1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá chất lượng nước mặt sông ba chẽ đoạn thuộc huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường

89 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sông Ba Chẽ là một trong những con sông lớn của tỉnh Quảng Ninh, sông được bắt nguồn từ xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ nay là xã Đồng Sơn, thành phố Hạ Long, chảy quanh co theo hướng Đông B

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

VŨ THỊ NGUYỆT

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT SÔNG BA CHẼ ĐOẠN THUỘC HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

VŨ THỊ NGUYỆT

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT SÔNG BA CHẼ ĐOẠN THUỘC HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Mã số: 8850101

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Trịnh

THÁI NGUYÊN – 2020

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Vũ Thị Nguyệt, xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Văn Trịnh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Vũ Thị Nguyệt

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ

Quản lý Tài nguyên và Môi trường với Đề tài “Đánh giá chất lượng nước mặt sông

Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường” Để hoàn thành tốt cuốn luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong

và ngoài trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, vì thế:

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm

ơn đến PGS.TS Mai Văn Trịnh - người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn tài nguyên và môi trường đã trực tiếp giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn lãnh đạo và tập thể cán bộ, viên chức, người lao động trong Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh đã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi về mặt vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành báo cáo

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Vũ Thị Nguyệt

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN - i

LỜI CẢM ƠN - ii

MỤC LỤC - iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT - v

DANH MỤC CÁC BẢNG - vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ - vii

MỞ ĐẦU - 1

1 Lý do chọn đề tài - 1

2 Mục tiêu nghiên cứu - 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu - 2

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu - 2

5 Những đóng góp mới của đề tài - 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - 4

1.1 Cơ sở lý luận - 4

1.1.1 Phương pháp đánh giá chất lượng nước trên thế giới và ở Việt Nam - 4

1.1.2 Phương pháp sử dụng WQI trên thế giới và ở Việt Nam - 8

1.1.3 Chất lượng nước mặt một số sông ở Quảng Ninh - 10

1.1.4 Nghiên cứu, dự án đánh giá chất lượng nước mặt các sông và sử dụng WQI đánh giá chất lượng nước sông ở Quảng Ninh - 12

1.2 Tổng quan về vùng nghiên cứu - 13

1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - 13

1.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội - 17

1.2.3 Đặc điểm nguồn nước mặt vùng nghiên cứu - 20

1.2.4 Các vấn đề liên quan đến chất lượng nước mặt vùng nghiên cứu - 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu - 28

2.2 Phạm vi nghiên cứu - 28

2.3 Nội dung nghiên cứu - 28

2.4 Phương pháp tiếp cận - 28

Trang 6

iv

2.5 Phương pháp nghiên cứu - 29

2.5.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, kế thừa số liệu - 29

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa - 29

2.5.4 Phương pháp truyền thống trong đánh giá chất lượng nước thủy vực - 30

2.5.5 Phương pháp sơ đồ, bản đồ - 33

2.5.6 Phương pháp chuyên gia - 33

2.5.7 Phương pháp chỉ số chất lượng nước của Việt Nam VN_WQI - 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 38

3.1 Đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 38

3.1.1 Diễn biến chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 38

3.1.2 Kết quả tính toán WQI sông Ba Chẽ giai đoạn 2015 - 2019 - 44

3.2 Hiện trạng chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ, đoạn thuộc huyện Ba Chẽ - 47

3.2.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ qua kết quả quan trắc năm 2019 - 47

3.2.2 Kết quả tính toán WQI sông Ba Chẽ năm 2019 - 56

3.3 Mối quan hệ giữa các hoạt động kinh tế, xã hội và vị trí các nguồn thải với sự thay đổi chất lượng nước - 60

3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ - 63

3.4.1 Tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường - 63

3.4.2 Tăng cường năng lực quản lý trong công tác bảo vệ môi trường - 63

3.4.3 Áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác bảo vệ môi trường - 65

3.4.4 Giảm thiểu phát thải - 66

3.4.5 Giám sát môi trường - 67

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ - 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 73

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường

WQI: Chỉ số chất lượng nước

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tài nguyên nước huyện Ba Chẽ - 20

Bảng 1.2 Nhu cầu dùng nước huyện Ba Chẽ - 20

Bảng 1.3.Thứ tự ưu tiên phân bổ huyện Ba Chẽ - 21

Bảng 1.4 Phân vùng mục tiêu chất lượng nước (CLN) - 22

Bảng 1.5: Hiện trạng phát thải và xử lý nước thải tại các nhà máy xả thải ra

sông Ba Chẽ - 24

Bảng 1.6: Kết quả quan trắc một số thông số cơ bản của các nguồn thải vào

sông Ba Chẽ - 25

Bảng 2.1 Điểm quan trắc bổ sung môi trường nước sông Ba Chẽ năm 2019 - 31

Bảng 2.2 Quy định các giá trị qi, BPi cho các thông số nhóm IV và V - 35

Bảng 2.3 Quy định các giá trị qi, BPi cho các thông số kim loại nặng (nhóm III) - 35

Bảng 2.4 Quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa - 36

Bảng 2.5 Quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH - 36

Bảng 2.6 Quy định trọng số của các nhóm thông số - 36

Bảng 3.1 Kết quả tính toán số WQI tại điểm lấy nước về Nhà máy nước Ba Chẽ (NM4) 44

Bảng 3.2 Kết quả tính toán chỉ số WQI tại hạ lưu Cụm công nghiệp Nam Sơn (NM5) - 45

Bảng 3.3 Kết quả tính WQI tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ quý 1 năm 2019 - 57

Bảng 3.4 Kết quả tính WQI tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ quý 2 năm 2019 57

Bảng 3.5 Kết quả tính WQI tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ quý 3 năm 2019 58

Bảng 3.6 Kết quả tính WQI tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ quý 4 năm 2019 58

Bảng 3.7 Kết quả tính WQI trung bình tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 59 Bảng 3.8 Vị trí điểm quan trắc đề xuất - 68

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Sơ đồ huyện Ba Chẽ - 14

Hình 1.2 Sơ đồ sông Ba Chẽ - 17

Hình 1.3 Sơ đồ dòng chảy sông Ba Chẽ và các điểm hợp lưu nhánh sông - 23

Hình 2.1 Vị trí các điểm quan trắc bổ sung trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 31

Hình 3.1 Diễn biến pH trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 38

Hình 3.2 Diễn biến DO trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 39

Hình 3.3 Diễn biến BOD5 trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 40

Hình 3.4 Diễn biến COD trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 41

Hình 3.5 Diễn biến N-NH4 trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 42

Hình 3.6 Diễn biến P-PO4 trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 42

Hình 3.7 Diễn biến Coliform trong nước sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 43

Hình 3.8 Diễn biến WQI sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 - 46

Hình 3.9 pH nước tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 47

Hình 3.10 DO của nước tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 48

Hình 3.11 BOD5 của nước tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 49

Hình 3.12 COD của nước tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 50

Hình 3.13 Coliform của nước tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 50

Hình 3.14 pH nước tại các vị trí quan trắc năm 2019 - 53

Hình 3.15 DO của nước tại các vị trí quan trắc năm 2019 - 53

Hình 3.16 BOD5 của nước tại các vị trí quan trắc năm 2019 - 54

Hình 3.17 COD của nước tại các vị trí quan trắc năm 2019 - 54

Hình 3.18 TSS của nước tại các vị trí quan trắc năm 2019 - 55

Hình 3.19 N-NH4 của nước tại các vị trí quan trắc năm 2019 - 55

Hình 3.20 Diễn biến WQI tại các điểm quan trắc trên sông Ba Chẽ năm 2019 - 59

Hình 3.21 Vị trí các điểm quan trắc nước mặt sông Ba Chẽ đề xuất - 70

Trang 10

… và bảo vệ môi trường

Sông Ba Chẽ là một trong những con sông lớn của tỉnh Quảng Ninh, sông được bắt nguồn từ xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ (nay là xã Đồng Sơn, thành phố Hạ Long), chảy quanh co theo hướng Đông Bắc sang huyện Ba Chẽ và theo hướng Đông

từ xã Thanh Lâm, Ba Chẽ chảy qua thị trấn Ba Chẽ đổ ra biển, với chiều dài khoảng 80km chảy theo suốt chiều dài của huyện chính là sông lớn nhất trong hệ thống sông suối Ba Chẽ, sông có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, bảo tồn đời sống sinh vật, phát triển giao thông thủy

và điều hòa nước về mùa mưa trên địa bàn huyện Ba Chẽ

Trên dòng sông Ba Chẽ thuộc địa phận thị trấn Ba Chẽ, Nhà máy nước Ba Chẽ lấy nước từ sông Ba Chẽ với công suất thiết kế 1.200 m3/ngày đêm, công suất vận hành là 700 m3/ngày đêm (theo đó chất lượng nước từ đoạn nhập lưu với sông Làng Cổng, xã Đồn Đạc đến trước đoạn nhập lưu với sông Nam Kim, xã Nam Sơn thuộc cột A2 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT; chất lượng nước tại các khu vực còn lại trên sông Ba Chẽ thuộc cột B1 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt)

