1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khảo sát đặc tính chùm tia không lọc phẳng (FFF) và ứng dụng chùm tia FFF vào các kỹ thuật 3D, IMRT, MAT, SRS trên máy TrueBeam tại Bệnh viện Ung Bướu Tp. Hồ Chí Minh

11 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 9,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này trình bày kết quả tìm hiểu, khảo sát đặc tính chùm tia không lọc phẳng (Flattening filter freeFFF) của máy TrueBeam tại Bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM. Đồng thời khảo sát tính phù hợp và lợi ích của chùm tia FFF đối với các kỹ thuật 3D, IMRT, VMAT, SRS.

Trang 1

-

KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH CHÙM TIA KHÔNG LỌC PHẲNG (FFF)

VÀ ỨNG DỤNG CHÙM TIA FFF VÀO CÁC KỸ THUẬT

3D, IMRT, MAT, SRS TRÊN MÁY TRUEBEAM TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TRUNG HIẾU1, PHAN QUỐC UY2, VŨ ANH DUY2, TRƯƠNG HỮU THANH3, VÕ TẤN LINH3

TÓM TẮT

Giới thiệu: Hiện tại, bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vào hoạt động hai máy xạ trị

TrueBeam là dòng máy mới, hiện đại được sản xuất bởi Varian Medical Systems (Palo Alto, CA, Mỹ) Máy gia tốc tuyến tính TrueBeam đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho các kỹ thuật xạ trị tiên tiến như xạ trị điều biến liều (Intensity modulated radiotherapy- IMRT), xạ trị dưới sự hướng dẫn hình ảnh (Image guided radiotherapy-IGRT), xạ trị vòng cung (Volumetric Modulated Arc Therapy-VMAT), kỹ thuật xạ trị lập thể định vị thân (Stereotactic body radiotherapy- SBRT), xạ phẫu (Stereotactic radiosurgery-SRS) Để đảm bảo cho việc đưa thiết bị mới vào điều trị cho bệnh nhân, việc tìm hiểu kỹ các vấn đề kỹ thuật và xây dựng các quy trình chuẩn cần được đặt lên hàng đầu

Báo cáo này trình bày kết quả tìm hiểu, khảo sát đặc tính chùm tia không lọc phẳng (Flattening filter free-FFF) của máy TrueBeam tại Bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM Đồng thời khảo sát tính phù hợp và lợi ích của chùm tia FFF đối với các kỹ thuật 3D, IMRT, VMAT, SRS

Phương pháp: So sánh chùm tia lọc phẳng (Flattening filter-FF) với chùm tia không lọc phẳng (FFF) về

đặc tính chùm tia để làm rõ sự khác nhau của hai chùm tia Dữ liệu phân tích được lấy từ kết quả thu thập dữ liệu chùm tia cho hệ thống lập kế hoạch điều trị

Lập hai kế hoạch điều trị cho các ca lâm sàng sử dụng 2 chùm tia FF và FFF đối với từng kỹ thuật 3D, IMRT, VMAT, SRS với các thông số như nhau trong việc tối ưu hóa liều lượng Sau khi đánh giá phân bố liều trên khối u và trên cơ quan lành, nhận xét ưu khuyết điểm của chùm tia FFF và FF trong từng kỹ thuật Từ đó, định hướng kỹ thuật sử dụng chùm tia FFF

Kết luận: Chùm tia FFF có phổ năng lượng mềm hơn, do đó cho liều bề mặt cao hơn chùm tia FF Bên

cạnh đó cường độ chùm tia FFF tập trung nhiều ở tâm, giảm dần về biên trường chiếu, liều bên ngoài trường chiếu giảm do tán xạ đầu máy giảm Suất liều tăng cao là một ưu thế của chùm tia FFF trong việc giảm thời gian phát tia xạ trị cho bệnh nhân

