TNDLNV Bạc Liêu hiện nay đã bắt đầu được đề cập trong những cuốn sách chuyên sâu hơn về du lịch Bạc Liêu như: Huỳnh Minh với “Bạc Liêu xưa và nay” 2002 đã làm nổi bật Bạc Liêu từ xưa đế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ - DU LỊCH
NGUYỄN BÍCH ĐIỂU MSSV: 6075753
TÌM HIỂU TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN
Trang 3tất cả các quý thầy cô của Bộ môn Lịch Sử - Địa Lý - Du Lịch, đặc biệt người đảm nhận
hướng dẫn luận văn của tôi là thầy Đào Ngọc Cảnh - thầy đã luôn dành thời gian quý báu để
hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn Tôi xin chúc tất cả thầy cô công tác tốt trong sự nghiệp trồng người và dồi dào sức khỏe
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến Trung tâm học liệu, Thư viện thành phố Cần Thơ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu, những công ty du lịch ở Bạc Liêu, các bộ phận khác và quý cô chú anh chị đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu
để giúp tôi thực hiện bài luận văn tốt nghiệp
Các bạn Du Lịch K33 rất nhiệt tình, luôn sẵn sàng chia sẽ kinh nghiệm của họ cho tôi khi tôi gặp khó khăn Tôi rất lấy làm hạnh phúc từ tình bạn tốt đẹp và đáng quý đó Xin chúc các bạn sẽ thành công trên con đường phía trước
Bài luận văn tốt nghiệp tôi thực hiện bằng sự nổ lực của cả bản thân, nếu có điều gì thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô cũng như các bạn để tôi điều chỉnh tốt hơn Tôi rất thành thật biết ơn
Xin trân trọng kính chào!
Cần Thơ, ngày 17 tháng 04 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Bích Điểu
Trang 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
- TNDLNV: Tài nguyên du lịch nhân văn
- TNDLTN: Tài nguyên du lịch tự nhiên
- TNDL: Tài nguyên du lịch
- DTLSVH: Di tích lịch sử văn hóa
- TW: Trung Ương
Trang 5DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH
1 DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
- Bảng 1: Dân số Bạc Liêu phân theo đơn vị hành chính năm 2010 (tr.18)
- Bảng 2: Danh sách di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia (tr.20)
- Bảng 3: Khách du lịch đến Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010 (tr.44)
- Bảng 4: Khách lưu trú tại Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010 (tr.45)
- Bảng 5: Dự án du lịch của tỉnh Bạc Liêu đang kêu gọi đầu tư (tr.53)
- Bảng 6: Chỉ tiêu đón khách du lịch đến Bạc Liêu giai đoạn 2011 - 2015 (tr.54)
- Bảng 7: Dự báo thu nhập du lịch Bạc Liêu năm 2015 và 2020 (tr.57)
2 DANH MỤC HÌNH (BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ)
- Biểu đồ 1: Khách du lịch đến Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010 (tr 44)
- Biểu đồ 2: Khách lưu trú tại Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010 (tr.45)
- Biểu đồ 3: Chỉ tiêu đón khách du lịch đến Bạc Liêu giai đoạn 2011 - 2015
(tr.55)
- Biểu đồ 4: Dự báo thu nhập du lịch Bạc Liêu năm 2015 - 2020 (tr.57)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 1
5 Quan điểm nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Khái niệm tài nguyên du lịch 5
1.2 Phân loại tài nguyên du lịch 6
1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 6
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 6
1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 6
1.3.1 Khái quát tài nguyên du lịch nhân văn 6
1.3.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn 7
1.3.3 Vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn với sự phát triển du lịch 15
Chương 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN TỈNH BẠC LIÊU VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TRONG DU LỊCH 17
2.1 Giới thiệu khái quát tỉnh Bạc Liêu 17
2.1.1 Vị trí địa lý 17
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 17
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 17
2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn ở Bạc Liêu 19
2.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa 19
2.2.2 Lễ hội 26
2.2.3 Nghề và làng nghề truyền thống ở Bạc Liêu 28
2.2.4 Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học 30
2.2.5 Văn hóa nghệ thuật truyền thống và bảo tàng 34
2.2.6 Tài nguyên du lịch nhân văn khác 37
2.2.7 Đánh giá chung về tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bạc Liêu 39
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch nhân văn 41
2.3.1 Cơ sở hạ tầng 41
2.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 42
2.4 Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bạc Liêu 42
2.4.1 Hiện trạng du lịch Bạc Liêu 43
2.4.2 Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bạc Liêu 46
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC TÀI
Trang 7NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN Ở BẠC LIÊU 51
3.1 Định hướng phát triển du lịch Bạc Liêu 51
3.1.1 Cơ sở xây dựng định hướng 51
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch của Bạc Liêu 52
3.2 Định hướng phát triển du lịch nhân văn tỉnh Bạc Liêu 55
3.2.1 Định hướng về tổ chức hoạt động du lịch 56
3.2.2 Định hướng phát triển các địa bàn trọng điểm du lịch 56
3.2.3 Định hướng thị trường và xúc tiến quảng bá du lịch 56
3.2.4 Định hướng khác 58
3.3 Giải pháp phát triển du lịch nhân văn tỉnh Bạc Liêu 59
3.3.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật 59
3.3.2 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước 59
3.3.3 Đẩy mạnh phát triển du lịch bền vững 61
3.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực 62
3.3.5 Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch 63
3.3.6 Xây dựng sản phẩm du lịch và nghệ thuật văn hóa ẩm thực đặc trưng của Bạc Liêu 63
3.3.7 Tăng cường phối hợp liên kết phát triển du lịch 65
KẾT LUẬN 67
1 Kết quả đạt được 67
2 Ý kiến đề xuất 67
3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
Phụ lục 1: Bảng khảo sát 71
Phụ lục 2: Danh sách những nhà hàng khách sạn trọng điểm của Bạc Liêu 2010 76
Phụ lục 3: Danh sách di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia 78
Phụ lục 4: Danh sách di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh 79
Phụ lục 5: Thông tin về các di tích của tỉnh Bạc Liêu 81
Phụ lục 6: Một số con người tiêu biểu ở Bạc Liêu 88
Phụ lục 7: Lời bản “Dạ cổ hoài lang” 94
Phụ lục 8: Tên gọi Bạc Liêu 95
Phụ lục 9: Những thông tin cần biết khi du lịch Bạc Liêu 96
Phụ lục 10: Tham khảo một số tour du lịch Bạc Liêu 99
Phụ lục 11: Hình ảnh 102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người
Quê hương thân yêu của tôi là mãnh đất Bạc Liêu mà mọi người thường gắn
cho nó câu thơ:“Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu”
Mãnh đất của quê tôi là như vậy đó, “quê mùa” ở đây mang ý nghĩa giản dị, đơn sơ, mộc mạc và con người Bạc Liêu chân chất thật thà “Bạc Liêu” hai tiếng thân yêu và trìu mến biết bao Đất lành Bạc Liêu đã cưu mang tôi từ khi mới chào đời cho đến trưởng thành như ngày hôm nay Nơi ấy chính là nơi có những người thân yêu nhất của tôi như: ông bà, cha mẹ…
Bạc Liêu có khá nhiều TNDLNV hấp dẫn du khách Nói đến Bạc Liêu là nghĩ ngay đến cụm nhà Công tử Bạc Liêu hay cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu - người sáng tác ra bản “Dạ cổ hoài lang” vang bóng một thời và ông Mười Chức - người gắn liền với sự kiện Đồng Nọc Nạng Bên cạnh nơi đây có lễ hội Vía Bà, Nghinh Ông, thu hút đông đảo khách thập phương
Mặc dù với những tài nguyên sẵn có, hoạt động khai thác du lịch Bạc Liêu cũng như khai thác TNDLNV Bạc Liêu chưa được phát triển đúng nghĩa, chất lượng hiệu quả mang lại chưa cao TNDLNV thật sự cần phải được quan tâm sâu sắc hơn để phát huy hết hoạt động du lịch của Bạc Liêu Vấn đề đặt ra trước mắt là phải đi vào nghiên cứu đánh giá để khai thác TNDLNV đạt hiệu quả nhằm đem lại tiềm năng phát triển Những vấn đề trên đã thôi thúc tôi quyết định nghiên cứu đề tài cho bài luận
văn tốt nghiệp là: “Tìm hiểu tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bạc Liêu”, nhằm
mục đích là để đóng góp một phần kiến thức nhỏ bé của mình về du lịch cho việc phát triển hoạt động du lịch của Bạc Liêu
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu những giá trị và đặc điểm của TNDLNV tỉnh Bạc Liêu Phân tích hiện trạng khai thác TNDLNV Bạc Liêu nhằm mục đích đưa ra định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở Bạc Liêu
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là TNDLNV Bạc Liêu, bao gồm các giá trị nhân văn, những sản phẩm do con người tạo ra có ý nghĩa trong du lịch của tỉnh Bạc Liêu
Địa bàn nghiên cứu của đề tài luận văn tốt nghiệp là phạm vi tỉnh Bạc Liêu, với
7 đơn vị hành chính là 1 thành phố Bạc Liêu và 6 huyện
Trang 9Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn gần đây (2006 - 2010)
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên du lịch nhân văn nói riêng được đề
cập trong nhiều cuốn sách du lịch Trong sách “Luật du lịch” của Tổng cục du lịch
Việt Nam có nêu lên những khái niệm về du lịch và tài nguyên du lịch gồm TNDLTN
và TNDLNV Trong những cuốn sách như: “Non nước Việt Nam” (2005) của Tổng cục du lịch Việt Nam, “Địa lý du lịch” (1996) của Nguyễn Minh Tuệ hay “Du lịch 3
miền” (2004) của Bửu Ngôn… là những công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều
thông tin của các điểm du lịch ở Việt Nam, trong đó có giới thiệu về TNDLNV của Việt Nam Nhìn chung, chỉ giới thiệu một cách chung chung chưa chuyên sâu về TNDLNV của từng lãnh thổ
Đối với ĐBSCL trong giai đoạn gần đây cũng có nhiều cuốn sách nghiên cứu
về văn hóa của khu vực Sách “Đặc điểm văn hóa Đồng Bằng Sông Cửu Long” được
viết bởi Tiến sĩ Lê Ngọc Thúy đã đề cập đến những giá trị TNDLNV của khu vực
ĐBSCL Quyển “Đồng Bằng Sông Cửu Long - nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt
vườn” của Sơn Nam (2004) cũng phản ánh khá chi tiết về đặc điểm văn hóa, lối sống
của cộng đồng dân tộc ĐBSCL
TNDLNV Bạc Liêu hiện nay đã bắt đầu được đề cập trong những cuốn sách
chuyên sâu hơn về du lịch Bạc Liêu như: Huỳnh Minh với “Bạc Liêu xưa và nay”
(2002) đã làm nổi bật Bạc Liêu từ xưa đến nay bởi nhiều thông tin về con người cũng như những giá trị nhân văn của tỉnh thể hiện khá cụ thể; Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh Bạc Liêu thì viết cuốn sách “Sổ tay hướng dẫn du lịch Bạc Liêu” vào (2009),
cuốn sách đã xoáy sâu về du lịch, cung cấp hình ảnh Bạc Liêu về di tích, lễ hội, ẩm
thực… Riêng cuốn sách “90 năm bản Dạ Cổ Hoài Lang” (2009) của Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu thì cung cấp cho độc giả những kiến thức, sự hiểu biết
về cuộc đời, sự nghiệp của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, giá trị của Bản Dạ Cổ Hoài Lang trong giai đoạn hiện nay Nhìn chung, các cuốn sách này giới thiệu cho mọi người về những điểm du lịch, giá trị văn hóa nghệ thuật, con người và lịch sử của vùng đất Bạc Liêu Thông qua đó có thể làm chúng ta hiểu sâu sắc phần nào về TNDLNV Bạc Liêu, góp phần vào việc cung cấp kiến thức cho khách du lịch
Tóm lại, các tài liệu trên chỉ xem xét và dừng lại ở gốc độ văn hóa, vẫn chưa được xem là đối tượng quan trọng trong du lịch nên dẫn đến không tập trung phân tích, đánh giá sâu và tăng khả năng khai thác vào trong du lịch của tỉnh Bạc Liêu
5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm tổng hợp
Không đơn thuần khi nghiên cứu về một tài nguyên du lịch nhân văn là chỉ