Theo quy hoạch Tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh năm 2016, đến năm 2020 tỉnh sẽ nâng cấp nhà máy nước Ba Chẽ lên công suất 3.000 m3/ngày đêm; Giai đoạn 2020 –

2030, nâng công suất nhà máy nước Ba Chẽ lên công suất 6.000 m3/ngày đêm cung cấp nước cho thị trấn Ba Chẽ; và xây dựng đập dâng Thác Trúc trên sông Ba Chẽ để khai thác với công suất 55.000m3/ngày đêm cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp (tương ứng với mục tiêu chất lượng nước: Đoạn từ thượng nguồn tại xã Lương Mông, huyện Ba Chẽ đến đập dâng Ba Chẽ thuộc cột A2 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT và chất lượng nước đoạn từ đập dâng Ba Chẽ ra biển thuộc cột B1 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt)

Theo đánh giá chung về chất lượng nước sông Ba Chẽ dựa trên kết quả quan trắc môi trường hàng năm của tỉnh Quảng Ninh (báo cáo hiện trạng tỉnh Quảng Ninh giai

Trang 11

2

đoạn 2015-2019) cho thấy: Hàm lượng các chất hữu cơ thường xuyên cao và vượt quy chuẩn kể từ các đợt quan trắc năm 2014 đến nay cho thấy nước sông có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ

Do đó, việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá chất lượng nước mặt sông

Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường” là cần thiết nhằm đánh giá diễn biến chất lượng nước sông và xác định

chính xác mức độ ô nhiễm của sông qua đó đề xuất các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường nước sông để phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt (mục tiêu chất lượng nước) trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:

- Phân tích diễn biến chất lượng nước sông Ba Chẽ

- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường nước sông Ba Chẽ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập, tổng hợp số liệu về đặc tính sông Ba Chẽ và chất lượng nước sông Ba Chẽ từ 2015 - 2019

- Tiến hành quan trắc bổ sung chất lượng nước sông Ba Chẽ năm 2019

- Tính toán giá trị WQI dựa trên các số liệu thu thập và số liệu quan trắc

- Ứng dụng WQI để đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Ba Chẽ

- Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước sông Ba Chẽ

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Với đề tài “Đánh giá chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường” tác giả đã:

- Khái quát được các vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng nước mặt, các phương pháp đánh giá chất lượng nước mặt hiện nay

- Đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt trên sông Ba Chẽ giai đoạn

2015-2019, phân tích nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Từ những vấn đề tồn tại đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt sông

Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

nước theo Quy hoạch đã đề ra

Trang 13

ưu và khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp khác trong đánh giá chất lượng nước [15]

- Lịch sử hiện đại của quan trắc sinh học để đánh giá chất lượng nước được bắt đầu ở châu Âu và Bắc Mỹ từ đầu thế kỷ 20 và phát triển mạnh vào nửa sau của thế kỷ này Họ đã thiết lập các tiêu chuẩn về quan trắc sinh học, hầu hết các quốc gia sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước trong hệ thống quan trắc quốc gia Ở các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia,… chủ yếu ứng dụng những nghiên cứu đã thực hiện ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng có những thay đổi phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng quốc gia [10]

- Chỉ số chất lượng nước (WQI - Water Quality Index): WQI được đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 ÷ 1970 Sau đó, do có nhiều ưu điểm nên WQI nhanh chóng được chấp nhận và triển khai áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Canada, Achentina, Anh, Mexico, Ấn Độ, Thái Lan, Zimbabue… [12], cụ thể: + WQI của Canada: WQI-CCME (The Canadian Council of Ministers of the Environment – CCME, 2001) được xây dựng dựa trên rất nhiều số liệu khác nhau sử

Trang 14

5

dụng một quy trình thống kê với tối thiểu 4 thông số và 3 hệ số chính (F1-phạm vi, F2- tần suất và F3- biên độ của các kết quả không đáp ứng được các mục tiêu chất lượng nước – giới hạn chuẩn) WQI-CCME là một công thức rất định lượng và việc sử dụng hết sức thuận tiên với các thông số cùng các giá trị chuẩn (mục tiêu chất lượng nước) của chúng có thể dễ dàng đưa vào WQI-CCME để tính toán tự động Tuy nhiên, trong WQI-CCME, vai trò của các thông số chất lượng nước trong WQI được coi như nhau, mặc dù trong thực tế các thành phần chất lượng nước có vai trò khác nhau đối với nguồn nước

+ WQI của Mỹ: WQI của Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation – NSF) là một trong các bộ chỉ số chất lượng nước được dùng phổ biến WQI-NSF được xây dựng bằng cách sử dụng kỹ thuật Delphi của tập đoàn Rand, thu nhận và tổng hợp ý kiến của một số đông các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số chất lượng nước quyết định sau đó xác lập phần trọng lượng đóng góp của từng thông số (vai trò quan trọng của thông số - wi) và tiến hành xây dựng các đồ thị chuyển đổi từ các giá trị đo được của thông số sang chỉ sộ phụ (qi) WQI-NSF được xây dựng rất khoa học dựa trên ý kiến số đông các nhà khoa học về chất lượng nước,

có tính đến vai trò (trọng số) của các thông số tham gia trong WQI và so sánh các kết quả với giá trị chuẩn (mục tiêu chất lượng nước) qua giản đồ chỉ số phụ (qi) Tuy nhiên, các giá trị trọng số (wi) hoặc giản đồ tính chỉ số phụ (qi) trong WQI-NSF chỉ thích hợp với điều kiện chất lượng nước của Mỹ

* Ở Việt Nam

- Ở Việt Nam, quan trắc sinh học để đánh giá chất lượng nước đã được phát triển trong những năm 90 của thể kỷ 20, cụ thể năm 2002, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7220-1:2002 về chất lượng nước – đánh giá chất lượng nước theo chỉ số sinh học - Phần 1 - Phương pháp lấy mẫu giun tròn và động vật không xương sống ở đáy cỡ trung bình tại các vùng nước nông bằng dụng cụ lấy mẫu định lượng và Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7220-2:2002 về chất lượng nước - đánh giá chất lượng nước theo chỉ số sinh học - Phần 2 - Phương pháp diễn giải các dữ liệu sinh học thu được từ các cuộc khảo sát giun tròn và động vật không xương sống ở đáy cỡ trung bình Tuy nhiên, các nghiên cứu hay chương trình quan trắc sinh học gần như áp dụng các chỉ số được nghiên cứu và sử dụng đánh giá các thủy vực ở Châu Âu

và Bắc Mỹ, nơi mà có điều kiện sinh thái khác biệt hoàn toàn so với Việt Nam, một số

Trang 15

6

nơi khác đưa ra các kết quả đánh giá dựa vào kinh nghiệm cá nhân mà không quan tâm nhiều đến cơ sở khoa học Cho đến nay, quan trắc sinh học chưa được thống nhất thực hiện trong các chương trình quan trắc môi trường của các tỉnh, thành Thậm chí nhiều Tỉnh/Thành lớn (bao gồm thành phố Hồ Chí Minh) cũng không đưa quan trắc sinh học vào trong chương trình quan trắc môi trường của địa phương [10]

- Phương pháp truyền thống trong đánh giá chất lượng nước: Quan trắc môi trường nước là hoạt động quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được các cơ quan ban ngành trực thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam đưa vào thực hiện từ năm 1994 đến nay Kết quả quan trắc thường được so sánh với chỉ tiêu chất lượng môi trường để đánh giá về mức độ ô nhiễm của môi trường Hiện nay, kết quả quan trắc đã được sử dụng trong một số các mô hình tính toán để xây dựng các dự báo về diễn biến môi trường theo các kịch bản phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

Nhược điểm của phương pháp đánh giá chất lượng nước thông qua việc so sánh kết quả quan trắc chất lượng nước với giới hạn cho phép của quy chuẩn Việt Nam hiện hành là:

+ Khi đánh giá qua từng thông số riêng biệt sẽ không nói lên diễn biến chất lượng tổng quát của con sông (hay đoạn sông), do vậy khó so sánh chất lượng nước từng vùng của một con sông, so sánh chất lượng nước của con sông này với con sông khác, chất lượng nước thời điểm này với thời điểm khác (theo tháng, theo mùa), chất lượng nước quá khứ, hiện tại và tương lai…vì thế, sẽ gây khó khăn cho công tác theo dõi, giám sát diễn biến chất lượng nước, khó đánh giá hiệu quả đầu tư để bảo vệ nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước…

