Tại Nhật Bản, hạn ngạch nhập khẩu được tính toán trên cơ sở dự đoán các nhu cầu về hàng hóa và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.. Hạn ngạch được áp dụng với 3 nhóm hàng
Trang 1Những vấn đề chung về các biện pháp hạn chế nhập khẩu và đặc điểm thị trường Nhật Bản
1.1 Những vấn đề chung về các biện pháp hạn chế nhập khẩu
1.1.1 Các công cụ và biện pháp hạn chế nhập khẩu.
1.1.1.1 Thuế quan
Nhật Bản áp dụng 4 hệ thống thuế như sau :
- Thuế suất chung: mức thuế cơ bản căn cứ vào Luật thuế quan hải quan, áp dụng trong một thời gian dài
- Thuế suất tạm thời: là thuế suất trong một thời gian ngắn, thay thế cho thuế suất chung
- Thuế suất ưu đãi phổ cập ( GSP): là mức thuế áp dụng cho các nước đang phát triển hay các khu vực lãnh thổ Mức thuế có thể thấp hơn mức thuế đang áp dụng cho các nước phát triển Hệ thống GSP của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực vào từ ngày 1\8\1971
- Thuế suất WTO: là mức thuế căn cứ vào cam kết WTO và các hiệp định quốc tế khác
Về nguyên tắc, mức thuế áp dụng theo thứ tự mức thuế GSP, mức thuế WTO, mức thuế tạm thời và mức thuế chung Tuy nhiên, mức thuế GSP chỉ được áp dụng trong trường hợp thoả mãn các điều kiện cần thiết mà Nhật Bản đưa ra như : là nước đang phát triển, là thành viên của hiệp ước Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển ( UNCTAD ), là quốc gia mà Nhật Bản cho là thích hợp để hưởng quy chế GSP Đối với mức thuế WTO, nó chỉ được áp dụng khi thấp hơn cả mức thuế tạm thời và mức thuế chung Như vậy, mức thuế chung là mức thuế áp dụng cho các nước không phải là thành viên của WTO Trong trường hợp mức thuế tạm thời thấp hơn các mức thuế trên, nó sẽ được áp dụng
1.1.1.2 Các biện pháp hạn chế định lượng
Hạn ngạch nhập khẩu.
Tại Nhật Bản, hạn ngạch nhập khẩu được tính toán trên cơ sở dự đoán các nhu cầu
về hàng hóa và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước Vào đầu và giữa năm tài chính ( từ tháng 4 năm trước đến tháng 4 năm tiếp theo), Bộ Công nghiệp và
Trang 2Ngoại Thương ( MITI) Nhật Bản phê chuẩn những mặt hàng nhập khẩu theo quy chế hạn ngạch được ghi rõ trong thông báo nhập khẩu Trong thông báo hàng năm của MITI có quy định rõ trình tự các bước để xin hạn ngạch cho một mặt hàng hay một nhóm mặt hàng Khi nhập khẩu các mặt hàng có quy định hạn ngạch, nhà nhập khẩu phải xin hạn ngạch nhập khẩu trước của MITI, thì mới xin được giấy phép của ngân hàng quản lý ngoại hôi hay của cơ quan quản lý khác
Hạn ngạch được áp dụng với 3 nhóm hàng sau:
- Các mặt hàng thương mại thuộc kiểm soát của nhà nước, bao gồm vũ khí, rượu, chất nổ, súng cầm tay và dao, vật liệu hạt nhân, ma tuý và các thực phẩm chịu sự kiểm soát ( như gạo )
- Những mặt hàng hạn chế nhập khẩu
- Các loại thực vật và động vật có tên trong Bản phụ lục I của Công ước về thương mại quốc tế về các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng trong hệ thống động thực vật(CITES)
Theo các quy định trước đây của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT (nay là tổ chức thương mại thế giới WTO) thì các nước thành viên của tổ chức này không được sử dụng hạn ngạch để tạo rào cản phi thuế quan cản trở buôn bán với các nước khác Tuy nhiên, các nước có thể sử dụng hạn ngạch trong một số trường hợp ngoại lệ như : để bảo hộ nông nghiệp, chống bán phá giá và đảm bảo an toàn tạm thời trong trường hợp hàng nhập khẩu có thể làm tổn thương các ngành công nghiệp khác
Hạn ngạch thuế quan
Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ, trong đó quy định áp dụng mức thuế bằng không (0%) hoặc thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng số lượng quy định, nhằm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu dùng Khi hàng hoá vượt quá