Chùm tia FFF không phù hợp với kỹ thuật 3D sử dụng các trường chiếu cơ bản Đối với kỹ thuật IMRT, VMAT, chùm tia FFF cho kết quả phân bố liều không quá nhiều khác biệt so với chùm tia FF Đối với kỹ thuật SRS sử dụng cones (bộ phận định dạng chùm tia hình nón), chùm tia FFF thể hiện ưu thế về thời gian phát tia

xạ nhờ có suất liều cao

ABSTRACT

Introduction: Currently, The HCM OH has installed two Truebeam Therapy Machines which are being

used clinically Truebeam Machines are the most advanced linear accelerator produced by Varian Medical Systems on the market so far (Palo Alto, CA, US) and are able to deliver advanced radiotherapy treatment

1KS Trưởng Khoa Kỹ thuật Phóng xạ - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

2KS Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Phóng xạ - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

3 KS Khoa Kỹ thuật Phóng xạ - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

Trang 2

namely Intensity modulated radiotherapy (IMRT), Image guided radiotherapy (IGRT), Volumetric Modulated Arc Therapy (VMAT), Stereotactic radiosurgery (SRS) To ensure safe use of these machines for clinical treatment, the issue of investigating dosimetric and mechanical characteristics of the machines as well as establishing different standardized protocols need to be prioritized

This report presents the results obtained when investigating the characteristics of the Flattening Filter Free beam in the Truebeam machines in HCM OH The report also studies the advantage as well as justifying the appropriate situations where FFF beam will be of clinical benefit to treatment techniques such as 3D CRT, IMRT, VMAT and SRS

Methodology: Making comparison between FF and FFF in terms of their characteristics to determine the

differences between the two

Planning for clinical cases using FF and FFF beam respectively for each individual techniques (3D, IMRT, VMAT, and SRS) To limit the number of variables, all the parameters in the plans are kept the same while the planners evaluate the dose distributions and DVH of each plan The advantage and disadvantage of FF and FFF beams are determined and recommendations for suitable clinical cases using FFF are made

Result: The spectrum of FFF beam is on the lower end and as a result, surface dose is greater than that of

FF beam The intensity of FFF beam is also focused at the center of the beam, falling off towards the edge of the field and the dose outside of the field drops off due to the drop in scattering One of the advantages of FFF beam is its very high dose rate and as a result, treatment time can be significantly reduced

FFF beam is not suitable to be used in 3D CRT For IMRT and VMAT, FFF beam produces similar dose distribution to that of FF beam For SRS with cones, FFF beam exhibits significant benefits in terms of treatment time thanks to its high dose rate

ĐẶC TÍNH CHÙM TIA KHÔNG LỌC PHẲNG FFF

Trên máy gia tốc, chùm tia X sau khi được tạo

ra do chùm tia electron năng lượng cao đập vào bia

kim loại nặng có cường độ không đồng đều Ở tâm

trường chiếu cường độ phóng xạ cao nhất Thông

thường, chùm tia sẽ được làm phẳng nhờ một bộ

phận lọc (FF) để tạo phân bố liều đồng đều tại một

độ sâu trong trường chiếu Bộ phận lọc (FF) bên

cạnh việc làm phẳng chùm tia, cũng có tác dụng làm

giảm electron nhiễm bẩn và các photon năng lượng

thấp Tuy nhiên FF cũng làm giảm cường độ chùm

tia (suất liều)

