1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử việt nam lớp 7 ở trường THCS thành phố bắc ninh

127 93 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh trong dạy học lịch sử, dưới sự chỉ đạo của PGD&ĐT T

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ HUYỀN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG

TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 7 Ở TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ HUYỀN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG

TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 7 Ở TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ BẮC NINH

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu do bản thân thực hiện cùng với sự dẫn dắt nhiệt tình của PGS.TS Hà Thị Thu Thủy, trong thời gian từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2020

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các nguồn thông tin được tổng hợp, khái quát đưa vào luận văn một cách hợp lý và đúng quy định

Các kết quả, số liệu và kết luận của đề tài được trình bày trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ tài liệu và công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận văn

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả

Trần Thị Huyền

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình Em xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, quý thầy cô giáo của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường, đồng thời

đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong việc hoàn thành luận văn

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo PGS.TS

Hà Thị Thu Thủy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, truyền tải những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và động viên, giúp đỡ em hoàn thành luận văn của mình

Đồng thời em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể GV, HS trường THCS Tiền An - thành phố Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh và các trường THCS trên địa bàn thành phố Bắc Ninh nơi em tiến hành điều tra thực tế đã tận tình giúp đỡ

em trong việc thực nghiệm sư phạm

Trong khoảng thời gian hạn hẹp, khi làm luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những góp ý, giúp đỡ của thầy giáo, cô giáo để em hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả

Trần Thị Huyền

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng, biểu đồ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 8

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

5 Giả thuyết khoa học 10

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và những đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc của đề tài 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THCS 12

1.1 Cơ sở lí luận 12

1.1.1 Một số khái niệm 12

1.1.2 Cơ sở xuất phát của vấn đề nghiên cứu 19

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh trong dạy học Lịch sử 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Thực trạng DHLS phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử ở các trường THCS thành phố Bắc Ninh 28

1.2.2 Một số nhận xét và định hướng giải pháp 35

Tiểu kết chương 1 37

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN VÀ

SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 7 Ở TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ BẮC NINH THỰC

NGHIỆM SƯ PHẠM 37

2.1 Vị trí, mục tiêu và nội dung Lịch sử Việt Nam lớp 7 THCS 37

2.1.1 Vị trí, mục tiêu 38

2.1.2 Nội dung phần lịch sử Việt Nam lớp 7 (thế kỉ X - đầu thế kỉ XVI) 40

2.2 Yêu cầu phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở trường THCS 43

2.2.1 Đảm bảo mục tiêu môn học và nhiệm vụ bộ môn 43

2.2.2 Đảm bảo tính vừa sức đối với HS 43

2.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn 44

2.2.4 Các phương pháp, kĩ thuật được lựa chọn phải có tính khả thi 44

2.3 Các biện pháp phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS thành phố Bắc Ninh 45

2.3.1 Nhóm biện pháp phát triển năng lực nhận diện tư liệu lịch sử 46

2.3.2 Nhóm biện pháp phát triển năng lực sử dụng tư liệu lịch sử 53

2.4 Thực nghiệm sư phạm 76

2.4.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 76

2.4.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 77

2.4.3 Kết quả thực nghiệm 79

Tiểu kết chương 2 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng:

Bảng 2.1: Kết quả chấm điểm bài kiểm tra 79Bảng 2.2: Kết quả khảo sát HS 80Bảng 2.3: Kết quả khảo sát GV 81

Biểu đồ:

Biểu đồ 1.1: Tổng hợp quan niệm của GV về phát triển năng lực nhận diện

và sử dụng tư liệu lịch sử 30 Biểu đồ 2.1: So sánh chất lượng lớp thực nghiệm và đối chứng 79

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14/11/2013 của Hội nghị Trung ương khóa

XI nêu rõ: “phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học” [2] Trong thực tế, việc dạy học theo định hướng phát triển năng

lực ở trường phổ thông, đặc biệt đối với các môn khoa học xã hội trong đó có môn Lịch sử đã có những chuyển biến mới mẻ Trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông mới đã được công bố, quá trình triển khai chỉ còn là vấn đề thời gian Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề quan trọng của các

GV, trong đó có GV môn Lịch sử

Bộ môn Lịch sử có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong việc "Phát triển toàn diện học sinh về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và óc sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân" [28, tr.18] Học Lịch sử giúp HS nhận thức đúng những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và thế giới, góp phần hình thành ở các em "thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động và thái

độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống…" [23, tr.9] Phát triển năng lực, đặc biệt

là năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử của HS trong DHLS phải được thực hiện ở mọi khâu, mọi hình thức hoạt động giáo dục bộ môn

Quá trình nhận thức của HS nói chung, nhận thức Lịch sử nói riêng đều đi

"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan" [30, tr.7] Trong từng giai đoạn cụ thể, tùy theo điểm xuất phát của

quá trình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể, từ đơn nhất đến khái quát và từ khái quát đến đơn nhất Cho nên nhiệm vụ của

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

GV là mở rộng trí tuệ, hình thành năng lực, kỹ năng cho HS chứ không phải làm

"đầy trí tuệ" của các em bằng cách truyền thụ các tri thức đã có Việc phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử đòi hỏi người GV phải biết dạy cho HS cách tiếp cận, nhận diện, sử dụng, biết khám phá tư liệu lịch sử…Từ đó giúp các em phát huy hết năng lực của bản thân để giải quyết vấn đề mà mình gặp phải trong học tập

và trong cuộc sống

Thực trạng việc phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu Lịch sử cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường THCS hiện nay còn nhiều hạn chế Bởi trên thực tế trong dạy học nhiều GV chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của phát triển năng lực trong dạy học Lịch sử và còn coi nhẹ việc hình thành NL nhận diện, tái hiện các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử và sử dụng tư liệu lịch sử Một số GV vẫn áp dụng lối dạy "thầy nói trò nghe"; áp đặt một chiều; không định hướng cho HS khả năng tìm tòi, nghiên cứu Vị trí, vai trò của bộ môn Lịch sử lại đang bị một bộ phận không nhỏ phụ huynh và HS thờ

ơ xem nhẹ, chỉ học để lấy điểm, học để đối phó Thực trạng này làm hạn chế việc hoàn thành mục tiêu đổi mới PPDH nói chung và hiệu quả DHLS ở trường THCS nói riêng Vậy làm thế nào để phát huy NL nhận diện, tái hiện các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, lịch sử của học sinh trong dạy-học lịch sử và quá trình hoạt động chung, thống nhất giữa thầy và trò nhịp nhàng giúp học sinh nắm vững hơn những tri thức lịch sử, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách cho các em, đây là vấn đề được nhiều GV dạy môn Lịch sử quan tâm và trăn trở Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh trong dạy học lịch sử, dưới sự chỉ đạo của PGD&ĐT Thành phố Bắc Ninh, Chuyên môn cụm 04 trường: THCS Suối Hoa, THCS Ninh Xá, THCS Tiền An, THCS Khúc Xuyên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu chuyên đề này với tinh thần học hỏi

và chia sẻ với các đồng chí, đồng nghiệp

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lịch sử Việt Nam lớp 7 là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ trong lịch sử của Việt Nam thời phong kiến trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn học - nghệ thuật… Đây cũng là thời kì dân tộc ta tiếp tục khẳng định quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước khi phải đương đầu với nhiều thế lực ngoại xâm Phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS sẽ giúp các em nhận thức sâu sắc hơn giá trị của nền văn minh Đại Việt trong các thế kỉ X - đầu thế kỉ XVI, nâng cao lòng tự hào, tự

tôn dân tộc

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề: “Phát triển năng lực nhận

diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS thành phố Bắc Ninh" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề năng lực và phát triển năng lực trong dạy học nói chung, học Lịch

sử nói riêng theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch

sử cho HS đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Trong thời gian học tập và nghiên cứu luận văn tôi đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu sau:

Trước hết, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, xuất bản

năm 1973, Nhà giáo dục Xô Viết N.G.Đairi đã viết: “Phải sử dụng không ngừng

và có hệ thống tất cả mọi nguồn tư liệu muôn hình, muôn vẻ: tác phẩm kinh điển, văn kiện của Đảng và Nhà nước, sách chuyên khảo, SGK, sách báo tạp chí, tác phẩm hội họa, những cuộc tham quan” [36, tr.10] A.A.Vagin trong cuốn “PPDH lịch sử ở trường trung học” (1978), NXB giáo dục Matxcơva (tài liệu dịch), …đã khẳng định nguồn tài liệu LS chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình DHLS

ở trường phổ thông Ông cũng cho rằng, việc lĩnh hội tài liệu là điều cần thiết làm cho HS có quan điểm đúng đắn về LS [1, tr.23] Đồng thời ông cũng nêu lên các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử của HS như PP sử dụng hiệu quả SGK, PP kể chuyện lịch sử, sử dụng đồ dùng trực quan… Ngay sau đó,

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tác giả I.F Khalamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào?”