số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức thuế cao để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm bảo hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất nội địa Vì vậy, chính phủ phải dựa trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trong nước để đề
ra mức thuế lần một, lần hai và thời gian áp dụng để không cản trở tự do hoá thương mại Trong các quy định của GATT/WTO, các nước thành viên không được sử dụng
Trang 3chế dộ hạn ngạch nhập khẩu, nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối xử với từng nước
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Là một dạng của hạn chế nhập khẩu, là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một mặt hàng xác định, với một mức tối đa Các thoả thuận này là tự nguyện chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe doạ lớn hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn Tuy nhiên, đây là biện pháp tạm thời và không có hiệu quả Bởi vì biện pháp này có thể giúp làm giảm lượng xuất khẩu của một nước nhưng lại bóp méo quá trình
tự do ngoại thương và dẫn đến việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia và quốc
tế một cách kém hiệu quả Tại Nhật Bản, vào cuối những năm 50 đã phải thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với các sản phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động
Giấy phép nhập khẩu
Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu vào Nhật Bản không cần giấy phép của Bộ Công Nghiệp và Ngoại thương Nhưng các mặt hàng sau vẫn cần giấy phép nhập khẩu :
- Hàng hoá liệt kê trong thông báo nhập khẩu thực hiện quản lý bằng hạn ngạch
- Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu
- Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt
- Hàng hoá cần sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu và phải đáp ứng được các quy định đặc biệt của chính phủ, như các loại vắcxin nghiên cứu
1.1.1.3 Các biện pháp hành chính kỹ thuật
Đây là nhóm các biện pháp gián tiếp ngăn cản và giám sát hàng nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường Nhật Bản Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất phong phú và
đa dạng Chúng tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tại Nhật Bản, các biện pháp hành chính được áp dụng rât đa dạng và nó đã hình thành nên một rào cản rất lớn đối với doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường Nhật Bản Trong quan hệ ngoại thương, giá cả thường rất quan trọng Tuy nhiên, tại thị trường Nhật Bản thì chất lượng của sản phẩm được đặt lên hàng đầu Ngay cả đối với những mặt hàng rẻ tiền, hạ giá thì người tiêu dùng Nhật Bản cũng rất quan tâm đến
Trang 4chất lượng và độ an toàn của mặt hàng đó Thực tế là là các tiêu chuẩn về chất lượng
và độ an toàn của hàng hoá của Nhật Bản còn cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu thông thường và các tiêu chuẩn quốc tế Vì vậy nên các sản phẩm của Nhật Bản thường có chất lượng cao và dễ tràn ngập vào các thị truờng các nước khác Các dấu chứng nhận chất lượng mà Nhật Bản sử dụng có thể kể đến như :
Tiêu chuẩn “JIS”
Dấu chứng nhận tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản “ JIS” là một trong những dấu được sử dụng rộng rãi nhất ở Nhật Bản Tiêu chuẩn này dựa trên “luật tiêu chuẩn hoá công nghiệp” được ban hành vào tháng 6 năm 1949 Dấu JIS được áp dụng cho tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản, trừ những sản phẩm được áp dụng các tiêu chuẩn chuyên ngành như dược phẩm, phân hoá học, sợi tơ tằm, thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác được quy định trong luật về tiêu chuẩn hoá và dán nhãn các sản phẩm nông lâm sản Các nhà sản xuất trong nước hay nước ngoài muốn được cấp giấy chứng nhận JIS phải làm đơn xin cấp giấy chứng nhận này Bộ trưởng bộ Công nghiệp và ngoại thương có phê đuyệt đơn xin phép cấp JIS cho nhà sản xuất hay không dựa vào kết luận của Hội đồng thẩm định Quyết định của Bộ trưởng sẽ được thông báo cho người nộp đơn Nếu đơn xin phép được phê duyệt thì sẽ đăng trên Công báo Thời gian cần thiết kể từ khi nộp đơn cho đến lúc nhận được quyết định và thông báo là 3 tháng
