ATVSLĐ tại các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Ba là, các doanh nghiệp cần quan tâm chú trọng đến việc xây dựng và phát

triển văn hóa an toàn trong doanh nghiệp; góp phần xây dựng môi trường, điều kiện làm việc an toàn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động

Bốn là, tăng cường công tác phối hợp với các ngành, các cấp trong quá trình

thực hiện quản lý an toàn, vệ sinh lao động

Năm là, chú trọng công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh

lao động Cần đưa nội dung an toàn, vệ sinh lao động vào giảng dạy tại các cơ sở đào tạo Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động

Sáu là, đầu tư nhân lực và kinh phí đối với công tác an toàn, vê sinh lao động,

đặc biệt là đối với các ngành, lĩnh vực có nguy cơ cao về an toàn, vệ sinh lao động

Trang 33

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn được thực hiện như thế nào?

- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn?

- Những giải pháp nào cần được thực hiện nhằm tăng cường quản lý an toàn,

vệ sinh lao động trong doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Thông tin lấy từ sách, báo, các công trình nghiên cứu liên quan đã công bố nhằm cung cấp những lý luận có liên quan tới an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp cũng như quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Thu thập từ Internet để có các thông tin về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp của một số địa phương tại Việt Nam, những kết quả, hạn chế trong quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp của những địa phương đó

Tài liệu của Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh Bắc Kạn gồm: Báo cáo tình hình thực hiện chính sách pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2017-2019; Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18 tháng 9 năm 2013 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Các tài liệu về chủ trương chính sách liên quan đến quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp được thu thập từ các cơ quan Nhà nước, của tỉnh Bắc Kạn

2.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

a) Điều tra, khảo sát

Trang 34

Để tìm hiểu, đánh giá thực trạng quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn

tỉnh Bắc Kạn, tác giả thực hiện thu thập các thông tin sơ cấp thông qua điều tra,

phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan đến quản lý ATVSLĐ

Mục đích của khảo sát nghiên cứu là thu thập thông tin để xây dựng hệ thống

chỉ tiêu, nghiên cứu thực trạng và đánh giá công tác quản lý ATVSLĐ trong các DN

trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, từ đó xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng và các giải

pháp tăng cường quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

* Đối tượng điều tra và phương thức điều tra

- Đối tượng điều tra của nghiên cứu này bao gồm: đại diện lãnh đạo UBND

tỉnh Bắc Kạn, CBCC Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn; Lãnh

đạo DN và NLĐ làm việc trong các DN trên địa bàn

- Phương thức điều tra: Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra tác giả

tiến hành lựa chọn hình thức chọn mẫu phi ngẫu nhiên để tiến hành điều tra Tức là

đối với đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Kạn và CBCC Sở Lao động - Thương

binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn tác giả tiến hành điều tra tổng thể Còn đối với lãnh

đạo và NLĐ tại các DN tác giả lựa chọn điều tra các DN thuộc diện có yêu cầu

nghiêm ngặt về ATVSLĐ, có số lượng nhiều gồm: khai thác khoáng sản; xây dựng

và xăng dầu Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu này giúp cho thông tin thu thập

được có ý nghĩa cao phục vụ phân tích, đánh giá

* Quy mô mẫu điều tra

- Đối với đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Kạn và CBCC Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn: 33 người

- Đối với lãnh đạo và NLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn:

Tính đến 31/12/2019, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 221 DN hoạt động các lĩnh

vực thuộc diện có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ và có số lượng lớn gồm khai

thác khoáng sản; xây dựng và xăng dầu

Để xác định số DN khảo sát trong nghiên cứu, tác giả sử dụng công thức Slovin:

)

* 1

e N

N n

Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu

N là tổng số DN thuộc diện có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ

gồm trên địa bàn, gồm 221 DN

e: khả năng sai số Mức sai số được chọn trong nghiên cứu này là 5%

Trang 35

Từ đó xác định được cỡ mẫu tối thiểu n = 143 (DN)

Trong mỗi DN tác giả lựa chọn điều tra 1 lãnh đạo DN và 1 NLĐ làm việc tại

DN Số lượng DN và NLĐ cụ thể từng DN như sau:

Bảng 2.1: Số lượng điều tra khảo sát lãnh đạo DN và NLĐ trong DN

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Như vậy, số lượng lãnh đạo DN và NLĐ được điều tra là: 286 người, trong đó

143 người là đại diện lãnh đạo DN và 143 người là NLĐ làm việc trong các DN Thời gian điều tra khảo sát được tiến hành vào tháng 10 năm 2019

* Triển khai thu thập số liệu

Trên cơ sở mẫu điều tra, tác giả đã triển khai công tác thu thập dữ liệu như sau:

Bước 1: Tiến hành phát phiếu điều tra cho các đối tượng phỏng vấn nói rõ các

yêu cầu điều tra và nội dung kèm theo cho việc trả lời các câu hỏi Ngoài ra, đề cương nghiên cứu giới thiệu về đề tài cũng được đính kèm theo bảng câu hỏi để phục vụ cho những người có nhu cầu hiểu rõ hơn về đề tài cũng như các khái niệm được sử dụng trong bảng câu hỏi

Nhằm đảm bảo đối tượng khảo sát là phù hợp đối với nghiên cứu này, trong phiếu điều tra phát ra và trên bảng câu hỏi nghiên cứu đều nhấn mạnh đến đặc điểm của đối tượng khảo sát để loại các đối tượng không phù hợp Nhằm đảm bảo tính bảo mật thông tin của người trả lời, bảng câu hỏi đã thể hiện cam kết chỉ sử dụng thông tin cho mục đích nghiên cứu của đề tài

Bước 2: Nhận phiếu đã điền thông tin và tổng hợp kết quả của người được

điều tra

Bước 3: Tiến hành điều tra lại một số đối tượng nếu các câu trả lời chưa đủ ý

hoặc chưa rõ nghĩa

* Các thước đo và thang đo được sử dụng:

Để đánh giá công tác quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, luận văn sử dụng thang đo Likert 5 điểm Cụ thể:

Trang 36

Các biến quan sát trong phiếu điều tra được trả lời theo thang đo 5 mức độ từ

1 đến 5 với quy ước:

1 - Rất không đồng ý; 2 - Không đồng ý; 3 - Phân vân; 4 - Đồng ý; 5 - Rất đồng ý

Kết quả điểm số trung bình của các đối tượng theo từng biến quan sát sẽ phản ánh mức độ đánh giá đối với công tác quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cụ thể như sau:

b) Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia sử dụng trong nghiên cứu này dùng để phỏng vấn, tham vấn ý kiến chuyên gia đối với công tác quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn gồm đại diện UBND tỉnh Bắc Kạn, CBCC Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tinh Bắc Kạn Việc phỏng vấn và tham vấn ý kiến tập trung

và các nội dung quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, thực trạng triển khai thực hiện, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của từng nội dung liên quan đến quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thời gian qua Ngoài ra, sử dụng phương pháp này để kiểm chứng, đối chiếu và tính khả thi của các giải pháp tăng cường quản lý ATVSLĐ trong các DN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn mà tác giả đề xuất trong luận văn

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin

Các dữ liệu sau khi thu thập được kiểm tra lại và điều chỉnh đảm bảo đạt được các yêu cầu: đầy đủ, chính xác và lôgíc

Sau khi điều chỉnh, các dữ liệu này được nhập vào máy tính và tổng hợp theo từng đối tượng và nội dung điều tra

Công cụ sử dụng cho xử lý và tổng hợp dữ liệu điều tra là: máy tính, phần mềm Excel

Phân tổ thống kê, bảng thống kê và biểu đồ, đồ thị là những công cụ để tổng hợp, biểu diễn các thông tin thu thập được

Trang 37

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả: là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu

Sau khi thu thập thông tin và số liệu, bao gồm cả số liệu thứ cấp và sơ cấp sẽ được tập hợp lại thành bảng biểu, sau đó dùng các công cụ như excel,…để làm rõ tính chất của các dạng số liệu, cụ thể hóa thước đo số liệu nhằm mô tả cho đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung chủ yếu xem xét các giá trị trung bình dựa vào tổng điểm số cho điểm của các ý kiến, sau khi có điểm trung bình tác giả sẽ xem xét mức độ quan trọng của các yếu tố cũng như điểm trung bình chung mức độ phản ứng với các yếu tố của đối tượng nghiên cứu

2.2.3.2 Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể

so sánh được các chỉ tiêu phân tích Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán

Trong luận văn sử dụng phương pháp này dùng để so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu qua các năm

So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội đã được lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự nhau

- Biểu hiện bằng số: Có thể tính theo giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm (%)

- Phương pháp so sánh gồm các dạng: so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế;

+ Tình hình dân số, lao động…

2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thực trạng quản lý ATVSLĐ trong các DN

2.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

- Số lượng văn bản của Trung Ương đã được triển khai

- Số lượng văn bản quản lý được ban hành và triển khai tới các doanh nghiệp hằng năm

Trang 38

- Tỷ lệ văn bản được triển khai tới các doanh nghiệp hằng năm/tổng số văn bản

đã được ban hành

- Tỷ lệ doanh nghiệp được triển khai thực hiện các văn bản quản lý vệ sinh, an toàn lao động

- Tỷ lệ văn bản được triển khai tới người lao động

2.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả tổ chức tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và về quản lý an toàn, vệ sinh lao động

