1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khảo sát tâm lý và nhu cầu hỗ trợ của cha mẹ bệnh nhân nhi bị ung thư đang hóa trị tại Bệnh viện Ung Bướu Tp. Hồ Chí Minh

8 81 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 9,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát tâm lý và nhu cầu hỗ trợ của cha mẹ bệnh nhân (BN) nhi bị ung thư (UT) đang hóa trị tại bệnh viện Ung Bướu (BVUB) TP. HCM với phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 208 cha mẹ BN nhi có con bị UT đang hóa trị tại khoa Nội 3 BVUB năm 2018.

Trang 1

KHẢO SÁT TÂM LÝ VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA CHA MẸ BỆNH NHÂN NHI BỊ UNG THƯ ĐANG HÓA TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG THỊ THU TRÂM1, HÀ THỊ NHƯ HOA1, NGÔ THỊ THANH THỦY2, TRẦN KIM CHI3, NGUYỄN THỊ THU VÂN1, NGUYỄN THỊ THU THỦY1, NGUYỄN THỊ HỒNG NGA1, HOÀNG THỊ MỘNG HUYỀN4, PHẠM NGUYỄN DIỄM PHÚC5, ĐẶNG TRẦN NGỌC THANH6

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát tâm lý và nhu cầu hỗ trợ của cha mẹ bệnh nhân (BN) nhi bị ung thư (UT) đang hóa trị

tại bệnh viện Ung Bướu (BVUB) TP H CM

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 208 cha mẹ BN nhi có con bị UT đang hóa trị tại khoa

Nội 3 BVUB năm 2018 Phương pháp chọn mẫu thuận tiện Sử dụng BCH để thu thập số liệu Thống kê mô tả

và phân tích được sử dụng để phân tích số liệu

Kết quả: Căng thẳng về tâm lý của cha mẹ BN nhi đạt mức độ cao với = 3.93; SD = 0.47, cao nhất là

khó khăn trong tương tác với trẻ 76.9%, kế đến là căng thẳng của cha mẹ BN nhi 71.6% và thấp nhất rối loạn chức năng tương tác với trẻ 57.7% Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của cha mẹ BN nhi đạt mức độ cao với = 4.07

SD = 0.43; cao nh ất nhu cầu hỗ trợ về kinh tế 89.4%; kế đến nhu cầu hỗ trợ về thông tin 86.5%; tiếp theo về

c ảm xúc 84.6%; về thể chất 71.6%; về tâm lý xã hội 70.7% và thấp nhất về tâm linh 68.3%

Kết luận: Căng thẳng về tâm lý của cha mẹ Bn nhi đạt mức độ cao ( = 3.93; SD = 0.47) Nhu cầu chăm

sóc hỗ trợ của cha mẹ BN nhi đạt mức độ cao ( = 4.07, SD = 0.43)

Từ khóa: Tâm lý, nhu cầu, BN nhi UT

ABSTRACT

Survey of inpatient pediatric parents’ stress and supportive care needs at Oncology Hospital, Ho Chi Minh City Objective: To investigate stress and supportive care needs of parents whose child treated with

chemotherapy at Oncology Hospital, Ho Chi Minh City

Method: A cross – sectional study conducted on 208 pediatric patients’ parents, at the Medical Oncology Department 3 of Oncology Hospital, Ho Chi Minh City using convenient sampling method A questionaire was used for data collection The descriptive statistic was used for data analysis

Results: Parents’ mental stress was at high level ( = 3.93; SD = 0.47), the highest stress rate was found

in the domain of interactive difficulty with patients (76.9%), the second highest is stress from parents at 71.6 percents, the lowest rate was found in the dysfunction of interaction with patients (57.7%) Parents’ need for mental support was at a high level ( SD= 0.43); the highest rate was the need for financial support (89.4%), followed by information (86.5%), emotional (84.6%), physical (71.6%), and sociopsychological support

1 CNĐD Khoa Nội 3 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

2BSCKII Trưởng Khoa Nội 3 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

3 ĐDTC Khoa Nội 3 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

4ĐDCKI Điều dưỡng Trưởng Khoa Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

5ĐD Khoa Chăm sóc Giảm nhẹ và Phòng Điều dưỡng - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

6 Khoa Điều dưỡng - Kỹ Thuật Y học, Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

(70.7%); the lowest was spiritual support (68.3%)

