1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động thô ở trẻ bại não từ 2-6 tuổi tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2018

13 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 509,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Nhóm 1: gồm 30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày. Nhóm 2: gồm 30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/ lần/ ngày.

Trang 1

VẬN ĐỘNG THÔ Ở TRẺ BẠI NÃO TỪ 2-6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG

NĂM 2018

Nguyễn Thị Thanh Nhàn 1 , Dương Văn Tâm 1

1 Bệnh viện Châm cứu trung ương

Chịu trách nhiệm chính: Dương Văn Tâm Email: duongvantambvcctw@gmail.com

Ngày nhận bài: 01/3/2018; Ngày phản biện khoa học: 15/3/2019; Ngày duyệt bài: 25/3/2019

TÓM TẮT

Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng Nhóm 1: gồm

30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày Nhóm 2: gồm 30 trẻ được xoa bóp bấm huyệt bằng tay và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong 60 phút/ lần/ ngày Kết quả sau 3 tháng phục hồi chức năng (PHCN), điểm GMFM trung bình trong nhóm nghiên cứu của trẻ bại não tại các mốc vận động thô tăng 31,4 điểm Sự thay đổi điểm GMFM giữa các mốc vận động thô của trẻ cũng khác nhau: mốc ngồi bò – quỳ tăng nhiều nhất với 48,7 điểm, thấp nhất là sự thay đổi điểm số ở mốc lẫy 11,6 điểm và mốc đi 21,1 điểm Xét

về mức độ tiến bộ, sau 3 tháng can thiệp PHCN ở nhóm nghiên cứu 100% trẻ có tiến bộ, trong

đó hầu hết trẻ tiến bộ nhiều chiếm 96,7% Tiến bộ nhiều nhất ở mốc ngồi, 86,7% trẻ cải thiện nhiều, và không có trẻ nào không cải thiện Tại mốc đi vẫn còn 8,3% trẻ không tiến bộ sau can thiệp 3 tháng Nhóm trẻ < 4 tuổi tiến bộ tốt hơn trẻ > 4 tuổi Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần cải thiện tốt hơn những trẻ có bệnh khác kèm theo.

Từ khóa: bại não, phục hồi chức năng, châm cứu

Abstract

EVALUATION OF CRUDE MOVEMENT REHABILITATION IN CHILDREN AGED

2 - 6 YEARS OLD IN THE NATIONAL HOSPITAL OF ACUPUNCTURE IN 2018

The study used a randomized controlled clinical trial design Group 1: 30 children are traditionally massaged and acupressured in 20 - 30 minutes everyday Group 2: 30 children are massaged, acupressured and do movement exercises in 60 minutes everyday Results of the study showed that after 3 months, the average GMFM score in the study group of cerebral palsy children in crude milestones increased by 31.4 points The change in GMFM score among the children’s coarse milestones was different: the bull-knee molded score was 48.7 points, the lowest

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bại não là một dạng đa tàn tật mãn tính,