Khi các kỹ thuật IMRT, VMAT, SBRT, SRS phát

triển, việc tạo ra phân bố liều đồng nhất cho từng

trường chiếu không còn phù hợp và thời gian phát

tia xạ trị cũng kéo dài Do đó các nhà sản xuất đã

hướng đến việc loại bỏ bộ phận làm phẳng chùm tia

để tạo được chùm tia có cường độ cao nhằm rút

ngắn thời gian phát tia điều trị cho bệnh nhân

Đặc tính chùm tia FFF có nhiều thay đổi so với

chùm tia FF nên các nhà sản xuất cũng như các kỹ

sư vật lý tại các trung tâm xạ trị đã có nhiều nghiên

cứu đánh giá trước khi ứng dụng vào lâm sàng Báo

cáo này thực hiện việc xác nhận lại các kết luận

trước đó và đánh giá đặc tính chùm tia FFF thông

qua việc so sánh các thông số vật lý của chùm tia

photon 6MV FFF và 6MV FF trên máy xạ trị

TrueBeam (Varian) tại bệnh viện Ung Bướu Thành

phố Hồ Chí Minh

Suất liều

Trên máy TrueBeam, với cùng một cường độ chùm electron đập vào bia, việc loại bỏ bộ phận làm phẳng chùm tia đã nâng suất liều của chùm tia lên đáng kể

Bảng 1 Suất liều máy gia tốc TrueBeam tại

Bệnh viện Ung Bướu TP Hồ Chí Minh ứng với các

chùm tia 6FF, 6FFF, 10FF, 10FFF

Chùm tia Suất liều tương ứng (MU/phút)

6MV WFF

100 200 300 400 500 600

6MV FFF

400 600 800 1000 1200 1400

10MV WFF

100 200 300 400 500 600

10MV FFF

400 800 1200 1600 2000 2400

Phổ năng lượng

Để loại bỏ electron nhiễm bẩn, một tấm đồng 0,8mm được thay thế cho bộ phận làm phẳng chùm tia (làm bằng wolfram) trong chế độ FFF Sự tán xạ

và sự suy giảm cường độ và năng lượng chùm tia giảm đi Do đó phổ năng lượng thay đổi Năng lượng cực đại cao hơn, đặc biệt các tia năng lượng thấp có

Trang 3

cường độ cao hơn đáng kể so với chùm tia FF

Do đó năng lượng trung bình của chùm tia thấp hơn

Phần trăm liều theo độ sâu (PDD-Percentage Depth Dose)

Do chùm tia FFF có phổ năng lượng mềm hơn chùm tia FF nên liều bề mặt cao hơn Độ sâu đạt liều cực đại nông hơn khoảng 1 mm Liều suy giảm nhanh hơn theo độ sâu sau điểm liều cực đại (dmax)

Hình 1 Năng lượng trung bình chùm tia

6FF từ tâm ra biên trường chiếu Hình 2 6FFF từ tâm ra biên trường chiếu u Năng lượng trung bình chùm tia

Trang 4

20

40

60

80

100

120

Độ sâu (cm)

6FF 6FFF

0 20 40 60 80 100 120

Độ sâu (mm)

6FF 6FFF

Profile

Đặc trưng của profile chùm tia FFF là liều cao ở tâm trường chiếu và thấp dần về hai biên và hình dạng ít phụ thuộc vào độ sâu Đối với trường chiếu nhỏ, hình dạng profile của chùm tia FF và FFF gần giống nhau

0 20 40 60 80 100

Độ lệch trục(cm)

6FF 6FFF

0 20 40 60 80 100 120

Độ lệch trục (cm)

6FF 15mm 6FF 200mm 6FFF 15m m

6FFF 200m m

0 20 40 60 80 100 120

Độ lệch trục (cm)

6FF 6FFF

0 20 40 60 80 100 120

Độ lệch trục (cm)

6FF 6FFF

Hình 7 Hình dạng profile của chùm tia FFF

ít phụ thuộc độ sâu

Hình 4 PPD của chùm tia 6FF và 6FFF, trường

Hình 6 Profile của chùm tia 6FF và 6FFF,

trường chiếu 10x10 cm

Trang 5

0.7

0.8

0.9

1

1.1

1.2

Kích thước trường chiếu vuông (cm)

6X 6FFF

Vùng bán dạ

Đối với máy gia tốc

TrueBeam, vùng bán dạ của chùm tia FFF dốc

hơn vùng bán dạ của chùm tia FF, đặc biệt là đối với

các trường chiếu nhỏ Tuy nhiên, sự khác biệt là

không đáng kể

Liều bên ngoài trường chiếu

Nhìn chung, đối với máy gia tốc TrueBeam, liều

bên ngoài trường chiếu sử dụng chùm tia FFF thấp

hơn so với chùm tia FF Tuy nhiên tán xạ lên bệnh

nhân không giảm do phổ năng lượng chùm tia FFF

mềm hơn Liều bên ngoài trường chiếu giảm nhiều

nhất đối với trường chiếu nhỏ, trường chiếu điều

biến do tán xạ đầu máy giảm đáng kể

Hệ số đầu ra (Output factor)