(1979) đã viết: “vấn đề sử dụng SGK và tài liệu học tập… có lịch sử của nó mà theo chúng tôi có những điều bổ ích đáng học hỏi…” Bởi vì “trong quá trình làm việc với SGK và tài liệu học tập, HS nắm vững và củng cố được kiến thức, đồng thời các em tiếp thu được kĩ năng, kĩ xảo” [24, tr.37] Ông cũng khẳng định:

“Tài liệu học tập tự nó đã chứa đựng nhiều yếu tố kích thích, động viên tính ham hiểu biết và tính tích cực tư duy HS Đó là tính chất mới lạ của tri thức khoa học, tính sáng tỏ của các sự kiện, tính độc đáo của các kết luận, PP đặc sắc để phát hiện ra các khái niệm đã được hình thành, sự xâm nhập sâu xa vào bản chất của hiện tượng” [24, tr.88] Việc xử lí mối quan hệ giữa sử dụng tư liệu và bài giảng

mà ông nêu ra đến nay vẫn có giá trị thực tiễn, được nhiều GV bộ môn trong nước thừa nhận và sử dụng; Qua đó, các tác giả đều nhấn mạnh việc dạy học LS phải phát huy tính tích cực, độc lập học tập của HS, phát triển năng lực tìm tòi, khám phá thông qua việc nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử của học trò

Ở Việt Nam, vấn đề dạy học phát triển năng lực không phải là những phát hiện mới mẻ mà vốn đã có từ lâu Những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, đổi mới PPDH đã trở thành hoạt động chuyên môn sôi nổi ở trường phổ thông Bắt kịp hoạt động này, nhiều nhà nghiên cứu, rất nhiều sách viết về đổi mới PPDH nhằm phát huy năng lực sáng tạo, năng lực nhận diện, tìm tòi, sử dụng và khám phá Lịch sử của HS biểu hiện qua việc nhận diện và sử dụng tư liệu lịch

sử, nâng cao nghệ thuật sư phạm trong quá trình giảng dạy của người GV để đạt hiệu quả cao nhất

Trong cuốn “Tài liệu Hội nghị đổi mới PPDH môn lịch sử ở trường THPT

và THCS” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1996; Các tác giả Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng (chủ biên) cuốn “Phát huy tính tích cực của HS trong DHLS ở trường trung học cơ sở ”, NXB Giáo dục, 1998 đã đưa ra cơ sở lí luận và

thực tiễn của việc phát huy tính tích cực của HS trong DHLS trường trung học cơ

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sở, đồng thời đề cập tới những biện pháp, con đường, hình thức phát huy tính tích cực của HS trong học tập lịch sử.[31]

Tác giả Kiều Thế Hưng trong cuốn “Hệ thống thao tác trong DHLS ở trường phổ thông”, NXB ĐHQGHN, 1999 đã viết: Dạy học là một nghề đặc biệt, một trong những điểm đặc biệt đó là “Đối tượng của nghề dạy học là những con người có ý thức, có khả năng sáng tạo và không ngừng biến đổi” [22] Bởi vậy,

trong cuốn sách tác giả đã đi sâu trình bày các loại hình thao tác sư phạm trong DHLS nhằm làm cho PPDH được cụ thể, sinh động và có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn hiện nay

Cuốn “Một số chuyên đề DHLS”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2002, của tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trong bài viết “Một số suy nghĩ về năng lực nhân diện và sử dụng tư liệu, hướng phát huy năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu của con người Việt Nam hiện nay”, trên tạp chí khoa học ĐHSPTPHCM, số

49 năm 2003, tác giả Trần Việt Dũng khẳng định “Hình thành nền kinh tế tri thức thì cần phải phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo; trong đó, yếu tố then chốt để phát triển các lĩnh vực nêu trên là nâng cao năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu của con người” Bài viết tập trung phân tích tính sáng

tạo, năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu của con người, từ đó đề ra phương hướng phát huy năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu của người Việt Nam hiện nay [15]

Cuốn “Nhập môn Sử học”, NXB Đại học Sư phạm năm 2004, do Phan Ngọc

Liên chủ biên đã trang bị những quan điểm, PP học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên ngành sư phạm Lịch sử Các tác giả khẳng định trong nghiên cứu lịch sử cần chống việc rập khuôn, giáo điều mà phải có tinh thần sáng tạo “Tính sáng tạo đòi hỏi phải có tư duy độc lập, tự chủ để tiếp cận với sự thực LS, rút ra bài học, kinh nghiệm…” [28, tr.117]

Hội thảo tập huấn triển khai chương trình giáo trình cao đẳng sư phạm: “Đổi mới nội dung và PPDH lịch sử” thuộc dự án đào tạo GV THCS, 3/2006…Các

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

công trình trên cung cấp những cơ sở PP luận vững chắc để vận dụng vào việc dạy học bộ môn nhằm đổi mới nâng cao hiệu quả bài học [8]

Trong cuốn sách “PPDH - Truyền thống và đổi mới” của tác giả Thái Duy

Tuyên, NXB Giáo dục, 2008, tác giả đã trình bày các vấn đề như cơ sở xã hội của PPDH hiện đại như sự phân loại, hệ thống PPDH hiện đại, các biện pháp sử dụng chúng, hình thành khái niệm khoa học, bồi dưỡng năng lực tự học cho HS,

tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS Tác giả khẳng định “PPDH là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung như nhau nhưng bài học có để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn các em hay không, có làm cho các em yêu thích những vấn đề đã học và biết vận dụng chúng một cách năng động, sáng tạo để giải quyết các vấn đề bức xúc của cuộc sống hay không là tùy thuộc ở PP của người thầy” [49, tr.5]

Tác giả Nguyễn Thị Côi trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học LS ở trường phổ thông”, NXB Đại học Sư phạm năm 2008, đề

cập đến bản chất quá trình dạy học, đưa ra các biện pháp nhằm phát triển hoạt động nhận thức độc lập, nhất là tư duy độc lập, năng lực sáng tạo của HS [11] Đồng thời tác giả cũng đã nhấn mạnh tới vai trò của việc nhận thức tích cực, độc lập, sáng tạo và đề xuất các con đường, biện pháp phát triển tính tích cực, độc lập của HS trong giờ học nội khóa cũng như hoạt động ngoại khóa [11]

Cuốn “Phương pháp dạy học Lịch sử”, tập II (NXB Đại học Sư phạm Hà

Nội, 2002) tái bản có sửa chửa và bổ sung 2009, 2010, do Phan Ngọc Liên (chủ

biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, các tác giả đã khẳng định “trong học tập LS phải phát huy tính tích cực, độc lập, thông minh của HS” và “phát triển các hoạt động nhận thức tích cực, độc lập, nhất là tư duy độc lập sáng tạo của

