1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khảo sát các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, bệnh học và điều trị ở bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và bướu cận hạch giao cảm

11 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 9,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát các đặc điểm lâm sàng, bệnh học và các phương pháp điều trị bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và bướu cận hạch giao cảm. Phương pháp: Báo cáo trường hợp ca những bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và bướu cận hạch giao cảm điều trị tại BVUB TP.HCM trong năm 2018.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, LÂM SÀNG, BỆNH HỌC

VÀ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN BƯỚU SẮC BÀO THƯỢNG THẬN

VÀ BƯỚU CẬN HẠCH GIAO CẢM

TRẦN NGUYÊN HÀ1, PHAN THỊ HỒNG ĐỨC2

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, bệnh học và các phương pháp điều trị bệnh nhân bướu sắc

bào thượng thận và bướu cận hạch giao cảm

Phương pháp: Báo cáo trường hợp ca những bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và bướu cận hạch

giao cảm điều trị tại BVUB TP.HCM trong năm 2018

Kết quả: Có 03 trường hợp bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và 1 trường hợp bướu cận hạch

giao cảm được khảo sát Thời gian có triệu chứng là 1-10 tuần Không có trường hợp nào có tiền căn gia đình

Cả 3 trường hợp có nhiễm viêm gan siêu vi B Có 3 trường hợp có cao huyết áp tại thời điểm chẩn đoán 100% bệnh nhân đến khám vì có bướu ở bụng Kích thước bướu là 7-11cm Cả 3 trường hợp có tăng catecholamine trong nước tiểu 24 giờ Không có trường hợp nào có tăng cortisol trong máu Đặc điểm giải phẫu bệnh bao gồm

3 trường hợp là bướu sắc bào thượng thận, 1 trường hợp là bướu cận hạch giao cảm Hình ảnh CT scan

3 trường hợp có bướu thượng thận, 1 trường hợp hạch sau phúc mạc 2/3 trường hợp có xuất huyết trong bướu, 3 trường hợp có gieo rắc ổ bụng-hạch ổ bụng, 1 trường hợp có di căn ngoài ổ bụng

100% được phẫu trị trước, trong đó 2/4 được cắt bướu, 2 trường hợp chỉ mổ thám sát, sinh thiết Trường hợp mổ được có tái phát lại sau 3-6 tháng và được phẫu thuật lần 2 Chỉ có 1/2 trường hợp cắt được bướu, sau 4 tháng bệnh gieo rắc ổ bụng

Hóa trị với phác đồ CVD chiếm 100% trường hợp

Có 1 trường hợp bệnh tiến triển sau 3 chu kỳ hóa trị CVD và tái kích hoạt viêm gan siêu vi B dù đã có điều trị dự phòng bằng Lamivudine, được hội chẩn chăm sóc giảm nhẹ

Do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên chúng tôi chưa đánh giá được sống còn cho toàn bộ nhóm bệnh nhân

Kết luận: Bướu sắc bào thượng thận và bướu cận hạch giao cảm là một tình trạng hiếm gặp Bướu thường

được phát hiện trễ, đi kèm các triệu chứng cao huyết áp, xuất huyết trong bướu, tăng catecholamine trong nước tiểu Các nguyên tắc điều trị chính ở bệnh lý này gồm kiểm soát các triệu chứng do tăng catecholamine, phẫu thuật và hóa trị khi bệnh tiến xa Các nghiên cứu về điều trị đích và 131 I- MIBG hiện tại chưa được phổ biến, tuy nhiên cần phát triển của điều trị ứng hợp cho nhóm này

ABSTRACT

Pheochromocytoma and paraganglioma: epidemic, clinicopathological features and treatment Purpose: To evaluate the clinical and pathologic features and treatment of pheochromocytoma and

paraganglioma

Patients and method: This is a case series study on 03 patients diagnosed with pheochromocytoma and

paraganglioma treated in 2018 at HCMC Oncology Hospital

Results: The duration of disease awareness before hospitalization was 1 - 10 weeks None of patients had

family history of pheochromocytoma and paraganglioma 3 patients had hypertension, 3 of them had hepatitis

B 100% of cases presented with mass in the abdominal cavity 2 cases had 2 lesions in the breast Tumor size

at hospitalization was 7 - 11cm) 3 cases had high level of catecholamine in the urine None of them had high level of cortisol in the serum On pathological examination, 3 cases were pheochromocytoma and 1 case was paraganglioma CT scan had tumor of the adrenal in 3 cases and 1 case was paraganglioma 2/3 cases had hemorrhage inside tumor, 1 case had peritoneum metastasis and 1 case had extra-abdominal metastasis

1BSCKII Trưởng Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

2 TS.BS Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu ĐHYK Phạm Ngọc Thạch - BSĐT Khoa Nội 4- Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM

Trang 2

100% of cases undergone surgegy 2/4 cases had tumor excision, 2 cases had biopsy 2 cases had tuomor excision relapsed after 3-6 months, and undergone 2 nd surgery Only 1/2 case had tumor excision and relapsed after 4 months

Chemotherapy with CVD regimen in 100% cases 1 case relapsed after 3 cycles and re-activated hepatitis

B and had changed into best supportive care We couldn’t evaluate overall survival of the whole group because

of the limitation of time

Conclusion: The incidence of pheochromocytoma and paraganglioma is very rare The biological nature of

invasive breast cancer of this group is very aggressive Late diagnostic time with symptoms such as hypertension, hemorrhage inside tumor, high level of catecholamine in the urine In general, the treatment for this group of patients is surgery, control catecholamine secretion and a hypertensive crisis, chemotherapy in progressive disease Patients of this group need to be indicated targeted therapy if possible

Keywords: Pheochromocytomas, paragangliomas, chromaffin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Pheochromocytomas và paragangliomas là các

bướu thần kinh nội tiết chế tiết catecholamin phát

sinh từ các tế bào chromaffin của tủy thượng thận

(trong trường hợp pheochromocytoma) và từ các tế

bào thần kinh nội tiết của cận hạch giao cảm ngoài

tuyến thượng thận (trong trường hợp

paraganglioma)

Pheochromocytomas/paragangliomas chia sẻ các

đặc tính chồng chéo về mô bệnh học, dịch tễ học và

ngay cả sinh bệnh học phân tử; chúng cũng có nhiều

khác biệt về đặc điểm lâm sàng, sự tiến triển và

di căn, các dấu hiệu hóa sinh và liên quan với các

hội chứng di truyền bẩm sinh

Hầu hết pheochromocytomas/paragangliomas

lành tính Ít nhất 10% pheochromocytomas ác tính

(được định nghĩa khi có di căn xa), trong khi phần

lớn paragangliomas (lên đến 25%) là ác tính

Paragangliomas và pheochromocytomas không

thể phân biệt được ở mức độ tế bào Các

paragangliomas tiết catecholamine thường hiện diện

trên lâm sàng như pheochromocytoma với cao huyết

áp, nhức đầu cách hồi, đổ mồ hôi, rung, tim đập

nhanh Tuy nhiên, sự khác biệt giữa

pheochromocytoma và paraganglioma là quan trọng

vì liên quan đến điều trị, xét nghiệm di truyền và

phân nhóm nguy cơ

Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát các

đặc trưng bệnh học và điều trị của 3 bệnh nhân

bướu sắc bào thượng thận tại Bệnh viện Ung Bướu

TP.HCM

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Báo cáo trường hợp ca

Đối tượng nghiên cứu

3 bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và 1 trường hợp bướu cận hạch giao cảm tại thời điểm chẩn đoán được nhập viện điều trị tại BVUB TP.HCM trong năm 2018 với giải phẫu bệnh là pheochromocytoma và paraganglioma