Do tán xạ đầu máy giảm nên hệ số đầu ra của chùm

tia FFF ít phụ thuộc vào kích thước trường chiếu so

với chùm tia FF

Hệ số truyền qua bộ chuẩn trực đa lá (Multileaf

Collimators-MLC)

Hệ số truyền qua MLC của chùm tia FFF thấp

hơn chùm tia FF Rò rỉ ít hơn do phổ năng lượng

mềm hơn

Hình 10 Hệ số đầu ra chùm tia 6FF và 6FFF

Bảng 2 Hệ số truyền qua MLC và DLG (Dosimetric

Leaf Gap) của máy TrueBeam tại Bệnh viện

Ung B ướu TP Hồ Chí Minh

Hệ số truyền

qua MLC 1.27% 1,07%

DLG 0,36 mm 0,26 mm

Chuẩn liều và thu thập dữ liệu chùm tia

Vì chùm tia FFF có phổ năng lượng mềm hơn chùm tia FF, nên hệ số chất lượng chùm tia (kQ) thay đổi Theo báo cáo của AAPM, kQđược sát định theo TG-51 có sự sai khác tối đa là 0.4% giữa chùm tia FFF và chùm FF kQđược xác định theo TRS-398 có

sự sai khác nằm trong khoảng 0,4% đến 1% nên khi tính toán giá trị kQcần cân nhắc trừ đi 0,5% từ giá trị nhận được với chùm tia FF Hơn nữa, việc đo đạc xác định giá trị kQphải được tiến hành bằng đầu dò

có điện cực làm bằng vật liệu số Z thấp (shonka, graphite…) hoặc bằng nhôm(1)

Do liều mỗi xung của chùm tia FFF cao nên hệ

số tái tổ hợp ion (Pion) tăng Mặc khác, cần lưu ý tốc

độ ghi nhận của đầu dò phải đủ đáp ứng cho chùm tia cường độ cao(1)

Bên cạnh đó, do profile chùm tia có đỉnh ở tâm trường chiếu nên khi chuẩn liều tại tâm trường chiếu cần hiệu chỉnh giá trị ghi nhận được Trong vùng thể tích của đầu dò Farmer, cường độ phóng xạ khác nhau làm giảm giá trị liều ghi nhận tại tâm trường chiếu Nên cần bổ sung một hệ số hiệu chỉnh độ phẳng chùm tia khi chuẩn liều Hệ số này được đo với đầu dò có thể tích nhỏ hơn Theo báo cáo của AAPM, hệ số hiệu chỉnh độ phẳng chùm tia trên các dòng máy của Varian đối với các mức năng lượng 6FFF, 10FFF khi chuẩn liều bằng đầu dò Farmer là khoảng 0,2%(1) Kết quả đo trên máy TrueBeam tại bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh là 0,25% (dùng đầu dò diode Razor_IBA hiệu chỉnh cho kết quả chuẩn liều bằng buồng ion hóa farmer FC65-G_IBA)

Đảm bảo chất lượng (QA) cho chùm tia FFF

Đảm bảo chất lượng (QA) là công việc quan trọng, cần thiết trong xạ trị, đặc biệt là đối với các kỹ thuật hiện đại Việc QA cho chùm tia FFF được tiến hành tương tự đối với chùm tia FF Bệnh viện Ung Bướu Hồ Chí Minh thực hiện việc đảm bảo chất lượng cho máy gia tốc định kỳ hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, hàng năm theo hướng dẫn Task Group 142(13)