Tiêu chuẩn “JAS”
Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản được ban hành vào tháng 5 năm 1970 Luật này quy định các tiêu chuẩn về chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi Luật JAS bao gồm: đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông, lâm thuỷ sản chế biến Các tiêu chuẩn JAS bao quát
cả sản phẩm được sản xuất trong nước và các sản phẩm nhập khẩu Tại Nhật Bản việc
sử dụng dấu chứng nhận sản phẩm JAS lên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như các nhà bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có chất lượng tiêu chuẩn JAS Tuy nhiên, các quy định về việc ghi nhãn mác sản phẩm là bắt buộc với những sản phẩm do bộ Nông – Lâm – Ngư nghiệp quy định Người tiêu dùng Nhật Bản rất tin tưởng vào chất lượng của các sản phẩm đã được đóng dấu JAS Vì vậy, các nhà sản xuất nước ngoài khi xuất khẩu hàng hoá vào
Trang 5Nhật Bản có được dấu chứng nhận chất lượng JAS sẽ tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá của mình tại đây
Các dấu chứng nhận chất lượng khác:
Ngoài dấu chứng nhận chất lượng JIS và JAS còn có nhiều loại dấu chứng nhận khác được sử dụng ở Nhật Bản Ví dụ, các dấu chứng nhận sau đang được sử dụng tại Nhật Bản :
Bảng 1.1 Một số dấu chất lượng của Nhật Bản
Dấu Q
Chất lượng và đo độ đồng nhất của sản phẩm
Các loại sản phẩm dệt, bao gồm quần
áo trẻ em, các loại quần áo khác, khăn trải giường
Dấu G
Thiết kế, dịch vụ sau khi bán hàng và chất lượng
Các sản phẩm như máy ảnh, máy móc, thiết bị, đồ thuỷ tinh, đồ gốm, đồ văn phòng, đồ nội thất
Dấu S
Độ an toàn (bắt buộc) Hàng hoá dành cho trẻ em, đồ dùng
gia dụng, dụng cụ thể thao
Dấu SG
Độ an toàn ( bắt buộc) Xe đạp, xe đẩy, nồi áp suất, mũ đi xe
đạp, mũ bóng cháy và các hàng hoá khác
Dấu SIF
Các hàng may mặc có chất lượng tốt
Hàng may mặc như quần áo nam,quần
áo nữ, ô, áo khoác, balô và các sản phẩm phục vụ cho thể thao
Dấu Len
Các hàng may mặc có chất lượng tốt
Sợi len nguyên chất, quần áo len nguyên chất, đồ len đan
Nguồn : Nguyễn Hữu Khải, “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế”, trang 155 – 156
1.1.1.4 Các biện pháp quản lý khác
Ngoài các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe đối với hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, Nhật Bản còn ban hành nhiều văn bản pháp luật cơ bản điều chình các hàng hoá mà có thể gây nguy hại đến sức khoẻ, vệ sinh, đạo đức và sự an toàn chung của người dân Nhật:
Tiêu chuẩn môi trường
Trang 6Vấn đề môi trường cũng rất được quan tâm tại Nhật Bản Cục môi trường Nhật Bản đang khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm không làm hại sinh thái ( kể cả các sản phẩm trong nước cũng như các sản phẩm nhập khẩu ) Các sản phẩm đạt được ít nhất một trong các tiêu chuẩn dưới đây sẽ được đóng dấu
“Ecomark”:
1 Việc sử dụng sản phẩm đó không gây ô nhiễm tới môi trường hoặc có nhưng ít
2 Việc sử dụng sản phẩm đó mang lại nhiều lợi ích cho môi trường
3 Chất thải sau khi sử dụng không gây hại cho môi trường hoặc gây hại ít
4 Sản phẩm đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môi trường theo các cách khác không được kể đến ở trên
Ecomark được ban hành năm 1989, và được rất nhiều người Nhật biết đến Ecomark không đưa ra các tiêu chuẩn và cũng không nói lên chất lượng cũng như tính
an toàn của sản phẩm Các công ty nước ngoài có thể xin dấu chứng nhận Ecomark thông qua các nhà nhập khẩu
Luật vệ sinh thực phẩm.