HS …có ý nghĩa đặc biệt đối với hiệu quả bài học” [30, tr.107] Tác giả cũng

nêu lên nhiều PPDH khác nhau để phát triển hoạt động nhận thức độc lập của HS như vận dụng trao đổi đàm thoại, dạy học nêu vấn đề, PP nghiên cứu học tập…

Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Lịch sử”, dự án Việt Bỉ, năm

2010 là tài liệu tập huấn, tổ chức triển khai một số PP, KTDH tích cực ở phạm

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

vi hẹp một số trường Tiểu học, Trung học cơ sở thuộc phạm vi dự án và có xây dựng băng hình mẫu Lí luận và các bước tiến hành của một số PP và KTDH như dạy học dự án, dạy học hợp đồng, dạy học hợp tác, kĩ thuật động não, kĩ thuật khăn trải bàn, sơ đồ tư duy…, được trình bày cụ thể, logic trong tài liệu này Trong đó các hoạt động được tổ chức, định hướng bởi giáo viên và học sinh sẽ

tự tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn

đề trong học tập cũng như trong thực tiễn.[17]

Trong bài viết “Định hướng nhiệm vụ nhận thức trong DHLS ở trường THPT nhằm kích thích hứng thú học tập cho HS”, 8/2012, tác giả Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Văn Phúc khẳng định: “Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập” [48] Các tham luận của các Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh như An

Giang, Bình Định, Bình Phước, Hà Nội đều phân tích thực trạng DHLS ở các trường phổ thông hiện nay Trong đó vẫn còn thực trạng trong DHLS, các GV vẫn “chưa coi trọng việc phân tích, tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện, phát huy khả năng khái quát, sáng tạo và hệ thống hóa kiến thức của HS” [58] Trên cơ sở khẳng định sự cần thiết phải đổi mới PPDH, đáp ứng mục tiêu đào tạo trong thời đại mới, hội thảo đã mạnh dạn đề xuất các biện pháp phát triển năng lực, tính tích cực, độc lập sáng tạo cho HS trong dạy học LS ở trường phổ thông

Tài liệu tập huấn “Xây dựng các chuyên đề dạy học lớp 10 chương trình GDTX cấp THPT môn lịch sử” của tác giả Nguyễn Xuân Trường và Nguyễn Thị

Bích, năm 2016, đã chỉ ra những hạn chế trong việc sử dụng các PPDH tích cực

hiện nay ‘‘chưa thực sự tổ chức được hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo và bồi dưỡng PP tự học” Các tác giả cũng đưa ra ‘‘Nhằm khắc phục những hạn

chế nói trên, các nhà trường cần chỉ đạo GV phải chủ động, sáng tạo xây dựng nội dung dạy học phù hợp với các PP và KTDH tích cực Đặc biệt, các tác giả

cũng nhấn mạnh: Dạy học theo chuyên đề gắn liền với việc kiểm tra đánh giá

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quá trình Đánh giá ngang bằng với việc nhận xét Đánh giá khả năng sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của HS “GV có thể đánh giá được mức độ đáp ứng của HS đối với các hoạt động sáng tạo này thông qua quan sát, nhận xét sự trải nghiệm hoạt động nhận thức sáng tạo và khả năng phát triển năng lực nhận diện, sử dụng tư liệu, phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua học tập theo tiến trình dạy học” [51, tr.33]

Sách chuyên khảo về DHLS, các tác giả cũng đề cập đến vấn đề sử dụng các PP dạy học để tạo hứng thú trong học tập và nâng cao tính tích cực, chủ động

của HS Cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử THCS” NXB Đại Sư

phạm Hà Nội, 2020, do Nghiêm Đình Vỳ chủ biên đã đề cập tới các PPDH để nâng cao chất lượng DHLS ở trường phổ thông, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các PPDH phát huy năng lực tư duy HS Cuốn sách trình bày vấn đề tổ chức giờ học Lịch sử như thế nào để HS phải là đối tượng trung tâm của quá trình dạy học Tác giả cho rằng muốn HS hoạt động độc lập, tích cực, GV phải vận dụng hệ thống các PPDH thích hợp, tổ chức điều khiển lớp học hợp lí, giúp các em tự lĩnh hội kiến thức cơ bản của bài học [56]

Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trên đây, đã cung cấp một cách nhìn khá toàn diện về những lí luận dạy học lịch sử, những quan niệm, quy trình, cách vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong dạy học lịch

sử Đây chính là nguồn tài liệu quý báu định hướng cho việc nghiên cứu phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DH LS Việt Nam ở trường THCS trên địa bàn học viên đang công tác

3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng dạy học phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; đề xuất biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử góp phần nâng cao

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chất lượng giáo dục cho học sinh THCS thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Các vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS bậc THCS

- Xây dựng một số biện pháp sư phạm phát triển năng lực nhận diện và

sử dụng tư liệu Lịch sử cho HS trong DHLS Việt Nam lớp 7 ở trường THCS thành phố Bắc Ninh

- Thực nghiệm các biện pháp dạy học phát triển năng lực nhận diện và sử dụng

tư liệu lịch sử cho HS lớp 7 ở một số trường THCS thành phố Bắc Ninh trong năm học 2018-2019

3.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tập trung vào bài học nội khóa

- Phạm vị điều tra: Do điều kiện, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát ở bốn trường THCS trên địa bàn thành phố Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi thực nghiệm: Đề tài thực nghiệm một bài học học nội khóa ở trường THCS Tiền An, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi vận dụng: phần Lịch sử Việt Nam lớp 7 từ giữa thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về giáo dục đào tạo nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, đặc biệt là lí luận về tâm lý học, giáo dục học và phương pháp dạy học Lịch sử của các nhà khoa học và giáo dục học Lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và khái quát những tài

liệu của các tác giả kinh điển, các tài liệu Giáo dục học, Tâm lí học, PPDH Lịch

sử về dạy học phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy

học lịch sử Việt Nam lớp 7 cho HS có liên quan tới đề tài

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nghiên cứu chương trình, SGK lịch sử

lớp 7, phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X - XVI trường THCS Điều tra, khảo sát thực tiễn việc sử dụng các biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS ở một số trường THCS trên địa bàn thành phố Bắc Ninh thông qua phiếu điều tra, dự giờ thăm lớp để rút ra kết luận chính xác về thực trạng việc dạy học phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu

lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam cho HS trong DHLS ở các trường THCS

thành phố Bắc Ninh làm cơ sở cho việc vận dụng các PP sư phạm phù hợp

Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng kế hoạch dạy học và tiến

hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các PP, kĩ thuật

mà luận văn đã đề xuất Sử dụng PP thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm

5 Giả thuyết khoa học

Vận dụng một số PPDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử

dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THCS theo đề xuất

của luận văn sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở trường THCS

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và những đóng góp của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Luận văn góp phần làm phong phú thêm hệ thống lí luận và PPDH bộ môn Lịch sử về vấn đề phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS

- Phản ánh thực tiễn của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói chung, và phát triển năng lực nhận diện, sử dụng tư liệu lịch sử ở trường THCS nói riêng

- Đề xuất một số biện pháp để phát triển năng lực nhận diện, sử dụng tư liệu lịch sử cho HS góp phần nâng cao hiệu quả bài học Lịch sử lớp 7 ở trường THCS

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV môn LS ở trường THCS vận dụng vào thực tiễn dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Đồng thời, còn là tài liệu tham khảo cho GV các trường THCS vận dụng vào thực tiễn trong quá trình DHLS sau này

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam bậc THCS

Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu Lịch

sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS thành phố Bắc Ninh Thực nghiệm sư phạm

Chương 1

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN

VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC

LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THCS 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm

Năng lực: Thuật ngữ "năng lực" (competence) có nguồn gốc tiếng La tinh

là “competentia” có nghĩa là gặp gỡ Trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong

những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt Hơn nữa, năng lực lại rất gần gũi với

các từ khác như tiềm năng, kĩ năng, khả năng…Chính vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực (NL) "Năng lực là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như các kinh nghiệm của học sinh; những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực từ bên ngoài, chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác" (The Qúebec puesgram - MOE Ca-na-đa, 2004) Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu một cách ngắn ngọn: “Năng lực là khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” (CTGD của New Zealand) Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục cũng đã định nghĩa khái niệm

năng lực như sau: Trong Hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của OECD, F.E Weinert cho rằng: "Năng lực được thực hiện như một hệ thống khẳ năng, sự thành thạo hay những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể" [dẫn theo 4]; còn J Coolahan thì viết: Năng lực được xem như là: "Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [dẫn theo 4]

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con

người khẳ năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao, hay "khả

năng làm việc tốt" Từ điển Tâm lí học định nghĩa: "Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định"

[16, tr.149]

Chúng ta có thể thấy việc phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhưng các cách

hiểu trên đều khẳng định rằng: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực

hiện, là phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu Tuy nhiên, hành động (làm)

hay thực hiện phải gắn với ý thức và thái độ, phải có kiến thức và kỹ năng chứ không phải làm một cách máy móc, mù quáng…Đúng như chương trình giáo dục phổ thông của Inđonesia đã xác định: "Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kỹ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng và các giá trị cơ bản" (CT giáo dục của Indonesia)

Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: "Năng lực là khả năng giải

quyết (thực hiện) một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra của cuộc sống trên cơ sở hiểu biết về lí thuyết (nhận thức) của đối tượng Năng lực là nói đến khả năng đạt được một kết quả nhất định của một công việc cụ thể do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực quan sát…) Năng lực không tồn tại chung chung trìu tượng Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của nhân cách, là điểm hội tụ của các yếu

tố như tri thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm, sẵn sàng hành động, trách nhiệm đạo đức Năng lực không chỉ dừng ở hiểu biết của con người mà quan trọng là

sự ứng dụng nó bằng những hoạt động cụ thể trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng phù hợp Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà bẩm

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sinh con người chỉ có những tư chất của năng lực Những tư chất này sẽ dần dần hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động Hoạt động là cơ sở, là điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển năng lực Nếu không tổ chức hoạt động và con người không hoạt động thì năng lực không thể bộc lộ và phát triển"

Năng lực nhận diện lịch sử: Nhận diện lịch sử có vai trò rất quan trọng trong

hoạt động lĩnh hội tri thức Lịch sử của con người Nhận diện là cơ sở, nền tảng cho mọi sự hiểu biết của con người Có nhận diện đúng đắn mới có thể tiến hành tốt các hoạt động, cải thiện được bản thân, phục vụ nhu cầu của mình trong việc lĩnh hội tri thức Nhận diện lịch sử được hình thành trong quá trình nghiên cứu lịch sử Đây là một nhu cầu mang tính đặc thù, tuyệt đối chỉ có ở con người Năng lực nhận diện là khả năng nhận biết đúng sự vật, sự việc với một lượng thông tin tối thiểu về các sự vật, sự việc đó Năng lực nhận diện được đánh giá bằng tỷ lệ giữa lượng thông tin mà sự vật, sự việc cung cấp cho hệ thần kinh với toàn bộ thông tin về sự vật, sự việc đó Tỷ lệ này càng thấp thì năng lực nhận diện càng cao Trong một đơn vị thời gian nào đó, hệ thần kinh chỉ có thể tiếp nhận một lượng thông tin giới hạn, vì vậy những sự vật, sự việc càng phức tạp thì càng khó nhận diện Để đánh giá năng lực nhận diện có thể áp dụng việc cung cấp thông tin về một sự vật hay một sự việc nào đó trong một đơn vị thời gian

Từ đó ta có thể khẳng định rằng "nhận diện lịch sử" là phân biệt được các

loại hình tư liệu lịch sử (văn bản, hiện vật lịch sử, tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ, sử liệu dân gian, truyền miệng…) Nhận diện lịch sử của học sinh được xây dựng dựa trên các sự kiện lịch sử có thật được thu thập từ các tư liệu lịch sử, các tài liệu tham khảo xác thực Đó chính là tính khoa học của nhận diện lịch sử mà Kato gọi là tính "thực chứng", "logic"

Năng lực sử dụng tư liệu lịch sử

Trong nghiên cứu và học tập Lịch sử, năng lực sử dụng tư liệu đóng vai trò quan trọng làm nên các công trình nghiên cứu Lịch sử và sự tồn tại của Khoa học

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lịch sử Việc xác định khái niệm tư liệu lịch sử có rất nhiều quan điểm khác nhau:

Nhà sử học người Nga Chi-khơ-mi-rốp cho rằng tư liệu lịch sử là tất cả những gì còn sót lại của cuộc sống đã qua Trong phương diện Triết học thì tư liệu lịch sử là khái niệm phản ánh đặc tính của hiện vật có thể được để thu nhận tri thức của hiện vật khác Theo phương diện xã hội, tư liệu là một phương diện

để bảo tồn, lưu giữ, truyền bá Rê-ban cho rằng tư liệu lịch sử là tổng hợp thành quả từ hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng phương diện xã hội Trong bách khoa toàn thư, tư liệu lịch sử là những gì phản ánh trực tiếp quá khứ

Xuất phát từ các quan điểm trên về tư liệu lịch sử thông qua thực tế giảng dạy và trong phạm vi của đề tài, chúng tôi thiết nghĩ giải thích một cách dễ hiểu

nhất, "năng lực sử dụng tư liệu lịch sử" là "tế bào" cấu tạo nên sự tồn tại của

Khoa học Lịch sử và các công trình nghiên cứu Lịch sử Bởi lẽ tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện, tài liệu mà mỗi giáo viên cần phải nhận thức, sưu tầm để tìm hiểu quá trình lịch sử đang học một cách chính xác, khách quan và toàn diện hiện thực lịch sử đã xảy ra trong quá khứ Tư liệu lịch sử càng sinh động, phong phú bao nhiêu thì sự kiện càng cụ thể và càng hay bấy nhiêu Thiết nghĩ, trong giảng dạy lịch sử, điều kiện cơ bản nhất để tái tạo hình ảnh quá khứ là tư liệu lịch

sử Nếu không có nguồn tư liệu phong phú, không cung cấp được nguồn tư liệu

cụ thể chân thực thì dù có vận dụng phương pháp giảng dạy nào đi chăng nữa cũng không thể đạt được hiệu quả như mong muốn

Phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học Lịch sử

Cùng với sự phát triển của xã hội, con người ngày càng có nhu cầu nhận diện đúng chân lí khách quan Nhu cầu này thể hiện ở chỗ tư duy con người luôn

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

luôn vươn tới nắm bản chất của các sự vật, hiện tượng xã hội Chính trong quá trình đó, con người tự hoàn thiện mình và làm cho hành động của mình ngày càng trở nên hợp lý, đúng đắn, có hiệu quả Nhận diện và hành động bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để cho con người ngày càng phát triển

Bộ môn Lịch sử có thể chứng minh rằng bằng những sự kiện cụ thể về việc con người có khẳ năng nhận thức tự nhiên, xã hội, bản thân mình và năng lực sử dụng những tri thức thu nhận được vào đấu tranh xã hội tự nhiên Bản thân quá trình phát triển xã hội loài người là quá trình phát triển biện chứng của hiện thực khách quan và sự nhận diện Lịch sử cũng là quá trình hoạt động biện chứng tuân theo những quy luật khách quan Nhận diện Lịch sử là yêu cầu của bản thân trong quá trình lĩnh hội tri thức Ban đầu, ý thức của lịch sử con người mới chỉ là những quan niệm về nguồn gốc, tổ tiên, quê hương…được phản ánh trong các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích…Qua thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận diện của con người về Lịch sử ngày càng chính xác và sâu sắc Khi đã nhận diện một cách đúng đắn, khách quan về sự phát triển của xã hội loài người là quá trình thống nhất, hợp quy luật sẽ góp phần làm cho xã hội phát triển, phục vụ con người Như vậy, có thể nói từ những quan điểm đơn giản, ngây thơ, đầy màu sắc huyền thoại đến nhận diện khoa học về Lịch sử, con người đã tiến một bước dài trong việc tìm hiểu bản thân và xã hội loài người