+ Khi đánh giá chất lượng nước qua các thông số riêng biệt, khi đó có thể có thông

số đạt, thông số vượt, điều đó chỉ nói lên chất lượng nước đối với từng thông số riêng biệt Do đó, chỉ các nhà khoa học hoặc các nhà chuyên môn mới hiểu được Vì vậy, khó thông tin về tình hình chất lượng nước cho cộng đồng dân chúng, gây khó khăn khi các nhà quản lý đưa ra các quyết định phù hợp về bảo vệ, khai thác nguồn nước

- Chỉ số chất lượng nước WQI đã được các nhà nghiên cứu triển khai áp dụng vào những năm 1990 Vào tháng 7/2011, Tổng Cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường ra quyết định số 879/QĐ-TCMT về việc ban hành sổ tay hướng dẫn tính

Trang 16

7

toán WQI từ số liệu quan trắc chất lượng nước quốc gia và sử dụng số liệu WQI để đánh giá nhanh chất lượng nước mặt lục địa một cách tổng quát thì WQI mới chính thức trở thành công cụ phục vụ công tác quản lý chất lượng nước và kiểm soát ô nhiễm nước Ngày 12/01/2019, Tổng cục Môi trường đã ban hành Quyết định số 1460/QĐ-TCMT về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố chỉ số chất lượng nước Việt Nam (VN_WQI), Quyết định này thay thế Quyết định 879/QĐ-TCMT ngày 01/7/2011

 Ưu điểm của phương pháp chỉ số chất lượng nước WQI:

+ Do WQI có thể khái quát chất lượng nước cho một lưu vực sông hoặc một vùng cụ thể nên đây là công cụ rất hiệu quả trong quản lý môi trường, quan trắc ô nhiễm, đánh giá tác động môi trường, đánh giá hiệu quả xử lý ô nhiễm, đánh giá sơ bộ khả năng sử dụng nước

+ Phương pháp WQI tương đối đơn giản, ít tốn kém so với việc phải phân tích toàn bộ các thông số ô nhiễm có trong các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường nước (ví dụ theo TCVN 5942-1995 phải phân tích 37 thông số; Theo QCVN 08:2008/BTNMT là 31 thông số và hiện nay theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT là 36 thông số) Trong khi đánh giá chất lượng nước bằng phương pháp WQI theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01/7/2011 của Tổng cục Môi trường chỉ bắt buộc 10 thông số (Nhiệt độ, pH, DO, COD, BOD5, TSS, độ đục, Phosphat, Amoni, Coliform) [16] và theo Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019 của Tổng cục Môi trường thì số liệu tính toán chỉ yêu cầu bao gồm tối thiểu 03/5 nhóm thông số (trong

đó bắt buộc có nhóm IV – trong nhóm IV có tối thiểu 03 thông số được sử dụng để tính toán) [17], các nhóm cụ thể như sau:

Nhóm I : thông số pH

Nhóm II (nhóm thông số thuốc bảo vệ thực vật): bao gồm các thông số Aldrin, BHC, Dieldrin, DDTs (p,p’-DDT, p,p’-DDD, p,p’-DDE), Heptachlor & Heptachlorepoxide

Nhóm III (nhóm thông số kim loại nặng): bao gồm các thông số As, Cd, Pb,

Cr6+, Cu, Zn, Hg

Trang 17

8

Nhóm IV (nhóm thông số hữu cơ và dinh dưỡng): bao gồm các thông số DO, BOD5, COD, TOC, N-NH4, N-NO3, N-NO2, P-PO4

Nhóm V (nhóm thông số vi sinh): bao gồm các thông số Coliform, E.coli

+ Việc sử dụng WQI có thể khắc phục được các hạn chế trong cách đánh giá nghiên cứu diễn biến chất lượng nước theo phương pháp truyền thống, phương pháp cho phép ước lượng hóa và có khả năng mô phỏng các tác động tổng hợp của nồng độ nhiều thành phần, trong đó đã tính đến mức độ đóng góp quan trọng của từng thông số,

do đó đơn giản và dễ hiểu Thuận lợi cho việc sử dụng phổ biến trong cộng đồng

 Nhược điểm của phương pháp WQI: WQI chỉ đánh giá một cách khái quát chất lượng nước cho một lưu vực, một dòng sông, một hồ nước cụ thể WQI không phải là tiêu chuẩn, hoặc quy chuẩn kỹ thuật

1.1.2 Phương pháp sử dụng WQI trên thế giới và ở Việt Nam

* Trên thế giới:

Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá chất lượng nước, trong đó sử dụng WQI để đánh giá chất lượng nước được rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Có rất nhiều quốc gia đã áp dụng WQI vào thực tiễn, cũng như có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các mô hình WQI:

- Hoa Kỳ: WQI được xây dựng cho mỗi bang, đa số các bang tiếp cận theo phương pháp của Quỹ vệ sinh quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation -NSF)

- Canada: Phương pháp do cơ quan Bảo vệ môi trường Canada (The Canadian Council of Ministers of the Environment - CCME, 2001) xây dựng

- Châu Âu: Các quốc gia ở Châu Âu chủ yếu được xây dựng phát triển từ WQI của Mỹ, tuy nhiên mỗi quốc gia hay địa phương lựa chọn các thông số và phương pháp tính chỉ số phụ riêng

- Các quốc gia Malaysia, Ấn Độ phát triển từ WQI của Mỹ, nhưng mỗi quốc gia

có thể xây dựng nhiều loại WQI cho từng mục đích sử dụng

* Ở Việt Nam:

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu và đề xuất áp dụng về bộ chỉ số chất lượng nước như WQI-2 và WQI-4 được sử dụng để đánh giá số liệu chất lượng nước trên

Trang 18

Tác giả đã nghiên cứu WQI để đánh giá và phân vùng chất lượng sông Hậu với

mô hình WQI với nhóm gồm 6 thông số: pH, DO, BOD, COD, TSS, Coliform Mô hình có ứng dụng phương pháp Delphi và phương pháp đường cong tỷ lệ để thể hiện chất lượng nước tổng thể cũng như tầm quan trọng của từng thông số được lựa chọn dựa trên ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực chất lượng nước, dựa vào ý kiến của các chuyên gia, đường cong phân hạng của từng thông số sẽ được xây dựng để có thể xác định chỉ số phụ

Kết quả là đã chỉ rõ diễn biến chất lượng tại từng vùng từ đó phân vùng chất lượng nước

- Phạm Thị Minh Hạnh (năm 2009) đã đưa ra chỉ số chất lượng nước, chỉ số này được chia làm 2 loại là: Chỉ số chất lượng nước cơ bản IB (được tính cho 8 thông số chính COD, BOD5, DO, Turbidity, SS, N - NH4+, P – PO43- và T.Coli); và chỉ số chất lượng nước tổng hợp IO (có thêm các thông số pH, nhiệt độ, các kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nước Chỉ số chất lượng nước tổng hợp cung cấp nhiều thông tin hơn cho việc đánh giá chất lượng nước

- Trong đề tài “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng thành phố Hồ Chí Minh”, Lê Trình (2008) đã đưa ra mô hình chỉ số chất lượng nước, là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về phân vùng chất lượng nước theo WQI Trong đề tài nghiên cứu này 4 mô hình WQI đã được nghiên cứu, tính toán dựa trên 2 mô hình WQI cơ bản của Hoa Kỳ và Ấn Độ gồm mô hình cơ bản của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa Kỳ (NSF-WQI) NSF-WQI được tính theo một trong 2 công thức: công thức dạng tổng và công thức dạng tích và mô hình Bhargava (1983) [6]

- Ủy ban sông Mê Kông cũng đưa ra phương pháp WQI bởi tính toán tổng hợp các thông số bao gồm: DO, N-NH4, COD và Tổng P

Trang 19

10

- Gần đây nhất Tổng cục Môi trường đã ban hành Quyết định số TCMT về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố chỉ số chất lượng nước Việt Nam (VN_WQI) thay thế Quyết định 879/QĐ-TCMT ngày 01/7/2011 với mục đích: đánh giá nhanh chất lượng nước mặt lục địa một cách tổng quát; Có thể được sử dụng như một nguồn dữ liệu để xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước; cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng một cách đơn giản, dễ hiểu, trực quan; nâng cao nhận thức về môi trường

1460/QĐ-Tổng quan các phương pháp đánh giá chất lượng thủy vực nước ngọt cho thấy rằng phương pháp WQI là một công cụ tiềm năng trong đánh giá và phân loại chất lượng nước thủy vực