Các bước thực hiện nghiên cứu

Sau khi chọn bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhận bệnh, chúng tôi sẽ ghi nhận các biến số:

- Các biến số về dịch tễ học: tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú

- Tiền căn cá nhân, gia đình

- Các biến số về lâm sàng và hình ảnh học: thời gian khởi bệnh, lý do nhập viện, điều trị trước đó, giai đoạn TNM, siêu âm, CT scan

- Các biến số về mô bệnh học: giải phẫu bệnh, hóa mô miễn dịch

- Điều trị: phẫu trị, hóa trị, xạ trị

- Chấm dứt theo dõi: 30/9/2018

Tiêu chuẩn xếp loại phân tử theo kết quả hóa

mô miễn dịch

Xử lý số liệu

Dùng phần mềm SPSS 17.0 để xử lý số liệu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm nhóm khảo sát

Trong năm 2018, có 03 bệnh nhân bướu sắc bào thượng thận và 1 trường hợp bướu cận hạch giao cảm tại thời điểm chẩn đoán được điều trị tại khoa Nội 4 Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM Tất cả các bệnh nhân này được ghi nhận về tình huống lâm sàng, các kết quả chẩn đoán hình ảnh, mô bệnh học

Trang 3

Thời gian có triệu chứng từ 2-10 tuần

Tuổi: 38, 45 và 51 tuổi

100% bệnh nhân đến khám vì có bướu ở bụng

Có 2 trường hợp có tiền căn bướu thương thận đã

mổ (tại Bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Nhân dân

Gia Định 1 trường hợp bướu cận hạch giao cảm

được mổ thám sát sinh thiết tại Bệnh viện Xuyên Á

Kích thước bướu (7-11cm)

Bảng 1 Các đặc điểm dịch tễ học

Tiền căn nội khoa

Cao huyết áp

Viêm gan siêu vi B

4 ()

3 ()

Tiền căn bướu thượng thận đã mổ 2 ()

Tiền căn gia đình

Bệnh khác: phù chân(1)

Bảng 2 Các đặc điểm lâm sàng

Biến số Trường hợp

Kích thước bướu

7cm

8cm

11cm

2

1

1 Tình trạng bướu (số trường hợp)

Có xuất huyết trong bướu

Không có xuất huyết trong bướu

2

2

Có 1 trường hợp bướu > 10cm lúc chẩn đoán

2/3 trường hợp có xuất huyết trong bướu

Bảng 3 Các đặc điểm bệnh học

Giải phẫu bệnh

Bướu sắc bào thượng thận

Bướu cận hạch giao cảm

3

1

Có 1 trường hợp bướu cận hạch giao cảm

được làm hóa mô miễn dịch với các dấu ấn

vimentin, chromogranin, CD56, synaptophysin (+++)

Bảng 4 Xét nghiệm cortisol/ máu

Ch ỉ số S ố trường hợp có tăng

Cortisol/ máu (6,20 -19,40 µg/dL)

2

Bảng 5 Xét nghiệm catecholamine/ nước tiểu 24 giờ

Ch ỉ số S ố trường hợp có tăng

Adrenaline (< 20 µg/24h) 4 Noradrenaline (< 90 µg/24h) 4 Dopamine (< 600 µg/24h) 4

Bảng 6 Hình ảnh CT scan

Đặc điểm S ố trường hợp

Có gieo r ắc ổ bụng - hạch ổ bụng 3

Di căn ngoài ổ bụng 1

Điều trị

Bảng 7 Điều trị

Điều trị lúc đầu Phẫu trị Hóa trị

4 (100)

0 (0)

Số lần phẫu trị

1

2

2

2 Phương pháp phẫu thuật lần 1

Mổ thám sát - sinh thiết Lấy bướu

2

2 Phương pháp phẫu thuật lần 2

Mổ thám sát - sinh thiết Lấy bướu

1

1 Hóa trị

Có Không

4 (100)

0 (0) Phác đổ hóa trị

CVD*

Xạ trị

Có Không

0 (0)

4 (100)

Trang 4

*: Cyclophosphamide 750mg/m 2 N1, Vincristine

1,4mg/m 2 N1, Dacarbazine 600mg/m 2 N1- 2 chu kỳ

21-28 ngày

100% được phẫu trị lúc đầu; trong đó 2 trường

hợp mổ thám sát-sinh thiết bướu, 2 trường hợp còn

lại cắt bướu Sau 3-6 tháng 2 trường hợp này tái phát

và được phẫu thuật lần 2 Chỉ có 1/2 trường hợp cắt

được bướu, sau 4 tháng bệnh gieo rắc ổ bụng

Phác đồ CVD chiếm 100% trường hợp

Có 1 trường hợp bệnh tiến triển sau 3 chu kỳ

hóa trị CVD và tái kích hoạt viêm gan siêu vi B dù đã

có điều trị dự phòng bằng Lamivudine, được hội

chẩn chăm sóc giảm nhẹ

BÀN LUẬN

Sinh bệnh học phân tử

Nghiên cứu hội chứng pheochromocytoma gia

đình rất quan trọng để hiểu các cơ chế sinh bệnh

học ảnh hưởng cả thể bệnh gia đình và đơn lẻ

Nhiều gen nhạy cảm được cho là có vai trò trung

tâm trong sinh bệnh học của cả pheochromocytomas

và paragangliomas Nhiều gen trong số đó đại diện

cho các tình trạng di truyền (đột biến gen ức chế

bướu von Hippel-Lindau [VHL], tái sắp xếp trong quá

trình chuyển nạp proto-oncogene [RET], gen ức chế

bướu neurofibromatosis type 1 [NF1], genes mã hóa

4 tiểu đơn vị [A,B,C,D] của phức hợp succinate

dehydrogenase [SDH] và gene mã hóa enzyme chịu

trách nhiệm cho việc flavination tiểu đơn vị SDHA

[SDHAF2]), trong khi các đột biến tự thân khác

không được chứng minh có liên quan đến hội chứng

di truyền (đột biến genes TMEM127 và MAX, and

HIF2A)