nhìn nhận và xoáy sâu vào một đối tượng, mà chúng ta phải xem xét cả mối quan hệ tương quan giữa các loại tài nguyên Vì vậy đòi hỏi trong một đề tài nghiên cứu, việc nghiên cứu phải đi từ yếu tố riêng lẻ đến những yếu tố chung để thấy được mối quan
Trang 10hệ chặt chẽ qua lại của chúng, sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn đạt hiệu quả
5.2 Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng sẽ có sự phân hóa theo không gian khác nhau Trong du lịch thì mỗi điểm du lịch lại có bề mặt lãnh thổ khác nhau Chính yếu tố đó mang lại sự hấp dẫn trong du lịch Để tạo sự nổi bật của du lịch thì người làm nghiên cứu phải sử dụng phương pháp này để xác định lãnh thổ khai thác mang tính đặc trưng, nhằm mang lại đặc sắc riêng từng vùng lãnh thổ Trong đề tài luận văn tập trung vào lãnh thổ Bạc Liêu để khai thác tiềm năng du lịch nhân văn, mục đích thể hiện lên nét đặc sắc của yếu tố nhân văn tại Bạc Liêu
5.3 Quan điểm lịch sử
Quan điểm này thể hiện một cách nhìn bao quát cần phải có đối với người nghiên cứu Biết nhìn lại phía sau quá khứ để có thể đánh giá được sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại để có thể so sánh, rút ra nhận xét đánh giá mặt tốt thì phát huy, mặt chưa tốt thì phải biết khắc phục để khai thác hợp lý nhằm mang lại giá trị đích thực cho luận văn
5.4 Quan điểm viễn cảnh
Là phương pháp đòi hỏi một tầm nhìn xa, để đưa ra dự đoán trong tương lai về vấn đề được nghiên cứu nhằm vạch ra cung đường đúng đắn và tránh khả năng rủi ro
Nó vừa dễ dàng đem lại một kế hoạch khai thác ý nghĩa, vừa góp sức bảo tồn một cách hợp lí
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin tư liệu
Để phục vụ đề tài cần thu thập tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau như: sách, báo, tạp chí, internet, tìm hiểu trực tiếp và sau đó tiến hành xử lý phân tích tổng hợp, đối
chiếu, hệ thống hóa để đạt hiệu quả nghiên cứu
6.2 Phương pháp khảo sát thực tế
Là phương pháp để đảm bảo tính xác thực, ghi nhận và khẳng định lại nguồn thông tin chính xác hơn bằng nhiều cách như: chụp hình, quan sát, cảm nhận bằng các giác quan… để làm cơ sở dữ liệu mang tính chính xác phong phú và đồng thời phương pháp này là tiền đề để mang lại hiệu quả cao và có quan hệ mặt thiết với những phương pháp nghiên cứu khác
6.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Đây là phương pháp khảo sát thực tế, sử dụng 100 phiếu câu hỏi để điều tra và phỏng vấn trực tiếp đến khách du lịch Để thực hiện phương pháp này đạt hiệu quả thì phải đi qua trình tự các tiến trình: xác định mục đích của cuộc điều tra, lựa chọn địa điểm đối tượng để điều tra, thiết kế bảng câu hỏi, xác định thời gian bắt đầu tiến hành điều tra chính thức và xử lý kết quả điều tra
6.4 Phương pháp bản đồ
Trang 11Phương tiện để thể hiện cụ thể hóa về đặc điểm sự phân bố không gian của các
vị trí như: tài nguyên du lịch, đơn vị hành chính, hệ thống tuyến đường giao thông, nhằm thể hiện đầy đủ trực quan khi được nghiên cứu, điều tra, phân tích đề tài
Trang 12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN DU LỊCH
Tài nguyên du lịch là tiền đề phát triển du lịch Ngày nay nó được nhiều nhà nghiên cứu du lịch rất quan tâm Tài nguyên du lịch nhìn chung là giống như các loại tài nguyên nói chung nhưng bên cạnh đó nó có những yếu tố riêng biệt và quan
hệ mặt thiết trong sự phát triển của ngành du lịch
Lãnh thổ của ngành du lịch tác động trực tiếp bởi TNDL trong việc phân vùng du lịch Bên cạnh, cũng chịu ảnh hưởng từ các nhân tố bên trong như kinh tế -
xã hội TNDL muốn khai thác tốt thì các nhân tố như kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật, chính trị là có liên quan chặt chẽ TNDL gồm cả tài nguyên đã được khai thác, đang khai thác và cả tài nguyên không được khai thác
Khái niệm “Điều kiện tự nhiên” và “Tài nguyên du lịch” thật sự khá giống nhau nhưng cần phải phân biệt rõ ràng để tránh sự đồng nhất giữa hai khái niệm này Giống như điều kiện tự nhiên, vấn đề “văn hóa - lịch sử” cũng rất dễ bị đồng nhất với TNDL
Để phân biệt rõ hơn đối với các khái niệm trên thì cần có cách nhìn đúng đắn hơn về TNDL Nó được xem xét trên cơ sở là các điều kiện tự nhiên, đối tượng văn hóa - lịch sử nhưng song thực tế bên cạnh đó đã làm thay đổi ở một góc độ nhất định thông qua nhu cầu của xã hội
Theo sự phân tích trên đây thì TNDL được xác định thông qua nhiều khái niệm TNDL theo khoản 4 (Điều 4, chương I), Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến điểm du lịch, đô thị du lịch.”
Các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa: “Tất cả giới tự nhiên và
xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch,
có thể sản sinh ra hậu quả kinh tế xã hội và môi trường đều có thể gọi là TNDL”
(Trích dẫn bởi Ngô Tất Hổ, Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương, 2000)
Theo Pirojnik: “TNDL là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu
du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được
dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”
(Trích dẫn bởi Trần ĐứcThanh và Nguyễn Thị Hải, 1985)
Theo Nguyễn Minh Tuệ đưa ra khái niệm: “TNDL là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển
Trang 13thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch
vụ du lịch Tài nguyên của từng loại hình du lịch có tính chất riêng biệt Điển hình như đối tượng của du lịch tham quan là những cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh văn hóa - lịch sử và tự nhiên, lễ hội và đời sống của các dân tộc và làng nghề… thì đối tượng lại là suối nước khoáng hay thời tiết khí hậu phải dễ chịu có khả năng để đáp ứng cho việc chữa bệnh
Nhìn chung, TNDL là những tài nguyên thuộc về tự nhiên và giá trị văn hóa
có khả năng để sử dụng cho ngành du lịch nhằm thu hút được khách du lịch trong
và ngoài nước Nó có giá trị rất lớn về sự thỏa mãn tinh thần Để ngày càng làm đáp ứng thỏa mãn hơn sự hài lòng của du khách thì vấn đề bảo vệ, sửa chữa trùng
tu cần được quan tâm (Trích dẫn bởi Bùi Thị Hải Yến, 2006)
1.2 PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH
Tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm:
1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Theo Khoản 1 (Điều 13, chương II), Luật du lịch VN năm 2005 quy định:
“TNDLTN gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các dạng sau:
+ Địa hình
+ Khí hậu
+ Nguồn nước
+ Sinh vật
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
TNDLNV là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo và do con người tạo ra Tài nguyên nhân văn có những đặc điểm khác biệt so với nguồn tài nguyên du lịch nhân văn TNDLNV là những tài nguyên có thể đưa vào phục vụ cho du lịch để mang lại hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường thì được gọi là TNDLNV
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các dạng sau:
+ Các di tích lịch sử
+ Lễ hội
+ Nghề và làng nghề thủ công truyền thống
+ Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
+ Văn hóa ứng xử và những phong tục tập quán tốt đẹp
+ Các đối tượng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác + Tài nguyên du lịch nhân văn khác
1.3 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN
1.3.1 Khái quát tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 14Mỗi vùng miền khác nhau thì thông thường sẽ có TNDLNV mang giá trị văn hóa đặc sắc riêng để thu hút khách du lịch Cộng hưởng với sự đa dạng giá trị văn hóa
đã đóng góp cho hoạt động du lịch nhân văn trở nên đa dạng hơn Nhưng bên cạnh với
xu hướng hội nhập thì rất dễ làm phai nhạt bản sắc văn hóa của vùng miền Vấn đề đặt
ra trước mắt là cần phải bảo tồn, lưu giữ tài nguyên nhân văn để làm cơ sở phát triển
- Gây khó khăn trong vấn đề đáp ứng thỏa mãn những đối tượng du khách khác nhau Tùy theo độ tuổi, giới tính, hứng thú, nghề nghiệp, thành phần dân tộc mà yêu cầu của họ khác biệt
- TNDLNV ảnh hưởng đến từng giai đoạn
+ Giai đoạn thông tin: ít được du khách biết đến, chỉ qua hình thức truyền miệng hoặc những phương tiện thông tin đại chúng
+ Giai đoạn tiếp xúc: là quá trình thực tế, khách du lịch được nhìn thấy
và quan sát bằng mắt của mình tại thời gian ngắn
+ Giai đoạn nhận thức: giai đoạn này khách và TNDLNV thân thiện hơn Họ sẽ tìm hiểu cận kẽ về nội dung và thời gian để tiếp xúc sẽ kéo dài hơn
+ Giai đoạn đánh giá và nhận xét: dựa vào vốn kiến thức mà khách được biết thông qua những kinh nghiệm, họ sẽ so sánh đối tượng hiện tại với đối tượng
đã được biết trước đó Đây là giai đoạn dành cho những du khách có tri thức sâu rộng
1.3.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn
1.3.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa
- Khái niệm
Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan có chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, kiến trúc mỹ thuật
Trang 15của mỗi địa phương, mỗi quốc gia do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại
Những quốc gia trên thế giới đều có những quy định về DTLSVH Dựa theo quy định trong hiến chương Vơnido - Italia, 1964 là: “DTLSVH bao gồm các công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là những bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt của một sự biến cố về lịch sử
Theo Pháp Lệnh Bảo vệ và sử dụng DTLSVH và danh lam thắng cảnh được công bố ngày 04/04/1984, DTLSVH được định nghĩa như sau: “DTLSVH là những công trình xây dựng địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa
- xã hội”
- Tiêu chuẩn xếp hạng DTLSVH
DTLSVH được xếp hạng mang một tính chất pháp lý và khoa học được áp dụng cho tất cả các quốc gia Đây là quá trình giúp cho việc khai thác và bảo vệ, trùng
tu di tích đạt hiệu quả cao, tạo sự bất khả biến xâm phạm đến các di tích
Theo giá trị của từng DTLSVH mà được xếp hạng ở mức độ khác nhau DTLSVH là có ý nghĩa quan trọng trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, nó mang lại giá trị văn hóa, lịch sử và thắng cảnh đặc sắc cho quốc gia
+ Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
Tiêu chuẩn xếp hạng:
Di tích được xếp hạng cấp quốc gia là những công trình xây dựng, địa điểm đánh dấu những sự kiện, những chứng tích cho một nền văn minh đặc biệt, một khoảng thời gian nổi bật và đặc biệt quan trọng của dân tộc, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình lịch sử đối với dân tộc, là chứng tích những mốc lịch sử, chiến công hiển hách Công trình kiến trúc nghệ thuật phải gắn liền với một giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Đặc điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu trong giai đoạn của phát triển các nền văn hóa, cảnh quan thiên nhiên phải hấp dẫn, đặc biệt phải mang giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù
Cấp xét duyệt và xếp hạng:
Từng địa phương như Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh, thành phố trực thuộc TW và các đơn vị hành chánh tương đương sẽ đảm nhận việc xem xét đánh giá các di tích tại địa phương mình sau đó lập hồ sơ đề nghị được công nhận Sau khi nhận những hồ sơ đề nghị công nhận DTLSVH thì sẽ thông qua Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
+ Di tích lịch sử văn hóa cấp địa phương
Tiêu chuẩn xếp hạng:
Những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu những sự kiện, những trận đường lịch sử của từng địa phương và cùng với tên tuổi của những nhân vật đã góp phần thúc đẩy sự phát triển trong thời kì lịch sử