Conclusion/implication: Parents’ mental stress was at high level ( = 3.93; SD = 0.47) Parents’ need for mental support was at high level ( SD = 0.43)

Keyword: Psychological, needs, pediatric cancer patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư (UT) là bệnh lý ác tính của tế bào,

có thể gặp ở mọi lứa tuổi UT ở trẻ em (TE) đang

tăng đến mức báo động, hiện nay khoảng 250.000

TE bị mắc bệnh UT Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp

Quốc (UNICEF), mỗi năm có thêm 160.000 TE bị UT

và khoảng 90.000 TE chết do UT, gây tử vong đứng

thứ 2 ở TE trên các nước đang phát triển Tại Việt

Nam, cũng có tới 4.200 trường hợp UT nhi mắc mới/

năm, tăng nhanh ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí

Minh, tỉ lệ UT trẻ nhỏ hơn 5 tuổi gấp 2 lần trẻ từ 6-15

tuổi Trước năm 1975 tỷ lệ sống còn < 20% so với

hiện nay (tỉ lệ sống còn cải thiện đáng kể trên 30

năm)[1]

UT ở trẻ thường gặp nhiều nhất là các bệnh về

máu, u não, còn lại là u nguyên bào thần kinh,

Lymphôm không Hodgkin, Lymphôm, u thận, u

xương, Tỷ lệ gây tử vong cao nhất là bệnh bạch

cầu cấp dòng lymphô và dòng tủy (chiếm tới 30%)[2]

Điều trị bệnh UT cho trẻ thường là hóa trị, phẫu

thuật hay xạ trị hoặc đa mô thức và có thể gặp

những tác dụng phụ rất khó chịu Đối với cha mẹ BN

nhi, điều này gây sốc khiến họ sợ hãi, buồn phiền,

cảm thấy có lỗi, tức giận, phủ nhận BN nhi phải

chịu đựng nặng nề về tâm lý, tình cảm và 64% cha

mẹ BN nhi thường dành hơn 10 giờ mỗi ngày để

chăm sóc cho trẻ bị UT trong gia đình[3]

Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cho cha mẹ BN nhi có

con bị UT trước khi điều trị hóa - xạ - phẫu là rất cần

thiết Những nghiên cứu (NC) trước nhu cầu thông

tin, nhu cầu xã hội, nhu cầu cảm xúc được các bậc

cha mẹ BN nhi quan tâm nhất[4,5]

Các khảo sát về tâm lý và nhu cầu chăm sóc

hỗ trợ của cha mẹ BN nhi chưa được thực hiện tại

BVUB Tp HCM Vì vậy, chúng tôi tiến hành

thực hiện đề tài Khảo sát tâm lý và nhu cầu hỗ trợ

của cha mẹ BN nhi bị UT đang hóa trị tại BVUB

TP HCM

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Khảo sát tâm lý của cha mẹ BN nhi tại khoa

Nội 3, BVUB

2 Khảo sát nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của cha

mẹ BN nhi tại khoa Nội 3, BVUB

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Cha mẹ của BN nhi bị mắc bệnh UT đang điều trị tại khoa Nội 3, BVUB, TP.HCM từ 01/11/2017 đến 20/8/2018

Tiêu chuẩn chọn mẫu Cha mẹ của BN nhi được chẩn đoán xác định

là mắc UT đang điều trị nội trú và ngoại trú tại khoa Nội 3, hóa trị ≥ 1 lần Biết đọc, biết viết, có đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn; đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn; không bị khuyết tật hoặc rối loạn tâm thần kinh; hoàn tất BCH

Công cụ thu thập số liệu: BCH gồm 3 phần Phần 1: Thông tin đối tượng tham gia: Khảo

sát các đặc điểm nhân khẩu học của cha mẹ BN nhi gồm 12 câu hỏi về tuổi, giới tính, hộ khẩu thường trú, lương thu nhập/ tháng, chi phí điều trị trong

1 tháng

Phần 2: BCH khảo sát về tâm lý cha mẹ BN nhi và BN nhi: Sử dụng BCH Parenting Stress Index-Short Form (PSI) gồm 36 câu do Yeh CH1, Chen ML, Li W, Chuang HL NC và phát triển năm