1.1.3 Chất lượng nước mặt một số sông ở Quảng Ninh

Nhìn chung chất lượng nước nguồn nước mặt của Quảng Ninh có sự biến động qua các năm và thay đổi theo từng vị trí quan trắc, trong đó [13]:

Các nguồn nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt như hồ Cao Vân, hồ Yên Lập, đập Đồng Ho và nước suối 12 Khe có chất lượng cơ bản đáp ứng theo quy chuẩn, các thông số ô nhiễm không biến động nhiều hoặc có gia tăng so với giai đoạn 2006-2010, tuy nhiên vẫn nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, cột A2 Sông Vàng Danh tiếp tục ô nhiễm dầu mỡ khoáng và chất hữu cơ tại một số thời điểm; suối Bình Liêu, suối Hoành Mô, hồ Tràng Vinh, hồ Quất Đông, đập Yên Hàn, các thông số ô nhiễm có xu hướng gia tăng so với giai đoạn 2006-2010

Các sông, suối phục vụ mục đích tưới tiêu thủy lợi như sông Cầm, sông Sinh, sông Uông … tại các điểm quan trắc bị ô nhiễm cục bộ đối với chất hữu cơ, tuy nhiên tần suất ô nhiễm thấp và có chiều hướng giảm ô nhiễm so với giai đoạn 2006 - 2010 Sông Ba Chẽ, biểu hiện ô nhiễm chất hữu cơ không có dấu hiệu giảm kể từ năm 2014 đến năm 2016

Chất lượng nước các sông, suối chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động khai thác than như suối Lộ Phong, suối Moong Cọc 6 có chiều hướng giảm ô nhiễm chất hữu cơ

và chất rắn lơ lửng từ năm 2014 so với các năm trước và so với giai đoạn 2006 - 2010 Nước sông Mông Dương vẫn tiếp tục gia tăng ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng

Trang 20

11

Cụ thể chất lượng nước một số sông chính ở Quảng Ninh như sau:

- Sông Vàng Danh - Đập Lán Tháp: Hiện tại nguồn nước mặt sông Vàng Danh - Đập Lán Tháp không còn là nguồn cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho thành phố Uông Bí, chỉ hoạt động cấp nước khi nguồn nước hồ Yên Lập không đủ đáp ứng cho nhà máy nước Đồng Mây Chất lượng nước theo kết quả quan trắc tại một số thời điểm có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ, ô nhiễm dầu mỡ khoáng với biểu hiện là hàm lượng COD, BOD5 trong nước sông vượt từ 1,1 - 2,9 lần, hàm lượng dầu mỡ khoáng vượt từ 1,4 - 3,9 lần giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2) So sánh với giai đoạn

2006 - 2010, nước sông tuy không còn biểu hiện ô nhiễm chất rắn lơ lửng nhưng vẫn tiếp tục ô nhiễm dầu mỡ khoáng và ô nhiễm chất hữu cơ tại một số thời điểm

- Sông Cầm (Thị xã Đông Triều): Chất lượng nước sông Cầm có chiều hướng cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2006 - 2010 Năm 2012, khu vực quan trắc có hàm lượng chất hữu cơ vượt giới hạn cho phép theo quy định của QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột B1, nhưng từ năm 2013 đến nay đã không còn có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ, tuy nhiên hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước sông vẫn duy trì

ở mức cao

- Sông Sinh, sông Uông (Thành phố Uông Bí): Kết quả quan trắc năm 2011,

2012 cho thấy nước sông Sinh và sông Uông bị ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng Hàm lượng COD vượt giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột B1 từ 1,05 đến 2,1 lần; hàm lượng BOD vượt giới hạn cho phép từ 1,2 đến 2,8 lần; hàm lượng TSS vượt giới hạn cho phép từ 1,2 - 4,6 lần Tuy nhiên từ năm 2013 đến nay chất lượng nước sông Sinh và sông Uông đã cải thiện đáng kể so với giai đoạn

2006 - 2010, các thông số ô nhiễm cơ bản nằm trong giới hạn cho phép, đáp ứng mục tiêu sử dụng nước nông nghiệp

- Sông Ba Chẽ (huyện Ba Chẽ): Hàm lượng các chất hữu cơ thường xuyên cao và vượt quy chuẩn kể từ các đợt quan trắc năm 2012 đến nay cho thấy nước sông có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ

- Sông Mông Dương (thành phố Cẩm Phả): Kết quả quan trắc giai đoạn 2011 -

2015 cho thấy nước sông tiếp tục bị ô nhiễm nghiêm trọng Giai đoạn 2011 - 2014, hàm lượng COD vượt 1,1 - 1,5 lần, hàm lượng BOD5 vượt giới hạn cho phép 1,1 - 2,3 lần, hàm lượng TSS vượt giới hạn cho phép từ 1,1 - 4,1 lần Đợt quan trắc quý 1 năm

Trang 21

12

2015, các thông số ô nhiễm tuy có giảm xuống nhưng không đáng kể So sánh với giai đoạn 2006 - 2010, chất lượng nước sông Mông Dương vẫn tiếp tục bị ô nhiễm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng

- Các nguồn nước phục vụ mục đích khác như Sông Đầm Hà, sông Hà Cối: Các thông số ô nhiễm tại vị trí quan trắc cơ bản nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột B2

1.1.4 Nghiên cứu, dự án đánh giá chất lượng nước mặt các sông và sử dụng WQI đánh giá chất lượng nước sông ở Quảng Ninh

* Một số nghiên cứu đánh giá chất lượng nước mặt các sông ở Quảng Ninh:

- Đinh Thị Huệ Chi (2015), đã đánh giá hiện trạng nước cấp tập trung của thành phố Uông Bí và đề xuất giải pháp đảm bảo chất lượng Trong đó, sử dụng phương pháp chỉ số chất lượng nước WQI để đánh giá chất lượng nước mặt, phương pháp so sánh với QCVN để đánh giá chất lượng nước ngầm, nước cấp Kết quả nghiên cứu cho thấy nước sông Vàng Danh đang suy giảm về chất lượng và có dấu hiệu bị ô nhiễm, không đạt yêu cầu làm nguồn cấp cho hệ thống nước cấp tập trung của thành phố, vì vậy giải pháp đưa

ra là sử dụng nước suối Mười Hai Khe thay thế nguồn nước sông Vàng Danh; Nước hồ Yên Lập đang có xu hướng suy giảm chất lượng, tuy nhiên vẫn đảm bảo chất lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt nên vẫn sử dụng làm nguồn nước cấp đầu vào cho nhà máy nước Đồng Mây; Nước ngầm được sử dụng như nguồn nước cấp bổ sung cho nhu cầu nước sinh hoạt của thành phố và chỉ cung cấp cho khu vực phường Vàng Danh, xã Thượng Yên Công [4]

- Trần Thiện Cường (2016), đã đánh giá chất lượng môi trường nước sông Uông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là điều tra khảo sát và lấy mẫu phân tích, kết quả so sánh với QCVN 08-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt Kết quả nghiên cứu cho thấy nước sông Uông bị ô nhiễm bởi hàm lượng chất rắn lơ lửng, BOD5, COD, Phospho, Nitrat và Coliform, nguyên nhân được xác định là hoạt động khai thác than cũng như hoạt động xả thải từ các cơ sở sản xuất và nước thải sinh hoạt của dân cư xung quanh khu vực làm ảnh hưởng đến chất lượng nước sông [19]

* Một số nghiên cứu sử dụng WQI đánh giá chất lượng nước sông ở Quảng Ninh:

Trang 22

13

- Nguyễn Quang Toàn (2014), đã đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Diễn Vọng đoạn chảy qua thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thông qua chỉ số chất lượng nước WQI Các phương pháp sử dụng bao gồm: Phương pháp truyền thống so sánh số quan trắc phân tích với Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 08:2008/BTNMT) và phương pháp sử dụng chỉ số WQI Kết quả cho thấy chất lượng nước sông Diễn Vọng không

có khác biệt lớn từ năm 2013 đến nửa đầu năm 2014, do khoảng thời gian này không

có dự án xây dựng hay quy hoạch sông nên tác động vào sông Diễn Vọng chưa có thay đổi lớn Tuy nhiên, nhìn vào giai đoạn mùa khô quý 1/2013 và quý 1/2014 có chuyển biến xấu, chỉ số WQI tính toán được năm 2014 cùng vị trí thấp hơn năm 2013, điều đó chứng tỏ có thêm những tác động không tốt khiến chất lượng nước sông có chiều hướng xấu đi, do đó cần phải có biện pháp xử lý giảm thiểu chất thải [8]