Để nhận diện Lịch sử một cách chân thực, khách quan, con người phải trải qua quá trình tư duy va hành động, vì Lịch sử bao hàm trong nó những con người

cụ thể trong những thời kỳ khác nhau, với những lối sống, cách suy nghĩ và kết quả khác nhau Vì vậy, nếu không có khẳ năng tư duy thì không thể nhận diện đúng hiện thực khách quan vô cùng phức tạp, phong phú và không thể hành động đúng cho việc sử dụng tư liệu liệu Lịch sử hợp với tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhận diện Lịch sử đúng là một yếu tố quan trọng để sử dụng tư liệu lịch sử

có hiệu quả Các nhà Sử học cổ đại khẳng định "Lịch sử là cô giáo của cuộc sống", "Lịch sử là bó đuốc soi đường đi đến tương lai" Thời trung đại, người ta

đã xem Lịch sử là "triết học của nêu gương" và trong cuộc đấu tranh cách mạng, các lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới cũng như trong nước coi trọng việc nghiên cứu quá khứ, Lịch sử là một trong những vũ khí đấu tranh sắc bén, có hiệu quả Như vậy, trong học tập Lịch sử ở trường phổ thông, học sinh không chỉ biết

mà phải hiểu Lịch sử để rút ra bài học kinh nghiệm cho hoạt động thực tiễn Cũng như việc học tập các môn học khác ở trường phổ thông, học tập Lịch sử là một quá trình nhận thức, quá trình thu nhận thông tin và sử dụng thông tin, mỗi học sinh phải tự thực hiện cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung của thầy cô giáo và việc tìm hiểu các loại tài liệu và những phương tiện học tập khác Trong hai nhân tố của quá trình học tập (việc dạy của giáo viên cùng với tác động của các tài liệu, phương tiện học tập và hoạt động nhận thức của học sinh) thì nhân tố bên trong (học) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với kết quả của hoạt động dạy học Chính vì vậy, khi học Lịch sử học sinh không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ sự kiện mà điều quan trọng là trên cơ

sở nắm vững kiến thức cơ bản của chương trình, sách giáo khoa, hiểu được bản chất của sự kiện, quá trình lịch sử, rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại Do đó, trong học tập Lịch sử cũng như học tập các môn học khác cần phải rèn luyện kĩ năng, phát triển các năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử của các em để đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục Lịch sử

Việc giáo dục học sinh nhận diện từ hiện vật lịch sử, các bằng chứng khoa học về quá khứ để nhận biết chính xác và hiểu sâu sắc hơn những sự kiện đã xảy

ra và biết vận dụng vào cuộc sống Điều này góp phần khắc phục các thiếu xót thường gặp trong dạy học Lịch sử: bệnh "hiện đại hóa" Lịch sử, bệnh công thức, giáo điều, suy diễn chủ quan, nhớ mà không hiểu Lịch sử Quy luật của Nhận

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

diện Lịch sử được thể hiện một cách cụ thể trong dạy học Lịch sử theo đặc trưng của khoa học Lịch sử và nhận diện Lịch sử với những kĩ năng cần thiết phù hợp với những nội dung, chức năng, đặc trưng của bộ môn

Trước tiên, học sinh phải nhận diện những sự kiện, quá trình cụ thể của Lịch

sử (thế giới, dân tộc và địa phương) Sự tiếp xúc của học sinh với quá khứ mang

tính chất gián tiếp (thông qua giáo viên, tài liệu…) tạo nên những biểu tượng Lịch sử Đó là giai đoạn nhận diện cảm tính trong học tập Lịch sử Ở giai đoạn

tiếp theo, bằng sức mạnh của tư duy trừu tượng, khái quát nhờ hoạt động "xử lí"

những tri thức cụ thể Đây là giai đoạn nhận diện lí tính của học tập Lịch sử Ở đây học sinh hình thành các khái niệm, nắm hệ thống khái niệm Trong giai đoạn

tiếp theo nữa, học sinh học cách vận dụng tri thức đã học (kể cả những tri thức trừu tượng khái quát) để tạo ra trong tư duy những mối liên hệ mới giữa những tri thức cũ và những điều mới, chưa biết và sau đó là sử dụng kiến thức về quá khứ để hiểu ngày nay, để hành động trong thực tiễn, phù hợp với yêu cầu, trình

độ, nhiệm vụ của mình

Như vậy, quá trình học tập Lịch sử được thực hiện theo quy luật chung của việc nhận diện và sử dụng tư liệu Lịch sử phù hợp với đặc điểm của việc nhận diện Lịch sử: Không trực tiếp quan sát được hiện thực quá khứ, không thể tiến hành thí nghiệm Lịch sử như đối với các bộ môn tự nhiên, công nghệ Tuy nhiên không vì thế mà cho rằng học tập Lịch sử không cần tư duy, mà chỉ cần ghi nhớ học thuộc Quan niệm sai lầm này là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy học Lịch sử ở trường phổ thông bị giảm sút

Việc phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh trong quá trình học tập Lịch sử không chỉ làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn

mà còn luyện tập cho các em trở thành những người có tư duy độc lập, chủ động, tích cực trong suy nghĩ, hành động và lĩnh hội tri thức

Việc phát triển năng lực nhận diện trong học tập Lịch sử bao gồm nhiều

mặt Ở đây, chúng ta sẽ tập trung vào việc phát triển tư duy, tức là làm sao cho

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

học sinh học tập thông minh, tránh việc nhồi sọ, giáo điều để hiểu đúng bản chất

sự kiện, quá trình Lịch sử Sử dụng tư liệu trong học tập Lịch sử cần hiểu theo nghĩa rộng bao gồm việc phân biệt được các loại hình tư liệu lịch sử (văn bản chữ viết, hiện vật lịch sử, tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ) …Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu hai vấn đề trên về mặt quan niệm, nội dung, ý nghĩa và con đường hình thành khả năng tư duy và nhận diện Lịch sử Việc phát triển năng lực nhận diện

và sử dụng tư liệu lịch sử của học sinh phải được thực hiện trên cơ sở phát huy tích tích cực của chủ thể nhận diện - học sinh - kết hợp với việc giảng dạy học tập của giáo viên Sự nhận diện này "không phải là phép phản xạ gương, phản

xạ giản đơn, nghĩa là phản xạ tất cả các hiện tượng như các gương chiếu lại những gì đứng trước nó Đây là phản xạ tích cực chọn lọc Qua quá trình phản ánh, chủ thể phải tiến hành những hoạt động phân tích và tổng hợp tích cực để phát hiện bản chất của hiện tượng"

1.1.2 Cơ sở xuất phát của vấn đề nghiên cứu

1.1.2.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của kinh tế tri thức đã đặt các quốc gia vào cuộc chạy đua trí tuệ, trong đó có cuộc chạy đua trong giáo dục Việt Nam trên con đường đổi mới kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao Mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện, tự chủ, sáng tạo, trở thành mục tiêu hàng đầu của giáo dục quốc dân

Để đáp ứng mục tiêu đó, nhiều giải pháp được đề xuất và áp dụng nhằm giải quyết vấn đề làm thế nào để giúp học sinh có khả năng nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong học tập bộ môn Lịch sử Giải pháp đó hướng đến vai trò của người học, coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học, là nhân vật trung tâm

của quá trình nhận thức Vì vậy, mỗi GV và HS ngay từ bây giờ phải chủ động,

cập nhập và tiếp thu những thành tựu mới của khoa học giáo dục và trong thực tiễn bài giảng để giúp các em HS khi còn trên ghế nhà trường sẽ phát huy được những năng lực học tập của bản thân, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học bộ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

môn Trước yêu cầu đổi mới thì việc vận dụng một số PP và KTDH tích cực theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu đào tạo chung ở trường THCS, có ưu thế trong việc hoàn thiện tri thức, giáo dục và phát triển toàn diện