đa dạng về mặt bệnh học và là một trong

những nguyên nhân chính gây tàn tật ở trẻ

em [1] Trên thế giới, năm 2002 số ca mắc bại

não chiếm tỷ lệ 1,8 - 2,5/1000 trẻ sơ sinh sống

[2] Ở Việt Nam, theo thống kê của Bệnh

viện Châm cứu TW, hàng năm có trên 3000

lượt trẻ bị bại não và tự kỷ đến khám và điều

trị Trong những năm gần đây, số lượng trẻ

bại não đến điều trị tại Bệnh viện Châm cứu

TW có xu hướng ngày càng tăng Năm 2016

tổng số trẻ điều trị bại não điều trị là 1.743

trẻ, chiếm 74,61% tổng số bệnh nhi nằm viện

[3] Phục hồi chức năng cho trẻ bại não bao

gồm nhiều lĩnh vực, trong đó PHCN vận

động đóng vai trò quan trọng đối với sự phát

triển của trẻ bại não Tại Bệnh viện Châm

cứu TW, điều trị PHCN cho trẻ bại não ngoài

điện châm, thủy châm, điều trị bằng tia hồng

ngoại, cấy chỉ, ngôn ngữ trị liệu thì các bài

tập vận động thụ động, các kỹ thuật tạo thuận

kết hợp với xoa bóp bấm huyệt (XBBH), tập

với dụng cụ đơn giản đã đem lại hiệu quả rất

đáng ghi nhận Với mong muốn nâng cao

hiệu quả phục hồi vận động cho trẻ, giúp trẻ

sớm hòa nhập với gia đình và xã hội, đề tài

được tiến hành với mục tiêu: Đánh giá kết

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 60 trẻ từ 2-6

tuổi mắc bại não, được khám và điều trị nội trú bằng điện châm, thủy châm vitamin nhóm

B và được chia thành hai nhóm ngẫu nhiên: Nhóm 1: gồm 30 trẻ được XBBH cổ truyền đơn thuần trong 30 phút/ lần/ ngày

Nhóm 2: gồm 30 trẻ được XBBH bằng tay

và tập theo kỹ thuật tạo thuận vận động trong

60 phút/ lần/ ngày

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Theo Y học hiện đại: bệnh nhi được chẩn

đoán là bại não dựa theo định nghĩa về bại não của Viện Hàn lâm nghiên cứu (Hoa Kỳ, 1985)

- Theo Y học cổ truyền: Bệnh nhi được

khám theo tứ chẩn và bát cương, được xác định mắc chứng ngũ trì, ngũ nan với những triệu chứng: răng mọc chậm, ngồi không vững, chân tay co cứng, co vặn, cổ gáy, chân tay cử động chậm, khi đứng chân co rút, bước không thẳng, nói không rõ, phát dục chậm, tinh thần chậm chạp, lưỡi đỏ, mạch phù sác

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhi có liệt vận động nhưng do các nguyên nhân thực thể khác như bệnh thần kinh cơ, bệnh thoái hóa thần kinh…

- Bệnh nhi không thuộc nhóm 2-6 tuổi

was the score change at roll over milestones 11.6 and walk milestones: 21,1 point In terms of progression level, after 3 months, 100% of the children in the study group made progress, of which most of the children improved significantly (96.7%) In sit milestone, with cerebral palsy progressing the most at 86.7%, and none of them improved 8.3% of children did not progress

at walk milestone after 3 months Children under 4 years of age progress better than those over

4 years old Children with simply cerebral palsy improve better than those with other illnesses.

Keywords: Cerebral palsy, functionality, acupressure

Trang 3

- Trẻ bại não được xác định GMFCS mức

độ I và V

- Bệnh nhi quá yếu đang mắc các bệnh cấp

tính như viêm phế quản phổi, hen phế quản

không thích hợp với việc điều trị bằng XBBH

và tập vận động

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: khoa Bại não, khoa Nhi, khoa

Điều trị liệt vận động - ngôn ngữ trẻ em,

Bệnh viện Châm cứu Trung ương

Thời gian: từ tháng 02 đến tháng 09 năm

2018

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thử

nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

2.4 Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng

phần mềm EpiData 3.1; phần mềm SPSS 20.0

và các thuật toán thống kê y sinh học

2.5 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được triển khai khi được chấp

thuận của Ban Giám đốc bệnh viện Châm cứu

TW, bệnh nhi và người nhà bệnh nhi

- Nghiên cứu đảm bảo giữ bí mật thông tin

của bệnh nhi và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 60 bệnh nhi tham gia nghiên cứu

- Đa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu nằm ở nhóm tuổi từ 2-4 tuổi, chiếm 65% ở nhóm chứng và 73,3% ở nhóm nghiên cứu Tuổi trung bình là 3,8 ± 1,3

- Tỷ lệ mắc bại não ở trẻ trai cao hơn ở trẻ gái Trong nhóm nghiên cứu tỷ lệ trẻ trai chiếm 60%, trong nhóm chứng tỷ lệ trẻ trai chiếm 66,7%