Vấn đề khác

Bên cạnh những đặc tính đã khảo sát ở những mục trên, nhóm tác giả chưa có điều kiện kiểm tra một số vấn đề khác như liều neutrons trong điều trị

Hình 9 Profile của chùm tia 6FF và 6FFF,

cone 5mm

Hình 8 Profile của chùm tia 6FF và 6FFF,

trường chiếu 2x2cm

Trang 6

với chùm tia FFF, che chắn an toàn và sinh học bức

xạ đối với chùm tia FFF… Báo cáo sử dụng những

kết quả của các nghiên cứu khác để sơ lược về các

vấn đề này

Khi năng lượng photon lớn hơn 10MV, có khả

năng sinh ra neutron Theo báo cáo của AAPM, liều

neutron tạo ra do chùm tia FFF khoảng 70% liều tạo

ra bởi chùm tia FF(1)

Đối với máy của Varian, độ dày che chắn cho

tia sơ cấp và thứ cấp đối với chùm tia FFF đều ít

hơn 10% - 20% so với chùm tia FF Do đó khi đảm

bảo che chắn an toàn cho chùm tia FF thì cũng đảm

bảo cho chùm tia FFF cùng năng lượng(1)

Theo lý thuyết khi suất liều tăng cao, hiệu ứng

sinh học tăng, tăng kiểm soát mô bướu đồng thời

cũng tăng độc tính mô lành Tuy nhiên, các nghiên

cứu lâm sàng vẫn chưa cho kết quả rõ ràng(1)

VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA CÁC CHÙM TIA FFF

ĐỐI VỚI CÁC KỸ THUẬT XẠ TRỊ 3D, IMRT, VMAT,

SRS

Chùm tia FFF với những đặc tính mới đã được

ứng dụng trong điều trị bệnh nhân Bài báo cáo sẽ

tiến hành khảo sát tính phù hợp của chùm tia FFF

đối với từng loại kỹ thuật 3D, IMRT, VMAT, SRS

Ứng với từng kỹ thuật, các ca bệnh sẽ được lập hai

kế hoạch với chùm tia 6FF và 6FFF (suất liều lớn

nhất cho mỗi chùm tia) Qua đó xác nhận ưu điểm

và hạn chế của chùm tia FFF đối với từng loại kỹ

thuật trên Các kế hoạch được tối ưu hóa liều với

những thông số như nhau, chỉ phục vụ cho mục đích

nghiên cứu, không dùng điều trị cho bệnh nhân

Kỹ thuật xạ trị 3D

Khảo sát các trường hợp trên mặt bệnh phụ

khoa, đầu cổ và vú Các trường hợp đều cho kết quả

tương tự nhau Dưới đây, báo cáo chỉ đưa ra trường

hợp bệnh phụ khoa để đánh giá chi tiết

Chùm tia 6FFF cho một phân bố liều không

đồng nhất Liều chỉ tập trung nhiều ở tâm trường

chiếu Với các trường 3D thông thường, không thể

tạo phân bố liều phù hợp với thể tích xạ trị lớn

Do đó phải dùng kỹ thuật field in field với rất nhiều

trường chiếu nhỏ bổ túc liều cho vùng xa tâm

trường chiếu

Hình 11 Phân bố liều chùm tia 6FFF sử dụng

4 trường chiếu 3D

Hình 12 Phân bố liều chùm tia 6FF sử dụng

4 trường chiếu 3D

Hình 13 Phân bố liều chùm tia 6FFF sử dụng

kỹ thuật field in field

Kết quả cho thấy chùm tia FFF áp dụng cho kỹ thuật 3D phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn để lập

kế hoạch và phát tia điều trị mặc dù suất liều cao Trong khi đó mức độ kiểm soát bướu và bảo vệ cơ quan lành không có nhiều khác biệt với chùm tia FF Với kỹ thuật một tâm cho bệnh nhân vú, việc sử dụng chùm tia FFF hầu như không thể Do đó,