Từ 1990 đến nay, đã có gần 20 gen nhạy cảm

pheochromocytoma/ paraganglioma khác nhau được

báo cáo Đột biến trong pheochromocytoma và

paraganglioma có 2 dấu ấn sao chép chung: cluster

1, gene mã hóa các protein; và cluster 2, gene mã

hóa các protein hoạt hóa tín hiệu kinase Bướu

cluster 1 thường ở bướu paraganglioma ngoài

thượng thận nhất (ngoại trừ trong VHL hầu hết các

bướu ở tuyến thượng thận) và gần như toàn bộ có

kiểu hình hóa sinh noradrenergic Trong khi đó bướu

cluster 2 thường là pheochromocytoma thượng thận

với kiểu hình hóa sinh adrenergic Đột biến cluster 1

germline gồm: NF1, RET, VHL, SDHD, SDHC,

SDHB, SDHAF2,SDHA EGLN1 (PHD2), KIF1,

SDHAF2, IDH1, TMEM127, SDHA, VHL, MAX, HIF2,

FH gene mã hóa fumarate hydratase, EGLN1

(PHD2), EGLN2 (PHD1), và KIF1B Đột biến cluster

2 germline gồm: RET, NF1, MAX, and TMEM127

Các nghiên cứu di truyền đang tiến hành cho thấy

các gen khác có thể bị ảnh hưởng trong sinh bệnh học của các bướu này

Nguy cơ ác tính và ý nghĩa của điều trị lúc đầu

Định nghĩa ác tính trong pheochromocytoma/ paraganglioma khá phức tạp Không có sự kết hợp giữa các đặc tính lâm sàng, mô bệnh học, hóa sinh, các đánh giá bệnh học thường khó khăn để tiên đoán nguy cơ tái phát hoặc di căn Chẩn đoán ác tính có thể chỉ do xác định bướu nằm ở các mô mà bình thường không có các tế bào chromaffin (ví dụ hạch lympho, gan, xương, phổi và các vị trí di căn khác)

Ở bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma, cần theo dõi lâu dài để đánh giá ác tính

Xuất độ ác tính tùy thuộc vị trí giải phẫu và nền tảng di truyền

Khoảng 10% pheochromocytomas là ác tính so với 20-25 % paraganglioma ngoài thượng thận bụng/chậu và trung thất Ở nền sọ và cổ, ác tính ít gặp ở bướu cuộn cảnh (ugulotympanic) (2-4%), cao hơn nhẹ ở bướu thể cảnh (4-6%), và cao nhất ở bướu thần kinh phế vị (10-19%)

Có s ự khác biệt lớn giữa các hội chứng di truyền và nguy cơ ác tính

 Tỉ lệ ác tính cao nhất ở paragangliomas đi kèm với các đột biến di truyền ở tiểu đơn vị B của

succinate dehydrogenase (SDHB) gene, thường có

ở bụng và chế tiết Những bệnh nhân này cần cảnh

báo tầm soát di căn xa trước mổ

 Chỉ 3-5% pheochromocytomas/ paragangliomas liên quan đến MEN2 là ác tính Trong các bệnh nhân có paragangliomas nền

sọ và cổ, di căn xa thường thấy ở hạch cổ Các dữ liệu này hướng đến khuyến cáo nạo hạch cổ chọn lọc ở thời điểm cắt bướu nguyên phát Mặc dù kết quả bệnh nhân có hạch vùng tốt hơn bệnh nhân có

di căn xa (sống còn 5 năm 77% sv 12%, National Cancer Database thường khuyến cáo xạ trị bổ túc Ngược lại, bệnh nhân paragangliomas dưới nền

sọ và vùng cổ thường có di căn xa, hầu hết ở xương, gan, phổi

Mặc dù sự hiện diện của di căn xa có tác động xấu lên tiên lượng, nhưng không phải là chống chỉ định can thiệp tại chỗ Các can thiệp như phẫu thuật giảm tổng khối bướu, đốt, xạ trị dịnh vị là các chọn lựa hiệu quả cho xử trí bướu tái phát hoặc di căn Ngay cả nếu can thiệp phẫu thuật không thể lấy bướu hoàn toàn, có thể cân nhắc với mục đích giảm nhẹ để giảm áp lực bướu lên mô xung quanh hoặc đến tổng khối bướu Gánh nặng bướu giảm có thể

Trang 5

làm giảm đáng kể tiết catecholamine (với bướu đang

có chức năng) cũng như giảm nhẹ liều sử dụng các

tác nhân kháng adrenergic Nó có thể tăng đáp ứng

với các tiếp cận điều trị khác Tuy nhiên, lợi ích sống

còn của phẫu thuật giảm tổng khối bướu không

được thể hiện Với những bệnh nhân không đồng ý

phẫu thuật hoặc những người cần phải điều trị bổ

túc sau mổ, một số các chọn lựa giảm nhẹ có sẵn,

gồm liệu pháp 131-iodine-labeled

meta-iodobenzylguanidine (131I-MIBG), hóa trị, xạ trị, áp

lạnh, RFA, chích cồn, tắc mạch bướu, liệu pháp

peptide receptor radionuclide

Tiên lượng

Quá trình di căn của pheochromocytoma/

paraganglioma thay đổi nhiều, với tỉ lệ sống còn

5 năm báo cáo thay đổi nhiều từ 12 - 84% Những

khác biệt này do các định nghĩa ác tính khác nhau

WHO cho rằng pheochromocytomas/

paragangliomas ác tính chỉ với những người có

di căn đến hạch hoặc di căn xa, trong khi Viện Giải

phẫu bệnh Quân đội về bướu tuyến thượng thận và

bướu cận hạch ngoài thượng thận định nghĩa ác tính

là "xâm lấn tại chỗ rộng hoặc có di căn xa."

Trong số các bướu ác tính, tỉ lệ sống còn có thể

tùy thuộc vào vị trí bướu nguyên phát và di căn

Kết quả thay đổi nhiều nhất ở paragangliomas

ác tính của nền sọ và vùng cổ, hầu hết các bướu

này không chế tiết:

Trong một loạt ca 19 bệnh nhân paraganglioma

nền sọ và vùng cổ từ 1970-2005, tỉ lệ sống còn 5

năm là 84%, mặc dù thực tế có 14 ca di căn xa

Ngoài ra, báo cáo của National Cancer Institute

Surveillance, Epidemiology, and End Results

(SEER) từ 1973-2009 với 86 ca paraganglioma

nền sọ và đầu cổ, tỉ lệ sống còn 5 năm là 65%;

ở bệnh nhân di căn tại vùng (n=47), là 82%, so với

41% với bệnh nhân có di căn xa (n=39) Các kết quả

tốt hơn với bướu thể cảnh hơn bướu ác tính các vị

trí khác (sống còn 5 năm 87 so với 48%)