HS

1.1.2.2 Đặc điểm của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử của HS THCS

Đặc điểm của kiến thức lịch sử

Do đặc điểm của tri thức LS trong chương trình THCS là những sự kiện, hiện tượng diễn ra trong quá trình của lịch sử nên mang tính quá khứ, chỉ xảy ra trong thời gian và không gian nhất định, không lặp lại, chúng ta cũng không thể khôi phục lại hay làm lại trong phòng thí nghiệm như các bộ môn khác Khoa học lịch sử là một khoa học thuộc xã hội và nhân văn, nghiên cứu về tiến trình lịch sử cụ thể của mỗi nước, mỗi quốc gia do vậy kiến thức có đặc điểm là rất đa dạng, phong phú và trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, HS hiểu những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử không chỉ là việc ghi nhớ sự kiện mà điều quan trọng là trên

cơ sở nắm vững sự kiện cơ bản của chương trình SGK, HS hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng và rút ra quy luật và bài học kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại Kết quả của việc dạy và học Lịch sử ở trường THCS không chỉ phụ thuộc vào phương pháp dạy của GV, mà còn phụ thuộc vào phương pháp học của HS Đặc điểm của kiến thức lịch sử mang tính quá khứ, không lặp lại, tính thống nhất giữa sử và luận và thuộc nhóm khoa học xã hội và nhân văn nên nhiệm

vụ của người GV lịch sử là phải khôi phục trong óc HS bức tranh quá khứ lịch

sử sinh động đúng như nó đã tồn tại Đồng thời, GV cần sử dụng các PP, KTDH phù hợp, hướng dẫn HS học tập một cách sáng tạo để có thể tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện để so sánh, đánh giá, nhận xét theo quan điểm và kết quả tư duy của mình Từ đó, các em không chỉ nhận diện tư liệu lịch sử, ghi nhớ các nội dung cơ bản của lịch sử đã diễn ra, mà còn biết vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả, sáng tạo

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Với việc vận dụng và kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt một số PPDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử, GV không chỉ dừng lại ở việc định hướng cho HS tích cực, chủ động trong việc nhận diện, sử dụng

tư liệu lịch sử, lĩnh hội những kiến thức lịch sử, nội dung cơ bản, quan trọng của bài học mà còn thực hiện chức năng giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phát triển các năng lực nhận thức, kĩ năng cần thiết cho các em

Đặc điểm nhận thức của HS THCS

Trong tác phẩm Bút ký triết học, V.I.Lênin đã khái quát con đường biện

chứng của sự nhận thức chân lý như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn; đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực quá khứ” [27] Công thức nổi

tiếng của Lênin đã nêu lên quy luật nhận thức chung của loài người Theo sự khái quát này, con đường biện chứng của sự nhận thức (tức là phản ánh đúng đắn đối với hiện thực khách quan) là một quá trình Đó lá quá trình bắt đầu từ "trực quan sinh động" (nhận thức cảm tính) tiến đến "tư duy trừu tượng" (nhận thức lý tính) Quá trình nhận thức của HS vừa tuân theo quy luật nhận thức chung nhưng đồng thời cũng mang tính đặc thù riêng biệt Đó là sự nhận thức lại của HS trên

cơ sở nghiên cứu của các nhà khoa học dưới sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của

GV

Quá trình nhận thức của HS trong học tập lịch sử diễn ra như sau: HS gián tiếp nhận thức những sự kiện lịch sử cụ thể sẽ tạo thành những tri giác và biểu tượng lịch sử Đó là giai đoạn nhận thức cảm tính Ở giai đoạn tiếp theo, bằng sức mạnh của tư duy trừu tượng, thông qua hoạt động tích cực, độc lập của tư duy, HS đi đến những tri thức trừu tượng khái quát Đây là giai đoạn nhận thức

lý tính của việc học tập lịch sử Trên cơ sở đó mà HS nắm được nội hàm khái niệm Tuy nhiên, học tập lịch sử không chỉ dừng lại ở đây HS dưới sự hướng dẫn của GV phải biết vận dụng tri thức đã học để tạo ra trong tư duy những mối liên hệ giữa tri thức cũ và những điều mới, chưa biết, sau đó vận dụng kiến thức

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quá khứ để hiểu ngày nay, để hành động trong thực tiễn phù hợp với yêu cầu, trình độ của mình

Do đó, trong DHLS, bên cạnh việc tái hiện bức tranh quá khứ một cách chân thực nhất, gần đúng như nó tồn tại thông qua các nguồn tài liệu thì điều quan trọng là phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Vận dụng một

số PPDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho

HS là một trong những cách để phát huy sự chủ động, tích cực học tập, phát triển các năng lực của HS

1.1.2.3 Yêu cầu đổi mới PPDH

Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức Vì vậy, giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện toàn cầu hoá và xã hội tri thức có thể khẳng định rằng mô hình giáo dục “hàn lâm kinh viện” đào tạo ra những con người thụ động, chạy theo bằng cấp, chú trọng việc truyền thụ những kiến thức

lý thuyết xa rời thực tiễn không còn thích hợp với những yêu cầu mới của xã hội

và thị trường lao động Giáo dục cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội và thị trường lao động Đổi mới PP giảng dạy là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

PP giảng dạy là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Một PP giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để GV và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy Một PP giảng dạy khoa học sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của người học

Muốn phát huy tính sáng tạo của HS trong quá trình học tập phải áp dụng

kiểu học “tích cực - phân hoá” GV tổ chức, hướng dẫn HS tự mình khám phá

kiến thức mới; dạy cho HS không chỉ kiến thức mà cả PP học, trong đó cốt lõi là

PP tự học Với PP mới này, tiềm năng sáng tạo của các em sẽ được phát huy, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển giáo dục

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tác động đến những thay đổi tâm- sinh

lí của HS Hiện nay, công nghệ số có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống xã hội của

HS ngày nay, truyền thông đa phương tiện, Internet, điện thoại di động, đang ngày càng có ảnh hưởng lớn tới sự truyền đạt thông tin Trẻ em ngày nay có khả năng thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt Việc sử dụng những công nghệ mới khiến trẻ em có khả năng giải quyết vấn đề và xử lí thông tin cùng một lúc Hơn nữa, mỗi HS đều hình thành cho mình một phong cách học khác nhau theo sở thích riêng: có em thích nghiên cứu tài liệu, có em thích phân tích dựa trên lí thuyết, có em thích sự trải nghiệm, khám phá Bởi vậy, nếu GV chỉ truyền thụ một chiều, dạy kiến thức mang tính chất thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của HS, người học sẽ hoàn toàn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời cũng sẽ thụ động trước những thách thức, khó khăn của cuộc sống

Như vậy, từ yêu cầu đổi mới PPDH, GV vận dụng một số PP, kĩ thuật theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các trường THCS chính là áp dụng PPDH mới vào giảng dạy trong nhà trường Đây cũng là cách phát huy hiệu quả tính tích cực, chủ động, tư duy sáng

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tạo của HS, phát triển những năng lực cần thiết cho các em để thích ứng với một

xã hội hiện đại, năng động

1.1.2.4 Đặc điểm của HS THCS thành phố Bắc Ninh

HS THCS thành phố Bắc Ninh cũng có đặc điểm tâm lý của HS THCS nói chung Ở giai đoạn này các em đang trong độ tuổi dạy thì có sự chuyển biến mạnh

mẽ về tâm lí cơ quan não bộ gần đạt đến sự hoàn thiện như người lớn, cộng với

sự phát triển nhanh HS THCS luôn có xu hướng thích tiếp xúc với các môn khoa học, thích tìm hiểu, khám phá, muốn có một phong cách hoạt động tích cực, độc lập như nhà khoa học và khi đã có hứng thú học tập môn khoa học nào thì sẽ rất say mê nghiên cứu chúng để đạt được kết quả cao Chính từ sự hứng thú đã đem lại từ việc yêu thích và say mê môn học thì thái độ học tập của các em cũng có tính tích cực thúc đẩy tính chủ động trong quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân trong học tập