- Nguyễn Trung Ngọc (2012), đã đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Cầm, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thông qua chỉ số chất lượng nước WQI Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nước sông Cầm đang có dấu hiệu bị ô nhiễm, xu thế đánh giá trong 6 năm từ 2006 đến 2012 cho thấy nước sông đang có dấu hiệu gia tăng mức độ ô nhiễm, đặc biệt là từ những năm 2011 - 2012 do các cơ sở sản xuất công nghiệp xả thải vào sông [9]

- Phạm Văn Nhị (2013), đã sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước sông Vàng Danh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Kết quả nghiên cứu từ năm 2010-2013 cho thấy mức độ ô nhiễm nước sông Vàng Danh đang có chiều hướng giảm, phương pháp đánh giá theo WQI tương đồng với phương pháp truyền thống nhưng đơn giản và dễ hiểu, dễ thông in cho cộng đồng về chất lượng nước của lưu vực sông Vàng Danh, qua đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm bảo vệ chất lượng nước lưu vực sông Vàng Danh [11]

1.2 Tổng quan về vùng nghiên cứu

1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Ba Chẽ là huyện miền núi thuộc khu vực Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh (cách thành phố Hạ Long hơn 80 km đi theo đường Quốc lộ 18A từ Hạ Long đi Móng Cái),

có tọa độ địa lý từ 20o7'40'' đến 21o23'15'' Vĩ độ Bắc 107o58'5'' đến 107o22'00'' độ Kinh Đông [5]

Trang 23

14

Ba Chẽ có tổng diện tích tự nhiên là 60.855,56 ha (chiếm 10% diện tích toàn tỉnh Quảng Ninh), trong đó đất lâm nghiệp 55.285,29ha, chiếm tới hơn 91% diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp 1.348,64 ha [5]

Phía Bắc giáp huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; Phía Nam giáp huyện Hoành Bồ, thành phố Cẩm Phả; Phía Đông giáp huyện Tiên Yên; Phía Tây giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang [5]

Hình 1.1 Sơ đồ huyện Ba Chẽ

1.2.1.2 Địa hình, địa mạo

Ba Chẽ có địa hình núi non trùng điệp chia cắt đất đai thành nhiều vùng nhỏ (Cao nhất là núi Khau Giang cao trên 900m ở phía tây huyện) Huyện nằm trong cánh cung Bình Liêu - Đông Triều, các dãy núi chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ba Chẽ có địa hình dốc bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất tạo thành các thung lũng hẹp

và các con suối, sông lớn nhỏ [5]

Độ cao trung bình của Ba Chẽ từ 300m - 500m so với mực nước biển Đất có độ dốc lớn, phần lớn trên 20o Chủ yếu là đất dốc nên người dân Ba Chẽ sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp (phát triển kinh tế rừng) Đất nông nghiệp rất hẹp và manh mún, chủ yếu là các thung lũng dưới chân núi có thể cấy lúa nước, còn phần lớn là ruộng bậc thang và đất đồi trồng lúa nương, sắn, ngô, khoai Đồng thời với địa hình dốc thoải

Trang 24

- Nhiệt độ: Trung bình từ 21oC - 23oC, về mùa hè nhiệt độ trung bình dao động từ

26oC - 28oC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 37,6oC vào tháng 6 Về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc nên thời tiết lạnh, nhiệt độ trung bình dao động từ 12oC -

16oC, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vào tháng 1 đạt tới 1oC

- Độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình hàng năm ở Ba Chẽ là 83%, cao nhất vào tháng 3, 4 đạt 88%, thấp nhất vào tháng 11 và tháng 12 cũng đạt tới 76% Do địa hình

bị chia cắt nên các xã phía Đông Nam huyện có độ ẩm không khí tương đối cao hơn, các xã phía Tây Bắc do ở sâu trong lục địa nên độ ẩm không khí thấp hơn Độ ẩm không khí còn phụ thuộc vào độ cao, địa hình và sự phân hóa theo mùa, mùa mưa có

độ ẩm không khí cao hơn mùa khô

- Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285mm Năm có lượng mưa lớn nhất là 4.077mm, nhỏ nhất là 1.086mm

- Lũ: Do đặc điểm của địa hình, độ dốc lớn, lượng mưa trung bình hàng năm cao (trên 2.00mm), mưa tập trung theo mùa, hệ thống sông suối lưu vực ngắn, thực vật che phủ rừng thấp, vì thế mùa mưa kéo dài lượng nước mưa vượt quá khả năng trữ nước của rừng và đất rừng thì xuất hiện lũ đầu nguồn gây thiệt hại từ vùng núi đến vùng hạ lưu theo một phản ứng dây truyền, ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh

tế - xã hội trong khu vực Mực nước lũ có năm cao 5-6m, lũ mạnh cuốn trôi những gì

có trên dòng sông chảy làm tắc giao thông, gây thiệt hại lớn đến tài sản và hoa màu của nhân dân

- Nắng: Trung bình số giờ nắng dao động từ 1.600 - 1.700h/năm nắng tập trung

từ tháng 5 đến tháng 12, tháng có giờ nắng ít nhất là tháng 2 và 3

- Gió: Ba Chẽ thịnh hành 2 loại gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam: + Gió Đông Bắc: Thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là gió Bắc và Đông Bắc, tốc độ gió từ 2 - 4m/s Gió mùa Đông Bắc tràn về theo đợt, mỗi đợt kéo dài

Trang 25

1.2.1.4 Đặc điểm thủy văn

Sông Ba Chẽ bắt nguồn từ núi Khe Ru ở độ cao 789m, có dạng lông chim Trong

49 km đầu, sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc tới Lang Xong thì sông đổi hướng thành Tây Bắc - Đông Nam và đổ thẳng ra biển vì vậy hệ số uốn khúc của dòng chính đạt 1,78, độ dốc bình quân lưu vực đạt 15,1%, do đó hệ số tập trung nước của lưu vực cao, thường hay xảy ra lũ lụt [5]

Sông Ba Chẽ là một trong những con sông lớn tại tỉnh Quảng Ninh Sông được bắt nguồn từ xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ (nay là xã Đồng Sơn, thành phố Hạ Long) chảy quanh co theo hướng Đông Bắc sang huyện Ba Chẽ và theo hướng Đông

từ xã Thanh Lâm, Ba Chẽ chảy qua thị trấn Ba Chẽ đổ ra biển Sông Ba Chẽ với chiều dài trên 80km chảy theo suốt chiều dài của huyện chính là sông lớn nhất trong hệ thống sông suối Ba Chẽ Đoạn thượng lưu rất dốc, nhiều ghềnh thác Từ thị trấn Ba Chẽ ra biển, lòng sông rộng dần (Cửa sông Ba Chẽ gặp cửa sông Tiên Yên ở phía Bắc

và gặp cửa sông Voi Lớn ở phía Nam Chỗ gặp gỡ ba cửa sông (ba chẽ sông) chính là gốc tên Ba Chẽ Cửa sông Ba Chẽ lớn nhất là Cửa Cái và đoạn hạ lưu sông Ba Chẽ có tên sông Cửa Cái) [5]

Ba Chẽ còn có nhiều sông, suối lớn như sông Quánh, sông Làng Cổng, Sông Đoáng, suối Khe Hương, Khe Liêu, Khe Buông… và sông Nam Kim [5].:

- Hệ thống sông Quánh bắt nguồn từ huyện Hoành Bồ chảy qua phía Nam xã Minh Cầm, chảy theo hướng Bắc đổ vào sông Ba Chẽ dài 85km (đây là nhánh bắt đầu nguồn chính của sông Ba Chẽ)

- Hệ thống sông Đoáng bắt nguồn từ phía Nam xã Đạp Thanh chảy về hướng Bắc, đổ vào sông Ba Chẽ dài 80km

- Hệ thống sông Làng Cổng từ phía Nam xã Đồn Đạc, chảy về phía Bắc đổ vào sông Ba Chẽ dài 95km

- Hệ thống suối Khe Hương, Khe Lầy, Khe Liêu, Khe Buông, Khe Tráng bắt nguồn từ phía Tây xã Lương Mông đổ vào sông Ba Chẽ dài 150km

Trang 26

07 xã và 01 thị trấn trên địa bàn huyện [5].

- Dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn với trên 80,3% (17.828 người), trong đó dân tộc Dao chiếm 44,1%, Kinh 19,6%, Sán Chỉ 18,3%, Tày 16,3%, còn lại là các dân tộc khác [5]

- Huyện có diện tích lớn, nhưng dân số ít nên Ba Chẽ là một trong những huyện

có mật độ dân số bình quân thấp nhất tỉnh Quảng Ninh (36,4 người/km2 ); trình độ dân trí không đồng đều [5]

Trang 27

18

1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng

- Tỉnh lộ 329 từ phường Mông Dương - Cẩm Phả đến Thị trấn Ba Chẽ trên 30 km được đầu tư hoàn thiện từ năm 2013, cơ bản thuận lợi cho việc đi lại, giao thương Hiện các tuyến đường trục chính đến trung tâm các xã, thôn cơ bản được cứng hóa, một số tuyến đang được đầu tư, nâng cấp trong Chương trình xây dựng nông thôn mới [5]

- Hệ thống điện được quan tâm đầu tư, đến năm 2013, 100% số thôn, khu trên địa bàn đều được sử dụng điện lưới Quốc gia [5]

- Hệ thống trụ sở hành chính từ huyện đến xã đều được xây dựng kiên cố, 8/8 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, 11/21 trường học đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 1, 73/75 nhà văn hóa thôn, khu được được đầu tư cơ bản kiên cố, khang trang Năm 2011 được Tỉnh quan tâm đầu tư và công nhận Thị trấn Ba Chẽ là đô thị loại V [5]

- Hiện nay, huyện đã triển khai đầu tư hoàn thiện cụm công nghiệp Nam Sơn với diện tích 50 ha, có cảng thủy nội địa, đường giao thông nối liền với tỉnh lộ 329, hệ thống điện, nước cơ bản thuận lợi cho các doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất tại đây Đồng thời các quy hoạch trọng điểm, quy hoạch chi tiết cơ bản hoàn thiện và có chất lượng phục

vụ tốt cho thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội [5]

1.2.2.3 Hoạt động công nghiệp

- Năm 2018, tình hình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện duy trì mức tăng trưởng ổn định Điểm nhấn lớn nhất là Công ty Cổ phần Hoàng Thái

đã chạy thử nghiệm kho bảo quản, lưu trữ kết hợp khu xử lý thực phẩm Nam Sơn (nhà máy 2) Đây là tín hiệu vui để Cụm công nghiệp Nam Sơn thu hút thêm doanh nghiệp vào đầu tư trong thời gian tới [20]

- Các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hoạt động khá ổn định Giá trị sản xuất tính đến tháng 10/2019 (theo giá so sánh năm 2010) ước thực hiện 6.410 triệu đồng, lũy kế đạt 57.350 triệu đồng, đạt 52% kế hoạch, bằng 102,3% so với cùng kỳ Giá trị sản xuất công nghiệp đạt thấp so với kế hoạch đặt ra là do các nhà máy sản xuất tại Cụm công nghiệp Nam Sơn chưa đi vào hoạt động ổn định theo dự kiến và cam kết của nhà đầu tư; UBND không tiếp tục gia hạn cho Công ty Cổ phần Sơn Hà tận thu cát đá sỏi trên địa bàn; các sản phẩm chủ yếu có sản xuất gạch xi măng, gỗ xẻ, dăm keo duy trì ổn định sản lượng, giá trị các mặt hàng khác đều giảm; sản lượng, giá trị sản phẩm giấy xuất khẩu của Công ty Cổ phần ANT giảm mạnh chỉ đạt 44,2% kế hoạch, sản lượng dăm keo giảm nhẹ so với cùng kỳ bằng 94% cùng kỳ [20]

Trang 28

19

1.2.2.4 Nông nghiệp

- Trồng trọt: Trong năm 2018, lĩnh vực trồng trọt tiếp tục phát triển khá, tổng diện tích gieo trồng vụ cả năm đạt 2.204,6 ha đạt 104,2% kế hoạch bằng 100,9% cùng

kỳ, tổng sản lượng lương thực đạt 6.905,9 tấn, đạt 109,4% kế hoạch, tăng 11,5% cùng

kỳ (năng suất lúa đạt 47,4 tạ/ha, sản lượng đạt 4.709 tấn đạt 108,9% kế hoạch, tăng 7,6% cùng kỳ; năng suất ngô đạt 48,1 tạ/ha, sản lượng đạt 2.196,9 tấn đạt 111% kế hoạch, tăng 20,9% cùng kỳ) Công tác hướng dẫn kỹ thuật, khuyến nông được quan tâm chỉ đạo, hệ thống thủy lợi được chú trọng đầu tư [20]

- Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn được duy trì và phát triển ổn định, không có phát sinh dịch bệnh, theo thống kê tại thời điểm 01/10/2018, cơ bản đàn gia súc, gia cầm phát triển tốt, tiếp tục tăng đàn, nhất là chăn nuôi bò, trâu Các hộ dân phát triển chăn nuôi lợn, gà theo Dự án phát triển sản xuất (nông thôn mới, chương trình 135) tại các xã: Nam Sơn, Thanh Sơn, Thanh Lâm, Đạp Thanh, Minh Cầm, một

số thôn của xã Lương Mông đã nhập đàn về nuôi đang phát triển ổn định [20]

1.2.2.5 Lâm nghiệp

- Năm 2018, huyện đã triển khai 2 mô hình kinh tế lâm nghiệp đem lại hiệu quả cao,

có khả năng nhân rộng, là: Hỗ trợ cây sưa trồng xen trong vườn trà hoa vàng (Thanh Lâm, Thanh Sơn) và mô hình trồng thử nghiệm cây cát sâm/tài lệch (Thanh Sơn) [20]

- Sản xuất lâm nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực, nhiều mô hình kinh tế lâm nghiệp đem lại hiệu quả cao, có khả năng nhân ra diện rộng Triển khai chương trình

hỗ trợ cây sưa trồng xen trong vườn Trà hoa vàng và mô hinh trồng thử nghiệm cây Cát Sâm (Tài Lệch) Chỉ đạo triển khai nghiệm thu Dự án trồng rừng sản xuất quy mô

55 ha theo chính sách hỗ trợ tại Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND của UBND tỉnh [20]

- Tính đến ngày 10/9/2019, toàn huyện trồng mới được 3.075ha rừng, đạt 102,5%

kế hoạch, trong đó trồng rừng gỗ lớn hơn 235ha (trong đó: dân trồng 31 ha, doanh nghiệp trồng 204 ha), nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 71,2% (tăng 0,8% so với cùng kỳ), trồng sau khai thác 2.489 ha, trồng mới 338 ha, trồng rừng phòng hộ 13 ha [20]

Trang 29

20

1.2.3 Đặc điểm nguồn nước mặt vùng nghiên cứu

1.2.3.1 Tài nguyên nước huyện Ba Chẽ:

Tổng lượng nước của huyện Ba Chẽ là 893,6 triệu m3; lượng nước có thể khai thác, sử dụng là 848,2 triệu m3; lượng nước có thể phân bổ là 693,35 triệu m3, cụ thể như bảng sau [13]:

Bảng 1.1 Tài nguyên nước huyện Ba Chẽ

Đơn vị: Triệu m 3 /năm

TT Nguồn nước Tổng lượng nước Lượng nước có

1.2.3.2 Nhu cầu sử dụng nước:

Nhu cầu nước của huyện Ba Chẽ đến năm 2020 là 15,6 triệu m3, đến năm 2025 là 16,8 triệu m3, đến năm 2030 là 20,2 triệu m3 [13]:

Bảng 1.2 Nhu cầu dùng nước huyện Ba Chẽ

1.2.3.3 Thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn nước:

Căn cứ quyết định số 1446/QĐ-UBND ngày 28/5/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Căn cứ vào hiện trạng và định hướng sử dụng nước của các đối tượng dùng nước Thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn nước huyện Ba Chẽ trong kỳ quy hoạch được xác định, sắp xếp theo thứ tự từ cao đến thấp như bảng sau [13]:

Trang 30

21

Bảng 1.3.Thứ tự ưu tiên phân bổ huyện Ba Chẽ

4 Du lịch, dịch vụ Du lịch, dịch vụ Du lịch, dịch vụ

1.2.3.4 Sông Ba Chẽ và quy hoạch khai thác, sử dụng

Sông Ba Chẽ có vai trong quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội

của huyện Ba Chẽ, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho huyện Ba Chẽ (Nhà máy nước Ba Chẽ lấy nước từ sông ba Chẽ với công suất thiết kế 1.200 m 3 /ngày đêm, công suất vận hành là 700 m 3 /ngày đêm), ngoài ra còn cung cấp nước công nghiệp, tạo

phù sa cho các cánh đồng sản xuất nông nghiệp [13]

Theo Báo cáo thuyết minh Quy hoạch Tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định 4358/QĐ-UBND ngày 26/12/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh, mục đích sử dụng nước sông Ba Chẽ như sau [13]:

- Giai đoạn đến năm 2020: Nâng cấp nhà máy nước Ba Chẽ lấy nước từ sông Ba Chẽ với công suất 3.000 m3/ngày đêm cung cấp nước cho thị trấn Ba Chẽ [13]