2001, với Cronbach’s alpha dao động từ 0.79 - 0.88[6] Khảo sát trên 03 lĩnh vực gồm căng thẳng về tâm lý của cha mẹ BN nhi (12 câu); những rối loạn chức năng trong tương tác với trẻ (12 câu) và những khó khăn tương tác với trẻ (12 câu) Công cụ này sử dụng thang điểm Likert với 5 mức độ: 1) Hoàn toàn không đồng ý, 2) Không đồng ý, 3) Bình thường, 4) Đồng ý, 5) Hoàn toàn đồng ý Điểm càng cao, mức

độ căng thẳng của cha mẹ BN nhi càng nhiều Mức

độ căng thẳng được chia làm 03 mức độ: Thấp (1,00

- 2,33), Trung bình (2,34 - 3,67), và cao (3,68 – 5)

Phần 3: BCH khảo sát các nhu cầu chăm sóc

hỗ trợ cho cha mẹ BN nhi có con bị UT: sử dụng

BCH Supportive care needs Framework (SCNF) gồm 45 câu do Laura M J Kerr và cộng sự NC và phát triển năm 2004,với Cronbach’s alpha dao động

từ 0.78 - 0.93[4] BCH khảo sát trên 06 lĩnh vực: Nhu cầu thông tin (9 câu), nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội (13 câu), nhu cầu cảm xúc (16 câu), nhu cầu hỗ trợ

Trang 3

về thể chất (2 câu), nhu cầu tâm linh (1 câu), nhu

cầu kinh tế (4 câu) Công cụ này sử dụng thang

điểm Likert với 5 mức độ: 1) Hoàn toàn không đồng

ý, 2) Không đồng ý, 3) Bình thường, 4) Đồng ý, 5)

Hoàn toàn đồng ý Điểm càng cao, nhu cầu của cha

mẹ BN nhi càng nhiều Mức dộ nhu cầu của cha mẹ

BN nhi được chia làm 03 mức độ: Thấp (1,00 -

2,33), Trung bình (2,34 - 3,67), và cao (3,68 - 5)

Quy trình dịch và kiểm tra độ tin cậy của

Bộ câu hỏi

Sau khi được sự đồng ý của 02 tác giả cho

phép sử dụng BCH, nhóm NC tuân thủ quy trình dịch

ngược và xuôi 02 BCH (Anh-Việt-Anh) Sau đó,

được kiểm tra thử trên 30 trường hợp cha mẹ BN

nhi có đặc điểm tương đồng với đối tượng tham gia

NC với độ tin cậy của BCH, Cronbach’s alpha >80

Nhóm NC tiến hành khảo sát chính thức trên đối

tượng NC

Đạo đức trong nghiên cứu

NC này được tiến hành sau khi Hội đồng Khoa

học kỹ thuật và công nghệ, Hội đồng đạo đức bệnh

viện đồng ý Trong phiếu NC không thu thập họ và

tên của người tham gia NC, đảm bảo tính bảo mật

của người tham gia

Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 20.0

Thống kê mô tả

Sử dụng tần số, tỷ lệ%, giá trị trung bình cộng

( và độ lệch chuẩn (SD), được sử dụng để mô tả

các biến số nhân khẩu học, lương thu nhập trong

1 tháng, chi phí điều trị, căng thẳng về tâm lý của

cha mẹ BN nhi và nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cha mẹ

BN nhi

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

B ảng 1 Thông tin chung của cha mẹ BN nhi

Đặc điểm (n = 208) Tần số Tỉ lệ (%) Trung bình Độ lệch chuẩn

Giới tính

Nơi cư trú

TP HCM 16 7.7

Tỉnh khác 191 91.8

Trình độ học vấn

Tiểu học 60 28.8

Trung cấp

Cao đẳng, đại

Nghề nghiệp

Không làm việc gì 35 16.8 Nội trợ 78 37.5

Lao động phổ thông

78 37.5

Buôn bán 15 7.2 Nhân viên

văn phòng 1 0.5

T hu nhập TB 1.2 0.5

≤ 4 triệu 167 80.3

≤ 6 triệu 32 15.4

≤ 8 triệu 7 3.4

> 8 triệu 2 1

C hi phí điều trị bệnh 3.2 1.0

≤ 3 triệu 21 10.1

≤ 6 triệu 29 13.9

≤ 9 triệu 30 14.4

> 9 triệu 208 61.5

Nhận xét: Độ tuổi trung bình của cha mẹ BN nhi

là 36 ( SD = 7.2) đa số ở các tỉnh ngoài Tp.HCM chiếm 91.8%; Trình độ học vấn chủ yếu cấp