- Phần lớn trẻ bại não trong nghiên cứu

có tình trạng sinh bình thường, chiếm 56.7% Bên cạnh đó vẫn có một số lượng lớn trẻ có các vấn đề khác nhau ở thời điểm ngay sau khi sinh (ngạt tím, ngạt trắng, sặc ối…) chiếm 43.3%

- Trẻ bị đẻ thiếu tháng, nhẹ cân chiếm 35%, bên cạnh đó, trẻ bị đẻ già tháng và trọng lượng khi sinh lớn hơn 4kg chiếm 25%

- Nguyên nhân bại não do mắc các bệnh như nhiễm khuẩn thần kinh (viêm não, viêm màng não), động kinh, tim bẩm sinh, nhiễm khuẩn hô hấp nặng chiếm tỷ lệ 30% Trẻ mắc bệnh bại não đơn thuần chiếm 70%

3.1 Kết quả phục hồi chức năng vận động thô theo GMFCS

Bảng 3.1 Sự cải thiện của trẻ bại não theo các mức độ GMFCS

của nhóm chứng và nhóm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

p

Trước PHCN Sau PHCN 1 tháng Sau PHCN 3 tháng

Trang 4

Nhận xét: Nhóm chứng, trước khi PHCN 76,7% trẻ có điểm GMFCS IV, sau PHCN 3 tháng chỉ còn 3,3% Trước khi PHCN 6.6% trẻ có điểm GMFCS II, sau PHCN 3 tháng tăng lên 16,7% Nhóm nghiên cứu, trước khi PHCN 86.8 % trẻ có điểm GMFCS IV, sau PHCN 3 tháng không

có bệnh nhân nào ở điểm GMFCS IV Trước khi PHCN 6.6% trẻ có điểm GMFCS II, sau PHCN

3 tháng tăng lên 93.3%

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05

3.2 Kết quả phục hồi chức năng vận động thô theo GMFM

Bảng 3.2 Điểm GMFM trung bình tại các mốc vận động trước và

sau PHCN của nhóm chứng Thời điểm PHCN (1) Trước

Sau 01 tháng PHCN (2)

Sau 03 tháng PHCN (3) X2-X1 X3-X1 p

Lẫy Nhóm chứng 90,3±11,8Nhóm NC 87,8 ± 14,6 97,2±5,596,9±5,6 99,2±2,599,4±2,1 6,69,4 11,68,9 <0.05

Tổng điểm

GMFM Nhóm chứng 34,2±7,7Nhóm NC 38,2±11,1 42,6±7,052,1±8,2 53,2±8,569,6±7,7 13,98,4 31,419 <0.05

Nhận xét: Nhóm chứng, trẻ được PHCN tiến bộ nhất ở mốc bò, quỳ và ngồi Điểm số GMFM trung bình của trẻ ở mốc lẫy trước và sau điều trị PHCN đều rất cao, điểm số giảm dần theo các mốc ngồi; bò, quỳ; thấp nhất là điểm GMFM trong mốc đi Sự khác nhau về điểm số GMFM giữa các mốc vận động ở các trước và sau điều trị đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.

Nhóm nghiên cứu, điểm số GMFM trung bình của trẻ ở mốc lẫy, ngồi trước và sau PHCN đều rất cao, điểm số giảm dần theo các mốc phát triển vận động thô của trẻ, thấp nhất là điểm GMFM trong mốc đi Sự khác nhau về điểm số GMFM giữa các mốc vận động trước và sau điều trị đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

Trang 5

Bảng 3.3 So sánh mức điểm GMFM của trẻ bại não trước và sau PHCN của nhóm chứng Thời điểm

Điểm GMFM

Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3)

Nhận xét: Trong nhóm chứng, hầu hết bệnh nhân có điểm GMFM < 74,9 Trẻ bại não có điểm GMFM từ 50 - 74,9 điểm tăng từ 0% lên 66,7% Trẻ bại não có điểm GMFM < 25 điểm giảm từ 10% xuống 0%.