Trang 16Công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có tầm giá trị trong phạm vi địa phương Địa phương khảo cổ có giá trị nổi bật trong phạm vi lãnh thổ của địa phương Bên cạnh là những cảnh quan hoặc địa điểm đẹp nổi tiếng hoặc những địa điểm có sự giao hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc nghệ thuật có ý nghĩa trong phạm vi địa phương
Cấp xét duyệt và xếp hạng:
Ủy Ban Nhân Dân huyện, thị xã, thành phố trực thuộc TW và các cơ quan quản
lý nhà nước tương đương đứng ra tổ chức lựa chọn đánh giá những diện tích thuộc địa phương và tiến hành lập hồ sơ để yêu cầu được công nhận
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc TW
ra quy định thực hiện công nhận DTLSVH dựa vào những đề nghị của địa phương
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch quy định: “Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của mỗi dân tộc được chia thành: Di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, các công trình đương đại”
DTLSVH mang một giá trị nội dung lịch sử khác nhau, việc phân biệt chúng cũng khác nhau vì muốn có chiến lược sử dụng và bảo vệ di tích hợp lí đạt hiệu quả
- Các di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử:
Loại hình di tích lịch sử có những đặc điểm lịch sử không giống nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác Nội dung giá trị lịch sử đặc biệt khác nhau, những đặc điểm, những công trình kỷ niệm và những vật kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu những sự kiện lịch sử, những chiến đấu, những danh nhân anh hùng dân tộc bất kỳ nào đó trong lịch sử từ địa phương đến quốc gia cũng khác nhau
về số lượng, sự phân bố
Theo báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn
1995 - 2010 (tr.151) của Tổng cục du lịch Việt Nam ghi như sau: “Những di tích lịch
sử là những bộ phận không thể tách rời của các di sản quốc gia, chúng gồm tất cả những thắng cảnh, công trình kỷ niệm và kỷ vật thuộc về một thời kỳ nào đó của lịch
sử đất nước và đem lại lợi ích quốc gia về phương diện lịch sử, nghệ thuật và khảo cổ”
Loại hình di tích lịch sử gồm có:
+ Di tích ghi dấu về dân tộc học: là mang giá trị văn hóa lịch sử về nét văn hóa
ăn ở, sinh hoạt của các tộc người
+ Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định cho việc xây dựng, tiêu biểu, chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương (Bến Bình Than nơi diễn ra hội nghị Diên Hồng, cây đa Tân Trào - Đình Hồng Thái của Tuyên Quang, Quảng trường Ba Đình của Hà Nội…)
+ Di tích ghi dấu chiến công xâm lược (sông Bạch Đằng, Đống Đa, Địa Đạo Củ Chi, Điện Biên Phủ)
Trang 17+ Di tích ghi dấu những sự kiện: như các vật kỷ niệm, cổ vật, bảo vật gắn liền với các anh hùng dân tộc trong lịch sử, các tượng đài kỷ niệm Đây là những đối tượng tham quan vì sự nghiên cứu đầy ấn tượng hứng thú của du khách (tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở TP.Vinh, tượng nữ tướng Lê Chân)
+ Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động: là đánh dấu kết quả lao động đầy sáng tạo vinh quang của quốc gia như công trình thủy nông Bắc Hưng Hải - khu gang thép Thái Nguyên Di tích ghi nhớ cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân, những vị anh hùng dân tộc như (anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa Chu Văn An) Di tích ghi dấu lại sự tàn ác dã man của bọn đế quốc và phong kiến
+ Di tích lịch sử được người ta thông thường chia ra làm từng thời kỳ khác nhau: thời kỳ cổ đại, cận đại, hiện đại
Di tích văn hóa khảo cổ:
Là nơi ẩn chứa giá trị văn hóa thuộc về một giai đoạn lịch sử nào đó của xã hội
mà không được xác định thời gian cụ thể Hầu hết các di tích khảo cổ là những di sản văn hóa lịch sử nằm trong lòng đất hoặc có thể trên mặt đất được phát hiện và khai quật
Di tích văn hóa khảo cổ được gọi là di chỉ khảo cổ, nó được chia thành di chỉ
cư trú và di chỉ mộ táng, những công trình kiến thức cổ, những đô thị cổ, những tàu thuyền bị đắm
Di chỉ cư trú thường được tìm trong hang động, các thềm sông cổ, các bải hoặc sườn đồi gồm hồ nước, một số đảo gần bờ Do thiên tai của thiên nhiên như: núi lửa, bảo, lụt… đã làm phá hủy đi những loại công trình kiến trúc nghệ thuật từng vang bóng một thời và về sau được nhà khảo cổ học nghiên cứu khai quật như thành Tơroa thuộc lãnh địa của Hy Lạp cổ đại
Việt Nam cũng tìm thấy những công trình kiến trúc và các cổ vật quý giá của các kinh thành cổ như: tòa thành Luy Lâu, di tích khảo cổ Hoàng Thành - 18 đường Lê Diệu ở Hà Nội
Di tích kiến trúc nghệ thuật:
Là công trình kiến trúc mang lại những giá trị vĩ đại về lối kỹ thuật xây dựng
cũng như về mỹ thuật trang trí, những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc, bên cạnh đó diện tích cũng mang giá trị văn hóa phi vật thể như truyền thống văn hóa, truyền thuyết, tâm linh, tôn giáo, và nó còn chứa đựng nhiều cổ vật và bảo vật quốc gia
Di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị lịch sử và thông thường được gọi là DTLS văn hóa nghệ thuật Dạng di tích kiến trúc nghệ thuật này đem lại cho địa phương và quốc gia sự hấp dẫn du khách như: nhà hát Opera, Tháp Eiffel, Lotus Temple, Monkey Temp (Ấn Độ), Văn miếu Quốc Tử Giám, Tòa thánh Tây Ninh, Nhà cổ Việt Nam, Chùa một cột… Nhìn chung loại di tích này gồm có chùa, đình, lăng mộ, tòa thành cổ, bia ký, lăng mộ, nhà cổ…
Danh lam thắng cảnh:
Trang 18Tại mỗi quốc gia, các di tích lịch sử văn hóa không nhiều thì ít, những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban tặng đã mang đến những danh lam thắng cảnh hấp dẫn Theo Luật Di sản văn hóa của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc đặc điểm có sự kết hợp giữa các cảnh quan thiên nhiên với chương trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”
Ở Việt Nam danh lam thắng cảnh không chỉ có cảnh đẹp mà có chùa nổi tiếng Hầu hết những danh lam thắng cảnh đều có chùa thờ Phật Điển hình như Động Tam Thanh (Lạng Sơn) có chùa Tiên, đền Ngọc Sơn (Hà Nội) Không chỉ danh lam thắng cảnh là chỉ có vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng mà còn có yếu tố nhân văn do bàn tay
và khói óc của con người tạo nên
Các công trình đương đại:
Là những công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, mang giá trị về lối kiến trúc khoa học, mỹ thuật… Có khả năng thu hút du khách để tham quan nghiên cứu
Chương trình đương đại gồm có hệ thống sân vận động quốc gia, hệ thống bảo tàng, trung tâm hội nghị, những tòa nhà Tòa nhà quốc hội Oasinhtơn của Hoa Kỳ, sân vận động Mỹ Đình của Việt Nam
1.3.2.2 Lễ hội
Lễ hội được tồn tại ở mọi thời đại Theo từng dân tộc, từng thời điểm mà sẽ có từng lễ hội với tên gọi, nội dung, quy mô khác nhau Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể của nông dân sau những ngày lao động mệt mỏi và nó làm cho cuộc sống sinh động với muôn màu muôn vẻ
Lễ hội là thời gian để cho mọi người tụ họp lại với nhau, cùng nhau thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đến tổ tiên, những con người đã có ơn với địa phương, với đất nước
Theo tạp chí người đưa tin UNESCO tháng 12 - 1989 viết: “Lễ hội đã tạo nên tấm thảm muôn màu Mọi sự ở đó đều đang quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng” Tóm lại, lễ hội là hình thức sinh hoạt truyền thống có liên quan đến nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống, có sức thu hút đông người tham gia, qua đây làm tăng thêm tính đoàn kết, thương yêu của cộng đồng với nhau
Lễ hội có khả năng thu hút du khách rất lớn là tài nguyên nhân văn quý báo có khả năng phục vụ cho việc phát triển du lịch, bên cạnh đó góp phần để bảo tồn bản sắc dân tộc Nghi thức của lễ hội bao gồm 2 phần: phần lễ và phần hội
- Phần lễ
Dù quy mô lễ hội lớn hay nhỏ thì đều có phần lễ, nó mang tính chất uy nghiêm,
để hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, tưởng niệm những anh hùng dân tộc, những danh nhân tài ba, lỗi lạc Bên cạnh những lễ hội cũng thể hiện lòng biết ơn đến các vị
Trang 19thần, thánh nhân, thần linh, để cầu mong cho cuộc sống an bình, sung túc Phần nghi lễ được tổ chức trước phần hội, nó hầu hết giữ vai trò chủ đạo trong lễ hội, được tổ chức long trọng cầu kỳ
- Phần hội
Được tổ chức một số trò chơi để vui chơi giải trí, có những đêm biểu diễn văn hóa văn nghệ, góp phần cho sự sôi động và vui nhộn trong lễ hội Đây là hoạt động chứa đựng sự lưu giữ lại những giá trị văn hóa truyền thống, bổ sung làm đa dạng và phát huy những yếu tố văn hóa mới Đồng thời cần phải được giám sát chặt chẽ để tránh sự hòa tan trong văn hóa
Mỗi lễ hội sẽ có một quy mô tổ chức khác nhau Tùy theo quy mô mà được xếp
là lễ hội nước (quốc lễ) hay lễ hội địa phương Mỗi lễ hội được một làng đăng cai tổ chức, và triển khai nhiều loại hình du lịch văn hóa, đặc biệt là loại hình du lịch lễ hội Một số lễ hội ở Việt Nam được tổ chức rất long trọng chiếm thời gian hơn phần hội thu hút đông đảo du khách như: Hội Lim (Bắc Ninh), hội Chọi Trâu (Đồ Sơn - Hải Phòng)…
Thời gian tổ chức lễ hội thường sau vụ mùa sản xuất, chủ yếu là mùa xuân và mùa thu Thời điểm này thời tiết thuận lợi cũng như tất cả cộng đồng có thời gian nhàn rỗi nhiều hơn góp phần cho lễ hội diễn ra thành công, quy mô lớn hơn Lễ hội Việt Nam nhìn chung mang bản sắc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước
1.3.2.3 Nghề và làng nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công truyền thống là một bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm mang giá trị thẩm mỹ, tâm tư tình cảm, ước vọng của con người Nghề này do những nghệ nhân dân gian sáng tạo, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của những người cùng huyết thống hoặc ở cùng làng bản Sản phẩm thủ công truyền thống được bàn tay khéo léo, tinh xảo tạo nên chỉ thông qua công đoạn sản xuất thô sơ nhưng có giá trị về mỹ thuật, triết học và cả tâm linh Sản phẩm thủ công truyền thống
là những sản phẩm, những nơi đến thu hút được nhiều du khách đặc biệt là những luồng khách quốc tế
Làng nghề được quan niệm: “Làng nghề nông thôn Việt Nam là làng nghề có trên 30% tổng số dân tham gia sản xuất các sản phẩm phi nông nghiệp, tổng doanh thu trong hoạt động sản xuất này chiếm trên 50% tổng doanh thu của cả làng” Làng nghề thủ công truyền thống được quan niệm: “Là làng có các nghề sản xuất hàng hóa bằng các công cụ thô sơ và sức lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ thuật sản xuất hàng hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong làng Sản phẩm hàng hóa được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn được bán ở thị trường trong nước và quốc tế”
Những làng nghề thủ công truyền thống thu hút khách du lịch đến tham quan, bên cạnh việc mua sản phẩm thủ công làm quà cho người thân, du khách còn được tìm hiểu, trực tiếp tham gia tạo ra sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Trang 20Thông thường làng nghề thủ công truyền thống là nằm ở những trục đường giao thông để thuận lợi cho việc giao lưu mua bán sản phẩm thủ công, nó cũng tọa lạc chủ yếu ở nơi đông dân và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp
1.3.2.4 Các đối tượng du lịch gắn liền với dân tộc học
Tùy theo từng dân tộc mà có những điều kiện sinh sống, phương thức sản xuất, những đặc điểm văn hóa như: ẩm thực, văn hóa nghệ thuật, nghề thủ công truyền thống, lễ hội, phong tục tập quán riêng biệt