2 chiếm 38.5%; cao đẳng đại học chiếm tỉ lệ thấp 5.8%; Nghề nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất là lao động phổ thông nam và nữ nội trợ 78% Tỉ lệ thấp nhất là hưu trí và nhân viên văn phòng (1 người) chiếm 0.5%; Thu nhập của cha mẹ BN nhi 1.25; SD = 0.5; cao nhất 80.3% (167/208 người) thu nhập ≤ 4 triệu, thấp nhất 1% (2/208 người) thu nhập > 8 triệu;

Chi phí điều trị bệnh của BN nhi 3.2; SD = 1.0; cao nhất 61.5% (128/208 người) điều trị > 9 triệu/ tháng

Trang 4

Tâm lý của cha mẹ BN nhi

B ảng 2 Tâm lý của cha mẹ BN nhi

Đặc điểm Trung bình lệchchuẩn Độ Mức độ

Tổng điểm căng thẳng

của cha mẹ BN nhi 4.00 0.56 Cao

Tổng điểm rối loạn chức

năng tương tác với trẻ 3.77 0.63 Cao

Tổng điểm khó khăn

trong tương tác với trẻ 4.01 0.45 Cao

Nhận xét: Điểm trung bình căng thẳng của cha

mẹ BN nhi là SD = 0.56; Cao nhất là

cha mẹ BN nhi phải từ bỏ nhiều thứ hơn để đáp ứng

nhu cầu của con SD = 0.71 và thấp nhất

trung bình là cha mẹ BN nhi không còn hứng thứ để làm bất cứ chuyện gì Điểm trung bình rối loạn chức năng tương tác với trẻ là SD = 0.63; có

9 câu trả lời ở mức độ cao, 3 câu mức độ trung bình, cao nhất là Trẻ UT ít cười với cha mẹ hơn

SD = 0.88 và thấp nhất là cha mẹ BN nhi cảm thấy con họ không thích họ SD

= 0.9 Điểm trung bình khó khăn trong tương tác với trẻ SD = 0.45; có 11 câu trả lời ở mức

độ cao; có 1 câu mức độ trung bình Cao nhất là trẻ

UT ăn, ngủ khó hơn SD = 0.67 và thấp nhất trẻ UT làm một vài điều khiến cha mẹ buồn = 3.64; SD = 0.94

0.0%

10.0%

20.0%

30.0%

40.0%

50.0%

60.0%

70.0%

80.0%

Khó khăn trong tương tác với trẻ Căng thẳng của cha mẹ BN nhi Rối loạn chức năngtương tác với trẻ Tổng điểm tâm lý cha mẹ BN nhi

76.9%

71.6%

57.7%

68.8%

41.8%

31.2%

0.5%

Biểu đồ tâm lý cha mẹ bệnh nhân nhi

Mức độ cao Mức độ trung bình Mức độ thấp

Biểu đồ 1 Tâm lý cha mẹ BN nhi

Nhận xét: Tổng điểm tâm lý cha mẹ BN nhi = 3.93; SD = 0.47, đa số tâm lý của cha mẹ BN nhi ở mức

độ cao 68.8%, số ít ở mức độ trung bình 31.3%, cao nhất là mức độ khăn trong tương tác với trẻ 76.9%, kế đến là căng thẳng của cha mẹ BN nhi mức độ 71.6%, thấp nhất rối loạn chức năng tương tác với trẻ 57.7%

Các nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cho cha mẹ BN nhi

B ảng 3 Nhu cầu thông tin cho cha mẹ BN nhi

1 Được NVYT giải thích xét nghiệm và điều trị của con 4.37 0.68 Cao

2 Được NVYT thông báo đầy đủ về những lợi ích và tác dụng phụ của điều trị hoặc

3 Được NVYT thông báo đầy đủ về những điều có thể làm để giúp con được khỏe

Trang 5

4 Được NVYT thông báo thành công của điều trị 4.28 0.63 Cao

5 Được NVYT thông báo UT thứ phát có thể xảy ra 4.29 0.62 Cao

6 Được NVYT viết ra giấy những điểm quan trọng 4.24 0.76 Cao

7 Có tờ rơi hướng dẫn theo dõi bệnh chăm sóc con ở nhà 4.05 0.88 Cao

8 Được NVYT nói phản ứng gia đình khi con bệnh 4.05 0.69 Cao

9 Được NVYT thông báo các tổ chức hỗ trợ nơi ở 3.95 0.92 Cao

Nhận xét: Điểm trung bình chăm sóc hỗ trợ về thông tin là SD = 0.52; các nhu cầu đều ở mức