- Số lượng phóng sự chuyên đề về ATVSLĐ được thực hiện và phát sóng

trên đài phát thanh, truyền hình của tỉnh

- Tổng kinh phí dành cho việc thực hiện phóng sự chuyên đề về ATVSLĐ và phát sóng trên đài phát thanh, truyền hình của tỉnh

- Số lượng tin, bài về công tác ATVSLĐ được phát hành trên báo địa phương

- Tổng kinh phí dành cho việc đưa tin, bài về công tác ATVSLĐ được phát hành trên báo địa phương

- Số lượng băng zôn tuyên truyền về ATVSLĐ trong Tháng Hành động về ATVSLĐ hằng năm

- Tổng kinh phí dành cho băng zôn tuyên truyền về ATVSLĐ trong Tháng Hành động về ATVSLĐ hằng năm

- Số lớp tuyên truyền về công tác ATVSLĐ do Sở LĐ, TB&XH tổ chức

- Số lao động tham gia lớp tuyên truyền về công tác ATVSLĐ do Sở LĐ, TB& XH tổ chức

- Tổng kinh phí dành cho việc tổ chức các lớp tuyên truyền về công tác

ATVSLĐ

2.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

(*) Các chỉ tiêu phản ánh kết quả công tác điều tra, thống kê tai nạn lao động

- Tổng số vụ tai nạn lao động hằng năm

- Số người tử vong do tại nạn lao động

Trang 39

(*) Các chỉ tiêu phản ánh kết quả công tác thống kê tình hình khám, giám định bệnh nghề nghiệp của lao động

- Tổng số doanh nghiệp thuê lao động

- Số doanh nghiệp thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho NLĐ

- Số lao động làm việc trong điều kiện có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp

- Số lao động được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp (nam; nữ)

- Số lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp

- Số lao động được giám định bệnh nghề nghiệp

- Số lao động được hưởng trợ cấp 1 lần do mắc bệnh nghề nghiệp

- Số lao động được hưởng trợ cấp thường xuyên do mắc bệnh nghề nghiệp

2.3.2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả đào tạo, tập huấn và phòng ngừa, ứng phó các sự cố gây mất an toàn lao động

(*) Các chỉ tiêu phản ánh căn cứ xây dựng kế hoạch tập huấn, đào tạo

- Số lượng lao động làm việc tại các cơ sở có nguy cơ bị các bệnh nghề nghiệp phổ biến được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp

- Tỷ lệ lao động làm việc tại các cơ sở có nguy cơ bị các bệnh nghề nghiệp phổ biến được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp/tổng số lao động làm việc tại các

(*) Các chỉ tiêu phản ánh kết quả tập huấn, đào tạo

- Số cán bộ làm công tác quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác an toàn,

vệ sinh lao động các cấp trên địa bàn tỉnh được tập huấn nâng cao năng lực về an toàn, vệ sinh lao động hằng năm

Trang 40

- Tỷ lệ cán bộ làm công tác quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động các cấp trên địa bàn tỉnh được tập huấn nâng cao năng lực về

an toàn, vệ sinh lao động hằng năm

- Số lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động

- Tỷ lệ lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động

(*) Các chỉ tiêu phản ánh kinh phí chi cho công tác tập huấn, đào tạo

- Số tiền được cấp từ Trung ương

- Số tiền được cấp từ nguồn kinh phí của tỉnh Bắc Kạn

- Số tiền được cấp từ các doanh nghiệp

2.3.2.5 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả thanh tra, kiểm tra về thực hiện an toàn, vệ sinh lao động

- Số lượng cuộc thanh tra về công tác an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện hằng năm (định kỳ và đột xuất)

- Số cuộc kiểm tra về công tác an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện hằng năm (định kỳ và đột xuất)

- Tỷ lệ doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra hằng năm/tổng số doanh nghiệp của tỉnh

2.3.2.6 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động

- Số doanh nghiệp bị xử lý vi phạm quy định về ATVSLĐ

- Tỷ lệ doanh nghiệp bị xử lý vi phạm quy định về ATVSLĐ/ tổng số doanh nghiệp của tỉnh

- Số vụ tai nạn lao động chết người hằng năm được điều tra, xử lý theo quy định pháp luật

- Tỷ lệ vụ tai nạn lao động chết người hằng năm được điều tra, xử lý theo quy định pháp luật/ tổng số vụ tai nạn lao động hằng năm tại địa bàn

- Số vụ vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động hằng năm được xử lý theo quy định của pháp luật

- Tỷ lệ vụ vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động hằng năm được xử

lý theo quy định của pháp luật/ tổng số vụ bị phát hiện

Ngày đăng: 28/09/2020, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w