Trang 7

không nên sử dụng chùm tia FFF trong xạ trị kỹ

thuật 3D

Kỹ thuật IMRT và VMAT

Tương tự như kỹ thuật 3D, báo cáo đã tiến

hành khảo sát trên các trường hợp bệnh phụ khoa,

đầu cổ, vú và phổi Dưới đây chỉ dẫn ra một trường

hợp bệnh đầu cổ sử dụng kỹ thuật IMRT với liều

54Gy và một trường hợp bệnh phổi sử dụng kỹ thuật

VMAT với liều 60Gy

Nhìn chung các kế hoạch của hai chùm tia cho

kết quả khác nhau không đáng kể về phân bố liều

Trong quá trình khảo sát, nhóm tác giả nhận thấy

không có sự khác biệt rõ ràng trong việc sử dụng

chùm tia FF và FFF cho các kỹ thuật IMRT, VMAT

Các trường hợp khối u nằm ngay tâm trường chiếu

và cơ quan quý ở gần biên trường chiếu, chùm tia FFF cho kết quả bảo vệ cơ quan lành tốt hơn (liều mắt ở ca đầu cổ, liều tủy sống ở ca phổi) Ngược lại,

ở ca đầu cổ, tủy sống nằm ngay tâm xạ, kế hoạch FFF cho mức liều cao hơn Do đó việc lựa chọn chùm tia trong từng trường hợp cần phù hợp Nhìn chung, các kế hoạch với chùm tia FFF cho liều 5Gy trên mô lành (thể tích cơ thể trừ đi thể tích PTV) thấp hơn chùm tia FF Hơn nữa, việc suất liều được nâng cao giúp thời gian phát tia xạ trị của chùm tia FFF ít hơn Mặc dù chênh lệch thời gian phát tia là nhỏ, sự chênh lệch này kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích cho xạ trị dưới sự hướng dẫn hình ảnh và xạ trị theo nhịp thở khi thời gian giữa các pha là rất nhỏ

Hình 14 So s ánh DVH của 2 kế hoạch IMRT trong trường hợp bệnh đầu cổ

Hình 15 So sánh DVH của 2 kế hoạch VMAT trong trường hợp bệnh phổi

Trang 8

Hình 16 So sánh DVH của 2 kế hoạch VMAT trong trường hợp bệnh phổi

Bảng 3 So sánh kết quả các kế hoạch IMRT cho bệnh đầu cổ và các kế hoạch VMAT cho bệnh phổi

6FF IMRT 6FFF IMRT 6FF VMAT 6FFF VMAT

PTV

HI 0,081 0,084 0,082 0,089

CI 0,831 0,821 0,839 0,852 Tủy sống Dmax (Gy) 33,2 32,2 30,4 27,3

Phổi phải (trừ CTV) V20Gy (%) 47,8 45,0

Dmean (Gy) 20,8 20,3 Phổi trái Dmean (Gy) 5,0 4,9

Tim

V30Gy (%) 12,9 12,8 Dmean (Gy) 16,3 16,1 Thân não 41,4 41,8

Mắt trái Dmean (Gy) 6.,5 5,7

Mắt phải Dmean (Gy) 5,4 4,4

Thủy tinh thể trái Dmax (Gy) 6,0 5,0

Thủy tinh thể phải Dmax (Gy) 4,9 3,9

Mô lành (Thể tích cơ thể - PTV) V5Gy (%) 42,4 40,6 26,3 25,7

V30Gy (%) 11,1 11,2 3,8 3,9

(Ở Bảng 3, Dmax, Dmean là liều lớn nhất và trung bình mà cơ quan nhận được; V5Gy (%), V20Gy (%),V30Gy (%) là thể tích cơ quan nhận liều 5Gy, 20Gy, 30Gy; chỉ số đồng nhất (homogeneity index_HI) = (D2% - D98%)/D50%; chỉ số phù hợp mô đích (conformity index_CI) = (V95%PTV)2/(V95%BODY x VPTV) (11,12) D2%, D50%, D98% là liều nhận được vào 2%, 50%, 98% thể tích PTV; V95%PTVthể tích PTV được phủ bởi đường liều 95%, V95%BODYthể tích đường liều 95%, VPTVthể tích PTV.)