độ cao Trong đó cao nhất là được NVYT thông báo tác dụng phụ của điều trị hoặc phẫu thuật SD

= 0.65 và thấp nhất được NVYT thông báo đầy đủ các tổ chức hỗ trợ nơi ở gia đình 3.95; SD = 0.92

B ảng 4 Nhu cầu cảm xúc

Đặc điểm Trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ

10 Sợ bệnh UT không chữa khỏi, tái phát 4.28 0.83 Cao

11 Đối mặt với nỗi đau và chịu đựng đau khổ của trẻ 4.38 0.66 Cao

12 S ợ sự khiếm khuyết cơ thể trẻ hoặc bệnh tệ hơn 4.34 0.63 Cao

13 Đối mặt với việc không khỏe của trẻ 4.36 0.61 Cao

14 L o lắng khi trẻ điều trị hóa hoặc phẫu thuật 4.46 0.58 Cao

15 Sợ UT của trẻ vượt ra ngoài tầm kiểm soát 4.51 0.61 Cao

18 Tức giận và hỗn loạn tại sao điều này xảy ra 4.07 0.77 Cao

20 Học cách để cảm xúc kiểm soát tình hình 4.19 0.64 Cao

21 Có BS nói về cảm xúc và nhu cầu tình cảm của con 4.01 0.83 Cao

23 Có BS động viên sự hy vọng về điều trị cho con 4.11 0.69 Cao

25 Có ĐD nói cảm xúc và nhu cầu tình cảm của con 4.04 0.78 Cao

Nhận xét: Tổng điểm trung bình chăm sóc hỗ trợ về cảm xúc là SD = 0.51; các nhu cầu đều ở mức độ cao Cao nhất là sợ UT của trẻ vượt ra ngoài tầm kiểm soát SD = 0.61 và thấp nhất cha

mẹ BN nhi cảm giác bị trầm cảm 3.95; SD = 0.9

B ảng 5 Nhu cầu kinh tế

27 Công việc trì trệ và những thay đổi trong cuộc sống 4.17 0.72 Cao

28 Công việc nhà, việc làm ăn gặp khó khăn 4.32 0.71 Cao

Trang 6

Nhận xét: Điểm trung bình nhu cầu kinh tế là SD = 0.6; các nhu cầu đều ở mức độ cao Trong

đó cao nhất là “công việc nhà, việc làm ăn gặp khó khăn” SD = 0.71 và thấp nhất “cha mẹ BN nhi

bận tâm với việc đi về bệnh viện” 4.14; SD = 0.78

Bảng 6 Nhu cầu tâm linh, tâm lý xã hội

Đặc điểm Trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ

Nhận xét: Tổng điểm nhu cầu hỗ trợ về tâm linh: SD = 0.78 ở mức độ cao, nhu cầu tâm lý xã hội SD = 0.45; đa số các nhu cầu ở mức độ cao, một trường hợp ở mức độ trung bình Trong đó cao nhất là “mong nói chuyện với người hiểu và đã trải qua trải nghiệm tương tự” SD = 0.78 và thấp nhất “đối mặt với việc chờ đợi lâu khi khám bệnh” 2.91; SD = 0.45 Điểm trung bình nhu cầu thể chất là SD = 0.82; các nhu cầu hỗ trợ về nhu cầu thể chất đều ở mức độ cao bằng nhau