Ở lứa tuổi này HS THCS đã có năng lực hoạt động độc lập, nhận thức lí tính, khả năng tư duy trừu tượng Khác với HS tiểu học, HS THCS có tâm lí ham tìm hiểu, khám phá, do có vốn hiểu biết nhất định về thế giới xung quanh như:

cuộc sống xã hội, thông tin đại chúng, cho nên khi không thỏa mãn với những

gì GV cung cấp thì nhất định các em sẽ mày mò và làm sáng tỏ HS THCS biết nhận định, đánh giá đúng - sai về kiến thức trong bài giảng của thầy cô Như vậy, đặc điểm tâm lý của HS THCS có những yếu tố thuận lợi cho PPDH tích cực,

GV cần khai thác để từ đó xác định cho mình PP làm việc phù hợp nhằm góp phần phát huy năng lực của các em trong quá trình học tập Không giống như những môn khoa học khác, Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu quá khứ, nên tính khách quan, khoa học càng phải được coi trọng Điều này đòi hỏi người GV phải nghiên cứu sử dụng các PP giảng dạy để làm sao cho HS phát huy được hết các yếu tố trên, đồng thời hướng dẫn hợp lí để qua đó GV có thể vận dụng các

PP và KTDH khác nhau nhằm phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử của HS

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

"Thành phố Bắc Ninh" nằm ở phía nam sông Cầu, phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km về phía nam, cách thành phố Bắc Giang 20 km về phía bắc có diện tích 82,6 km², là đầu mối quan trọng giữa Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, trên hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, nằm trong tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Thành phố Bắc Ninh có vị trí rất thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Hiện nay, thành phố Bắc Ninh đang đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu

để sớm trở thành thành phố công nghiệp, giàu mạnh, văn minh trong tương lai Do vậy, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yêu cầu rất bức thiết, trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài trong quá trình xây dựng và phát triển của thành phố Thành phố Bắc Ninh thực hiện nhiều đề án, chương trình hành động, nghị quyết, kế hoạch về phát triển giáo dục và đào tạo quan trọng như: Đề án “đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện phổ thông”; Nghị quyết về đẩy mạnh công tác khuyến học, phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, hướng tới xây dựng một xã hội học tập;

kế hoạch xây dựng xã hội học tập, chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Các gia đình cũng đã quan tâm đến việc học tập của HS Trình độ nhận thức của HS được nâng cao Chất lượng giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển ổn định ở mức cao, luôn

là địa phương đứng trong tốp đầu cả nước về chất lượng giáo dục, luôn có HS đạt giải trong các kỳ thi HS giỏi quốc tế và khu vực, trong đó có cả huy chương vàng Những kết quả đạt được của ngành Giáo dục thành phố là thể hiện sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ thành phố đến đơn vị xã phường, đã thực sự coi việc đầu tư cho Giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững và lâu dài; thường xuyên chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; phát triển quy mô mạng lưới và tăng cường cơ sở vật chất trường học Tuy nhiên, trình độ nhận thức của HS trong thành phố vẫn chưa đồng đều Nguyên nhân là điều

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

kiện cơ sở vật chất cho công tác giảng dạy và học tập của các trường có sự khác nhau Những trường học ở trung tâm thành phố luôn luôn được đổi mới với phương pháp hiện đại: xây dựng giáo trình điện tử, nhà đa năng, phòng học chức năng phục

vụ các môn học thực hành như máy chiếu, bộ dụng cụ thực hành môn Vật Lý, Hóa Học, Sinh Học, phòng máy tính phục vụ môn Tin học hay phòng chiếu phim cho môn Lịch sử, Tiếng Anh, Địa lý Theo đó, với những môn học này, học sinh được thực hành nhiều hơn, chủ động, sáng tạo hơn trong học tập so với học sinh vùng ven điều kiện vật chất còn hạn chế Ở các phường như Phong Khê, Nam Sơn…của thành phố là những phường vùng ven thành phố HS không chỉ thiếu thốn về PP học mà thậm chí cơ sở vật chất còn thiếu Chính vì cơ sở vật chất còn thiếu nên hầu hết các trường ở vùng ven thường học theo kiểu nặng về lý thuyết, hầu như không được tiếp cận với các PP, hình thức dạy học để phát triển năng lực nhận thức và sử dụng

tư liệu lịch sử Bởi vậy, trong quá trình vận dụng các PPDH, KTDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS THCS thành phố Bắc Ninh, cần phải lựa chọn các PP, KTDH phù hợp với trình độ nhận thức của

HS, phù hợp với cơ sở vật chất của từng trường thì mới phát huy được hiệu quả

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh trong dạy học Lịch sử

Nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS ở trường THCS là một biện

pháp nhằm nâng cao hiệu quả DHLS, làm phát triển tính tích cực, chủ động của HS Biện pháp này có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với cả GV và HS

Đối với GV, phát triển năng lực trong dạy học môn Lịch sử ở trường phổ

thông theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử giữ một vai trò, vị trí quan trọng, định hướng cho GV môn Lịch sử thay đổi cách dạy Những kiến thức lịch sử vốn khô khan với các mốc thời gian, các sự kiện sẽ được

GV cụ thể hóa thông qua các biện pháp dạy học phát triển năng lực nhận diện và

sử dụng tư liệu lịch sử Từ đó giúp HS tiếp thu kiến thức nhanh hơn, nắm chắc, nhớ lâu các sự kiện Người học là trung tâm nhưng vai trò, uy tín của người thầy

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

được đề cao hơn Bên cạnh đó, khả năng chuyên môn của người thầy sẽ tăng lên nhờ áp lực của PP, bởi nội dung kiến thức của từng giờ giảng phải được cập nhật liên tục để đáp ứng các câu hỏi của người học trong thời đại thông tin rộng mở Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa thầy và trò Nếu thầy chỉ thuyết trình,

có gì nói nấy thì những gì thầy giảng chỉ là kiến thức một chiều Có thể người học đã biết những kiến thức ấy, hay đó là những nội dung không hữu ích đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của họ Người thầy phải luôn đổi mới bài giảng cũng như phong cách đứng lớp Như vậy, người dạy sẽ học được từ học trò của mình rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế Mối quan hệ thầy trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp qua việc giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của người học Khi GV dạy học bằng PP giảng dạy tích cực,

người học thấy họ được học chứ không bị học Người học được chia sẻ những

kiến thức và kinh nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm không chỉ từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp Họ hạnh phúc khi được học, được sáng tạo, được thể hiện, được làm Nhờ học theo hướng tích cực, chủ động theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử mà họ ghi nhớ sâu kiến thức và tăng khả năng áp dụng vào thực tế lên gấp 3-4 lần so với cách học thụ động một chiều Dạy bằng PP giảng dạy tích cực chính là tìm mọi cách giúp người học được chủ động trong việc học, cho họ được làm việc, được khám phá tiềm năng của chính mình Người dạy cần giúp người học có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng Và muốn người học có được sự tự tin và tin tưởng vào giá trị của chính mình, họ cần được học theo PP chủ động Chỉ khi người học được tự khám phá kiến thức, tự học, tự làm và tự bổ sung cho nhau thì kiến thức mới trở thành tri thức của người học, chuyển thành hành động, thành thói quen hàng ngày của

họ

Đối với HS, phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử góp phần phát triển toàn diện nhân cách HS Qua các tư liệu lịch sử, GV giúp HS có