Luật vệ sinh thực phẩm ra đời và có hiệu lực từ năm 1947 Luật này áp dụng cho tât cả các hàng hoá liên quan đến thực phẩm, các gia vị, dụng cụ chứa, các máy móc chế biến thực phẩm và đồ chơi trẻ em Hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu đều phải tuân theo những quy định của Luật như nhau Bộ Y tế và Phúc lợi sẽ chịu trách nhiệm thực thi và quản lý vệ sinh thực phẩm
Khi xuất hàng sang Nhật Bản, các nhà xuất khẩu nước ngoài phải hiểu được các quy định về luật pháp phức tạp liên quan đến vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm Ví dụ như : theo quy định thực phẩm sản xuất tại nước xuất xứ phải theo phương pháp phù hợp với Luật vệ sinh thực phẩm của Nhật Bản Do đó, đồ uống, chân giò, xúc xích, thịt lợn nuôi và thịt bò nuôi đưa vào bán tại thị trường Nhật Bản phải được khử trùng
ở nhiệt độ theo quy định sản xuất tại Nhật Bản Trong nhiều truờng hợp, do thiếu hiểu biết về các quy định vệ sinh, an toàn thực phẩm nên các sản phẩm của các nhà xuất khẩu bị cấm không được đưa vào Nhật Bản Hàng đã dỡ xuống cầu cảng lại bị gửi trả lại do không đáp ứng được tiêu chuẩn Điều này đã từng xảy ra với mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam Do không tìm hiểu các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm của Nhật Bản nên hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản có dư lượng kháng sinh
Trang 7vượt quá mức cho phép Nhiều lô hàng đã bị trả lại và các đơn hàng tiếp theo đều chịu
sự kiểm soát rất gắt gao của cơ quan quản lý Nhật Chính vì vậy, đây chính là một rào cản cần nghiên cứu kỹ để tránh những thiệt hại kinh tế lớn có thể xảy ra
Luật kiểm dịch thực vật.
Được ban hành nhằm chống lại sự xâm nhập của sâu bệnh và các căn bệnh ở cây trồng Trong Luật kiểm dịch quy định rõ các mặt hàng cấm nhập khẩu, các đối tượng kiểm tra và tổ chức việc kiểm tra rât cụ thể, chặt chẽ Nếu khi kiểm tra hàng nhập khẩu mà phát hiện các lô hàng này bị nhiễm bệnh hay sâu hại thì các hàng này bị huỷ
bỏ hoặc trả lại nước xuất khẩu Đồng thời, việc xuất khẩu các rau quả thực vật bị cấm cho tới khi nguồn gốc sâu hại, bệnh tật được tìm ra
Luật chống các bệnh truyền nhiễm
Do áp dụng luật này nên Nhật Bản là một trong số ít nước có vật nuôi không mắc bệnh truyền nhiễm, lây lan qua virus Nhật cũng là một trong ít nước không có bệnh dại Luật chống các bệnh truyền nhiễm được áp dụng với các đối tượng sau:
- Súc vật mong chẻ (gia súc, lợn, cừu, dê…)
- Ngựa
- Gia cầm và trứng
- Thỏ và ong mật
- Xương, thịt, mỡ, máu, da thú, lông chim, móng, gân
- Xúc xích, chân giò và thịt muối
Các công cụ và biện pháp hạn chế nhập khẩu được chính phủ Nhật Bản áp dụng
có thể tổng hợp lại như sau :
Bảng 1.2: Công cụ và biện pháp hạn chế nhập khẩu của Nhật Bản
T
T
Tác
động
Công cụ
1 Thuế quan Bảo hộ cho hàng hoá sản
xuất trong nước Tăng thu ngân sách
Làm tăng giá sản phẩm, người dân ít có cơ hội
sử dụng hàng hoá ngoại nhập với giá rẻ
Áp dụng 4 hệ thống thuế như đã trình bày ở trên
2 Hạn ngạch
nhập khẩu
Bảo hộ cho nến sản xuất trong nước, ngăn chạn sự