Việt Nam là nước đang phát triển nên có nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc được các tộc người bảo tồn và trở thành những tài nguyên có sự hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Với các dân tộc anh em của đất nước Việt Nam vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn những phong tục tập quán, hoạt động văn hóa văn nghệ đặc sắc Đặc biệt
là những dân tộc thiểu số có giá trị văn hóa truyền thống tạo sự hấp dẫn du khách nhiều nhất Ở Việt Nam có nhiều làng nghề truyền thống xuất phát từ cách sản xuất riêng của từng dân tộc như chạm khắc, đúc đồng, gốm, sứ… và những món ăn dân tộc cũng thật hấp dẫn đối với du khách
Nhìn chung, hiện nay việc khai thác bảo tồn những giá trị văn hóa của các dân tộc có ảnh hưởng rất lớn trong việc tạo sự ấn tượng sâu sắc để thu hút khách du lịch
và đang được triển khai thực hiện trong nước ta
1.3.2.5 Các đối tượng văn hóa, nghệ thuật và hoạt động nhận thức khác
Các đối tượng văn hóa đáp ứng nhu cầu du khách tham quan, nghiên cứu là trung tâm các trường đại học lớn, thành phố triển lãm nghệ thuật, hệ thống bảo tàng, liên hoan âm nhạc, phim ảnh, thể thao, khu lưu niệm, các cuộc thi hoa hậu… Ở những thành phố có nhiều hoạt động văn hóa thể thao trở thành trung tâm du lịch văn hóa để thu hút nhiều du khách đến thưởng thức giá trị văn hóa của đất nước
Hoạt động trưng bày, triển lãm, hội chợ cũng được quan tâm Có nhiều thành phố lớn thành trung tâm triển lãm như: Lepxich (Cộng hòa liên bang Đức), Matcova (Liên Bang Nga) Mục đích chủ yếu nhất của những người đến tham dự triển lãm để trao đổi kinh nghiệm sản xuất, tuyên truyền cho các sản phẩm đem trưng bày
- Văn hóa nghệ thuật
Loại hình biểu diễn nghệ thuật như: những làn điệu dân ca, điệu múa, bản nhạc, các loại nhạc cụ Việc sáng tạo làn điệu dân ca, điệu múa, những bài hát này là quá trình sáng tác từ trong quá trình lịch sử của các quốc gia Văn hóa nghệ thuật là có giá trị trong việc phục vụ cho nhân loại để thỏa mãn tinh thần, mang bản sắc văn hóa và truyền thống, tâm tư tình cảm, niềm mơ ước của con người Văn hóa nghệ thuật truyền thống được chia làm hai loại hình: nhã nhạc và dân ca Đối tượng phục vụ là công chúng hay theo từng tầng lớp giai cấp mà có sự quy định về ca từ, nhã nhạc, màu âm khác nhau Ngày nay được phân chia làm 2 loại: văn hóa nghệ thuật truyền thống và văn hóa nghệ thuật hiện đại
Trang 21Văn hóa nghệ thuật truyền thống được xem là hồn của dân tộc, mang bản sắc văn hóa dân tộc sâu sắc Đây là loại hình cần phải lưu truyền cho thế hệ mai sau để giữ gìn những giá trị văn hóa của đất nước mình đã bồi dưỡng tạo ra trong lịch sử Ngày hôm nay những loại hình nghệ thuật của từng địa phương cũng được đầu
tư, bảo tồn và phát huy để góp phần đáp ứng và phục vụ cho khách du lịch Những di sản văn hóa nào được UNESCO công nhận là niềm tự hào của quốc gia đó Thật sự là một tài sản vô cùng quý giá có khả năng thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc
tế
- Thơ ca và văn học
Những tác phẩm thơ ca, văn học là quốc hồn của mỗi quốc gia Thơ ca và văn học đã đi vào lòng người của từng dân tộc, nó phản ánh cái đẹp, những gắn kết hòa quyện nhau giữa con người và thiên nhiên đất nước
Trong du lịch, những bài thơ và những truyền thuyết đã làm sinh động hơn về điểm đến Bên cạnh những tác phẩm văn học còn góp phần quảng bá tôn vinh những giá trị đặc sắc cho các thắng cảnh với những di sản văn hóa của các địa phương, của các quốc gia Vạn Lý Trường Thành của Trung Hoa là một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là một trong bảy kỳ quan vào tháng 7 năm 2007 Những câu thơ đã tạo nên sự hấp dẫn khách du lịch Trung Hoa cũng như khách du lịch quốc tế: “Bát đáo Trường Thành phi hảo hán” Sáng tác thơ ca thường gắn liền với cuộc sống, thiên nhiên hùng vĩ, được những người dân sáng tạo để ngợi ca vùng đất nơi sinh sống
- Hoạt động mang tính sự kiện
Là những vấn đề xoay quanh những sự kiện như: liên hoan phim, ảnh, ca nhạc
và thể thao Những nơi đứng ra đăng cai tổ chức những hoạt động này là đối tượng hấp dẫn du khách Đây là điều kiện thích hợp để phát triển du lịch MICE
Những sự kiện quan trọng như trên luôn được tổ chức ở những nơi có điều kiện
cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng tốt, trong những thành phố quan trọng bởi vì nơi này có khá đầy đủ hệ thống nhà hàng, khách sạn, sân bay, bến cảng quốc tế…
1.3.2.6 Tài nguyên du lịch nhân văn khác
- Đặc sản và văn hóa ẩm thực
Như cha ông ta đã từng có câu: “có thực mới vực được đạo”.Thật vậy, ăn uống
là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta Ngày xưa nhu cầu ăn uống là sao cho đủ no thì nay với cuộc sống ngày càng được nâng cao nên cần phải là no, ngon, và dinh dưỡng Không gian, thời gian ăn uống và cách chế biến ngày nay phải là nghệ thuật Mỗi vùng miền có văn hóa riêng nên cách chế biến thức
ăn cũng như khẩu vị cũng khác nhau Những yếu tố khác biệt này là điều kiện tốt để phát triển du lịch vì hầu hết khi đi du lịch người ta cũng muốn thưởng thức những ẩm thực nơi đến để cảm nhận được giá trị nghệ thuật ẩm thực Những món ăn nổi tiếng trên thế giới được mọi người biết đến như: Vịt quay Bắc Kinh, mì Spaghetti (Italia)…
Trang 22Ở Việt Nam thì có nền văn hóa ẩm thực đa dạng, đặc sắc với những món ăn hấp dẫn làm say đắm lòng người
- Văn hóa ứng xử và những phong tục tập quán tốt đẹp
Khách du lịch đến một nơi bất kỳ, một trong những đều mong muốn của họ ở điểm đến là văn hóa ứng xử Thông qua đó họ có thể trải nghiệm và nhận thức về những giá trị về tài nguyên du lịch tự nhiên lẫn nhân văn, văn hóa và con người nơi đây Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia có văn hóa ứng xử, tập tục sinh sống và sản xuất khác nhau, và yếu tố này trở thành TNDL vô cùng quý giá, có khả năng thu hút du khách Nếu nơi đến có người địa phương thân thiện hiếu khách, nhân viên lịch sự vui vẻ thì chắc chắn du khách sẽ rất hài lòng và sẽ ở lại đó lâu hơn
Bên cạnh việc ứng xử của người với người tốt đẹp, mà văn hóa ứng xử của con người và thiên nhiên cũng được du khách quan tâm Nếu nơi đến có môi trường thiên nhiên hài hòa với con người, bảo vệ động vật hoang dã, không tàn phá rừng làm đa dạng tự nhiên là môi trường du lịch thân thiện với khách du lịch
Những nước đang phát triển, quá trình đô thị hóa còn chậm, nên còn lưu giữ được những giá trị văn hóa truyền thống quốc gia Với xu hướng quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, sự giao thoa giữa nền văn hóa truyền thống với những văn hóa mới lạ dễ dàng làm pha tạp, mất đi bản sắc văn hóa truyền thống Vì vậy vấn đề đặt ra là phải bảo vệ tôn tạo những giá trị văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán của cộng đồng ở nơi đến
1.3.3 Vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn với sự phát triển du lịch
- Du lịch có mùa cao điểm và mùa thấp điểm TNDLNV là giúp cho ngành du lịch kéo dài thời gian cao điểm ra hơn và rút ngắn mùa thấp điểm Nếu như vào mùa mưa nhiều, lủ lụt dẫn đến khí hậu bất ổn định thì tất nhiên tài nguyên du lịch tự nhiên không phải là điểm lựa chọn lý tưởng của họ TNDLNV sẽ thu hút được du khách và mang về nguồn thu nhập trong du lịch, góp phần mang lại nguồn vốn đầu tư cho cơ sở
hạ tầng vật chất kỹ thuật nhằm để phục vụ cho du khách với số lượng đông hơn, như thế sẽ ngày càng phát triển và thu hút được nhiều du khách
- TNDLNV góp phần nâng cao nhận thức của khách du lịch, họ sẽ cảm nhận được giá trị văn hóa đích thực của nơi mà họ đến để tạo sự hứng thú trong du lịch và tin chắc du khách sẽ quay lại thêm lần nữa
- TNDLNV là giá trị văn hóa riêng của một vùng địa phương, một quốc gia nên giúp cho du lịch có ấn tượng riêng với du khách
- Đối tượng du lịch hầu hết là tầng lớp tri thức, TNDLNV sẽ là đề tài được quan tâm của những nhà nghiên cứu Họ sẽ đóng góp vào sự quảng bá du lịch (giới thiệu, viết sách…)
- TNDLNV là những bản sắc dân tộc, tập tục được lưu giữ, bảo vệ, tôn tạo, nó
là tài nguyên quý báo của du lịch
Trang 23Tóm lại, TNDLNV là tài nguyên không thể thiếu, vì mức độ đem lại sự thành công trong việc phát triển du lịch là rất cao
Trang 24Chương 2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN TỈNH BẠC LIÊU VÀ HIỆN
TRẠNG KHAI THÁC TRONG DU LỊCH 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT TỈNH BẠC LIÊU
2.1.1 Vị trí địa lý
Bạc Liêu là một tỉnh nằm ở vị trí gần như tận cùng của tổ quốc thuộc bán đảo
Cà Mau, một vùng đất thuộc ven biển vùng ĐBSCL ở miền Tây Nam Bộ Tỉnh có tọa
độ địa lý từ 9o00'' đến 9o38'9'' vĩ Bắc và từ 105o14'15'' đến 105o51'54'' kinh Đông
Bạc Liêu tiếp giáp tỉnh Kiên Giang và Hậu Giang ở phía Bắc, giáp tỉnh Sóc Trăng ở phía Đông và Đông Bắc, giáp biển Đông phía Đông và Đông Nam với chiều dài bờ biển dài 56km, giáp tỉnh Cà Mau phía Tây và Tây Nam
Tỉnh Bạc Liêu cách thủ đô Hà Nội 2006km, thành phố Hồ Chí Minh khoảng 280km, Cà Mau 67km, Sóc Trăng 50km, Cần Thơ 113km Bạc Liêu là nơi đi qua của quốc lộ 1A, mang lại thuận lợi trong quá trình làm cầu nối Bạc Liêu đến các vùng khác
dễ dàng hơn, góp phần tăng khả năng giao lưu phát triển kinh tế xã hội
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
Tỉnh Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, cao trung bình từ 0,3 - 0,5, cùng với cánh đồng lúa rộng bao la Mang khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thời tiết có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình 270C tương đối ôn hòa
dễ chịu, ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, ấp thấp nhiệt đới…
Tổng diện tích đất tự nhiên là 258.534 ha (số liệu năm 2007), đứng thứ 8 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đứng thứ 40 về diện tích so với các tỉnh thành của cả nước, trong đó nhóm đất phèn chiếm là chủ yếu với khoảng 51,78% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Đất rừng Bạc Liêu có 4.606 ha (số liệu năm 2007) là rừng phòng hộ, và đem lại sự đa dạng của rừng ngập mặn, nhiễm phèn dọc bờ biển như một số cây chủ yếu là mắm, đước, sú, vẹt.
Bạc Liêu có hệ thống kênh rạch chằng chịt như kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai Tỉnh có 3 cửa biển quan trọng như: cửa Gành Hào, cửa Nhà Mát và cửa Cái Cùng cùng với vùng biển rộng 40.000 km² Có vai trò trong việc mang lại nguồn hải sản dồi dào cho tỉnh
Tỉnh có tài nguyên biển với diện tích biển là 4 vạn km2,góp phần mang lại sự
đa dạng giống loài của sinh vật biển Bên cạnh tỉnh có sự đa dạng của loài chim như Điên Điển, Chim Sen, Cò Lạo Ấn Độ, Cò đuôi cụt bụng đỏ, Cò sả hung, Cò hoang dã…
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
Ngày 06 -11-1996, tỉnh Bạc Liêu được tái lập sau khi tách ra từ tỉnh Minh Hải, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1997 Hiện nay có 7 đơn vị hành chính cấp
Trang 25huyện trực thuộc trong đó gồm có Thành phố Bạc Liêu, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai, Đông Hải, Hòa Bình (mới thành lập tháng 7 năm 2005), với tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31- 12 - 2007 là 61, trong đó có 7 phường, 7 thị trấn và 47 xã Dân số là 856.059 người (điều tra dân số 01/04/2009), với mật độ dân số
339 người/ km2.Thành phố Bạc Liêu đứng thứ 12 trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và thứ48 so với 63 tỉnh thành của cả nước về mật độ dân số