- Giai đoạn 2020 – 2030: Nâng công suất nhà máy nước Ba Chẽ lấy nước từ sông

Ba Chẽ với công suất 6.000 m3/ngày đêm cung cấp nước cho thị trấn Ba Chẽ Xây dựng đập dâng Thác Trúc trên sông Ba Chẽ để khai thác với công suất 55.000m3/ngày đêm phục vụ cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, tương ứng với mục tiêu chất lượng nước, cụ thể như sau [13]:

Trang 31

Mục tiêu chất lượng nước

Mục tiêu CLN gđ 2020-

2030

1 Đoạn 1

Từ thượng nguồn tại xã Đồng Sơn, huyện Ba Chẽ

Nhập lưu với sông Quánh tại

xã Minh Cầm, huyện Ba Chẽ

- Cấp nước nông

2 Đoạn 2

Nhập lưu với sông Quánh tại xã Minh Cầm, huyện

Ba Chẽ

Nhập lưu với sông Khe Pụt,

xã Thanh Sơn, huyện Ba Chẽ

- Cấp nước nông nghiệp

- Cấp nước công nghiệp

3 Đoạn 3

Nhập lưu với sông Khe Pụt,

xã Thanh Sơn, huyện Ba Chẽ

Nhập lưu với sông Làng Cổng tại xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ

- Cấp nước nông nghiệp

- Cấp nước công nghiệp

4 Đoạn 4

Nhập lưu với sông Làng Cổng tại xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ

Nhập lưu với sông Nam Kim tại xã Nam Sơn, huyện Ba Chẽ

- Cấp nước sinh hoạt

- Cấp nước công nghiệp

5 Đoạn 5

Nhập lưu với sông Nam Kim tại xã Nam Sơn, huyện Ba Chẽ

- Giao thông thủy

Trang 32

23

Hình 1.3 Sơ đồ dòng chảy sông Ba Chẽ và các điểm hợp lưu nhánh sông

Trang 33

24

1.2.4 Các vấn đề liên quan đến chất lượng nước mặt vùng nghiên cứu

1.2.4.1 Các nguồn gây ô nhiễm chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ

* Nguồn thải dạng điểm:

Lưu vực sông Ba Chẽ hiện có một số cơ sở, nhà máy sản xuất công nghiệp có

hoạt động xả thải ra sông như: Cụm công nghiệp Nam Sơn, một số cơ sở dăm gỗ

(Công ty CP Trường Sơn 36, Công ty TNHH Vương Cường VT ), Công ty TNHH

MTV sản xuất hàng xuất khẩu ANT, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ, HTX

Kinh doanh dịch vụ lâm sản ngoài gỗ Ba Chẽ…; và khoảng 10 cơ sở nuôi trồng thủy

sản; cơ sở chế biến sản xuất bún; các cơ sở kinh doanh tiểu thủ công nghiệp

 Nguồn thải từ cơ sở công nghiệp:

Bảng 1.5: Hiện trạng phát thải và xử lý nước thải tại các nhà máy xả thải ra

sông Ba Chẽ

Nguồn thải Loại hình sản xuất

Năm hoạt động

Hệ thống xử lý nước thải

(HTXLNT) Công

suất (m 3 /ngđ)

Năm vận

hành

Hiện trạng nước thải đầu ra

Cụm công nghiệp

Nam Sơn

Sản xuất, chế biến lâm sản; sản xuất bao bì xuất khẩu; sản xuất, chế biến nông sản; sản xuất, lắp đặt thiết bị cơ khí; gia công kim loại; sửa chữa máy móc phục vụ cho ngành lâm nghiệp và nông nghiệp…

2012 2.000 Quý

III/2018

Đã được

xử lý đạt tiêu chuẩn

Trang 34

25

Nguồn thải Loại hình sản xuất

Năm hoạt động

Hệ thống xử lý nước thải

(HTXLNT) Công

suất (m 3 /ngđ)

Năm vận

hành

Hiện trạng nước thải đầu ra

Bảng 1.6: Kết quả quan trắc một số thông số cơ bản của các nguồn thải vào

sông Ba Chẽ Thông số

Mầu

(Pt/Co)

Độ đục (NTU)

Công ty CP Trường Sơn 36 7,1 147 45 150 155 1.500

Công ty TNHH Vương Cường

Công ty TNHH MTV sản xuất

hàng xuất khẩu ANT 6,15 11 9 28,7 25,9 <3

HTX kinh doanh dịch vụ lâm

- QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp

- Cột A: quy định giá trị C của các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi xả

vào nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

- Cột B: quy định giá trị C của các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi xả

vào nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

Trang 35

26

 Nguồn thải nước sinh hoạt từ các cụm dân cư:

Huyện Ba Chẽ hiện chưa có trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, hầu hết nước thải sinh hoạt đều được xử lý sơ bộ tại bể phốt tự xây sau đó xả thải ra mương nước gần nhà hoặc các khu vực ao, ruộng trũng hoặc tự ngấm xuống đất Một bộ phận nhỏ dân cư vẫn tận dụng nước thải sinh hoạt (nước xí, tiểu) làm nước tưới cây, đối với phân sử dụng hố xí hai ngăn tận dụng phân ủ làm chất bón cho cây xanh Như vậy khu vực lưu vực sông Ba Chẽ không phát hiện cửa xả nước thải sinh hoạt xuống sông Ba Chẽ, chưa thấy các biểu hiện rõ ràng về ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt

* Nguồn thải dạng diện:

- Nước thải từ sản xuất nông nghiệp:

+ Diện tích đất nông nghiệp trên toàn huyện khoảng: 1.348,64ha [5]

+ Lượng phân bón sử dụng hàng năm trên lưu vực khoảng 4.755 tấn, lượng thuốc bảo vệ thực vật ước tính khoảng 24 tấn/năm

Nguồn ô nhiễm dạng diện là từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện sử dụng nước sông này hoặc nước từ các suối chảy qua các vùng sản xuất nông nghiệp ra sông Hầu hết các nguồn thải từ nông nghiệp lại được thải hoặc ngấm xuống sông Ba Chẽ

1.2.4.2 Tác động ô nhiễm đến chất lượng nước và hệ sinh thái sông Ba Chẽ

* Tác động ô nhiễm đến chất lượng nước sông Ba Chẽ:

Các nguồn thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước của sông Ba Chẽ Cụ thể:

- Suy giảm chất lượng nước sông do hàm lượng cao của chất hữu cơ như BOD, COD, T-P, T-N và cặn lơ lửng đổ thải vào sông liên tục trong thời gian dài với lưu lượng khá lớn

- Hoạt động của các nhà máy sản xuất gỗ, tre, nứa; các nhà máy sản xuất giấy; hoạt động sản xuất của cụm Công nghiệp Nam Sơn đổ thải ra sông Ba Chẽ làm gia tăng mức độ ô nhiễm trên sông Nước thải la canh từ các phương tiện thủy (tàu, thuyền) ra vào khu vực cảng thủy nội địa Khe Sâu có chứa dầu mỡ và các chất thải khác đổ vào sông gây ô nhiễm môi trường

Trong trường hợp sức chịu tải của dòng sông quá giới hạn thì khả năng phục hồi

là rất khó trong khi các nguồn thải vẫn đều đặn đổ vào

Khi nguồn nước sông Ba Chẽ bị ảnh hưởng sẽ không thể sử dụng làm nước cấp cho sinh hoạt, và hoạt động sản xuất nông nghiệp Chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh của nhiều xã thuộc lưu vực sông

Trang 36

27

* Tác động hệ sinh thái sông Ba Chẽ:

Do các hoạt động sản xuất công nghiệp lưu vực sông Ba Chẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái như sau:

- Mất diện tích vùng lưu vực sông do làm cảng, xây dựng nhà máy Điều này đồng nghĩa với việc mất nơi cư ngụ của các sinh vật sinh sống tại bờ sông như cáy, cua, thực vật thủy sinh Lưu vực này cũng là vùng đệm quan trọng cung cấp dinh dưỡng cho các hệ sinh vật dưới nước

- Các nguồn thải gồm nước thải, chất thải rắn đổ vào sông có thể làm suy giảm chất lượng nước sông ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh sống của các loài động vật và thực vật trong sông Cụ thể các loài như tôm, cua, cá,… đặc biệt là tại khu vực sông Ba Chẽ có một số loài đặc hữu như cà ra, các loài cá sông, tôm càng đòi hỏi môi trường ít biến động, trong sạch Cụ thể:

+ Cà ra chỉ sống ở nước “đài hai” (là loại nước sông ở ranh giới mặn ngọt, khi có nước biển tràn vào thì bị mặn, nhưng khi nước biển rút thì vẫn là nước ngọt), cà ra rất kén môi trường sống, nên hầu như chúng chỉ có nhiều ở sông Ba Chẽ vì môi trường sống còn thích hợp Toàn huyện Ba Chẽ chỉ có khoảng 50 hộ chuyên sống bằng nghề săn bắt cà ra theo mùa, chủ yếu tập trung ở thị trấn và xã Thanh Sơn