Một báo cáo của National Cancer Database

trên 59 ca paraganglioma ác tính nền sọ và vùng cổ

cho thấy tỉ lệ sống 5 năm 77 % cho di căn tại vùng,

nhưng chỉ 12% cho bệnh nhân di căn xa

Trong số các bệnh nhân pheochromocytoma/

paraganglioma chế tiết di căn, tỉ lệ sống 5 năm 34-60

%, sống 10 năm là 25% Tuy nhiên, các báo cáo

khác cho thấy kết quả xấu hơn với

pheochromocytomas so với paraganglioma, bất kể

có chức năng hay không Trong nghiên cứu này,

pheochromocytomas thường có di căn xa và bướu

lớn hơn; sống còn toàn bộ 5 năm 58% so với 80% ở

paraganglioma

Trong loạt ca hồi cứu 272 bệnh nhân pheochromocytoma hoặc paraganglioma di căn, trung vị tuổi tại thời điểm phát hiện là 39 (7-83 tuổi), với di căn đồng thời ở 96 bệnh nhân 35% Di căn sau đó phát triển ở 176 (65%) ở trung vị 5,5 tuổi (0,3-53,4 năm) từ chẩn đoán lúc đầu Trung vị sống còn toàn bộ và sống còn liên quan bệnh là 24,6 và 33,7 năm Sống còn ngắn hơn liên quan giới nam, tuổi lớn hơn tại thời điểm bướu nguyên phát, các

di căn đồng thời, bướu nguyên phát lớn hơn, dopamine tăng, và không tiến hành cắt bướu nguyên phát Không có sự khác biệt do loại bướu nguyên

phát hoặc có đột biến SDHB

Tiên lượng gồm gánh nặng bướu, vị trí di căn, tốc độ tiến triển; bệnh nhân có di căn não, gan, phổi

có khuynh hướng tiên lượng xấu hơn những người

có sang thương xương đơn độc

Điều trị chế tiết catecholamine

Các triệu chứng thừa catecholamine do các bướu pheochromocytoma/ paragangliomas ác tính

có chức năng tương tự với các trường hợp có bướu lành tính Trong số các bệnh nhân có bệnh ác tính, các triệu chứng có thể do sự phát triển di căn của bướu

Các triệu chứng thừa catecholamine điển hình gồm cao huyết áp cách hồi, nhức đầu, tim đập nhanh, đổ mồ hôi Chẩn đoán xác định bởi các sản phẩm chuyển hóa catecholamine tăng trong huyết thanh và nước tiểu 24 giờ tiết các phần metanephrines và catecholamines

Ở bệnh nhân bệnh lành tính, các triệu chứng của thừa catecholamine có thể được kiểm soát với kết hợp chẹn alpha- và beta-adrenergic

Đánh giá đáp ứng

Đánh giá đáp ứng ở bệnh nhân điều trị pheochromocytoma/ paragangliomas tiến xa thường kết hợp chẩn đoán hình ảnh và đo metanephrines, catecholamines, và chromogranin A (CgA)

Một trong những đặc tính đặc biệt của pheochromocytoma/ paraganglioma là đáp ứng chậm với điều trị, đặc biệt với xạ trị Các bướu này được biết là thóai triển chậm và thường một phần sau xạ trị, và các bướu điều trị thành công cho thấy

có khối tồn dư, sự hiện diện của chúng không cần thiết đánh giá thất bại điều trị Paragangliomas là bướu mạch máu, và các tế bào ác tính chứa chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng khối bướu; người ta cho rằng thành phần mạch máu chứa khối bướu diễn tiến xơ hóa sau điều trị Áp lạnh hoặc giảm tổng khối bướu, giảm tương phản, và giảm cường độ tín hiệu T2 trên MRI được mô tả và là chỉ dấu kiểm soát tại chỗ Một số nghiên cứu gợi ý hình ảnh chuyển

Trang 6

hóa (chức năng) với (18)F-fluorodeoxyglucose

positron emission tomography (FDG-PET) ưu thế

hơn hình ảnh giải phẫu cắt lát với CT, nhưng đây

không phải là tiếp cận tiêu chuẩn để đánh giá đáp

ứng ở tất cả các viện

PET/CT sử dụng somatostatin receptor-based

tracer Gallium 68 ([68]) Ga) 1, 4, 7,

10-tetraazacyclododecane-1, 4, 7, 10-tetraacetic acid

(DOTA)-octreotate (DOTATATE) cung cấp chọn lựa

tốt hơn hình ảnh chức năng PET của

paragangliomas ngoài thượng thận Hình ảnh chức

năng nhạy cao có thể cho phép xếp giai đoạn chính

xác hơn ở những bệnh nhân bệnh tiến xa

CgA cùng chứa với catecholamines và được

giải phóng từ các tế bào chromaffin CgA không có

ích cho mục đích chẩn đoán vì độ đặc hiệu giới hạn

Tuy nhiên, cũng như các bướu thần kinh nội tiết

khác, mức độ CgA trong huyết thanh có liên quan

đến tổng khối bướu, và đo lCgA để theo dõi đáp ứng

điều trị

Các chọn lựa điều trị

Quan sát ban đầu đi kèm với theo dõi thường

xuyên nên là cân nhắc chọn lựa cho các bệnh nhân

không triệu chứng Với nhiều bệnh nhân có bướu

diễn tiến chậm, các tác dụng phụ do điều trị có thể

nhiều hơn lợi ích

Tuy nhiên, với những bệnh nhân có triệu chứng

hoặc những người có bệnh di căn tiến triển, có nhiều

phương pháp điều trị để kiểm soát gánh nặng bướu

Cần tiếp cận đa mô thức để kiểm soát tối ưu

Điều trị tại chỗ

Phẫu thuật

Không có điều trị chữa khỏi cho

pheochromocytoma/ paraganglioma di căn Tuy

nhiên, cả sang thương nguyên phát và di căn nên

được phẫu thuật, nếu có thể Phẫu thuật có thể cải

thiện triệu chứng, giảm chế tiết hormone, ngăn ngừa

các biến chứng liên quan vị trí giải phẫu, và cải thiện

hiệu quả các điều trị sau đó Phẫu thuật có thể cũng

cải thiện sống còn, mặc dù không có dữ liệu nghiên

cứu trợ giúp cho điều này Mặc dù tỉ lệ sống còn 5

năm ít hơn 50% mặc dù nhiều bệnh nhân có thể có

sống còn kéo dài

Can thiệp phẫu thuật chỉ nên thực hiện ở những

trung tâm có kinh nghiệm theo dõi bệnh nhân

pheochromocytoma/ paraganglioma ác tính

Kiểm soát trước mổ các hậu quả của kích thích do

thừa adrenergic, và trước mổ, cũng như trong lúc

mổ, độ rộng khối bướu là cần thiết Các nguyên tắc

phẫu thuật nói chung, bao gồm chuẩn bị nội khoa

trước mổ và kiểm soát huyết động học trong lúc mổ

Mặc dù tiếp cận phẫu thuật nội soi thường được ưa chuộng hơn ở pheochromocytomas/ paragangliomas nói chung, các bướu ác tính thường lớn hoặc ở những vị trí khó lấy đi bằng phẫu thuật nội soi Trong trường hợp có bằng chứng ác tính, khuyến cáo mổ hở Nếu bướu nguyên phát được cắt bỏ, vỏ bao không nên bị phẫu thuật làm thủng, nếu như vậy, đây là dấu hiệu tiên đoán tái phát Nhiều tác giả gợi ý sử dụng 131-iodine-labeled meta-iodobenzylguanidine (131I-MIBG) sau phẫu thuật cắt bỏ pheochromocytoma/ paraganglioma