Bảng 3.4 So sánh mức điểm GMFM của trẻ bại não trước và

sau PHCN của nhóm nghiên cứu Thời điểm

Điểm GMFM

Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3)

Nhận xét: Sau 3 tháng PHCN, tỷ lệ trẻ bại não có điểm GMFM < 25 điểm giảm từ 3,3% xuống 0% Trẻ bại não có điểm GMFM từ 50 - 74,9 điểm tăng từ 13,4% lên 83.3% Trẻ bại não có điểm GMFM ≥ 75 điểm tăng từ 0% lên 13,4%.

Biểu đồ 3.1 Mức độ cải thiện về vận động thô của trẻ bại não

sau PHCN của nhóm nghiên cứu

Trang 6

Nhận xét: Số trẻ tiến bộ sau PHCN chiếm tỷ lệ cao 96,7% Trong đó, chủ yếu là cải thiện nhiều sau 3 tháng nghiên cứu, và cải thiện trung bình sau 1 tháng nghiên cứu Số trẻ không cải thiện sau PHCN 1 tháng chỉ chiếm 3,3%, và không có trẻ nào không cải thiện sau 3 tháng PHCN.

3.3 Sự cải thiện của trẻ bại não ở từng mốc vận động thô sau PHCN

Biểu đồ 3.2 Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc lẫy sau 1 và 3 tháng PHCN

Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt Trong đó cải thiện nhiều từ 1 tháng 15% lên 26,7% sau 3 tháng.

Bảng 3.5 Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc ngồi trước và sau PHCN

Thời điểm

Điểm GMFM

Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3)

Nhận xét: Trước can thiệp, số trẻ có điểm số GMFM dưới 75 điểm tương đối cao chiếm 95% Sau khi PHCN 3 tháng 73,3% bệnh nhân đều đạt mốc ngồi Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

Biểu đồ 3.3 Mức cải thiện GMFM của trẻ tại mốc ngồi sau 1 tháng và 3 tháng PHCN

Trang 7

Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt Trong đó cải thiện từ 1 tháng 33,3% lên 86,7% sau 3 tháng Số trẻ không cải thiện chiếm tỷ lệ thấp chỉ có 5% sau 1 tháng và không có trẻ nào không cải thiện sau 3 tháng.

Bảng 3.6 Mức điểm GMFM của trẻ tại mốc bò và quỳ trước và sau PHCN

Thời điểm

Điểm GMFM

Trước PHCN (1) Sau 01 tháng PHCN (2) Sau 03 tháng PHCN (3)

Nhận xét: Trước can thiệp, số trẻ có điểm số GMFM dưới 75 điểm tương đối cao chiếm 95% Sau khi PHCN 3 tháng 60 % bệnh nhân đều đạt mốc quỳ và bò Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p< 0,05

Biểu đồ 3.4 Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc bò và quỳ

Nhận xét: Sau PHCN 1 tháng có sự cải thiện nhiều nhất chiếm 86,7% Tuy nhiên sau đó không cải thiện nhiều sau 3 tháng tiếp chỉ chiếm 46,7% Bên cạnh đó tăng tỷ lệ trẻ cải thiện trung bình và ít Không có trẻ nào không cải thiện sau 1 tháng và 3 tháng

Biểu đồ 3.5 Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc đứng

Trang 8

Nhận xét: Sau PHCN, 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt Trong đó cải thiện từ 1 tháng 5% lên 68,3% sau 3 tháng Số trẻ không cải thiện sau 3 tháng chỉ chiếm 5%.

Biểu đồ 3.6 Mức độ tiến bộ của trẻ bại não tại mốc đi, chạy

Nhận xét: Sau PHCN 1 tháng, 68% trẻ không cải thiện ở mốc đi và chạy Sau 3 tháng có sự cải thiện rõ rệt Trong đó 31,7% cái thiện nhiều, 38,3% cải thiện trung bình, 21,7% cải thiện ít Số trẻ không cải thiện sau 3 tháng chỉ chiếm 8,3%.