+ Tôm sông Ba Chẽ: Do đặc thù vị trí ngã ba sông (Cửa sông Ba Chẽ gặp cửa sông Tiên Yên ở phía Bắc và gặp cửa sông Voi Lớn ở phía Nam) lại có vùng tiếp giáp với biển, chất nước cũng như nguồn thức ăn đổ ra từ các nhánh sông, suối rất phong phú nên giống tôm này phát triển rất nhanh, rất nhiều ở sông Ba Chẽ, dọc dòng sông

Ba Chẽ tới khu vực thủy cơ nước lợ, giống tôm này rất nhiều, nước sông Ba Chẽ nhiều phù sa rất thích hợp cho sự phát triển của loài tôm này

Qua các đánh giá, tham khảo các tài liệu hiện có, có thể đưa ra một số nhận xét

về hệ sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ như sau:

- Sông Ba Chẽ có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Ba Chẽ với chức năng cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông thủy và bảo vệ đời sống sinh vật

- Qua các kết quả quan trắc môi trường tại sông thì chất lượng nước sông Ba Chẽ chưa bị ô nhiễm nghiêm trọng, các thông số đều nằm trong giới hạn của QCVN 08-MT:2015/BTNMT Một số tác động tiêu cực đến nguồn nước trong thời gian gần đây

là do sự gia tăng của các cơ sở sản xuất công nghiệp dọc hai bên bờ sông, hoạt động của các Nhà máy trong Cụm công nghiệp Nam Sơn Tổng lượng nước thải xả vào dòng sông khá lớn, xong việc xử lý triệt để tại các cơ sở còn hạn chế, chưa đảm bảo theo quy định hiện hành

Trang 37

28

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu là nước mặt trên sông Ba Chẽ, đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai trên các phạm vi không gian là Sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và phạm vi thời gian trong giai đoạn 2015-2019

2.3 Nội dung nghiên cứu

Các nội dung nghiên cứu bao gồm:

- Thu thập thông tin, tổng hợp dữ liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ;

- Điều tra, khảo sát, tổng hợp số liệu về đặc tính sông Ba Chẽ, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Ba Chẽ

- Thu thập, kế thừa số liệu, kết quả quan trắc liên quan đến chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ từ 2015 đến năm 2019

- Tiến hành lấy mẫu quan trắc, phân tích bổ sung chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ năm 2019, nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt trên sông Ba Chẽ

- Tính toán giá trị WQI dựa trên các số liệu thu thập và số liệu quan trắc để đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Ba Chẽ giai đoạn từ 2015-2019

- Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện

Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh nhằm hướng tới mục tiêu chất lượng nước theo Quy hoạch

đã đề ra

2.4 Phương pháp tiếp cận

Phương pháp tiếp cận được sử dụng như sau:

- Thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu (sông Ba Chẽ) làm cơ sở đánh giá, phân tích, giảm tối đa những hoạt động thu thập, điều tra, đánh giá từ đầu mà vẫn đánh giá được chất lượng nước sông trong điều kiện mới, cho ra kết quả đánh giá mới và tiên tiến

- Khảo sát thực địa nhằm cập nhật và bổ sung thêm các vị trí cần đánh giá thêm và đảm bảo có số liệu hoàn chỉnh, nêu được tình trạng nước sông Ba Chẽ và các nguyên nhân gây ô nhiễm theo dạng điểm và diện

Trang 38

29

- Việc phân tích các thông số quan trắc được thực hiện bởi đơn vị có chức năng (Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh), đảm bảo độ chính xác của số liệu

- So sánh số liệu quan trắc với QCVN 08:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt để đánh giá sự phù hợp của chất lượng nước mặt đối với quy hoạch sử dụng nước đã được phê duyệt, làm căn cứ để kiểm soát các nguồn thải vào nguồn nước sông, căn cứ để thực hiện các biện pháp cải thiện, phục hồi chất lượng nước

- Sử dụng phương pháp chỉ số chất lượng nước (WQI) để tính toán, từ đó có thể có mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước qua một thang điểm

- Dựa trên kết quả đánh giá, xác định các yếu tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng, nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng sông

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, kế thừa số liệu

Phương pháp thu thập thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn:

- Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thủy hải văn của huyện Ba Chẽ

từ Báo cáo kinh tế xã hội năm 2018 của huyện Ba Chẽ, Cổng thông tin điện tử huyện

Ba Chẽ, Báo cáo thuyết minh Quy hoạch Tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh năm 2016

- Thu thập, kế thừa kết quả quan trắc môi trường nước mặt sông Ba Chẽ định kỳ hàng quý, năm từ Báo cáo hiện trạng tỉnh Quảng Ninh và báo cáo quan trắc môi trường định kỳ của một số doanh nghiệp có hoạt động xả thải ra sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019

- Thu thập các thông tin từ các loại sách báo, tài liệu, mạng internet, các trang web có bài viết liên quan đến sông Ba Chẽ, chất lượng nước sông, cũng như kinh nghiệm đánh giá chất lượng nước từ các đề tài đã thực hiện

- Các tài liệu, số liệu từ Tổng cục thống kê Việt Nam

- Các sách báo, các công trình nghiên cứu có liên quan đã công bố

- Các đề tài nghiên cứu trước có liên quan

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa

Nghiên cứu thực địa được sử dụng trong báo cáo:

Trang 39

30

- Khảo sát thực địa sông Ba Chẽ thuộc địa bàn huyện Ba Chẽ nhằm đánh giá hiện trạng nguồn nước mặt, xác nhận yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ

- Khảo sát thực địa làm cơ sở xác định vị trí lấy mẫu thích hợp

- Thực hiện quan trắc lấy mẫu nước mặt tại các vị trí đã xác định

2.5.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu thu thập được xử lý và phân tích trong báo cáo như sau:

- Dựa trên cơ sở các kết quả phân tích, các số liệu thu thập được mã hóa đưa vào

máy tính với phần mềm Excel để tổng hợp và tính toán giá trị WQI

- Nguồn thông tin sau khi thu thập được qua các năm, các kết quả quan trắc bổ sung được thu về sẽ được tập hợp vào bảng biểu theo hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu, qua đó tác giả có thể so sánh và đánh giá được từng chỉ tiêu, cũng như đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu

- So sánh số liệu giữa các năm với nhau nhằm đánh giá diễn biến chất lượng nước sông theo thời gian

- So sánh từng thông số cụ thể với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08:2015/BTNMT); so sánh kết quả tính toán giá trị WQI với các mức đánh giá chất lượng nước đã được phê duyệt tại Quyết định 1460/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường, từ đó đánh giá được sự phù hợp của chất lượng nước sông với quy hoạch sử dụng nước đã được phê duyệt, làm căn cứ để kiểm soát các nguồn thải vào sông, đảm bảo nguồn nước sông luôn phù hợp với mục đích sử dụng

2.5.4 Phương pháp truyền thống trong đánh giá chất lượng nước thủy vực

Để có cơ sở đánh giá chất lượng nước sông Ba Chẽ, tác giả đã tham khảo kết quả quan trắc môi trường nhiều năm trong Báo cáo Hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ninh từ năm 2015 đến năm 2019 và đề xuất thực hiện quan trắc bổ sung 04 điểm trên sông Ba Chẽ đoạn thuộc huyện Ba Chẽ trong năm 2019

- Hoạt động quan trắc môi trường nước được tiến hành như sau:

Thiết lập mạng điểm quan trắc môi trường nước sông Ba Chẽ bổ sung năm 2019

để phục vụ đánh giá diễn biến chất lượng nước trong năm 2019 tại 06 vị trí từ NM1 đến NM6 (do mạng điểm quan trắc môi trường nước theo Quyết định 1927/QĐ-UBND ngày 08/7/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh “về việc phê duyệt Mạng điểm quan trắc

Trang 40

2 NM2 Sông Ba Chẽ tại cầu ngầm xã Thanh Sơn 2356132 441516

3 NM3

Sông Ba Chẽ tại điểm nhập lưu với sông Làng Cổng, xã Đồn Đạc

2355540 445156

4 NM4

Sông Ba Chẽ tại điểm lấy nước về nhà máy nước Ba Chẽ

2353478 450465 Số liệu từ báo

cáo hiện trạng tỉnh hàng năm

6 NM5 Sông Ba Chẽ đoạn hạ cụm công nghiệp Nam Sơn 2349969 455566

7 NM6 Hạ lưu sông Ba Chẽ trước khi đổ ra biển 2347180 457013

Quan trắc bổ sung năm 2019

Hình 2.1 Vị trí các điểm quan trắc bổ sung trên sông Ba Chẽ năm 2019

Ngày đăng: 28/09/2020, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w