ác tính chế tiết catecholamine hấp thu MIBG khi xác định bằng 123I-MIBG scanning Tuy nhiên, không có

dữ liệu chứng minh lợi ích sống còn hoặc sống còn không tái phát cho việc "hỗ trợ" 131I-MIBG sau phẫu thuật cắt bỏ bệnh di căn

Xạ trị

Trước đây người ta nghĩ rằng pheochromocytomas/ paragangliomas kháng xạ Tuy nhiên, xạ ngoài (EBRT) liều >40Gy có thể kiểm soát tại chỗ và giảm triệu chứng cho bướu ở nhiều

vị trí, gồm mô mềm nền sọ và vùng cổ, bụng,

và ngực, cũng như di căn xương đau Trong loạt ca

17 bệnh nhân paraganglioma ác tính điều trị EBRT, 76% đạt được kiểm soát tại chỗ hoặc giảm triệu chứng lâm sàng đáng kể ít nhất 1 năm hoặc đến khi

tử vong Với 5 bệnh nhân di căn toàn thân lan rộng

và vùng bướu có triệu chứng được điều trị tiếp theo

131I-MIBG và EBRT, tất cả các vùng chiếu xạ cho thấy có đáp ứng khách quan lâu dài; tất cả các bệnh nhân sau đó tiến triển toàn thân đòi hỏi các phương pháp điều trị khác

Bệnh nhân cần được theo dõi suốt quá trình

xạ trị, vì xạ trị có thể gây viêm ở sang thương có thể tạo ra tiết catecholamine ồ ạt và cơn khủng hoảng cao huyết áp

Đốt không phẫu thuật

Nhiều liệu pháp đốt tại chỗ không phẫu thuật cho bệnh nhân có di căn, bao gồm đốt bằng sóng cao tần (RFA), áp lạnh, chích cồn xuyên da Đốt xuyên da cho sang thương di căn ở nhiều vị trí, gồm mô mềm, xương và gan, có thể thực hiện

an toàn nếu chú ý cẩn thận quá trình quanh thủ thuật Như với các loại liệu pháp tại chỗ gồm phẫu thuật và xạ trị, bất kỳ loại đốt tại chỗ có thể gây

ra tiết catecholamine ồ ạt và khủng hoảng cao huyết áp; chuẩn bị nội khoa quanh thủ thuật là cần thiết

Tính an toàn và hiệu quả của đốt xuyên da được xác định trong loạt ca 10 bệnh nhân có pheochromocytoma/ paraganglioma di căn, tất cả được điều trị trước đó với chẹn alpha - và beta-adrenergic cũng như ức chế tyrosine hydroxylase với metyrosine Quá trình đốt được chọn (RFA, áp

Trang 7

lạnh hoặc chích cồn) tùy vị trí sang thương đích;

xương, thành ngực và sang thương sau phúc mạc

được điều trị bằng RFA hoặc chích cồn Với những

sang thương theo dõi bằng hình ảnh, đốt thành công

mà không có bằng chứng tái phát đạt được ở 15/27

sang thương nguyên phát (56%) Trong số 7 bệnh

nhân có hình ảnh quanh thủ thuật thực hiện sau

đốt (hiện diện 31 bước được điều trị), thời gian đến

khi tiến triển bệnh tương đối ngắn (7.2 ± 4 tháng)

Tuy nhiên, giảm các triệu chứng cao huyết áp hoặc

đau do di căn đạt được trong 2/2 và 4/4 bệnh nhân

Các kết quả tốt nhất nếu đốt bướu xuyên qua

da được giới hạn với 1 hoặc một vài bướu tương đối

nhỏ (lý tưởng, là <3-4cm)

Thuyên tắc hóa chất qua đường động mạch cho

các di căn gan

Với bệnh nhân có di căn gan đa ổ không đồng ý

phẫu thuật hoặc các phương pháp đốt không phẫu

thuật, các báo ca riêng lẻ cho thấy lợi ích (giảm tổng

khối bướu và tăng kiểm soát triệu chứng) bằng

TACE Như với các loại điều trị tại chỗ khác, TACE

có thể gây ra tiết catecholamine ồ ạt và khủng hoảng

cao huyết áp, chuẩn bị nội khoa quanh thủ thuật là

cần thiết

Liệu pháp toàn thân

Liệu pháp đồng vị phóng xạ

Điều trị đồng vị phóng xạ toàn thân sử dụng

beta-emitting isotopes với cặp đôi hoặc MIBG hoặc

somatostatin analogs

MIBG

Giá trị chẩn đoán và điều trị của MIBG dựa trên

tính tương tự về cấu trúc với noradrenaline và có

tính tương tự và hấp thu với tế bào chromaffin

Radioactive iodine (I131) gắn với phân tử MIBG để

tạo ra 131I-MIBG, với chức năng như một tác nhân

bán chọn lọc cho pheochromocytoma/paraganglioma

ác tính Điều trị này chỉ cho khoảng gần 60% bướu

hấp thu MIBG xác định bằng nhấp nháy đồ

123I-MIBG Một số ít hơn paraganglioma chế tiết

dopamine hấp thu 123I-MIBG External beam RT

thủ tiêu khả năng hấp thu MIBG của các bướu, đưa

đến điều trị 131I-MIBG không hiệu quả ở bất kỳ vị trí

chiếu xạ nào

Với bệnh nhân có bệnh di căn chế tiết

catecholamines và hấp thu MIBG, giá trị điều trị của

131I-MIBG để giảm nhẹ triệu chứng và thóai lui bướu

hoặc ổn định cho thấy ở nhiều loạt ca nhỏ Tỉ lệ

đáp ứng chủ quan khoảng 30% và 40% khác bệnh

ổn định; ít hơn 5% có thóai lui hoàn toàn Đáp ứng

nội tiết (như giảm tiết catecholamine) được báo cáo

45-67% các trường hợp Nhìn chung, đáp ứng

chủ quan tốt hơn đạt được ở những bệnh nhân có

bệnh giới hạn và ở những người ở mô mềm hơn là

di căn xương

Điều trị 131I-MIBG có thể lập lại, thường khoảng cách 6 tháng Liều lượng tối ưu không được thiết lập Hầu hết các báo cáo sử dụng liều điều trị đơn độc giữa 100-200mCi, với khoảng liều tích lũy từ 557-2322mCi và trung bình 400-600mCi Tại các liều này, điều trị nhìn chung được dung nạp tốt với các tác dụng phụ chính giảm bạch cầu, tiểu cầu thóang

qua Nhược giáp được báo cáo trong 3/28 bệnh nhân nhận liều tích lũy 111-916mCi trong một nghiên cứu loạt ca, và trong 2/10 bệnh nhân trong một báo cáo thứ hai (liều tích lũy trung bình 310mCi)

Có nhiều bằng chứng cho rằng các phác đồ liều cao hơn (liều đơn độc 500-800mCi) có thể đạt đáp ứng hoàn toàn kéo dài ở một số ít bệnh nhân, mặc dù có khả năng có các dụng phụ nghiêm trọng:

 Trong một báo cáo, 12 bệnh nhân có pheochromocytoma ác tính nhận liều đơn độc

131I-MIBG với 12-18mCi/kg; điều trị lập lại (trung vị khoảng cách điều trị 4,4 tháng, khoảng 3-7 tháng) Tại thời điểm trung vị theo dõi 54 tháng, 2 ca tử vong không có đáp ứng, 3 ca hãy còn thóai lui hoàn toàn (2 trong số đó có di căn cả phần mềm và xương),

và 7 ca có thóai lui một phần Tuy nhiên 79% có giảm tiểu cầu grad 3, 72% giảm bạch cầu grad 3-4,

1 ca cần cứu nguy bằng tế bào gốc tự thân để phục hồi tủy Tất cả các bệnh nhân điều trị với potassium iodide cần phòng ngừa hấp thu 131I bởi tuyến giáp, và không có ca nào suy giáp

 Trong 1 nghiên cứu pha II, 50 bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma di căn nhận liều đơn độc 131I-MIBG thay đổi từ 492-1160 mCi (6-19mCi/kg, trung vị 12mCi/kg); liều tích lũy thay đổi

từ 492-3191mCi Bệnh nhân phải có tế bào máu đầu dòng ở ngoại vi nhận được >12mCi/kg Nhìn chung, đáp ứng hoàn toàn đạt được ở 10%, đáp ứng một phần 20%, 39% bệnh ổn định/đáp ứng tối thiểu (69%

tỉ lệ kiểm soát bệnh) Tỉ lệ sống còn 5 năm 64% Độc tính gồm giảm bạch cầu hạt độ 3-4: 87%, giảm tiểu cầu độ 3-4: 87%; 4 bệnh nhân ức chế tủy kéo dài đòi hỏi giải cứu bằng tế bào sinh tủy tự thân Các độc tính nghiêm trọng khác gồm hội chứng suy hô hấp cấp độ 4 và viêm phổi tổ chức hóa không

rõ nguyên nhân ở 2 bệnh nhân trong mỗi nhóm,

và hội chứng tân sinh tủy và bạch cầu cấp đồng thời

ở 2 bệnh nhân nhận nhiều lần truyền 131I-MIBG Nhược giáp không được báo cáo, mặc dù liều cao potassium iodide được cho để phòng ngừa tuyến giáp hấp thu 131I và có 3 ca bị cường giáp

Điều trị 131 I- MIBG nên được cân nhắc ở những bệnh nhân hấp thu tốt 123 I- MIBG ở các nhóm sau

Trang 8

 Pheochromocytoma/paraganglioma tiến

triển không cắt được

 Các triệu chứng của bệnh không đáp ứng

với các phương pháp kiểm soát tại chỗ tại vùng

 Gánh nặng bướu lớn và số di căn xương ít

Với những bệnh nhân có bướu tiến triển nhanh

hoặc bệnh lan rộng di căn xương chiếm ưu thế, hóa

trị là lựa chọn thích hợp hơn ngay cả nếu xạ hình

123I-MIBG (+)

Liệu pháp Peptide receptor radioligand

Pheochromocytomas và paragangliomas ngoài

thượng thận biểu lộ somatostatin receptors ở mức

độ tương tự với các bướu thần kinh nội tiết khác,

gồm bướu thần kinh nội tiết tụy dạ dày ruột Như với

các bướu thần kinh nội tiết khác, bệnh nhân có

pheochromocytoma/ paraganglioma tái phát hoặc

di căn có biểu lộ thụ thể somatostatin (được xác định

bằng hấp thu (+) với 111In-pentetreotide Hình ảnh

PETsử dụng gallium-68-labeled somatostatin

analogs như 68-Ga-DOTATATE có thể có lợi ích từ

việc điều trị sử dụng radiolabeled somatostatin

analogs

Radionuclides thường sử dụng nhất là

Yttrium-90-labeled DOTA0-Tyr3-octreotide (90Y-edotreotide,

90Y-dotatoc) và lutetium Lu-177 dotatate

(177Lu-dotatate) Các báo cáo trường hợp đơn độc

và loạt ca nhỏ cho thấy có hiệu quả của 90Y-dotatoc

và 177Lu-dotatate cho paraganglioma/

pheochromocytoma ác tính Trong một báo cáo lớn

hơn, 28 bệnh nhân pheochromocytoma/

paraganglioma tiến triển không thể phẫu thuật chữa

khỏi nhận 90Y-dotatoc đơn độc hoặc với 177

Lu-dotatate sau đó Đáp ứng tốt nhất có 2 ca thóai triển

một phần, 5 ca đáp ứng tối thiểu, 13 ca bệnh ổn định

(tỉ lệ kiểm soát bệnh 71%) Ở thời điểm trung vị theo

dõi 19 tháng, 10/20 bệnh nhân có đáp ứng khách

quan hoặc bệnh ổn định hãy còn không tiến triển, và

chỉ có 2 ca có độc tính tủy nhẹ và không suy giảm

chức năng thận

Các tác dụng phụ lâu dài có thể của

radiolabeled somatostatin analogs gồm suy thận,

giảm ba dòng tế bào máu ngoại vi, hội chứng rối

loạn sinh tủy/ bạch cầu cấp

1/2018, Lutetium Lu-177 dotatate

(177Lu-dotatate) được FDA Mỹ đồng thuận cho điều

trị bướu thần kinh nội tiết tụy dạ dày ruột biều lộ thụ

thể somatostatin; đồng thuận này không mở rộng

cho paraganglioma/ pheochromocytoma Sử dụng

cho nhóm này hãy còn đang nghiên cứu, và nên chỉ

được cân nhắc nếu bướu có biểu lộ thụ thể

somatostatin

Octreotide

Hiệu quả điều trị của pheochromocytoma/ paraganglioma di căn với somatostatin analog octreotide được phân tích trong một vài nghiên cứu với số lượng ít bệnh nhân, và kết quả còn hỗn tạp: Các báo báo trường hợp gợi ý lợi ích octreotide

có đáp ứng khách quan ở số lượng ít bệnh nhân có paraganglioma di căn tiến triển và giảm tiết catecholamine thời gian ngắn ở bệnh nhân pheochromocytoma

Nói cách khác, những ca thất bại trong việc có lợi ích điều trị octreotide thời gian ngắn để kiểm soát tiết catecholamine hoặc cho việc giảm kích thước bướu trước mổ Không có nghiên cứu nào báo cáo tỉ

lệ ổn định bướu; ít nhất trong nhóm bướu thần kinh nội tiết tụy dạ dày ruột, nhóm lợi ích chính của somatostatin analogs trong việc ổn định bướu hơn là tiến triển bướu

Dựa trên các thông tín giới hạn trên, lợi ích của liệu pháp somatostatin analog cho việc kiểm soát bướu hoặc giảm nhẹ triệu chứng ở bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma ác tính hãy còn chưa rõ ràng Tuy nhiên, một nghiên cứu điều trị octreotide nên được cân nhắc cho bệnh nhân nào chưa thích hợp cho các lựa chọn điều trị độc

tế bào ngay

Hóa trị độc tế bào

Hóa trị toàn thân nên được cân nhắc cho các bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma không cắt được hoặc diễn tiến nhanh với tổng khối bướu lớn hoặc số di căn xương nhiều