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cái nhìn biện chứng về quá khứ, hiện tại và tương lai của lịch sử, tuân thủ đúng quy luật chung của quá trình nhận thức của các em là đi từ "trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến hoạt động thực tiễn" Việc nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử một cách hợp lý, có chọn lọc sẽ góp phần tạo hứng thú học tập cho HS, nâng cao hiệu quả bài học, đồng thời phát triển các năng lực nhận thức độc lập của HS

Đối với GV: việc điều tra tập trung vào các vấn đề:

- Nhận thức, quan niệm về phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở trường THCS

- Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng các biện pháp sư phạm để phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các trường THCS

- Các PPDH mà GV đã vận dụng để phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các trường THCS

- Những thuận lợi, khó khăn của GV khi vận dụng một số PP, kĩ thuật theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các trường THCS

Đối với HS: việc điều tra tập trung vào các vấn đề:

- Sự hứng thú của HS khi thầy (cô) vận dụng một số PPDH để phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS ở trường THCS

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Ý nghĩa của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS ở các trường THCS

- Những PPDH GV đã sử dụng để phát triển năng lực nhận diện và sử dụng

tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các trường THCS

Trên cơ sở kết quả điều tra, qua phân tích, chúng tôi rút ra một số kết luận:

1.2.1.1 Về phía GV

Nhận thức, quan niệm của GV về việc vận dụng một số PP, kĩ thuật theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở trường THCS:

Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy 100% thầy, cô được điều tra đều đồng ý là việc vận dụng một số PP, kĩ thuật trong DHLS ở trường THCS môn lịch sử có khả năng phát triển phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS

Như vậy các GV đều có chung ý kiến là trong DHLS cũng cần phải hình thành và phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS nhưng quan điểm về mức độ cần thiết trong quá trình DH lại khác nhau, chỉ có 13% GV cho là rất cần thiết, còn đa số chiếm 47% cho rằng phát triển năng lực nhận diện

và sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS có tầm quan trọng bình thường, còn có những GV cho rằng không quan trọng

Về quan niệm: Có 4 GV chiếm 26% đồng ý với quan điểm cho rằng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử là dám nghĩ khác và dám làm khác Một số GV đồng ý với phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch

sử là phải tìm ra “cái mới” về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào những cái đã có, chiếm 20% Đa số các GV quan niệm năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu trong DHLS là “có khuynh hướng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc phát hiện các mối liên hệ để từ đó tạo ra ý tưởng mới, cách giải quyết mới không theo tiền

lệ đã có” chiếm 54%

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Biểu đồ 1.1: Tổng hợp quan niệm của GV về phát triển năng lực nhận diện

và sử dụng tư liệu lịch sử

Về vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng một số PP, kĩ thuật theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các

trường THCS, qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả sau: Các GV đều đồng ý việc

vận dụng các PPDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS ngoài giúp cho HS học tập và tiếp thu tri thức tốt hơn, nó còn giúp các em có bộ óc thông minh để phát hiện và giải quyết những vấn đề phức tạp, có khả năng vận dụng vào các tình huống của thực tiễn đời sống tốt hơn

Điều tra thực trạng sử dụng các PP dạy học của GV theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử của HS, chúng tôi thấy rằng hiện

nay, nhiều GV đã biết và tìm hiểu về những PPDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS Các GV này tìm hiểu về những PPDH như PP tự học với tư liệu lịch sử, PP trao đổi thảo luận, PP khôi phục biểu tượng chân thực lịch sử, PP cụ thể hóa sự kiện, PP tiếp xúc hiện vật, nhân chứng lịch sử…

Qua đó cho thấy thực trạng ở trường phổ thông, một mặt có khá nhiều GV luôn quan tâm tới việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới PPDH để phát huy tính tích cực của HS Bởi vậy họ đã tìm hiểu những PPDH trong đó có cả

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

những PPDH mới qua các tài liệu tham khảo, qua trao đổi chuyên môn, khi đi dự tập huấn, Bên cạnh đó cũng còn tồn tại một số GV chưa quan tâm nhiều đến vấn

đề đổi mới PP dạy và học, chưa tìm hiểu những PPDH mới để áp dụng mà vẫn

sử dụng lối dạy truyền thống là thầy đọc trò ghi, thỉnh thoảng có vấn đáp HS, có

tổ chức thảo luận, làm việc nhóm nhưng chưa thực sự hiệu quả.Tuy nhiên, từ việc tìm hiểu những PPDH phát triển năng lực đến việc vận dụng vào bài học cụ thể cũng là một vấn đề quan trọng, đặc biệt là vận dụng theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS

Số liệu điều tra cho thấy không có GV nào thường xuyên sử dụng PP, KTDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử vào giảng dạy, có 33% GV thỉnh thoảng sử dụng và 50% là ít khi vận dụng những PP này vào từng bài học cụ thể Phần lớn số GV được hỏi thường vận dụng các PP, KTDH theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử khi

có tiết dự giờ hoặc thi GV giỏi, giờ học bình thường trên lớp thì chỉ hay cho HS thảo luận nhóm mà thôi

Tìm hiểu nguyên nhân GV thỉnh thoảng hoặc ít khi vận dụng những PPDH

này vào quá trình DH, chúng tôi đưa ra câu hỏi về những khó khăn khi phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS Các GV đều

cho rằng để vận dụng cần chuẩn bị khá công phu, mất nhiều thời gian Bên cạnh

đó, bản thân những GV này có tìm hiểu về các PPDH phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử nhưng khi vận dụng còn gặp nhiều lúng túng Một

số trường THCS còn hạn chế về cơ sở vật chất như phòng học bộ môn, các thiết

bị hỗ trợ khi giảng dạy vận dụng PP, KTDH…

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cho rằng môn lịch sử không có ưu thế phát triển năng lực nhận diện và sử dụng

tư liệu lịch sử cho HS vì lịch sử là những gì đã xảy ra nên chỉ cần học thuộc lòng

là có thể hiểu được không cần đến sự sáng tạo

Nhằm thăm dò nhận thức của HS về ý nghĩa của việc vận dụng một số

PP, kĩ thuật theo hướng phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS ở các trường THCS

Hầu hết HS đều đồng ý và hoàn toàn đồng ý với ý kiến chúng tôi nêu ra: Sáng tạo ngoài giúp cho việc học tập và tiếp thu tri thức tốt hơn, nó còn giúp các

em có bộ óc thông minh để phát hiện và giải quyết những vấn đề phức tạp, tránh được những mối nguy hiểm, những tác động xấu của môi trường xung quanh Chứng tỏ bản thân HS cũng nhận thức được nếu có năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử thì sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề học tập và đời sống một cách hiệu quả, mang lại thành công cao nhất

Điều tra mức độ biểu hiện một số yếu tố của năng lực nhận diện và sử dụng

tư liệu lịch sử ở HS trong học tập bộ môn Lịch sử, chúng tôi thấy biểu hiện còn

hạn chế Đa số các em đều chú ý lắng nghe thầy giáo giảng bài Nhưng để tích cực tham gia vào các hoạt động học tập và luôn đưa ra những câu trả lời khác nhau cho một vấn đề thì chỉ dừng lại ở 1 số ít HS khá, giỏi hoặc thi vào chuyên

Sử Mức độ cao hơn là đưa ra những câu hỏi sâu (mở rộng) về chủ đề vừa tiến hành hoặc kiên trì bám đuổi nhiệm vụ mặc dù nhiệm vụ đó có thể khó là rất ít Điều này có nguyên nhân chủ yếu từ cách dạy học của GV Thăm dò ý kiến của HS về thực tế sử dụng các PPDH GV đã sử dụng để phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho HS trong DHLS ở các trường THCS, chúng tôi thấy: 14.7% HS cho rằng GV thường xuyên tổ chức làm việc theo nhóm để thảo luận và 60% HS cho rằng thỉnh thoảng GV tổ chức hình thức dạy học như trên Và khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp thì đa số các em cho biết GV

Ngày đăng: 28/09/2020, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w