Gây cản trở mậu dịch tự
do, có thể dẫn đến sự trả
Sử dụng trong một
số trường hợp như :
Trang 8xâm nhập của hàng hoá ngoại nhập
đũa của đối phương bảo hộ nông nghiệp,
chống bán phá giá, bảo vệ nền sản xuất trong nước
3 Hạn ngạch
thuế quan
Bảo vệ người tiêu dùng
và bảo hộ sản xuất nội địa
Cản trở tự do hoá thương mại
Không phân biệt đối
xử với từng quốc gia
4 Hạn chế xuất
khẩu tự
nguyện
Bảo hộ sản xuất nội địa Gây ảnh hưởng tới tự do
ngoại thuơng và phân phôi các nguồn tài nguyên
Có sự đồng ý của đối phương
5 Giấy phép
nhập khẩu
Hạn chế sự xâm nhập của hàng hoá ngoại nhập
Áp dụng với một số mặt hàng đặc thù
6 Tiêu chuẩn
JIS
Phân biệt các hàng hoá công nghiệp đã đáp ứng được chất lượng yêu cầu của Nhật
Thời gian xin giấy phép khá lâu, có thể làm mất thời cơ kinh doanh
Áp dụng cho tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản
7 Tiêu chuẩn
JAS
Phân biệt các hàng hoá nông nghiệp đã đáp ứng đựoc chất lượng yêu cầu của Nhật
Thời gian xin giấy phép khá lâu, có thể làm mất thời cơ kinh doanh
Áp dụng cho đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông, lâm thuỷ sản chế biến
8 Các dấu chất
lượng khác
Chứng nhận chất lượng của hàng hoá
Áp dụng với các sản phẩm được liệt kê trong bảng 1.1
9 Tiêu chuẩn
môi trường
Ngăn chặn các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường
Không mang tính bắt buộc
10 Luật vệ sinh
thực phẩm
Bảo vệ sức khoẻ của nguời tiêu dùng
Các quy định rất là phức tạp, có thể gây nhiều thiệt hại nếu không tìm hiểu kỹ
Áp dụng cho các hàng hóa liên quan đến thực phẩm, gia vị…
11 Luật kiểm
dịch thực vật
Ngăn chặn sự xâm nhập của sâu bệnh và các căn bệnh ở cây trồng
Áp dụng cho cây trồng, các mặt hàng nông sản
12 Luật chống
các bệnh
truyền nhiễm
Ngăn chặn sự xâm nhập của các bệnh truyền nhiễm từ động vật
Áp dụng với các động vật và sản phẩm thực phẩm từ
Trang 9động vật
1.1.2 Chính sách nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản.
Vào đầu những năm 80, Nhật Bản đã tiến hành mở cửa thị trường trong nước qua việc cắt giảm và bãi bỏ thuế nhập khẩu, nới lỏng các biện pháp hạn chế về số lượng, cải thiện hệ thống cấp giấy chứng nhận cho hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn duy trì nhiều biện pháp hạn chế hoặc cấm nhập khẩu hàng hóa vào thị trường trong nước Sự hạn chế này được thể hiện trong các chính sách, các quy định và tiêu chuẩn của chính phủ cũng như qua việc tạo ra sự khác biệt trong văn hoá kinh doanh Trong đó có các vấn đề nổi bật như:
- Thiết lập các tiêu chuẩn riêng của Nhật Bản Các tiêu chuẩn này còn được coi trọng hơn các tiêu chuẩn của thế giới Hàng hoá muốn nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản cần phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này
- Đòi hỏi chứng minh kinh nghiệm trong thị trường Nhật Bản, đây chính là một rào cản đối với những nhà xuất khẩu mới muốn xâm nhập được vào thị trường Nhật Bản
- Các hiệp hội sản xuất tuy có số thành viên hạn chế nhưng có ảnh hưởng rất lớn trên thị trường, có khả năng kiểm soát thông tin và hoạt động của thị trường ở mức độ nhất định
- Các quy định chính thức nhằm bảo trợ hàng hoá trong nước và phân biệt đối xử với hàng hoá nhập khẩu
- Tầm quan trọng của các mối quan hệ cá nhân ở Nhật Bản, các doanh nghiệp ưa thích các khách hàng lâu năm và có quen biết Do đó rất khó để khiến cho đối tác Nhật Bản thay đổi quan hệ kinh doanh Để vượt qua được rào cản này thì phải phụ thuộc vào ngành hàng, tính cạnh tranh của sản phẩm, uy tín của thương hiệu và sự linh hoạt, nhạy bén và sáng suốt của các doanh nghiệp
Ngoài các biện pháp để quản lý nhập khẩu, Nhật Bản còn áp dụng các biện pháp bảo hộ nông nghiệp đa dạng Nhà nước can thiệp vào quá trình sản xuất nông nghiệp qua các khâu sản xuất, marketing sản phẩm, phân phối sản phẩm Những chính sách bảo hộ của Nhật Bản như:
- Hạn ngạch sản xuất PQ đối với ngành sữa
- Chính sách ổn định thu nhập ISP đối với ngành rau quả
Trang 10- Hỗ trợ giá DP, người nông dân được thanh toán một phần hoặc toàn bộ mức chênh lệch giữa giá mục tiêu mà nhà nước để ra với giá cả thực tiễn trên thị trường
- Chương trình chuyển đổi sản xuất lúa gạo RDP Chương trình này được bắt đầu thực hiện từ những năm 60 Chính phủ sẽ thanh toán các khoản mà người nông dân đã chi để chuyển đổi diện tích trồng lúa sang trồng các loại cây trồng khác tuỳ theo diện tích đất đai chuyển đổi và loại cây trồng
- Chương trình trợ cấp bảo hiểm rủỉ ro GSIP, Chính phủ sẽ trợ cấp một phần hoặc tái bảo hiểm những rủi ro cho người nông dân khi xảy ra dịch bệnh và các rủi ro khác trong trồng trọt, chăn nuôi
- Chất lượng và an toàn thực phẩm FSAQ Năm 2003, một Uỷ ban thực phẩm cấp Văn phòng chính phủ đã được thành lập nhằm đánh giá và xác định mức độ rủi ro an toàn đối với các sản phẩm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và hoá chất nông nghiệp 1.2 Đặc điểm của thị trường Nhật Bản
1.2.1 Đặc điểm hệ thống phân phối
Chức năng của hệ thống phân phối ở Nhật bản không có gì khác biệt lắm so với các nước khác Nó giúp cho việc di chuyển hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng Nó đồng thời đóng vai trò là kênh bán hàng cho nhà sản xuất và kênh mua hàng cho người tiêu dùng Hệ thống phân phối thường gồm hai cấp đó là bán buôn và bán lẻ Tuy nhiên, nó còn đóng vai trò quan trọng là lá chắn bảo hộ cho sản xuất trong nước, bài trừ hàng ngoại nhập Mặc dù thời gian gần đây thì Nhật Bản đã cải cách hệ thống phân phối theo hướng mở hơn, tạo điều kiện cho hàng hóa nhập khẩu; nhưng nó vẫn là một rào cản gây trở ngại cho các nhà sản xuất nước ngoài Cơ bản, hệ thống này bao gồm 3 kênh chính:
- Nhà nhập khẩu-nhà bán buôn-nhà bán lẻ-người tiêu dùng Giá bán lẻ thường bị đội lên cao gấp 3-4 lần
- Nhà nhập khẩu- nhà bán buôn-người tiêu dùng Giá bán lẻ thường cao gấp 2-2,5 lần giá FOB
- Nhà nhập khẩu-người tiêu dùng (đặt hàng qua thư hoặc qua internet) Giá có thể gấp đôi giá FOB
Giữa các nhà sản xuất và bán lẻ Nhật Bản có sự liên kết rất chặt chẽ, thể hiện ở chỗ các nhà sản xuất cung cấp vốn cho các nhà bán buôn, các nhà bán buôn lại cung