Hầu hết các báo cáo đánh giá hóa trị độc tế bào cho paraganglioma di căn tiến triển bao gồm các bệnh nhân ưu thế ở bướu tiết catecholamine giao cảm sau phúc mạc Hầu hết các dữ liệu rộng rãi từ các nghiên cứu sử dụng nhiều kết hợp thuốc cyclophosphamide, dacarbazine, vincristine, và doxorubicin

 Nghiên cứu đầu tiên sử dụng CVD (cyclophosphamide [750mg/m2 ngày 1], vincristine

[1.4mg/m2 ngày 1], và dacarbazine [600mg/m2 ngày

1 và 2] chu kỳ 21-28 ngày) báo cáo tỉ lệ đáp ứng cao

và cải thiện triệu chứng với phác đồ này ở 14 bệnh nhân Nhìn chung, 10/18 bệnh nhân (56%) có đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn, và 3 ca có đáp ứng tối thiểu Đáp ứng hóa sinh có ở 13 ca (72%) Bệnh nhân có bướu được ghi nhận đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn nhận trung bình 27, 4 chu kỳ CVD trung vị 23 chu kỳ) Trung vị thời gian đáp ứng

là 20 tháng (7-126 tháng), và trung vị sống còn cho tất cả các bệnh nhân là 3,3 năm từ lúc bắt đầu hóa trị Điều trị có dung nạp tốt, với hầu hết các tác dụng

Trang 9

phụ là ức chế tủy nhẹ, bệnh lý thần kinh ngoại biên,

độc tính tiêu hóa

 Loạt nghiên cứu hồi cứu lớn nhất gồm 52

bệnh nhân pheochromocytoma hoặc paraganglioma

giao cảm ngoài thượng thận di căn tiến triển điều trị

nhiều phác đồ phối hợp, gồm cyclophosphamide,

vincristine, doxorubicin, và dacarbazine (CyVADIC,

n=19); cyclophosphamide, doxorubicin, và

dacarbazine (CyADIC, n=12); cyclophosphamide,

vincristine, và dacarbazine (CyVDic, n=10); hoặc

nhiều phác đồ khác (n=11) Ở 52 bệnh nhân đánh

giá được, 17 (33%) đáp ứng với hóa trị trước, bao

gồm 13 ca có đáp ứng khách quan (25%), và 4 ca

ổn định huyết áp Ở 2 ca có bướu không cắt được

lúc đầu, đáp ứng hóa trị đủ để cho phép phẫu thuật

cắt bỏ sau đó Những ca đáp ứng, tất cả nhận phác

đồ có dacarbazine và cyclophosphamide, sống còn

kéo dài hơn những ca không đáp ứng (trung vị 6.4

so với 3.7 năm) Tuy nhiên, những ca không đáp

ứng cũng có bướu lớn hơn có ý nghĩa (10 so với

5cm) và % bướu nguyên phát ngoài thượng thận

cao hơn, 2 yếu tố đó có liên quan với giảm sống còn

toàn bộ ở pheochromocytoma/paraganglioma Tỉ lệ

sống còn toàn bộ của nghiên cứu tại thời điểm 5

năm là 51%

 Các báo cáo ca đơn độc và loạt ca nhỏ gợi

ý các bướu này cũng có thể đáp ứng với

temozolomide đơn chất, đặc biệt ở những người có

đột biến SDHB, trong đó có liên quan với tăng

methyl hóa đoạn mồi của O6-methylguanine-DNA

methyltransferase [MGMT]; temozolomide kết hợp

thalidomide hoặc capecitabine; gemcitabine đơn

chất; gemcitabine kết hợp docetaxel hoặc paclitaxel;

doxorubicin kết hợp streptozocin; hoặc paclitaxel

đơn chất

Liệu pháp nhắm đích

Sunitinib là thuốc ức chế đa tyrosine kinase

receptors, gồm VEGFRs 1 và 2, PDGFR beta, KIT,

FLT3, và RET Các báo cáo ban đầu cho thấy lợi ích

của sunitinib ở bệnh nhân có pheochromocytoma/

paraganglioma ác tính:

 Trong một báo cáo 3 bệnh nhân

paraganglioma di căn điều trị sunitinib (50mg mỗi ngày,

4 tuần uống, 2 tuần nghỉ), 1 ca đạt đáp ứng gần hoàn

toàn, 2 ca đáp ứng một phần, 2 ca tiếp tục có lợi ích

sau 40 tuần

 Loạt ca hồi cứu lớn nhất gồm 17 bệnh

nhân pheochromocytoma/ paraganglioma giao cảm

di căn tiến triển điều trị sunitinib đơn chất 4 ca có di

căn giới hạn tại xương, đánh giá đáp ứng trong

nhóm này chỉ gồm (18)F-fluorodeoxyglucose PET

(FDG-PET)/(CT) Trong 14 bệnh nhân đánh giá

được, có 3 ca đáp ứng một phần (21%), 5 ca bệnh

ổn định (36%) Trung vị sống còn không tiến triển là 4,1 tháng Trong 14 ca cao huyết áp thứ phát do tiết catecholamine quá mức, 6 ca cuối cùng có cải thiện

và điều này liên quan với giảm liều và hoặc số thuốc

hạ áp; tuy nhiên, huyết áp lúc đầu xấu hơn trong 3 tháng sau khi bắt đầu sunitinib ở 5 ca Bên cạnh cao huyết áp, tác dụng phụ thường gặp nhất là tiêu chảy, hội chứng bàn tay-chân, đau miệng và mệt mỏi Trung vị sống còn toàn bộ là 27 tháng

Thông tin khác về lợi ích của sunitinib có trong nghiên cứu nhãn mở sử dụng sunitinib ở bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma ác tính tiến triển (nghiên cứu SNIPP) thực hiện do phối hợp của Đại học Toronto ở 3 trung tâm Canada và 1 ở Hà Lan (NCT00843037), và 1 nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng tại châu Âu phase II sử dụng sunitinib (FIRST-MAPPP trial)

Mặc dù cao huyết áp là một tác dụng phụ thường gặp nhất của sunitinib, thuốc có thể được sử dụng an toàn ở bệnh nhân pheochromocytoma và paragangliomas kèm với theo dõi sát và điều chỉnh liều thuốc hạ áp Sunitinib nên được bắt đầu chỉ sau khi huyết áp bình thường hoặc gần hình thường đạt được với kết hợp chẹn alpha- và beta-adrenergic Sau khi bắt đầu điều trị, cần thêm các thuốc hạ áp hoặc tăng liều

Pazopanib, ức chế VEGFRs 1, 2, và 3 khác, cũng như KIT và PDGFR, cũng đang được nghiên cứu ở bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma ác tính (NCT01340794)