Biểu đồ 2 Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cha mẹ BN nhi

0.0%

10.0%

20.0%

30.0%

40.0%

50.0%

60.0%

70.0%

80.0%

90.0%

Nhu cầu kinh tế thông tin Nhu cầu

Nhu cầu cảm xúc Nhu cầu thể chât tâm lý XH Nhu cầu

Nhu cầu tâm linh

Tổng nhu cầu chăm sóc hỗ trợ

87%

8.2% 13.5% 15.4%

25% 29.3% 30.8%

13%

Nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cha mẹ BN nhi

Cao Trung bình Thấp

Nhận xét: Tổng điểm nhu cầu chăm sóc hỗ trợ

cha mẹ BN nhi: SD= 0.43; đa số mức

độ cao 87%, số ít ở mức độ trung bình 13% Cao

nhất nhu cầu hỗ trợ về kinh tế 89.4%; kế đến nhu

cầu hỗ trợ về thông tin 86.5%; tiếp theo nhu cầu hỗ

trợ về cảm xúc 84.6%; nhu cầu hỗ trợ về thể chất

71.6%; nhu cầu hỗ trợ về tâm lý xã hội 70.7% và

thấp nhất nhu cầu hỗ trợ về tâm linh 68.3%

BÀN LUẬN

Trong NC của chúng tôi đối tượng tham gia có đến 64.9 % nữ, (37.63 ± 9.405) Điều này cũng phù hợp với văn hóa người Việt Nam phụ nữ thường là người chăm sóc con hơn là nam Kết quả chúng tôi thấp hơn NC của Yeh (2001) 78%[6]

Tuổi của cha mẹ BN nhi trung bình 36.4 ± 7.2 tuổi (tuổi thấp nhất 20 tuổi và cao nhất 60 tuổi) Kết quả chúng tôi tương đồng NC của Nguyễn Thị Thanh Mai (35.7 ± 7.6) (2011)[7], Dương Thị Thùy

Trang 7

Trang (33.7 ± 6.6) (2017)[8].91.8% cha mẹ BN nhi cư

trú là ở tỉnh khác, điều này hoàn toàn hợp lý vì

BVUB TP HCM nhận điều trị tất cả các bệnh UT ở

các tỉnh phía Nam, Việt Nam, kết quả NC của

Dương Thị Thùy Trang có tỉ lệ thấp hơn 85,9%[8]

Kết quả NC cho thấy, cha mẹ BN nhi có trình độ

trung học cơ sở là cao nhất 38.5% NC của chúng

tôi thấp hơn NC của Dương Thị Thùy Trang (2017)

46.5%[8] và cao hơn của Yeh (2001) 36.73%[6]

Trình độ trung học cơ sở tỉ lệ cao thứ 2 với 28.8%,

NC của chúng tôi, Dương Thị Thùy Trang (2017) và

Yeh (2001) đều ghi nhận tương đồng Trong công

tác chăm sóc và giáo dục sức khoẻ cần chú trọng

đến trình độ học vấn, hiểu biết của cha mẹ BN nhi,

để việc cung cấp thông tin, kiến thức qua giao tiếp

đạt hiệu quả cao

Nghề nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất là lao động

phổ thông nam 78% và nữ nội trợ 78% Tỉ lệ thấp

nhất là hưu trí và nhân viên văn phòng 0,5% NC

của chúng tôi cho thấy mức độ ảnh hưởng đến việc

điều trị cho trẻ do công việc của cha mẹ BN nhi thu

nhập không ổn định, đa số thu nhập gia đình kiếm

được nhờ người cha 78%, một số ít cha mẹ BN nhi

có công việc ổn định nhưng do con bị bệnh nên phải

chuyển công việc và do bị nghỉ việc, NC của chúng

tôi cao hơn NC của Yeh (2001) lao động nam 66%[6]

Thu nhập trung bình của cha mẹ BN nhi

1.25 ± 0.5; cao nhất 80.3% thu nhập ≤ 4 triệu; thấp

nhất 1% thu nhập > 8 triệu Có 61.5% chi phí điều trị

bệnh > 9 triệu/ tháng Ngoài ra, còn chi phí ăn ở,

sinh hoạt, di chuyển và gia đình chỉ có 1 lao động

chính (78%) NC chúng tôi cao hơn nhiều so với NC

của Kerre (2007) 30%[9]; Rosenberg (2013) 30%[10];

nhưng kém hơn của Dương Thị Thùy Trang (2017)

84.3%[8]

Tổng điểm về tâm lý cha mẹ BN nhi = 3.93;

SD = 0.47; đa số tâm lý cha mẹ BN nhi ở mức độ

căng thẳng cao 68.8%, còn lại ở mức độ trung bình

31.3% Trong tâm lý cha mẹ BN nhi cao nhất là mức

độ khó khăn trong tương tác với trẻ, điểm = 4.01;