3.4 Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo một số đặc điểm lâm sàng

Bảng 3.7 Sự cải thiện về vận động thô của trẻ bại não theo tuổi bắt đầu điều trị Tuổi bắt đầu

điều trị Trước PHCN Nhóm chứng Sau 03 tháng Trước PHCN Nhóm nghiên cứu Sau 03 tháng

Nhận xét: Sự tiến bộ giữa 2 nhóm tuổi sau điều trị là khác nhau và có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Nhóm <4 tuổi cho kết quả sau điều trị tốt hơn ở nhóm nghiên cứu có điểm GMFM là 75,6±6,3và nhóm chứng có điểm GMFM là 53,6±5,7

Bảng 3.8 Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não với nhóm tuổi sau PHCN 1 tháng

Nhóm tuổi Cải thiện nhiều trung bình Cải thiện Cải thiện ít Không cải thiện P

<0,05

Nhận xét: Mức độ cải thiện giữa các nhóm tuổi có sự khác nhau Nhóm trẻ < 04 tuổi có mức

độ cải thiện tốt và rõ rệt hơn nhóm hơn 4 tuổi.

Trang 9

IV BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm chung

Nghiên cứu của chúng tôi gồm 60 trẻ bại

não tuổi từ 2-6 tuổi Tuổi trung bình là 3,8 ±

1,3 Chúng tôi chia số trẻ trong nghiên cứu

ra làm hai nhóm dưới 4 tuổi và trên 4 tuổi

dựa vào mốc phát triển, trưởng thành của

hệ thần kinh và hệ vận động của trẻ bình

thường [4, 1] Trong đó nhóm trẻ dưới 4 tuổi

chiếm 61,7%, trên 4 tuổi chiếm 38,3% Kết

quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so

với nghiên cứu của Smith DW và cộng sự

có tuổi trung bình là 6,2 tuổi [5] Chen YN

và cộng sự có tuổi trung bình là 4,2 tuổi [6]

Đồng thời cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Linh có tuổi trung bình là 36,5 tháng [7] , Kolobo TH là 13,8 tháng [8] Như vậy, tuổi của trẻ bại não trong các nghiên cứu là rất đa dạng phụ thuộc và mục đích của nghiên cứu và cách lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu của từng tác giả

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bại não ở trẻ trai cao hơn trẻ gái Trong nhóm nghiên cứu tỷ lệ trẻ trai chiếm 60%, trong nhóm chứng tỷ lệ trẻ trai chiếm 66,7% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của các tác giả Trần Thị Thu Hà có tỷ lệ nam/nữ là 1,35/1 [9], nghiên cứu của Satnley

có tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1 [2]

Bảng 3.9 Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não có bệnh kèm theo sau PHCN 1 tháng

Bệnh kèm theo Cải thiện nhiều trung bình Cải thiện Cải thiện ít Không cải thiện P

<0,05

Nhận xét: Trẻ mắc bại não đơn thuần có mức độ cải thiện vận động thô tốt hơn, sau PHCN

1 tháng trung bình là 40%, trong khi ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 1,7%.

Biểu đồ 3.7 Mức độ cải thiện vận động thô của trẻ bại não

có bệnh kèm theo sau PHCN 3 tháng

Nhận xét: Trẻ bại não được cải thiện nhiều sau 3 tháng PHCN Mức độ vận động thô của trẻ bại não đơn thuần cải thiện nhiều chiếm 48,3%, trong khi đó ở trẻ bại não có động kinh là 13,3%; trẻ bại não mắc tim bẩm sinh là 5%.