Bảng 1: Dân số Bạc Liêu phân theo đơn vị hành chính năm 2010
Đơn vị: Người
CHIA RA TÊN ĐƠN VỊ TỔNG
SỐ HỘ
TỐNG SỐ NHÂN KHẨU (Người) THÀNH
THỊ
NÔNG THÔN
(Nguồn: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Bạc Liêu, 2010)
Qua bảng số liệu trên cho thấy dân số Bạc Liêu tương đối thấp, phân bố không đồng đều, trong tỉnh có thành phố Bạc Liêu là số nhân khẩu cao nhất chiếm 17,41% so với các địa bàn trong tỉnh, vì ở đây có nhiều điều kiện sống tốt, cơ hội việc làm tốt nên người dân tập trung sinh sống đông Huyện Vĩnh Lợi có tổng số nhân khẩu thấp nhất chiếm chỉ 11,4% Sở dĩ tỉnh này có số hộ ít như vậy vì đây là một tỉnh có điều kiện sống không tốt như những huyện khác, thiên nhiên không ưu đãi nên việc tổ chức sản xuất gây khó khăn có người dân Dân số của tỉnh chủ yếu tập trung sống ở nông thôn chiếm 73,4%, còn lại có 26,6% sống ở thành thị Đặc biệt, có TP Bạc Liêu dân số lại sống ở thành thị cao hơn chiếm đến 74%, tập trung ở nông thôn có 26%
Bạc Liêu là một vùng đất trẻ được khai mở vào cuối thế kỉ XVII và được phù sa bồi đắp Nơi đây là vùng hội tụ nhiều dòng văn hóa của nhiều dân tộc cộng cư Theo
số liệu năm 2009, trong số các dân tộc anh em thì người Kinh chiếm số lượng cao nhất
so với các dân tộc còn lại Người Kinh chiếm 90% dân số của tỉnh, người Khmer chiếm 75% dân số, người Hoa chiếm 3% dân số, còn lại là một số dân tộc thiểu số khác Nhìn chung, các dân tộc anh em trong tỉnh cùng nhau chung tay góp sức, thương yêu đùm bọc nhau trong những ngày đầu mở đất khai hoang cho đến thời kì chống bọn giặc ngoại xâm đầy ác liệt và cho đến thời đại của chúng ta ngày hôm nay Mãnh đất Bạc Liêu đã từng gắn liền với vùng đất trù phú, được trời ban tặng cho nguồn tài
Trang 26nguyên thiên nhiên đầy sự ưu đãi, mưa thuận gió hòa Những yếu tố này mang đến cho việc phát triển kinh tế biển, nông và ngư nghiệp, thương mại và dịch vụ
Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu, nông nghiệp là một thành phần quan trọng nhất Hoạt động trồng lúa, nuôi trồng thủy sản và làm muối đang từng bước được chú trọng đầu tư và phát triển Hiện nay nông nghiệp mang về cho tỉnh nhiều thành tựu đáng kể, trong đó ngành nuôi trồng thủy sản được xem là ngành mũi nhọn chủ lực của tỉnh Năm 2010 sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh tăng đáng kể, tăng 5,8% so với năm 2009 Diện tích canh tác nông nghiệp được mở rộng Bạc Liêu phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa để tận dụng tất cả những thế mạnh có sẵn, và bồi dưỡng nguồn lực nhằm phát triển bền vững hơn Bên cạnh đó nông nghiệp còn tác động gián tiếp đến du lịch thông qua việc cung cấp nguồn lương thực - thực phẩm như: gạo, thủy sản… cho nhà hàng khách sạn Tính chủ yếu là phát triển nông nghiệp, nó đáp ứng việc làm cho nhiều người dân, đời sống nhân dân được cải thiện, địa bàn trong tỉnh ngày càng có nhiều người giàu xuất hiện
Giai đoạn trong những năm gần đây ngành công nghiệp cũng đang từng bước phát triển mạnh mẽ Ngành này chiếm 24% trong cơ cấu kinh tế tổng sản phẩm các ngành kinh tế của tỉnh Quý I năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh ước đạt 495,8 tỷ VNĐ, bằng 15% kế hoạch, tăng 3,4% so cùng kỳ Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 là 2.817 tỷ đồng, phân theo loại hình kinh tế: kinh tế nhà nước chiếm
903 tỷ đồng, kinh tế ngoài nhà nước 1.439 tỷ đồng và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 475 tỷ VNĐ.Trong những năm gần đây, cơ cấu ngành công nghiệp
- xây dựng có gia tăng, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh nhà Nhiều dự án đang được đầu tư xây dựng như: nhà máy điện gió, khu thương mại, khu công nghiệp… tạo điều kiện thuận lợi để Bạc Liêu phát triển lớn mạnh hơn để tăng khả năng thu hút khách du lịch
2.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN Ở BẠC LIÊU
2.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa
2.2.1.1 Giới thiệu chung
Tỉnh Bạc Liêu được khai phá muộn màng, nhưng ngày nay tỉnh có rất nhiều di tích lịch sử văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Những di tích quan trọng và có giá trị trong du lịch ở Bạc Liêu gắn bó với dòng lịch sử ở đây, tất cả được xem như là những nét vẽ riêng trên bức tranh cùng hòa quyện để tạo thêm sự sinh động về bức tranh Bạc Liêu nhằm tăng thêm vẽ đẹp nơi đến, làm thu hút du khách nơi nơi Hiện nay địa bàn trong tỉnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng 8 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, và được UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng 20 di tích cấp tỉnh Trong số 8 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia thì có một số di tích như: Đồng Nọc Nạng, Tháp Vĩnh Hưng, Đền thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn thu hút rất nhiều khách du lịch đến với Bạc Liêu
Trang 27Bên cạnh, một số di tích cấp tỉnh cũng có khả năng đưa vào khai thác du lịch như: Khu mộ cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tỉnh Bạc Liêu, Chùa Kom Phi Sakor Prêkchou (chùa Xiêm Cán), Khu căn cứ Tỉnh Uỷ Bạc Liêu, Đồng hồ đá Thái Dương… Nhìn chung tất cả các di tích đều tọa lạc tại nơi có tuyến đường giao thông thuận lợi đông dân cư, gần trung tâm của xã, huyện và thành phố Nhờ vậy đã dễ dàng đưa vào khai thác du lịch, các cấp lãnh đạo của tỉnh tập trung khai thác các di tích này trong du lịch thường kết hợp với bộ phận công ty du lịch để làm cầu nối đưa du khách đến với đây nhằm khai thác hiệu quả trong du lịch
Bảng 2: Danh sách di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia
Nhận
Địa Điểm
1 Đồng Nọc Nạng 1991 Ấp 4, xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai
2 Tháp Vĩnh Hưng 1992 Ấp Trung Hưng, xã Vĩnh Hưng, huyện
2005 Tại Trà Kha B, Phường 8, TP Bạc Liêu
8 Chùa Kro Pum Mean
Chey Kos Thum
2006 Ấp Cỏ Thum, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện
Du lịch xếp hạng năm 1991 Khu di tích có tổng diện tích 3 ha và khi du khách đến đây sẽ được nhìn thấy mộ gia đình Mười Chức, nhà trưng bày, nhà tưởng niệm, cụm tượng cao bằng người thật tái hiện lại những ngày hào hùng của lịch sử giữa gia đình Mười Chức và bọn Tây cướp lúa vào ngày 16/02/1928, đây là ngày đẩm máu giữa trận quyết tử để giành lại ruộng đất của anh em Mười Chức với bọn địa chủ, quan lại cướp đất
Ngày 16 tháng 02 năm 2008, kỷ niệm 80 năm sự kiện Đồng Nọc Nạng (16.2.1928 - 16.2.2008), tỉnh Bạc Liêu khánh thành việc trùng tu, mở rộng khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đồng Nọc Nạng tại thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai
Trang 28Hàng năm lễ hội diễn ra bắt đầu từ ngày 15 - 17/2 âm lịch, thì ngay tại khu di tích lịch sử Nọc Nạng thu hút nhiều du khách tham quan với mục đích tìm hiểu về văn hóa và kết hợp du lịch ngoạn cảnh tham quan giải trí, tạo cho chuyến đi của du khách đầy ý nghĩa Nhiều du khách từ mọi nơi đến để thắp nhang cũng như tri ân cho gia đình của ông Mười Chức nhằm tưởng nhớ đến những con người anh dũng nước nhà trong thời mở đất, cũng như giành lại đất trong thế lực hung ác của bọn cường hào cướp đất khi chưa có Đảng Ngoài ra du khách còn được xem biểu diễn văn nghệ tái hiện lại cảnh cướp đất hung tàn của bọn cường hào thật hấp dẫn
Đội ngũ hướng dẫn viên được đào tạo chất lượng, đến với di tích du khách có thể nghe người hướng dẫn tại điểm kể lại câu chuyện của gia đình ông Mười Chức thật xúc cảm Di tích Đồng Nọc Nạng phục vụ khá nhiều du khách nhưng chủ yếu cho đối tượng khách tham quan
Tuy nhiên, di tích không nằm trên tuyến đường giao thông quan trọng của tỉnh
là một điều khó khăn cho khách tham quan Từ tuyến đường Giá Rai phải đi vào một con đường đất nhỏ vài trăm mét mới đến được di tích Cũng vì thế vào mùa mưa, thì nơi đây rất vắng bước chân của du khách Bên cạnh, nơi đây không có khu chiếu phim
tư liệu về cuộc đời của ông Mười Chức nên không gây ấn tượng nhiều du khách Đây
là những vấn đề quan trọng cần nhanh chóng khắc phục để khai thác du lịch
- Đền thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu Di tích được xây dựng vào năm 1972 Đền nằm bên bờ sông Bà Chằng, có khuôn viên rộng hơn 6.000m2, và cách trung tâm thành phố Bạc Liêu khoảng 18 km về phía Tây Bắc Tổng diện tích quy hoạch khu Đền thờ Bác và nhà trưng bày là 2 ha
Khi đến phía bên ngoài của di tích thì du khách sẽ thấy hội trường, và được xem phim tài liệu nhằm nhắc lại những dòng lịch sử của dân tộc để cho du khách gần xa biết thêm vài thông tin về quân và dân Châu Thới chiến đấu, xây dựng và bảo vệ đền
Đền đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận và xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia 1998 Ngôi đền xây dựng trong những ngày bom đạn ác liệt, và được bảo tồn trùng tu cho đến nay đã minh chứng cho tấm lòng của những người dân nơi đây đối với vị cha già kính yêu của dân tộc Đây là niềm tự hào của quân và dân Bạc Liêu, hàng năm vào các ngày lễ lớn, đặc biệt vào ngày sinh nhật Bác cũng như ngày Bác mất có rất đông du khách gần xa đến đây thắp cho Bác nén hương, thăm viếng Để tỏ lòng biết ơn đối với Bác, những đoàn viên thanh niên thường đến viếng thăm đền Bác
Khi đến với di tích này khách tham quan sẽ thấy ngay hình ảnh Cụ Hồ đứng hiên ngang, và phía sau đền có nhà trưng bày sẽ được thưởng thức với trên khoảng 50 tài liệu, hiện vật và hình ảnh với chung nội dung là nói lên cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều nội dung phong phú về quân dân xã Châu Thới chiến đấu bảo vệ đền thờ
Trang 29Tuy nhiên Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh không nằm trong trung tâm của tỉnh Bạc Liêu, nó tọa lạc tại nơi mà có rất ít điểm du lịch hấp dẫn gần đó nên lượng khách đến đây còn nhiều hạn chế
- Chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum (Chùa Cỏ Thum)
Chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum được dịch là chùa Hòn Đảo Lớn, dân gian đặt cho tên gọi là chùa Kos Thum, nằm tại ấp Cỏ Thum, thuộc xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch xếp hạng là di tích Lịch sử
vào năm 2006 Chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum bắt đầu xây dựng năm Nhâm
Thìn 1832, do Đại đức Sơn Prum trụ trì Du khách đến đây có dịp chiêm ngưỡng nhiều công trình kiến trúc hoành tráng của ngôi chùa như: chánh điện, phước xá, trường học, tăng xá và 7 ngôi tháp được thiết kế theo kiến trúc chùa Khmer truyền thống
Chùa được ghi nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vì nó đã mang lại dấu ấn lịch
sử hài hùng của dân tộc ở đây trong hai thời kì kháng chiến chống Pháp và Mỹ giai đoạn 1930 - 1975 Để hiểu rõ hơn về lối kiến trúc của người Khmer, thì đến với ngôi chùa này du khách sẻ có cơ hội khám phá thêm, chùa còn mang một giá trị của công trình kiến trúc nghệ thuật tôn giáo Vào những dịp lễ quan trọng trong năm với các hoạt động văn hóa dân gian của dân tộc Khmer, thì không khí nơi đây vô cùng nhộn nhịp thu hút được nhiều du khách Quả thật đây là một trong những điểm dừng chân lý tưởng của những người Khmer và cả các tộc người khác Trong tương lai cần bảo tồn giá trị văn hóa để phục vụ thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tham quan của du khách Tuy nhiên cơ sở vật chất còn yếu kém, hệ thống hạ tầng chưa đồng bộ, đường xá đi lại tương đối khó khăn Để bảo tồn di tích này cũng như báu vật của người Khmer nơi đây, thì cần phải đầu tư đúng mức kiện toàn hệ thống nhằm khai thác hiệu quả của nơi đến
- Khu lưu niệm cố Nhạc Sĩ Cao Văn Lầu
Khu mộ cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu được UBND tỉnh Bạc Liêu công nhận là di tích lịch sử vào năm 1997 Ngôi mộ xây dựng năm 1976 với tổng diện tích của khu di tích khoảng 3 ha và nằm trên mãnh đất của gia đình nhạc sĩ Văn Lầu, tọa lạc tại khóm
2, phường 5, thành phố Bạc Liêu
Hoạt động du lịch tại khu lưu niệm này phát triển chủ yếu theo dạng đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách Khi đặt chân vào bên trong cổng, thì ập vào mắt du khách là nhiều thứ, có rất nhiều khu để tham quan như là khu mộ, nhà trưng bày và sân khấu ngoài trời dùng tổ chức các buổi lễ và biểu diễn đờn ca tài tử phục vụ công chúng của “tài tử” khi đến viếng thăm và có nhu cầu ca hát
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu là con người có công lao vô cùng to lớn đối với vùng đất Bạc Liêu Những điệu nhạc và những bài hát vọng cổ của vùng đất Nam Bộ được khởi xướng bởi cố nhạc sĩ, ông nổi tiếng với bài “Dạ cổ hoài lang”, nhờ thế mà ông đã tạo nên tiếng tâm của xứ Bạc Liêu mà bạn bè nơi nơi biết đến Ngày nay tên tuổi ông đã
có công rất lớn trong việc thu hút du khách đến với Bạc Liêu
Trang 30Cứ vào dịp 13 - 15/8 âm lịch hàng năm, tại khu lưu niệm của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu đều diễn ra lễ hội “Dạ cổ hoài lang” nên có rất nhiều du khách đến đây viếng thăm bao gồm cả nhiều giới nghệ sĩ quay trở về đây tham gia lễ giổ tổ để tưởng nhớ, tạ
ơn công lao đóng góp của cố nhạc sĩ Tại đây, du khách có thể tận hưởng không khí náo nhiệt với nhiều hoạt động như: biểu diễn nghệ thuật, thi thả diều, ca hát tài tử, hội chợ thương mại - du lịch Đây là thời điểm mà rất nhiều nghệ sĩ nổi danh đến đây và hát với nhau, khi khách tham quan đến đây có dịp thưởng thức những buổi biểu diễn nghệ thuật đặc sắc
Đến khu lưu niệm của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, trước là đốt nhang và sau đó hoạt động không thể thiếu của du khách đến đây là xem những hiện vật, hình ảnh về cuộc đời ông tại nhà trưng bày Du khách sẽ tận hưởng với rất nhiều tấm ảnh trải qua quảng đời sự nghiệp của nhạc sĩ, hình ảnh đờn ca tài tử được dựng bằng sáp, phục trang sân khấu cải lương của những nghệ sĩ cải lương vang bóng một thời, một vài nhạc cụ như cây ghi-ta phím lõm, dàn nhạc lễ của cố nhạc sĩ bao gồm: cò, gáo, tranh, trống, trống cơm, tum Bản “Dạ cổ hoài lang” và một vài tác phẩm khác của nhạc sĩ được viết bằng những nét bút thư pháp thật đẹp trên nền vải hoa rất sang trọng và bức tượng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu được đặt ngay phía giữa phòng trưng bày
Ngoài ra đến khu lưu niệm Cao Văn Lầu du khách được nghe hát tài tử quả là một món ăn tinh thần và những giai điệu được nghệ nhân nơi đây hát sẽ làm xao xuyến tất cả trái tim của du khách Với những giá trị mà di tích mang lại, nên hiện tại cũng như trong tương lai nơi đây đang được đầu tư để hoàn thiện di tích hơn nhằm khai thác trong du lịch tương xứng với tiềm năng mà nó mang lại cho du lịch
2.2.1.3 Một số di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu
- Tháp cổ Vĩnh Hưng
Tháp nằm trên gò đất cao khoảng 0,5m, tại ấp Trung Hưng 1B, xã Vĩnh Hưng
A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu Di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992 Tháp được phát hiện bởi ông Lunetdelaponguier (một nhà khảo cổ Pháp) năm 1911 và được xem là một trong những di tích kiến trúc Khmer với tên gọi là tháp Trà Long Bên cạnh nó cũng có tên gọi khác là tháp Lục Hiền
Hàng ngày có nhiều du khách trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh đến đây tham quan, hầu hết là thu hút khách du lịch theo dạng tham quan và tín ngưỡng Hơn thế nữa, những ngày lễ hội của dân tộc Khmer đặc biệt vào dịp rằm tháng giêng âm lịch hàng năm, tại đây người dân tổ chức giỗ khá lớn, nơi đây tụ tập rất nhiều người Khmer đến tổ chức cúng bái, sinh hoạt cộng đồng, cùng với không khí như thế đã níu chân nhiều khách du lịch viếng thăm Dừng chân lại di tích, một trong những hoạt động chính của du khách là có dịp tham quan bộ sưu tập hiện vật mang văn hóa Óc Eo, hay những hình ảnh điêu khắc bằng đá hay đồng… sắc sảo của cộng đồng Khmer thời bấy giờ Chính nhờ Tháp Vĩnh Hưng là di tích kiến trúc cổ duy nhất mang dáng dấp nghệ
Trang 31thuật kiến trúc thời Ăng Ko của người Khmer còn tồn tại và được bảo tồn ở đồng bằng sông Cửu Long nên đây là điểm đến hấp dẫn của khách tham quan khi đặt chân đến Bạc Liêu, vì thế mỗi ngày hoạt động du lịch ở đây diễn ra khá tấp nập Tại đây du khách có thể thưởng thức những món ngon của Bạc Liêu, mua đặc sản tại một số nơi gần đó
Mặt yếu của di tích này là dù cho nằm trên tuyến đường giao thông khá lớn nhưng không phải là tại một trung tâm đông đúc, nó tọa lạc tại một nơi khá hoang vu, cách tương đối xa với những điểm du lịch khác Đây là một vấn đề khá khó khăn, vì thế cần phải tìm ra điểm nhấn, thế mạnh nào đó của di tích để phát huy một cách hiệu quả, quảng bá hình ảnh của di tích cổ xưa này
Bên cạnh, điểm tích này trải qua một thời gian dài nên không tránh khỏi việc mài mòn cũng như xuống cấp của di tích Để duy trì lại giá trị cổ của di tích nhằm tăng khả năng thu hút du khách thì vấn đề đặt ra trước mắt Tháp Vĩnh Hưng cần phải được trùng tu, tôn tạo nhằm bảo tồn và phát huy hết lợi thế của một di tích kiến trúc nghệ thuật tầm cỡ quốc gia, là địa điểm cho du khách thích khám phá tìm hiểu về hồn cổ
- Cụm nhà công tử Bạc Liêu
Tới thành phố Bạc Liêu, hỏi thăm cụm nhà công tử Bạc Liêu ai ai cũng biết Khi đứng ngay trên chiếc cầu Sập của trung tâm thành phố du khách cũng sẽ dễ dàng nhìn thấy nó Từ cầu đi bộ chỉ mất khoảng 2, 3 phút là đến ngay cụm nhà nổi tiếng này, và du khách sẽ được tham quan cụm nhà Công tử Bạc Liêu nằm tại số 15 thuộc đường Điện Biên Phủ, phường 3, thành phố Bạc Liêu Du khách sẽ bị thu hút với phong cách kiến trúc phương Đông và Tây kết hợp
Mặc dù nhà Công tử Bạc Liêu xây dựng năm 1919 nhưng ngày nay vẫn nhận thấy đây là một trong những nơi có lối kiến trúc uy nghi lộng lẫy, và bề thế nhất tại Bạc Liêu Chuyến đi chủ yếu đến đây là để tham quan những công trình xây dựng do
kỹ sư Pháp thiết kế, và vật liệu để xây dựng toàn những thứ đắt tiền trở từ Pháp qua, hình ảnh của vợ chồng công tử Bạc Liêu Sau những vòng tham quan xung quanh, du khách có thể chọn cho mình một vị trí thích hợp ở nhà hàng công tử mà nghỉ mệt, thưởng thức những món ăn hay nước uống mang phong cách phục vụ của sự sang trọng như tên gọi của di tích Cụm nhà Công tử Bạc Liêu ngày nay nơi này trở thành nhà hàng - khách sạn đông đúc nhộn nhịp, với nhiều món ngon Đây là công trình mang kiến trúc cổ, sang trọng của thành phố Bạc Liêu
Đến đây, một nơi lý thú với du khách nữa chính là điểm bán quà lưu niệm tại ngay nhà công tử, với nhiều sản phẩm mỹ nghệ có hình ảnh Bạc Liêu, sách và tạp chí nói về vùng đất Bạc Liêu…
Mọi người thường nói đến Bạc Liêu mà không ghé thăm nhà công tử Bạc Liêu thì như chưa từng đến Bạc Liêu Chính những câu nói đó, mà hầu hết bất kỳ du khách nào đến thăm Bạc Liêu thì lại đến cụm nhà công tử Bạc Liêu Mỗi ngày và mỗi ngày nơi đây đã níu chân được thật nhiều du khách trong và ngoài nước Qua một chuyến
Trang 32khảo sát thực tế, tôi hỏi rất nhiều người tại sao họ lại chọn nơi đây để viếng thăm, họ nói đã được biết tên tuổi của Công Tử Bạc Liêu và muốn đến xem ngôi nhà của người giàu có này lúc xưa ăn ở như thế nào, tận mắt chứng kiến lại nơi đó, thậm chí chọn là nơi lưu lại qua đêm để trải nghiệm được cuộc sống giàu sang thì có gì bằng
Nơi đây thu hút đông đúc đối tượng khách tham quan, nghỉ dưỡng, vì vậy cần phải chú trọng đầu tư nâng cấp những cơ sở vật chất nơi đến như nhà hàng, khách sạn đồng thời cũng chú ý quy cách phục vụ…
Cụm nhà công tử Bạc Liêu nằm trên con đường chính của thành phố nên dễ dàng ghé thăm Đây là thế mạnh mà không phải di tích nào cũng có được, vì vậy cần phải tập trung phát huy thế mạnh để khai thác hết lợi thế trong hoạt động du lịch
Mặc dù nơi đây là điểm thu hút du khách bật nhất của tỉnh nhưng chưa khai thác du lịch tương xứng với tiềm năng vốn có Căn nhà Công tử Bạc Liêu nay biến thành khách sạn, chỉ phục vụ cho những người có nhu cầu lưu trú, và mức giá phòng hạng sang nhất tại đây chỉ có 350.000 đồng/đêm Mức thu từ việc cho khách thuê phòng chắc chắn sẽ không bằng nếu biến những căn phòng của Công tử Bạc Liêu thành một điểm tham quan Nếu nơi đây trở thành điểm tham quan, du khách đến đây
có dịp chiêm ngưỡng những căn phòng của Công tử Bạc Liêu, như vậy càng ngày sẽ thu hút nhiều du khách ghé thăm, tăng sự hấp dẫn điểm đến và dĩ nhiên thu nhập từ doanh số sẽ tăng lên Bên cạnh, cũng kích thích du khách đến những điểm du lịch khác gần đó
- Chùa Xiêm Cán ở Bạc Liêu
Chùa Xiêm Cán tọa lạc tại thành phố Bạc Liêu là một trong những ngôi chùa Khmer thuộc hạng bật nhất của Nam Bộ về quy mô và góc độ thẩm mĩ với những nét kiến trúc mang đậm chất Phật giáo nguyên thủy Nam truyền Chùa được xây dựng vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20
Chùa không chỉ được người Bạc Liêu biết tiếng mà còn vang tên tuổi tới những vùng lân cận Nó được đưa vào nhiều cuốn sách du lịch quốc gia khi giới thiệu những điểm du lịch nổi tiếng ở Bạc Liêu Vừa nằm tại thành phố, vừa là ngôi chùa cổ được đưa vào danh sách một trong những ngôi chùa Khmer lớn bật nhất Nam Bộ với công trình kiến trúc uy nghi đẹp lộng lẫy, chùa là một trong những điểm đến không thể thiếu đối với khách du lịch khi đến Bạc Liêu Điểm thuận lợi nữa là chùa nằm gần với công
ty cổ phần du lịch Bạc Liêu, nên được quan tâm cũng như giới thiệu nhiều du khách tham quan Từ đây đến chùa đi bộ chỉ mất vài phút là tới, không khí mỗi ngày như nhau đều tấp nập du khách trong và ngoài nước, và hầu như là phục vụ nhu cầu tín ngưỡng du khách là chính của ngôi chùa
Ngoài ra, đến chùa Xiêm Cán du khách có thể tham quan kiểu kiến trúc Ăng-co,
có nhiều bức tượng chạm trổ công phu đặc sắc với những thiếu nữ cùng nhau nhảy múa Nhìn lên bên trên có tượng hình một con rắn với rất nhiều cái đầu Đi vào bên trong chùa, ở gian chính điện có tượng Phật ở trên cao Có rất nhiều hình ảnh Đức Phật
Trang 33được vẽ lên trên bốn bức tường, những bức vẽ này thể hiện cho từng giai đoạn từ khi Đức Phật sinh ra Là một ngôi chùa lớn của tỉnh, là nơi tâm linh của người dân Bạc Liêu, cứ vào những dịp lễ về như lễ rằm tháng giêng, rằm tháng bảy hay rằm tháng mười, nơi đây đón rất nhiều bà con địa phương cũng như du khách ở xa đến đây cúng vái, dân lễ
Hiện tại chùa vẫn còn vướng một số khó khăn cần khắc phục, là tình trạng mua bán, cò kéo phía trước chùa làm mất vẽ mỹ quan chùa, làm không khí xáo động thiếu
đi tính thanh tịnh Tình trạng ăn xin, buôn bán mời gọi vé số vẫn diễn ra hàng ngày Tỉnh cần phải ra sức để khắc phục nhanh chóng vấn đề này, có như thế mới làm hài lòng khách đến và việc đưa vào khai thác du lịch trở nên sẽ dễ dàng hơn
2.2.2 Lễ hội
2.2.2.1 Giới thiệu chung
Bạc Liêu cùng với dòng lịch sử khá lâu đời, vùng đất có nhiều dân tộc sinh sống, trong số đó phần đông là ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa Mỗi dân tộc có nét văn hóa, có tín ngưỡng khác nhau Chính vì vậy mà đã mang lại cho tỉnh này rất nhiều lễ hội, diễn ra từng thời điểm từ đầu năm đến cuối năm như: lễ hội Kỳ Yên, lễ hội Đồng Nọc Nạng, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Quán Âm Nam Hải, lễ hội Dạ Cổ Hoài Lang, lễ hội Ok Om Bok Mỗi lễ hội đều có đông đảo người tham gia, không chỉ dân tộc nào
tổ chức thì dân tộc đó tham dự lễ hội mà được sự vui chung, cùng hạnh phúc của tất cả các dân tộc anh em trong tỉnh, người với người thể hiện sự giao lưu cộng cảm Lễ hội
đã mang lại nét sinh hoạt văn hóa, tôn giáo của cộng đồng trải qua hàng trăm năm và được đánh giá sàng lọc là lễ hội truyền thống của tỉnh Qua vài lần khảo sát tôi đã biết được một trong những mục đích chính mà thu hút khách du lịch đến với Bạc Liêu là yếu tố tôn giáo, vì thế lễ hội là một trong những thế mạnh quan trọng bật nhất, là loại tài nguyên du lịch nhân văn vô vàng quý giá đối với du lịch của tỉnh
2.2.2.2 Một số lễ hội tiêu biểu
- Lễ hội Quán Âm Nam Hải
Lễ hội Quán Âm Nam Hải hay còn gọi là Lễ Vía Bà, đây là công trình văn hóa tâm linh và là lễ hội dân gian mang đậm nét văn hóa Phật giáo, mỗi năm thu hút hàng ngàn khách thập phương phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng khắp cả nước Lễ hội được
tổ chức trong ba ngày từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3 âm lịch hàng năm tại phường
Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu Trong các ngày lễ hội diễn ra, nhiều du khách đến đây
cùng tham gia với những nghi lễ và phần hội Bên cạnh mục đích chính yếu đến đây thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng thì du khách có thể thưởng thức những hoạt động trưng bày triển lãm hình ảnh đất và con người Bạc Liêu xưa và nay, hội chợ bán sản vật, đồ biển, diễu hành xe hoa rước Quán Âm Nam Hải, văn nghệ hát bội, múa rồng
Lễ hội Quán Âm Nam Hải là lễ hội có quy mô thuộc dạng lớn bật nhất của tỉnh, mang tính tâm linh nên không những được người dân Bạc Liêu mà du khách nơi xa tới
lễ bái Du khách đến đây có cơ hội để chiêm ngưỡng bức tượng mẹ Nam Hải chiều cao
Trang 3411m và cầu nguyện cho bản thân những điều tốt đẹp nhất Mỗi mùa lễ hội nơi đây số lượng du khách đến rất đông, thậm chí không đủ chổ để ngồi khấn vái Lễ hội này là đóng góp vào việc phục vụ đông đảo khách có nhu cầu tín ngưỡng Đây là điểm mạnh
để phát huy loại hình du lịch tín ngưỡng của tỉnh, nhưng để đưa vào hoạt động du lịch đạt kết quả thì ban trị sự Quán âm Phật Đài và chính quyền địa phương cần phải chú ý nhiều vấn đề như là đoạn đường chính vào tượng Bà thì di chuyển các hộ buôn bán đến nơi khác, ngăn chặn tình trạng ăn xin, móc túi
Không chỉ đến với lễ hội Vía Bà là vì mục đích tín ngưỡng, du khách đến đây còn có thể thưởng ngoạn cảnh sắc nơi đây, với hương biển hòa quyện cùng cây rừng ngập mặn như: cây đước, cây mắm, cây sú
Trước khi quay về, du khách có thể đến những gian hàng lưu niệm mua vài sản phẩm để kỉ niệm chuyến đi tại đây với đa dạng loại sản phẩm khác nhau Bên cạnh có thể thỉnh khung hình có ảnh của mẹ Nam Hải về nhà để thờ cúng và mua một vài nhánh hoa tại đây mang về nhà để lấy lộc với giá cả phải chăng
Tuy nhiên mỗi khi lễ hội diễn ra thì nó còn gặp nhiều khó khăn gây ra không tốt cho hoạt động du lịch, làm giảm thiểu lượng khách vì họ cảm thấy không an tâm một
số vấn đề Tất cả đều do bởi xuất phát từ vấn đề mua bán nói thách, xả rác bừa bải, trộm cắp, xin tiền diễn ra xuyên suốt Cần tìm ra phương pháp kịp thời để giảm thiểu dần những hạn chế như vậy
Chắc chắn rằng nếu được quan tâm khắc phục khó khăn và trong tương lai công trình quy hoạch lại khu tượng Bà hoàn thành, sẽ tổ chức lễ hội Vía Bà hoành tráng hơn
và thu hút được đông đảo lượng khách tham gia
- Lễ hội Nghinh Ông
Lễ hội Nghinh Ông ở Bạc Liêu là phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, hưởng thụ văn hóa sinh hoạt của ngư dân Bạc Liêu Mặc dù là mang yếu tố tín ngưỡng địa phương nhưng điều đặc biệt là có khả năng thu hút cả du khách phương xa đến tham dự Đến với Bạc Liêu vào mùa lễ hội Nghinh Ông du khách sẽ thỏa thích thưởng thức với nhiều hoạt động náo nhiệt bao gồm hàng trăm tàu thuyền đánh bắt hải sản diễu hành ra vùng biển, dẫn đầu đoàn là những ghe lễ, có múa lăn, đánh trống, những người mặc đồ
lễ Nối theo đoàn phía sau là hàng trăm chiếc ghe của các ngư dân, được mọi người ví như cuộc hành quân Lễ thỉnh Lăng Ông Nam Hải, thả tôm giống ra biển, hội chợ thương mại thủy hải sản, hoạt động văn hóa văn nghệ, những trò chơi dân gian, giao lưu văn hóa ẩm thực Hàng năm lễ hội này của tỉnh thu hút trên hàng ngàn lượt khách tham gia chủ yếu theo nhu cầu tín ngưỡng và vui chơi giải trí
Du khách đến đây có cơ hội xem hoạt động trưng bày sách, tranh, ảnh, hiện vật
có liên quan đến nghề cá ở Bạc Liêu, họ sẽ hiểu hơn về cuộc sống cầm lưới của ngư dân Bên cạnh, du khách cũng có thể xem hoạt động vui chơi giải trí với chương trình biểu diễn văn nghệ, trò chơi dân gian như: thi thả diều, lội bắt vịt, thi cắt xê, vá lưới, đi
cà kheo…
Trang 35Muốn khai thác trọn vẹn giá trị của lễ hội trong du lịch, ngày nay lễ hội được tổ chức với quy mô ngày càng lớn, lan tỏa cả những tỉnh lân cận Trên 100 khách du lịch được khảo sát, thì kết quả cho thấy đây là lễ hội được khách quan tâm nhiều thứ nhì sau lễ Vía Bà Với sức hấp dẫn của lễ hội về nét văn hóa độc đáo của lễ hội, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã xây dựng kế hoạch kêu gọi người dân lưu giữ bản sắc dân tộc, nhằm tạo bước ngoặt thu hút du khách Đến với Bạc Liêu, ngay dịp lễ hội Nghinh Ông diễn ra thì có rất nhiều du khách không bỏ lở lễ hội này, họ trực tiếp hòa mình vào lễ hội, cùng vui chơi, cùng tận hưởng giá trị văn hóa đặc sắc của những người ngư dân
- Lễ hội Ok Om Bok
Đối với đồng bào Khmer khắp nơi nói chung và Khmer ở Bạc Liêu nói riêng thì đây là một trong những lễ hội lớn nhất của họ Tên “Ok Om Bok” hay Lễ Cúng Trăng được diễn ra vào thời gian 15/10 âm lịch hàng năm Lễ hội không chỉ thu hút những dân tộc Khmer mà tất cả du khách khắp nơi đều có thể tham gia lễ hội này, cùng hòa chung sinh khí vui tươi của một ngày hội lớn
Bạc Liêu vào mùa Lễ Cúng Trăng cũng là thời điểm lý thú của việc khai thác
du lịch, có đông đảo du khách tham dự với mục đích tín ngưỡng cũng như tham quan vui chơi giải trí Đến với Bạc Liêu trong thời gian này du khách có thể được thưởng thức món cốm dẹp, đây là món đồ cúng chính nhất trong lễ hội Ok Om Bok Đặc biệt hơn du khách có thể tận mắt để thưởng thức không khí sôi động của phần hội đó là những trò chơi truyền thống, hội đua ghe ngo truyền thống có thể khẳng định là phần chủ đạo nhất trong phần hội, du khách có thể thấy tấp nập người đến xem với những dòng ghe ngo liên tiếp và liên tiếp nối đuôi nhau trên tuyến sông chính Bạc Liêu để thi thố với nhau trên những chiếc ghe của mình, đây là một cuộc hội đua đầy tưng bừng
và náo nhiệt, sẽ để lại trong lòng khách du lịch cảm giác khó quên
2.2.3 Nghề và làng nghề truyền thống ở Bạc Liêu
2.2.3.1 Giới thiệu chung
Nếu như ĐBSCL là vùng đất phù sa màu mỡ, thì Bạc Liêu cũng không khác gì,
vì nó là một trong những bộ phận cấu thành ĐBSCL Chính mãnh đất chín rồng đã tạo nên Bạc Liêu cùng địa hình thuận lợi để sinh sống Nhu cầu của con người ngày càng
đa dạng, với bản tánh chăm chỉ họ đã tận dụng những thứ sẵn có mà vị trí địa lý, thiên nhiên ban tặng cho nguồn nguyên liệu phong phú, đa dạng để làm nên những vật dụng tiêu dùng hàng ngày Ban đầu để phục vụ cho cuộc sống, dần dần trở thành một làng nghề gắn bó với con người ở đây Những làng nghề thủ công hiện nay ở Bạc Liêu khá
đa dạng, không những sản xuất để phục vụ cho việc sinh hoạt gia đình mà quy mô mở rộng để đáp ứng nguồn cầu của xã hội Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở các làng nghề ngày càng trở nên đa dạng hơn về mẫu mã và phong phú hơn về loại hình. Một số làng nghề Bạc Liêu còn tồn tại đến ngày nay như: đan lưới, làm chổi, đan mây, dệt vải, dệt chiếu, chài lưới đánh bắt cá, tôm…
Trang 362.2.3.2 Một số nghề và làng nghề có ý nghĩa du lịch
- Làng nghề đan đát
Đến Bạc Liêu ghé thăm làng nghề đan đát nổi tiếng của tỉnh, là một niềm vui cho nhiều du khách Ở Bạc Liêu, làng nghề này được tỉnh xem là làng nghề đan đát đầu tiên và truyền thống nổi tiếng nhất của xã Vĩnh Phú Đông cũng như của tỉnh Bạc Liêu Viếng thăm làng nghề, du khách sẽ thấy rất nhiều bà con tham gia đan đát một cách điêu luyện Sẽ ngạc nhiên hơn vì những cây tre, lục bình, trúc mà họ có thể làm nên những sản phẩm tiện ích và tuyệt đẹp như thún, rỗ, xịa, bội gà, cần xé, mê bồ, túi xách, võng… Dòng sản phẩm này mang đậm nét vùng quê dân dã, vì vậy trở nên hấp dẫn đối với du khách
Bên cạnh đó, du khách cũng có thể mua một số sản phẩm làm lưu niệm do những nghệ nhân làm ra như cặp, giỏ hoa, đế đựng nước, đĩa bày hoa, khay Đánh giá được mức độ quan trọng của làng nghề đan đát trong du lịch, tỉnh đã tăng cường bảo tồn phát huy thêm những giá trị của làng nghề Tỉnh Bạc Liêu xác định được đối tượng khách chủ yếu đến đây vì mục đích tham quan nên đã quy hoạch địa bàn cụ thể và khuyến khích người dân làm ra lượng sản phẩm ngày càng đa dạng hơn, đòi hỏi tính thẩm mỹ qua những kiểu dáng, mẫu mã, cách trang trí nên những sản phẩm mang giá trị nghệ thuật cao, đậm đà xứ sở của vùng quê có khả năng thu hút du khách
Mặc dầu làng nghề này vẫn còn tồn tại nhưng cũng đứng trước khó khăn là làng nghề có nguy cơ giảm đi số lượng người dân tham gia sản xuất Đồng thời hệ thống giao thông, dịch vụ lưu trú ăn uống tại đây còn thiếu chất lượng, nên dẫn đến gây ra nhiều vấn đề không thuận lợi cho du khách Cần có cách nhìn đúng đắn từ các cấp lãnh đạo để đưa ra giải pháp kịp thời khắc phục một số vấn đề trên
- Nghề làm muối
Hương vị muối không thể thiếu trong khẩu vị bữa cơm của chúng ta nhưng mấy người lại biết được hạt muối làm ra như thế nào Chính sự tò mò đó mà dẫn đến nhu cầu tham quan cách làm muối của diêm dân nảy sinh trong chuyến du lịch Xác định được những nhu cầu này nên Bạc Liêu đã đưa vào khai thác du lịch thông qua tham quan những cánh đồng muối
Ghé thăm nghề làm muối ở Bạc Liêu đã có lâu đời, một làng nghề truyền thống của quê hương Bạc Liêu, du khách được tận mắt chứng kiến hoạt động làm muối của diêm dân cũng như những cánh đồng muối trắng xóa Đây là dịp để cho khách tham quan có cơ hội tiếp cận với diêm dân chân chất thật thà, họ sẽ kể cho khách biết quy trình làm muối như thế nào
Hầu hết du khách khắp nơi biết đến Bạc Liêu là một trong những vùng sản xuất muối lớn hàng đầu của các tỉnh miền Tây nên đã thúc đẩy họ đến đây tham quan Tỉnh đánh giá được hoạt động này có thể thu hút du lịch nên đã cho xây dựng một số tuyến giao thông nối với vài khu vực làm muối, khách đến đây chủ yếu có nhu cầu tham quan Cứ độ bước vào dịp nắng lên, nghề muối lại được bà con diêm dân bắt đầu làm
Trang 37muối và cũng chính từ lúc ấy là những công ty du lịch Bạc Liêu lại rộ lên thiết kế những chương trình du lịch cho du khách tham quan cánh đồng muối, một số du khách còn hứng thú nhảy xuống những mẫu muối tập tành làm cùng những diêm dân trong niềm vui phấn khởi Nghề này đã trở nên quá quen thuộc với những diêm dân nhưng đối với du khách mãi là một điểm du lịch với nhiều tiềm năng và chứa đầy sức hấp dẫn Tuy nhiên nghề làm muối có một mặt yếu kém là không thể hoạt động vào mùa mưa, việc đưa vào khai thác du lịch còn mang tính mùa vụ
- Nghề đánh bắt cá, tôm
Người dân Bạc Liêu sống chủ yếu làm nông nghiệp Nghề đánh bắt cá tôm là một nghề phổ biến của tỉnh Đi du lịch tại Bạc Liêu, nhiều du khách rất thích tham quan loại hình sản xuất của nghề này Thật hấp dẫn và thú vị khi tận mắt xem những chuyến thu hoạch của người dân sau những buổi đánh bắt
Đi dọc theo những con sông, con kênh trên những chiếc ghe hay xuồng ba lá,
du khách sẽ được tận mắt chứng kiến cảnh người dân đua nhau thu hoạch tôm cá bằng nhiều hình thức như: đống chà, giở chà, giăng lưới, chày, đục… tuy là quen thuộc với người dân nơi đây, nhưng đối với du khách phương xa nó có sức lôi cuốn vô cùng Đây là thế mạnh để đưa vào khai thác du lịch
Để phục vụ cho nhu cầu tham quan của du khách, nông dân ở đây cũng bắt đầu
đưa vào hoạt động du lịch trên những ao, mương nuôi tôm cá của mình Ông Nguyễn
Việt Thù - người làm nghề này lâu đời tại huyện Đông Hải kể: “Lúc đầu tôi có đọc một
tờ báo, thấy người ta đưa vào khai thác hoạt động du lịch trên những nhà vườn, tôi nghĩ mình không có vườn, nhưng mình cũng có thể làm du lịch theo hình thức kết hợp nghề nuôi cá tôm của gia đình Ngày nay tôi cảm thấy rất vui, khi ý tưởng mình được thực hiện Mỗi ngày có khá nhiều khách du lịch đến đây tham quan, tôi thấy họ rất phấn khởi với loại hình du lịch này” Nếu như loại hình du lịch ngày nay có sự trổi dậy của du lịch nông thôn thì nghề đánh bắt cá tôm cũng sẽ là một nghề có tiềm năng thu hút đông đảo sự tham quan của du khách, đặc biệt là khách du lịch ở thành thị cũng như khách nước ngoài Đến đây họ tham quan, cũng như được những người ngư dân chỉ dẫn cho cách đánh bắt cá, tôm và mua hải sản mang về với giá phải chăng Du khách được trực tiếp tham gia giăng lưới, chày lưới, câu cá để thu hoạch được những con cá, con tôm, thật sự là loại hình du lịch hấp dẫn Đây là lợi thế vững mạnh để phát huy tiềm năng du lịch của tỉnh nhà
Nhưng cũng cần phải quan tâm về một số vấn đề, hoạt động du lịch này phát triển không đồng bộ, thiếu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước nên có thể không đảm bảo an toàn cho du khách Người hoạt động du lịch không qua trường lớp đào tạo, thiếu trình độ chuyên môn Muốn khai thác hoạt động du lịch chất lượng thì cần phải tranh thủ khắc phục chúng
2.2.4 Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
2.2.4.1 Giới thiệu chung
Trang 38Vùng đất Bạc Liêu được hình thành trên 200 năm Cộng đồng dân cư Bạc Liêu buổi đầu đa số là những người tha phương cầu thực, trôi dạt đến đây để mưu sinh Thời gian này họ sống ở những gò đất cao, trên các bờ sông, các kinh xáng, vì nơi đây
dễ khai phá, có nguồn nước sinh hoạt và chống nước ngập Các dân tộc ở Bạc Liêu cùng nhau chung sức tương trợ, đoàn kết và thương yêu nhau nhằm vượt qua khó khăn
để khai phá cũng như canh tác tại đây, trong đó những dân tộc đóng góp công sức nhiều nhất là Kinh, Khmer, Hoa, họ chiếm gần như hầu hết cơ cấu dân số của tỉnh Người dân Bạc Liêu rất giản dị, có tính cách hòa đồng, chất phác, bộc trực, hào phóng Nhiều dân tộc ở đây đã góp nên sự đa dạng bản sắc dân tộc, mang lại dấu ấn riêng của vùng Tây Nam Bộ Mỗi dân tộc lại có một trang phục truyền thống, lối sống riêng tạo thêm sắc màu của dân tộc Người Bạc Liêu có tính ăn ngay nói thẳng, nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, hiếu khách và hào phóng Họ thích nói năng một cách ngắn gọn, xúc tích, không văn hoa mỹ tự, mà phải nói ngay nói đúng
Bạc Liêu được mọi người gọi là vùng đất cò bay thẳng cánh, người dân thưa thớt nên cũng hình thành phong cách ăn to nói lớn cho hàng xóm láng giềng nghe ý mình Cho đến ngày nay, những phẩm chất, tính cách Bạc Liêu vẫn được giữ gìn và phát huy Nếu ai đã từng đến Bạc Liêu một lần, họ đều hài lòng và bị lôi cuốn bởi tính cách của con người nơi đây, kiến trúc, cũng như những nét văn hóa độc đáo khác của những dân tộc, chính nhân tố này đã thay lời gọi mời của người Bạc Liêu đối với du khách Theo bảng khảo sát cho thấy có đến 79% du khách có cảm nhận tốt về người địa phương ở Bạc Liêu, họ nhận định cộng đồng địa phương rất hiếu khách, vui vẻ Đây là những mặt thuận lợi để tăng khả năng thu hút du khách ghé thăm Bạc Liêu Chính tính cách của con người Bạc Liêu như thế giúp cho du khách xích gần với mãnh đất này hơn, người dân ở đây luôn cởi mở sẳn sàng giúp đở tận tình không tính toán khi du khách lần đầu đến đây còn bở ngở
Mỗi dân tộc đóng góp một phần, góp chung lại thành một sức hút du lịch có khả năng thu hút khách thập phương xa gần đến đây, tìm hiểu đất và người nơi đây góp phần cho du lịch nhân văn Bạc Liêu phát triển hơn
2.2.4.2 Dân tộc Kinh
Người Kinh ở Bạc Liêu chiếm đến 90% dân số Câu nói “Nước có nguồn, người có tổ tiên” luôn khắc sâu trong mỗi con người nơi đây Từ ngày xưa cho đến nay, từ thế hệ này cho đến thế hệ khác thì vẫn không phai mờ tình cảm mà con cháu ở thế hệ mai sau dành cho thế hệ ông bà đi trước Để tỏ lòng nhớ cũng như biết ơn với những người đã mất, họ lập ra bàn thờ tổ tiên trong gia đình Hầu hết đến với gia đình của người Kinh, trước tiên bước vào cửa chính là thấy bàn thờ tổ tiên được đặt ngay
đó, đặc biệt ở phía dưới cửa chính có ngạch cửa, họ quan niệm vào nhà nhìn xuống ngạch cửa nghĩa là cuối đầu chào tổ tiên
Người Kinh ở Bạc Liêu luôn luôn lúc nào cũng tỏ ra hào phóng, hiếu khách Dù cho gia đình giàu hay nghèo nhưng khi có khách đến thì cũng được mời tách trà, ly
Trang 39rượu và dùng cơm, có thứ gì ăn được được, uống được là đem ra đãi khách hết Họ mời rất nhiệt tình, thậm chí nếu khách không ăn họ còn giận
“Anh em xa không bằng láng giềng gần” là được thể hiện rõ ở người Kinh tại Bạc Liêu, họ không phân biệt hàng xóm láng giềng, miễn ai gặp khó khăn gì là họ sẵn sàng giúp đỡ Hàng xóm có chuyện vui buồn cũng nhiệt tình vui chung niềm vui, chia
sẻ chung nỗi buồn Dựng nhà mới, đám cưới của nhà bên cạnh họ không sợ cực, bỏ ra vài ngày để giúp đỡ mà không lấy tiền bạc, chỉ được mời buổi cơm thế là quá đủ Đám
ma thì tiếp gia chủ coi nhà cửa, lo mọi công việc, không cần mời họ cũng đến
Người Kinh rất xem trọng cõi vô hình, họ nghĩ đó là thế giới siêu phàm chi phối
họ Chùa chiền, đình miếu trở nên quen thuộc, họ hay lui tới để thắp hương cầu tự Trong gia đình có thờ ông, thờ bà, thần tài thổ địa để ban phúc lành Ở Bạc Liêu, người Kinh có lễ hội cúng đình, thờ thần hoàng bổn cảnh có công với nước được triều đình nhà Nguyễn Sắc phong, đại lễ Kỳ Yên còn gọi là lễ thượng điền, lễ thắp miếu còn gọi là lễ hạ điền vào giữa tháng 12 âm lịch
Nói đến những món ngon của người Kinh thì rất nhiều, những món đó thật dân
dã không cầu kì mang đậm nét của xứ Triều Châu quê mùa, nhưng không kém phần hấp dẫn Từ cuộc sống, thiên nhiên ban tặng cho xứ này nhiều tôm, cua, cá nên đến với gia đình người Kinh nơi đây, thì món cá khô, canh chua cá lóc, cá khô kho tộ trở nên phổ biến đối với du khách
Cũng giống như những vùng khác trong cả nước, hình ảnh chiếc áo dài vẫn luôn được tồn tại trong trang phục truyền thống của Bạc Liêu Đặt chân đến xứ Bạc Liêu du khách sẽ tìm hiểu được thêm nhiều nét văn hóa đặc sắc, và sẽ bị cuốn hút bởi lối sinh hoạt của người Kinh
2.2.4.3 Dân tộc Khmer
Người Khmer ít hơn người Kinh rất nhiều chỉ chiếm khoảng 7,5% dân số của tỉnh Họ sống rải rác ở các huyện trong tỉnh và tập trung đông nhất ở huyện Vĩnh Lợi, huyện Hồng Dân và thành phố Bạc Liêu Họ sống bằng nghề nông và một ít làm nghề nuôi trồng thủy sản Người Khmer ở Bạc Liêu có cuộc sống nghèo nàn lạc hậu nhưng
đa dạng nét văn hoá Nhắc đến người Khmer thì nghĩ ngay đến những ngôi chùa mang nét đẹp văn hoá độc đáo của người Khmer, kể cả tín ngưỡng và nghệ thuật kiến trúc Chùa của họ xây bằng gạch đá, quy mô với những mái nhọn lợp, trong và ngoài chùa trang trí hoa văn điêu khắc công phu, đẹp mắt Một số ngôi chùa Khmer thu hút khách
du lịch như chùa Xiêm Cán, chùa Cỏ Thum…
Khác với người Kinh là thờ tổ tiên tại nhà, nếu có người thân mất thì phải hỏa thiêu rồi đem hài cốt về chùa thờ cúng Bởi vậy chùa chính là nơi hội tụ của đông đồng bào Khmer, mang tính rất thiêng Vào dịp lễ Dolta, có tên gọi khác là lễ cúng ông bà hay lễ xá tội vong nhân theo đạo lý nhà Phật, lễ kéo dài nữa tháng từ cuối tháng 9 đến
15 tháng 10 âm lịch hàng năm để cho tất cả người Khmer cúng những người đã khuất tại chùa Ngoài ra có lễ hội cúng trăng (Oóc-Om-Boóc) vào ngày rằm tháng 10 âm
Trang 40lịch, Chaul Chnam Thmay vào giữa tháng 4 dương lịch… có sự tham gia của nhiều du
khách trong và ngoài tỉnh
Ngày nay do cuộc sống ngày càng hội nhập, trang phục của người Khmer lai nhiều với người Kinh, nhưng vào dịp lễ hội thì trang phục truyền thống của họ không phai mờ, đó là bộ đồ Xà rông quấn thêm chiếc khăn hoa văn sặc sở, đã điểm tô thêm
vẻ đẹp của người Khmer Theo các nhà nghiên cứu thì chiếc khăn rằn có nguồn gốc từ người Khmer, là chiếc khăn được dùng bởi nam và nữ Chức năng chủ yếu là để lao
mồ hôi sau công việc mệt nhọc Vào khoảng cuối thế kỷ XX khi mà Việt Nam với sự
du nhập với phương Tây, những trang phục truyền thống được thay thế bằng chiếc áo vét-tông, áo sơmi, quần tây… Tất cả những người Khmer được xem như là một đại gia tộc vì những người nam thì có chung là họ Chau, còn nữ thì họ Neang
Hầu hết món ăn của mỗi vùng miền đều gắn liền với những thứ sẵn có mà thiên nhiên ở vùng đó ban tặng Đúng vậy, đối với văn hóa ẩm thực của cộng đồng dân tộc Khmer nói chung và dân tộc Khmer ở Bạc Liêu nói riêng thì nghệ thuật ẩm thực xuất phát từ một nền văn minh lúa nước Với ruộng lúa mênh mông cùng với nhiều sông ngòi, là nơi có lượng cá phong phú và thậm chí dư thừa Thời điểm này họ nảy sinh ra làm mắm, dần dần món mắm trở thành món ăn chính thức quan trọng của người Khmer
Người Khmer quanh năm phải sống trong thời tiết và thiên nhiên khắc nghiệt nên họ có một khẩu vị đặc trưng Khẩu vị của họ nếu những món mặn thì mặn đến tê
đầu lưỡi, món đắng thì đắng đến thanh cổ họng Người Khmer xưa thường dùng tay
không để đưa các loại thức ăn vào miệng thay cho đôi đũa vì họ thiết nghĩ ăn sao cho gọn và nhanh là được Nhưng ngày nay với sự hội nhập của lối sống hiện đại, cách ăn thay bằng việc sử dụng nĩa, đũa, muỗng Nhìn chung một số món ăn đặc trưng của người Khmer ở Bạc Liêu như: món bún nước lèo, món canh xiêm lo, món cốm dẹp, món bánh xèo…
Ẩm thực, trang phục, lối kiến trúc, phong tục tập quán của người Khmer sẽ thể hiện với du khách rõ hơn khi họ đến Bạc Liêu, tất cả sẽ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng khách tham quan
2.2.4.4 Dân tộc Hoa
So với dân tộc Kinh và Khmer thì Hoa chiếm chỉ có 2% dân số của tỉnh Họ sống tập trung ở thành phố Bạc Liêu, nhìn chung họ có cuộc sống sung túc và no ấm, đầu óc thông minh có khả năng tính toán kinh doanh Người Hoa luôn mạnh dạn đầu
tư buôn bán vào những ngành nghề cho lợi nhuận kinh tế cao, và hầu hết là họ thành công Hoạt động văn hoá của người Hoa cũng rất phong phú, tín ngưỡng văn hóa dân gian như thờ Ông Bổn, bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân… Đồng bào Hoa còn có
lễ hội Thanh Minh diễn ra vào tháng 3 âm lịch Họ sống với nhau đoàn kết tương trợ yêu thương lẫn nhau với tinh thần lá lành đùm lá rách Người Hoa sống rất thiệt thà, họ
ít vướng vào tệ nạn xã hội, phần lớn chỉ tập trung vào buôn bán để cải thiện cuộc sống