SD = 0.45 (76.9%), kế đến là căng thẳng của cha

mẹ BN nhi SD = 0.56 (71.6%), thấp nhất

rối loạn chức năng tương tác với trẻ

SD = 0.63 (57.7%) NC của chúng tôi đánh giá có

khác NC của Yeh (2001)[6]trên cha mẹ BN ở Trung

Quốc về rối loạn chức năng tương tác với trẻ cao

nhất SD = 0.90, thấp nhất về khó khăn

tương tác với trẻ SD = 0.67, tương

đồng về điểm căng thẳng của cha mẹ BN nhi đánh

giá thứ 2, với SD = 0.66 và cũng tương đồng với NC của Vrijmoet Wiersma (2008)[11] 69%; Tammy Kang (2013)[10] 69% nhưng Dockerty, Williams, McGee, Skegg (2013) cao hơn 80%[10]

Tổng điểm nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cha mẹ BN nhi: SD= 0.43; đa số mức độ cao 87%,

số ít ở mức độ trung bình 13% Trong đó cao nhất nhu cầu hỗ trợ về kinh tế điểm SD = 0.6 (89.4%), tất cả các câu đều đạt điểm ở mức độ cao,

“được CTXH hỗ trợ về tài chính”, ”công việc nhà, việc làm ăn gặp khó khăn” điều này đúng với NC của chúng tôi do chi phí điều trị bệnh của BN nhi

> 9 triệu/ tháng (61.5%), vì đa số hộ khẩu tỉnh, công việc của cha mẹ BN nhi phần lớn là lao động phổ thông và nội trợ, thu nhập thấp, người mẹ phải nghỉ việc để chăm sóc trẻ, đặt thêm gánh nặng cho người cha lao động chính, duy nhất trong gia đình, phải trang trải thêm chi phí điều trị của trẻ nên rất cần sự

hỗ trợ công tác xã hội, các nhà từ thiện Trong NC của Pelentsov (2015)[5], câu “vấn đề tài chính và việc làm” 70% cha mẹ BN nhi đều có nhu cầu hỗ trợ về kinh tế 2 NC chúng tôi tương đồng, cho thấy nhu

cầu hỗ trợ cha mẹ BN nhi về kinh tế rất quan trọng

để giúp trẻ được điều trị, không bị gián đoạn, kéo dài

sự sống, là nguồn lực hỗ trợ trẻ và cha mẹ đối phó

với căn bệnh UT NC chúng tôi khác NC của Kerre (2004) ở Canada[4]đánh giá nhu cầu hỗ trợ về thông tin đứng thứ nhất 88%

Kết quả NC tiếp theo thứ 2: nhu cầu hỗ trợ về thông tin, điểm SD = 0.52 (86.5%), tương đồng với của Pelentsov (2015)[5], Kerre (2007)[9] đều đánh giá đứng thứ 2, nhưng NC của Pelentsov 65%[5], của Kerre (2007) 65%[9], thấp hơn

NC chúng tôi 86.5% Tuy NC của Kerre (2004)[4]

đánh giá đứng thứ nhất nhưng cả 2 NC chúng tôi đều ở mức độ cao và cho rằng kỹ năng giao tiếp của NVYT rất quan trọng, sự rõ ràng của thông tin, cách thức truyền đạt ảnh hưởng đến niềm tin của cha mẹ

BN nhi về NVYT, đây là điều cần thiết giúp cha mẹ

BN nhi hiểu rõ về bệnh, nắm được phương pháp điều trị, không hoang mang, an tâm điều trị cho trẻ

Thứ 3 nhu cầu hỗ trợ cha mẹ BN nhi về cảm xúc điểm SD = 0.51 (84.6%); NC chúng tôi cũng đánh giá thứ 3 và tương đồng nhưng cao

NC của Kerre (2007) 62%[9], Pelentsov (2015) 62%[5]

và Kerre (2004) 84%[4] nhưng đánh giá thứ 2

NC chúng tôi cho thấy, khi có con bị UT các bậc cha

mẹ rất cần sự hỗ trợ từ người bạn đời, cha mẹ, gia đình và bạn bè đây là nguồn lực giúp cha mẹ BN nhi vượt qua được khủng hoảng khi trẻ bị chẩn đoán UT

và trong suốt giai đoạn điều trị

Trang 8

Thứ 4 về thể chất SD = 0.82

(71.6%); thứ 5 về tâm lý xã hội SD = 0.45

(70.7%) và thấp nhất thứ 6 về tâm linh điểm

SD = 0.78 (68.3%)