Trang 10

4.2 Sự cải thiện của trẻ bại não theo các

mức độ GMFCS

Nếu như test Denver II vốn được sử dụng

nhiều trong các nghiên cứu trước đây về bại

não ở Việt Nam [9, 7], được thiết kế để sử

dụng cho trẻ em độ tuổi sơ sinh đến 6 tuổi

Nhằm tiêu chuẩn hóa một phương pháp

đánh giá sự phát triển tâm vận động để có

thể phát hiện sớm các trạng thái chậm phát

triển ở trẻ em trước tuổi đi học Test Denver

II cần được thực hiện bởi các cán bộ tâm lý có

kinh nghiệm, cần các dụng cụ đánh giá kèm

theo [4] Như vậy test Denver II không được

sử dụng đặc hiệu để đánh giá về sự phát triển

vận động thô của trẻ bại não và khó sử dụng

trong thực hành lâm sàng của bác sỹ phục hồi

chức năng GMFCS là một hệ thống phân loại

tập trung vào những gì trẻ bại não có thể thực

hiện gắn với những yếu tố môi trường sống,

sinh hoạt Với 5 mức độ phân biệt rõ ràng, dễ

ứng dụng trên lâm sàng GMFCS chia cụ thể

theo các nhóm tuổi 0-2, 2-4, 4-6, 6-12, 12-18

tuổi

Trên thế giới, GMFCS áp dụng cho tất cả

các thể bại não, được sử dụng rộng rãi trên

lâm sàng, đó cũng là công cụ hữu ích cho các

nhà nghiên cứu, dẫn đến sự hiểu biết tốt hơn

về điều trị bại não [5]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ bại

não GMFCS ở mức độ IV chiếm tỷ lệ cao

nhất, trong đó nhóm chứng có GMFCS IV

chiếm 76,7%, nhóm nghiên cứu có GMFCS

IV chiếm 86,8% Sau PHCN 3 tháng không

có bệnh nhân nào ở điểm GMFCS IV ở nhóm

nghiên cứu và còn 3,3% bệnh nhân ở nhóm

chứng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác

biệt với kết quả nghiên cứu của Chen YN và

cộng sự GMFCS mức I cao nhất chiếm 48% [5]

4.3 Sự tiến bộ của trẻ ở tất cả các mốc vận động thô.

Sau 3 tháng can thiệp PHCN về vận động thô cho trẻ bại não tuổi từ 2-6 tuổi bằng các KTTTVĐ, sử dụng t - test để so sánh điểm GMFM trung bình trước và sau điều trị theo từng mốc vận động và theo tổng điểm GMFM, chúng tôi nhận thấy có sự tiến bộ rõ rệt về vận động thô sau điều trị so với trước điều trị với

sự chênh lệch điểm số GMFM trung bình cho năm mốc vận động: lẫy, ngồi, bò - quỳ, đứng,

đi - chạy - nhảy ở nhóm nghiên cứu là 31,4, ở nhóm chứng là 19

Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy mốc vận động của trẻ trong nghiên cứu có tiến bộ nhất là ngồi, lẫy, bò-quỳ Số trẻ có khả năng thực hiện được các mục trong mốc đứng và đi

là rất ít và sự tiến bộ của trẻ trong hai mốc phát triển này cũng không nhiều Chính vì vậy, sự chênh lệch điểm số sau điều trị của 2 mốc này

là thấp nhất Chỉ có thể giải thích điều này là

do sự chậm trễ trong phát triển các mốc vận động thô ở trẻ bại não và sự phát triển sai lệch của các mẫu vận động bất thường tạo ra Đánh giá sự tiến bộ của trẻ sau PHCN theo mức điểm GMFM trong các mốc vận động thô chúng tôi nhận thấy, sau can thiệp

số trẻ có điểm số GMFM trên 75 điểm tăng

từ 0% lên 4% ở nhóm nghiên cứu Ở nhóm chứng ở cả trước và sau 3 tháng PHCN không

có trẻ nào đạt trên mức 75 điểm Như vậy, sau PHCN số trẻ tiến bộ chiếm tỷ lệ cao Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Thúy về tác dụng của điện châm điều trị trẻ bại não, sau điều trị 100% trẻ bại não có sự tiến bộ về

Ngày đăng: 28/09/2020, 00:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w