Trang 9

Kỹ thuật SRS sử dụng cones

Hình 17 Trường chiếu kế hoạch sử dụng 1 tâm 5 vòng cung

Kỹ thuật SRS thường được chỉ định với phân liều lớn Do đó số MU lớn, thời gian phát tia dài Đặc biệt với kỹ thuật sử dụng cones, suất liều không đổi trong quá trình phát tia nên thời gian phát tia phụ thuộc trực tiếp vào suất liều Vì vậy chùm tia FFF với suất liều cao sẽ phù hợp hơn đối với kỹ thuật này

Trong báo cáo này, nhóm tác giả tạo hai kế hoạch SRS sử dụng cones đơn giản cho một thể tích nhỏ giả định là khối u ở não trên CT bệnh nhân với độ dày lát cắt 1mm Các thông số của hai kế hoạch là như nhau

Sử dụng kỹ thuật 1 tâm và 5 vòng cung (1 isocenter, 5 arcs), phân liều 18Gy/1 lần, giá trị tối ưu liều 80% Nhìn chung, sự khác nhau về phân bố liều trên hai kế hoạch không đáng kể Kế hoạch với chùm tia FFF cho kết quả liều tập trung vào mô đích cao hơn và liều cơ quan lành lân cận thấp hơn

Hình 19 Phân bố liều trên kế hoạch SRS sử dụng cones với chùm tia 6FFF

Hình 18 Phân bố liều trên kế hoạch

SRS sử dụng cones với chùm tia 6FF

Trang 10

Hình 20 So sánh DVH của 2 kế hoạch SRS sử dụng chùm tia 6FF và 6FFF

KẾT LUẬN

Chùm tia FFF các phổ năng lượng mềm hơn,

do đó cho liều bề mặt cao hơn chùm tia FF Bên

cạnh đó cường độ chùm tia FFF tập trung nhiều ở

tâm, giảm dần về biên trường chiếu, liều bên ngoài

trường chiếu giảm do tán xạ đầu máy giảm Suất

liều tăng cao là một ưu thế của chùm tia FFF trong

việc giảm thời gian phát tia xạ trị cho bệnh nhân Đo

liều cho chùm tia FFF cũng có một vài hiệu chỉnh so

với chùm tia FF

Chùm tia FFF không phù hợp với kỹ thuật 3D

sử dụng các trường chiếu cơ bản Đối với kỹ thuật

IMRT, VMAT chùm tia FFF cho kết quả phân bố liều

không quá nhiều khác biệt so với chùm tia FF Đối

với kỹ thuật SRS sử dụng cones, chùm tia FFF thể

hiện ưu thế về thời gian phát tia xạ trị nhờ có suất

liều cao

Cần có thêm nhiều khảo sát tiếp theo mở rộng mẫu và khảo sát trên các ca bệnh xạ trị dưới sự hướng dẫn của hình ảnh, xạ trị theo nhịp thở, SBRT, SRS sử dụng MLC và cones và các kết quả nghiên cứu lâm sàng để đánh giá toàn diện hơn về mặc ứng dụng của chùm tia FFF trong xạ trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ying Xiao, Stephen F Kry, Richard Popple, Ellen Yorke, Niko Papanikolaou, Sotirios Stathakis, Ping Xia, Saiful Huq, John Bayouth, James Galvin, Fang-Fang Yin Flattening filter-free accelerators: a report from the AAPM Therapy Emerging Technology Assessment Work Group

2 Sponsored by the IAEA and AAPM Dosimetry of small static fields used in external beam radiotherapy

Hình 22 Thông số liều trên PTV của kế hoạch

SRS sử dụng chùm tia 6FFF

Hình 21 Thông số liều trên PTV của kế hoạch

SRS sử dụng chùm tia 6FF

Ngày đăng: 28/09/2020, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w