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Qua khảo sát về tâm lý và nhu cầu 208 cha mẹ

có con đang điều trị hóa trị tại BVUB, TP HCM từ

01/11/2017 - 20/8/2018, chúng tôi rút ra những kết

luận sau:

Tổng điểm tâm lý cha mẹ BN nhi mức độ căng

thẳng = 3.93; SD = 0.47

Tổng điểm nhu cầu chăm sóc hỗ trợ cha mẹ BN

nhi SD= 0.4 đạt mức độ cao

Kiến nghị

BV cần tăng cường hơn nữa các chương trình

đào tạo thường xuyên cho ĐD về nhu cầu tâm lý xã

hội của bệnh nhi và cha mẹ BN nhi, để nâng cao ý

thức hỗ trợ cho cha mẹ BN nhi, trang bị những kỹ

năng mềm trong giao tiếp

Kết hợp với chuyên gia tâm lý trong công tác hỗ

trợ cha mẹ BN nhi và bệnh nhi; tổ chức câu lạc bộ

BN và cho cha me BN nhi có sự chia sẻ của chuyên

gia tâm lý; lớp học tâm lý dành cho BN và cha mẹ

BN nhi, xây dựng phòng âm nhạc để thư giãn

Những ca BN nhi nặng, cha mẹ có tâm lý không

ổn định cần thiết hội chẩn chuyên gia tâm lý để giải

tỏa, hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ BN nhi

Mặc dù TE < 6 tuổi được BHYT chi trả 100%

nhưng gánh nặng điều trị cũng rất tốn kém BV đã có

các quĩ từ thiện, các nhà hảo tâm thường xuyên giúp

đỡ… Vì vậy cần duy trì và đẩy mạnh hơn nữa hoạt

động của phòng công tác xã hội giúp giảm thiểu

phần nào sự lo lắng về kinh tế của gia đình có TE

bị UT

Tiếp tục duy trì lớp học chữ, lớp học tiếng Anh

cho các bé bệnh nhi, các hoạt động tinh thần như tổ

chức ngày hội dành cho thiếu nhi, sinh nhật cho các

bé hàng tháng… giúp BN nhi được vui vẻ và lạc

quan hơn Điều này cũng giúp cha me BN nhi vơi

bớt những lo lắng, phiền muộn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Thị Việt Hương, (2014), "Những dấu hiệu

mắc ung thư bố mẹ cần lưu ý", nhà xuất bản y

học

2 Trần Văn Công (2014), "Ung thư không đợi

tuổi", nhà xuất bản y học

3 Santos, M.J., M Conde., et al, (2016), "The Portuguese recommendations for the use of biological therapies in children and adolescents with Juvenile Idiopathic Arthritis" Acta Reumatol Port, 41(3): p 194-212

4 Laura M.J Kerr., et al, (2004), "Supportive Care Needs of Parents of Children With Cancer: Transition From Diagnosis to Treatmennt", Oncology Nursing Forum, 31, (6)

5 Lemuel.J Pelentsov (2015), "The supportive care needs of parents caring for a child with a rare disease", Disability and Health Jounal, 8: p

475 - 491

6 Yeh CH1, Chen ML, Li W, Chuang HL; (2001),

"The Chinese version of the Parenting Stress Index", Chinese version of PSI, (90), pp 1470 -

1477

7 Nguyễn Thị Thanh Mai, (2013), "Các phương

thức ứng phó ở cha mẹ bệnh nhân nhi trẻ bị ung thư trong 1 năm đầu sau chẩn đoán", Tạp chí Nhi Khoa, 6 (2), pp 67-73

8 Dương Thị Thùy Trang, (2017), "Luận văn thạc

sĩ ĐD", pp.61

9 Laura M J Kerr, Tranmer, et al, (2007),

"Understanding the Supportive Care Needs of Parents of Children With Cancer: An Approach

to Local Needs Assessment", Journal of Pediatric Oncology Nursing, 24 (5), pp 279-293

10 Abby R Rosenberg, MD, MS; Tammy Kang, MD; et al, (2013), "Psychological Distress in Parents of Children With Advanced Cancer", Jama Pediatr, 167 (6), pp 537-543

11 Vrijmoet Wiersma, C.M.J., et al, (2008),

"Assessment of Parental Psychological Stress in Pediatric Cancer: A Review", Journal of Pediatric Psychology 33 (7), pp 694–706

Ngày đăng: 28/09/2020, 00:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w