Cabozantinib, ức chế đa kinase đích VEGFR2

và c-MET, được chấp thuận sử dụng ở bệnh nhân carcinom tế bào thận tiến xa, và đang được nghiên cứu ở bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma ác tính (NCT02302833) Các nghiên cứu cũng đang xem xét lợi ích của các điều trị nhắm đích khác everolimus, ức chế đường dẫn truyền mammalian target of rapamycin (mTOR) Trong một nghiên cứu ban đầu, 5/7 bệnh nhân pheochromocytoma/ paraganglioma có bệnh ổn định, mặc dù không có đáp ứng khách quan

Tóm tắt và khuyến cáo

Pheochromocytomas và paragangliomas là bướu thần kinh nội tiết chế tiết catecholamine-bắt nguồn từ tế bào chromaffin của tủy thượng thận (trong trường hợp pheochromocytomas) và cận hạch tự động ngoài thượng thận (trong trường hợp paragangliomas) Paragangliomas có thể từ nền sọ

và vùng cổ (nơi phần lớn không chế tiết), hoặc bên dưới vùng cổ trong ngực hoặc bụng (nơi phần lớn

có chế tiết)

Trang 10

Ở bệnh nhân pheochromocytoma/

paraganglioma, các khảo sát lâu dài nên được tiến

hành để đánh giá ác tính

Hầu hết pheochromocytomas/ paragangliomas

lành tính Gần 10% pheochromocytomas là ác tính

(được định nghĩa khi có di căn) so với 20-25%

paragangliomas ngoài thượng thận trong khoang

bụng và trung thất có chế tiết Ở nền sọ và vùng cổ,

ác tính ít gặp nhất ở bướu cuộn cảnh

(jugulotympanic) (2-4%), cao hơn nhẹ cho bướu thể

cảnh (4-6%), và cao nhất cho bướu thần kinh phế vị

(10-19%) Trong số các bệnh nhân paragangliomas

nền sọ và vùng cổ, di căn hầu hết giới hạn ở hạch

vùng Ngược lại, paragangliomas dưới nền sọ và

vùng cổ hầu hết thường có di căn xa, thường nhất

đến xương, gan, phổi Trong khi sự hiện diện của

di căn xa có tác động xấu lên tiên lượng, di căn

không cần thiết là chống chỉ định cho phẫu thuật

cắt bỏ bướu nguyên phát, đặc biệt nếu di căn có thể

cắt được

Tiên lượng của pheochromocytoma/

paraganglioma di căn thay đổi Sống còn lâu dài có

thể có ngay cả khi có di căn, nhưng tỉ lệ sống còn 5

năm ≤50 percent

Điều trị

Các triệu chứng do thừa catecholamine nên

được kiểm soát bằng sử dụng kết hợp chẹn alpha-

và beta-adrenergic

Chúng tôi đề nghị cắt bỏ cả sang thương

nguyên phát và di căn, nếu có thể (Grade 2C) Ngay

cả nếu việc lấy đi hoàn toàn không thể đạt được,

phẫu thuật giảm tổng khối bướu không hoàn toàn có

thể cải thiện triệu chứng, giảm tiết hormone, ngăn

ngừa các biến chứng liên quan đến bướu tại vị trí

giải phẫu khủng hoảng, và cải thiện đáp ứng với các

điều trị sau đó Tuy nhiên, không có bằng chứng

phẫu thuật giảm tổng khối bướu kéo dài sống còn ở

bệnh nhân có di căn xa

Kiểm soát trước mổ tác động của kích thích do

thừa adrenergic là cần thiết sử dụng kết hợp chẹn

alpha- và beta Ngoài ra, điều trị trước và trong lúc

mổ với khối bướu lan rộng đòi hỏi phòng ngừa cao

huyết áp trong lúc mổ

Nhiều loại điều trị tại chỗ có sẵn nếu phẫu thuật

không thuận lợi

 Với bệnh nhân không phù hợp cho phẫu

thuật, kiểm soát tại chỗ triệu chứng khối bướu, đặc

biệt di căn xương gây đau, có thể đạt được với xạ

ngoài (EBRT)

 Đốt xuyên qua da sang thương di căn tại

nhiều vị trí, bao gồm mô mềm, xương và gan, có thể

thực hiện an toàn sử dụng đốt bằng sóng cao tần,

áp lạnh, chích cồn nếu chú ý cẩn thận việc kiểm soát quanh thủ thuật

 Chọn lựa khác để kiểm soát tại chỗ cho bệnh nhân chỉ di căn gan đa nốt không thích hợp phẫu thuật hoặc các phương pháp đốt là hóa nghẽn mạch qua đường động mạch (TACE)

 Bất kỳ loại điều trị tại chỗ có thể gây ra tiết

ồ ạt catecholamine và cơn khủng hoảng cao huyết

áp, chuẩn bị quanh thủ thuật là cần thiết

Gần 60% bệnh nhân pheochromocytomas/ paragangliomas hấp thu meta-iodobenzylguanidine (MIBG) xác định bằng xạ hình 123I-MIBG Với bệnh nhân có bướu MIBG+ không cắt được, bệnh tiến triển không thể can thiệp kiểm soát tại chỗ tại vùng, hoặc có gánh nặng bướu lớn với di căn xương ít vị trí, chúng tôi đề xuất 131I-MIBG hơn là hóa trị trong điều trị bước một (Grade 2C) Không có đồng thuận

về hiệu quả của 131I-MIBG phân liều cao so với trung bình, và các khuyến cáo đặc biệt về liều và kế hoạch điều trị tốt nhất chưa có

Đối với bệnh nhân có bướu tiến triển nhanh hoặc ưu thế khu trú ở xương, hóa trị được chọn lựa nhiều hơn ngay khi xạ hình 123I-MIBG (+) Mặc dù phác đồ tối ưu không có, chúng tôi gợi ý kết hợp cyclophosphamide, vincristine, và dacarbazine (Grade 2C)

Các báo cáo ban đầu cho thấy sunitinib có thể

có hiệu quả, cần có các nghiên cứu khác cung cấp thông tin về tính khả dụng của nó cũng như các ức chế đa kinase khác; cao huyết áp là tác dụng phụ chiếm ưu thế Sunitinib có thể được sử dụng an toàn, ngay cả với bệnh nhân có triệu chứng do thừa catecholamine cần theo dõi sát và điều chỉnh cao huyết áp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Young WF Jr Adrenal causes of hypertension: pheochromocytoma and primary aldosteronism Rev Endocr Metab Disord 2007; 8:309

2 Pacak K, Linehan WM, Eisenhofer G, et al Recent advances in genetics, diagnosis, localization, and treatment of pheochromocytoma Ann Intern Med 2001; 134:315

3 Baguet JP, Hammer L, Mazzuco TL, et al Circumstances of discovery of phaeochromocytoma: a retrospective study of 41 consecutive patients Eur J Endocrinol 2004; 150:681

4 Bravo EL Pheochromocytoma: new concepts and future trends Kidney Int 1991; 40:544

Ngày đăng: 28/09/2020, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm