“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ - DU LỊCH
NGUYỄN LINH CÓ MSSV: 6075747
TÀI NGUYÊN DU LỊCH CÀ MAU VÀ VẤN ĐỀ
Trang 3và toàn thể tất cả các bạn sinh viên lớp Du Lịch khóa 33 Đặc biệt là gởi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc nhất đến thầy Đào Ngọc Cảnh trưởng Bộ môn Lịch sử - Địa lý
& Du lịch Thầy là người đã trực tiếp giới thiệu và hướng dẫn, giúp tôi từng bước hoàn thành đề tài luận văn này Xin gởi riêng lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc đến thầy, cô, các cơ quan và tất cả các bạn
Tuy đã cố gắng hết sức để thực hiện đề tài này nhưng do nhiều yếu tố chủ quan
và khách quan cũng như lượng thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp, chia sẻ và thông cảm của quý thầy cô và các bạn để đề tài luận văn tốt nghiệp này hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 25 tháng 04 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Linh Có
Trang 5MỤC LỤC
1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch đối với sự phát triển du lịch 14
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề khai thác tài nguyên du lịch Cà Mau 43
2.4.2.3 Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí và các tiện nghi khác 47
Trang 6Chương 3 HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC TNDL PHỤC
3.1.2.1 Khái quát chung về hiện trạng khai thác TNDL Cà Mau 52 3.1.2.2 Hiện trạng khai thác TNDL tại một số điểm và địa bàn du lịch chủ yếu 52 3.1.2.3 Đánh giá chung về hiện trạng khai thác TNDL Cà Mau 56
3.2.3 Định hướng khai thác TNDL cho từng địa bàn, từng điểm và khu du lịch 58 3.2.3.1 Địa bàn nội ô thành phố Cà Mau và phụ cận 58
3.3.1.1 Giải pháp quy hoạch khu du lịch quốc gia rừng ngập mặn Cà Mau 60
3.3.1.3 Giải pháp quy hoạch khu du lịch Hòn Đá Bạc 60 3.3.1.4 Giải pháp quy hoạch khu du lịch Khai Long 61
Phụ lục 1 Một số tuyến điểm du lịch và Công ty Dịch vụ - Lữ hành 71 Phụ lục 2 Danh sách cơ sở vật chất phục vụ du lịch ở Cà Mau 72
Trang 7- KCN: Khu công nghiệp
- GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
- ASEAN: Association of Southeast Asia Nations (Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á)
- VQG: Vườn quốc gia
- IUCN: International Union for Conservation of Nature and Natural Resources
(Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới)
- UNESSCO: United Nations Educational scientific and Cutural Organization (Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
- Tp: Thành phố
- LNT: Lâm ngư trường
- UBND: Ủy ban nhân dân
- HĐND: Hội đồng nhân dân
- TT: Thị trấn
- CVVH: Công viên Văn hóa
- HDV: Hướng dẫn viên
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH
1 Danh mục các hình:
- Hình 1: Bảng đồ Hành chính Cà Mau
- Hình 2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau năm 2010 (tr.19)
- Hình 3: Bảng đồ tài nguyên du lịch tự nhiên Cà Mau
- Hình 4: Bảng đồ tài nguyên du lịch nhân văn Cà Mau
- Hình 5: Biểu đồ số lượng khách du lịch đến Cà Mau giai đoạn 2001 - 2010
(tr.50)
- Hình 6: Biểu đồ doanh thu du lịch tỉnh Cà Mau giai đoạn 2001 - 2010 (tr.51)
2 Danh mục các bảng:
- Bảng 1: Cơ cấu giá trị tổng sản phẩm (GDP) tỉnh Cà Mau năm 2010 (tr.18)
- Bảng 2: Các di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng cấp Quốc gia (tr.29)
- Bảng 3: Tổng số cơ sở lưu trú phục vụ du lịch của tỉnh Cà Mau giai đoạn
2005 - 2010 (tr.45)
- Bảng 4: Một số nhà hàng, quán ăn tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Cà Mau (tr.46)
- Bảng 5: Lực lượng lao động du lịch Cà Mau giai đoạn 2005 - 2010 (tr.48)
- Bảng 6: Tình hình khách du lịch đến Cà Mau giai đoạn 2001 - 2010 (tr.49)
- Bảng 7: Doanh thu từ du lịch Cà Mau giai đoạn 2001 - 2010 (tr.51)
- Bảng 8: Lượng khách đến các khu - điểm du lịch ở Cà Mau giai đoạn
2006 - 2010 (tr.52)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới nhu cầu về du lịch ngày càng trở nên cấp thiết và không thể nào thiếu được đối với đời sống mỗi con người chúng ta Vì vậy mà trong những năm trở lại đây hoạt động du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong đó
có Việt Nam Du lịch được xem là một trong những ngành có tầm quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Là một tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL - Cà Mau mảnh đất cuối trời Tổ quốc Việt Nam Nơi gắn liền với những khu rừng đước, rừng tràm bạt ngàn mênh mông, nơi đất lành chim đậu, cùng với những bãi bồi đang lấn dần ra biển, Bên cạnh đó tạo hóa và thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất Cà Mau nhiều thắng cảnh đẹp làm say đắm khách thập phương như: Mũi Cà Mau, bãi biển Khai Long, Cụm đảo Hòn Khoai, đầm Thị Tường, Cồn Ông Trang, hòn Đá Bạc tất cả đã để lại trong lòng người và du khách sự yêu mến, ngưỡng mộ về cảnh vật hữu tình của vùng đất cuối trời thân yêu này
Thêm vào đó, bàn tay của con người đã điểm tô cho vùng đất này những trang
sử hào hùng của một thời khai hoang mở cõi, đấu tranh chống quân xâm lược với những đình làng và di tích lịch sử vẫn còn được bảo tồn và lưu giữ cho đến ngày nay
Tất cả các yếu tố trên đã trở thành một tài nguyên du lịch vô giá, là điều kiện thuận lợi để Cà Mau phát triển du lịch, thu hút du khách Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Cà Mau trong những năm qua vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của mình Hoạt động du lịch còn nhiều vấn đề đặt ra như: vấn
đề sản phẩm du lịch, vấn đề về môi trường, vấn đề khai thác TNDL phục vụ du lịch, vấn đề đầu tư cở sở vật chất, hạ tầng cho du lịch còn ở mức khiêm tốn, thiếu đồng bộ nên chưa có sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách
Là một người con sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất Cà Mau, tôi mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới, phát triển
kinh tế của quê hương Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề tài: “Tài nguyên du lịch
Cà Mau và vấn đề phát triển du lịch” để nghiên cứu, tìm hiểu và làm luận văn tốt
nghiệp
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu:
- Phân tích tài nguyên du lịch Cà Mau
- Đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch Cà Mau
- Một số định hướng khai thác tài nguyên du lịch ở Cà Mau trong việc phát triển du lịch
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tài nguyên du lịch Cà Mau bao gồm: TNDL
Trang 11Phạm vi nghiên cứu: trên địa bàn tỉnh Cà Mau
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
TNDL là cơ sở, nền tảng để phát triển ngành kinh tế du lịch của mỗi địa phương, mỗi vùng và mỗi quốc gia trên thế giới Vì thế, mà TNDL luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều cơ quan, ban ngành Đặc biệt là đối với những người làm công tác nghiên cứu về du lịch
Trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu đó cần phải nhắc đến là quyển sách “Du lịch ba miền” của tác giả Bửu Ngôn đã giới thiệu các điểm du lịch hấp dẫn 3 miền Bắc - Trung - Nam của Việt Nam, với nhiều bản đồ chi tiết của các tỉnh, thành phố, rất thuận lợi cho những người đi du lịch; Nguyễn Minh Tuệ cùng với tập thể tác giả soạn thảo của mình nghiên cứu và phân tích sâu về tiềm năng du lịch ở mỗi vùng
có giá trị trong và ngoài nước với quyển sách “Địa lý du lịch” Thông qua đó người làm công tác du lịch có thể xác định những tuyến, điểm du lịch thích hợp để tổ chức các hoạt động du lịch cho phù hợp với khách du lịch trong nước và quốc tế
Bên cạnh đó tác giả Bùi Hải Yến và Phạm Hồng Long cũng đã nghiên cứu và
đề cập tới vấn đề chung về TNDL Việt Nam, về khái niệm du lịch, về chức năng và phân loại TNDL cũng như việc quản lý khai thác, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên, môi trường du lịch của đất nước
Nhà văn Sơn Nam với quyển sách “ĐBSCL nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn” Qua đó tác giả đã cho bạn đọc tìm hiểu về những giá trị văn hóa ĐBSCL qua những nét sinh hoạt truyền thống và nền văn minh sông nước, tìm hiểu về nếp ăn, nếp
ở, tập quán sinh hoạt của một bộ phận người đã tạo nên diện mạo của một vùng văn hóa ĐBSCL
Và khi nói đến TNDL Cà Mau thì sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau cũng đã từng đề cập tới vấn đề này, với quyển sách “Cà Mau đón chào quý khách” Quyển sách đã giới thiệu sơ lược về tiềm năng du lịch Cà Mau, về những danh lam thắng cảnh, cùng với các di tích lịch sử văn hóa, cũng như ẩm thực và các làng nghề truyền thống ở vùng đất cuối trời này Tuy nhiên quyển sách chỉ dừng lại ở góc
độ giới thiệu sơ lược, chưa có sự nhận định, hay đánh giá sâu sắc về TNDL Cà Mau, cũng như vấn đề phát triển du lịch ở Cà Mau Và đặc biệt phải kể đến đó là “Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020” là một cơ sở để thông qua đó, các nhà chuyên môn cũng như những người làm công tác du lịch dựa vào đó làm nền tảng để quy hoạch, khai thác TNDL Cà Mau cho phù hợp với tình hình và xu hướng phát triển trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên các vấn đề được nêu ra chưa được thực hiện và triển khai một cách có hiệu quả, cũng như chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của mình Do đó mà phương hướng khai thác cho từng điểm, khu du lịch chủ yếu vẫn chưa được thực hiện một cách sát sao
Trang 12Nhưng nhìn chung lại, hiện nay các vấn đề nghiên cứu về TNDL Cà Mau (kể cả
tự nhiên và nhân văn) thật sự chưa có một tài liệu, tư liệu chính thống nào nghiên cứu sâu về vấn đề này Trong quá trình khai thác và hoạt động du lịch chủ yếu chỉ dựa trên những TNDL sẵn có để khai thác, chứ chưa theo một kế hoạch, chính sách nào cụ thể Xuất phát từ thực trạng vấn đề trên, dưới góc nhìn là một sinh viên ngành du lịch tôi cũng xin đóng góp thêm bài nghiên cứu của mình về “TNDL Cà Mau và vấn đề phát triển du lịch” để tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu
5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.3 Quan điểm viễn cảnh
Đây là sự nhận thức về bước tiến của vấn đề đang nghiên cứu trong tương lai dựa trên các nhận thức từ hiện tại của nó Thông thường quan điểm viễn cảnh mang nhiều yếu tố cảm nhận chủ quan song cũng phải dựa trên những cơ sở xác định nào đó Với quan điểm này sẽ giúp cho người nghiên cứu dự đoán được, định hướng được bước phát triển kế tiếp của sự vật, hiện tượng đó trong tương lai sau khi đã nhìn nhận lại một cách đầy đủ ở quá khứ và hiện tại
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin tư liệu
Thu thập các thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng
có sự chọn lọc, đánh giá và so sánh với thực tế Những nguồn thông tin, tư liệu và những lĩnh vực được sử dụng bao gồm: số liệu, tư liệu từ sách, báo, tạp chí, số liệu
Trang 13Những tư liệu này sau khi thu thập được tiến hành xử lý, phân tích, đánh giá, tổng hợp lại sao cho phù hợp, đáp ứng một cách đầy đủ nhất, chính xác nhất cho đề tài nghiên cứu
6.2 Phương pháp khảo sát thực tế
Dựa trên các đối tượng thực tế cụ thể, những tư liệu đã thu thập được từ các nguồn khác nhau Từ đó tiến hành thâm nhập khảo sát thực tế để trực tiếp xem xét, nhìn nhận đối tượng một cách trực tiếp, khách quan, chính xác để lấy thông tin, tư liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu Cụ thể để tiến hành đề tài này tôi đã đi thực tế tại nhiều điểm du lịch ở Cà Mau như: Khu du lịch Hòn Đá Bạc, Chùa Quan Âm Cổ
Tự, Chợ nổi Cà Mau, Công viên văn hóa Cà Mau, Đình Tân Hưng…
6.3 Phương pháp sử dụng bản đồ
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã xây dựng và sử dụng nhiều bản đồ khác nhau để cụ thể hóa, hình tượng hóa, để có những so sánh chính xác về các đối tượng nghiên cứu Luận văn này sử dụng thông tin từ các bản đồ: Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau, bản đồ du lịch Cà Mau…
Với phương pháp này sẽ giúp cho người nghiên cứu thu thập thông tin về số lượng, về mật độ phân bố các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn ở Cà Mau
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm du lịch
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể
thiếu được trong đời sống văn hóa - xã hội Chính vì vậy mà thuật ngữ “du lịch” đã trở nên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi
Theo “Pháp lệnh du lịch” do Chủ tịch nước ta kí ngày 20/02/1999, du lịch là
hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thõa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định
Tuy nhiên, cho đến ngày nay nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa được thống nhất Chính vì vậy, mà khi nói đến khái niệm du lịch thì có rất nhiều khái niệm khác nhau, do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, thì mỗi học giả nghiên cứu có một cách hiểu về du lịch khác nhau và họ đã đưa ra những khái niệm và nhận định riêng theo cách hiểu của mình về du lịch Đúng
như một chuyên gia về du lịch đã nhận định: “đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”
Là một trong số những học giả đưa ra khái niệm ngắn gọn nhất (tuy không phải
là đơn giản nhất), viện sĩ Nguyễn Khắc Viện đã khẳng định “du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người”
Theo tài liệu “Du lịch và kinh doanh du lịch”, TS Trần Nhạn cho rằng: Du lịch
là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1995)
Tác giả Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải lại đưa ra khái niệm: “du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác” (Tài liệu “Thống kê du lịch” - Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1990)
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ở Roma (21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn
từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải
là nơi làm việc của họ”
Qua những định nghĩa trên có thể hiểu được khái niệm về du lịch ở nhiều góc
Trang 15“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự
di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (I.I
Trang 16Chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở khía cạnh khác Đó là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế, kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước
1.1.3.2 Chức năng sinh thái
Chức năng này thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố tác động đến việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người
Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích
du lịch
Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của khách du lịch và của việc xây dựng các cơ
sở vật chất phục vụ du lịch Như vậy du lịch - bảo vệ môi trường là những hoạt động gần gũi và liên quan với nhau
1.1.3.3 Chức năng xã hội
Thể hiện ở vai trò trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe và tăng cường sức khỏe cho nhân dân Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người
Đồng thời thông qua hoạt động du lịch, nhân loại có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú, lâu đời, giúp họ tăng thêm lòng yêu nước, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, giúp nhân cách của mỗi cá nhân phát triển một cách cân đối và hoàn thiện hơn
Trang 171.1.3.4 Chức năng chính trị
Chức năng chính trị của du lịch thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc, giúp cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc
1.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch
vụ
Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên cùng cảnh quan nhân văn (văn hóa) có thể được sử dụng cho dịch
vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch
Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “là những tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử
và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu
du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”
Theo Ts Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch” (Địa lý du lịch - Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1996)
Khoản 4 (Điều 4, chương I) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
“TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm
du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”
Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì mức độ tập trung cũng như sức hấp dẫn đối với khách du lịch và hiệu quả hoạt động, kinh doanh du lịch càng cao bấy nhiêu
Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, việc khai thác phụ thuộc vào nhiều điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật, chính trị nên ngày càng được mở rộng
Do vậy, tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên du lịch đã, đang khai thác và tài nguyên du lịch chưa được khai thác
Từ đó có thể hiểu: “Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được
Trang 18bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành Du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”
1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch
Theo tài liệu “Địa lý du lịch” của Ts Nguyễn Minh Tuệ - Nxb Tp Hồ Chí
Minh, 1996 thì tài nguyên du lịch có thể chia làm hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
- Tài nguyên tự nhiên gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, các
lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác
1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Nó bao gồm các yếu tố, các thành phần tự nhiên, các hiện tượng
tự nhiên, các quá trình biến đổi chung hoặc có thể được khai thác và sử dụng vào đời sống và sản xuất của con người
Tài nguyên du lịch tự nhiên có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ và được lôi cuốn vào phục
vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch
Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
“Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn tồn tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, có mối quan hệ qua lại tương hỗ chặt chẽ, theo những quy luật của tự nhiên
Các tài nguyên tự nhiên luôn luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như các điều kiện văn hóa, kinh tế - xã hội và cũng thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn
Các thành phần của tự nhiên:
Trong các thành phần của tự nhiên có một số thành phần chính hấp dẫn du khách đã, đang hoặc có thể khai thác phục vụ cho mục đích du lịch gồm: địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn và sinh vật
a Địa chất - địa hình - địa mạo
Đối với hoạt động du lịch, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt, ngoạn mục
có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch Đồng thời, sự kết hợp của địa hình với các dạng tài nguyên nước, khí hậu, sinh vật tạo nên các cảnh quan tự nhiên, kỳ thú, là những yếu tố hấp dẫn du khách Ngoài ra, các yếu tố khác của địa hình như: độ dốc của địa
Trang 19Các đơn vị hình thái chính của địa hình là đồi núi, cao nguyên, đồng bằng, ven biển và đảo
Ngoài các dạng địa hình chính nêu trên thì còn có nhiều dạng địa hình đặc biệt
có giá trị rất lớn cho việc triển khai phát triển và tổ chức các hoạt động du lịch, đó là: kiểu địa hình Karst (đá vôi) và kiểu địa hình ven bờ - bãi biển và đảo
b Tài nguyên khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch, là sự tổng hợp các yếu tố bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt và các hiện tượng thời tiết đặc biệt… tất cả đều có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các loại hình du lịch Trong đó đáng chú ý là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và độ ẩm không khí
Qua nghiên cứu và thực tế cho thấy, những nơi có điều kiện khí hậu ôn hòa thường được khách du lịch ưa thích Những nơi có các yếu tố khí hậu quá lạnh, quá nóng, độ ẩm quá cao hoặc quá thấp, tốc độ gió mạnh, ít ánh nắng,… thường ít thu hút khách du lịch và không thích hợp cho sự phát triển du lịch Đặc biệt đối với mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau, điều kiện khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chuyến du lịch, hoạt động du lịch và tính mùa vụ
của du lịch
Có thể nói khí hậu là tài nguyên du lịch quan trọng cho du lịch và phát triển các loại hình du lịch Khí hậu có ảnh hưởng đến sức khỏe con người, phục vụ cho việc an dưỡng, chữa bệnh, cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí và còn quyết định đến tính mùa vụ của hoạt động du lịch
c Tài nguyên nước
Nước được coi là tài nguyên quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nói chung và để phát triển nhiều loại hình du lịch Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa rất lớn Nó bao gồm: đại dương, biển, sông, hồ chứa nước nhân tạo, suối, karstơ, thác nước, suối phun… trong du lịch nước được sử dụng tùy theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia Nói chung, giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 180C, đối với trẻ em là trên 200C Cùng với các chỉ tiêu cơ bản trên, cần chú ý đến tần số và tính chất sóng của dòng chảy, độ sạch của nước…
Trong các loại tài nguyên nước, nguồn nước có giá trị đặc biệt quan trọng trong
du lịch cần phải nhắc đến đó là nguồn nước khoáng Đây là nguồn tài nguyên có giá trị
du lịch an dưỡng và chữa bệnh
Các điểm nước khoáng, suối khoáng nóng là tài nguyên thiên nhiên quý để triển khai các loại hình du lịch, nghĩ dưỡng, tắm khoáng, chữa bệnh
d Tài nguyên sinh vật
Hiện nay, khi mức sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch và giải trí trở thành nhu cầu cấp thiết Thị hiếu về du lịch ngày
Trang 20càng trở nên đa dạng và phong phú Sau những ngày làm việc mệt nhọc và căng thẳng, con người muốn được thư giãn và hòa mình vào thiên nhiên Từ đó xuất hiện một hình thức du lịch mới, với sức hấp dẫn rất lớn khách du lịch Đó là du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là các loài động - thực vật, việc tham quan du lịch trong thế giới động thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống và có ý thức bảo vệ thiên nhiên
Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên lục địa và dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc, lai tạo
Tài nguyên sinh vật vừa góp phần cùng với các loại tài nguyên khác tạo nên phong cảnh đẹp, hấp dẫn, vừa có ý nghĩa bảo vệ môi trường, vừa là nguồn cung cấp nhiều loại dược liệu cho việc phát triển loại hình du lịch chữa bệnh và an dưỡng; cung cấp nguồn thực phẩm cho du khách Vì vậy, tài nguyên sinh vật có ý nghĩa cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái,
đi bộ, leo núi, lặn biển, tham quan, nghiên cứu, cùng với tài nguyên nước và địa hình góp phần phát triển du lịch sông nước, miệt vườn
1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, do con người sáng tạo ra Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc điểm rất khác biệt so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển
du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn
Hay nói một cách ngắn gọn hơn, tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn giải trí, ít bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở các khu vực quần cư, mức độ thu hút khách, nhìn chung, có sự lựa chọn (khách có trình độ văn hóa, có yêu cầu nhận thức,…)
Tài nguyên nhân văn ở nước ta rất đa dạng, phong phú Các loại tài nguyên nhân văn quan trọng hàng đầu là các di tích lịch sử - văn hóa; các lễ hội; nghề và làng nghề thủ công truyền thống; ẩm thực; nghệ thuật; thơ ca và văn học;…
Phân loại TNDL nhân văn
a Di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong
đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại
Trang 21Di tích lịch sử văn hóa chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật, là tài sản vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia nói riêng, của cả nhân loại nói chung Vì vậy, nhiều di tích lịch sử văn hóa đã trở thành đối tượng tham quan, nghiên cứu, thực hiện các nghi lễ tâm linh của nhiều du khách và là nguồn tài nguyên du lịch quý giá, có khả năng đặc biệt thu hút khách du lịch
Theo quy định xếp hạng của Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch) di tích lịch sử - văn hóa và danh lam, thắng cảnh quốc gia và địa phương được phân chia thành các loại sau: Các di tích khảo cổ; Di tích lịch sử; Di tích kiến trúc nghệ thuật; Các danh lam thắng cảnh; Các công trình đương đại
b Các lễ hội
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc và vất vả Lễ hội là dịp để mọi người thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên, những người có công với địa phương và với đất nước, có liên quan đến những nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, ôn lại những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống hoặc hướng
về một sự kiện lịch sử - văn hóa, kinh tế trọng đại của địa phương, của đất nước hoặc
là những hoạt động vui chơi giải trí, là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng
Như vậy, lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống có sức lôi cuốn đông đảo người tham gia và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân dân Đồng thời, lễ hội đã trở thành tài nguyên du lịch nhân văn quý giá hấp dẫn du khách, là quốc hồn, quốc túy của dân tộc Lễ hội góp phần cùng với các tài nguyên nhân văn khác tạo ra những giá trị văn hóa đa dạng, phong phú, đặc sắc của mỗi vùng đất, mỗi quốc gia
Lễ hội xuất hiện vào thời điểm thiêng liêng của sự chuyển tiếp giữa hai mùa, đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ lao động, chuẩn bị bước sang một chu kỳ mới Lễ hội tập trung nhất vào mùa xuân, ngoài ra còn có Hội thu
Lễ hội bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội
+ Phần lễ: Phần nghi lễ trong lễ hội có ý nghĩa thiêng liêng chứa đựng những
giá trị văn hóa truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư duy triết học của cộng đồng
+ Phần hội: thường diễn ra những hoạt động điển hình tượng trưng cho tâm lí
cộng đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của cả dân tộc với thực tế lịch sử, với xã hội và thiên nhiên Trong phần hội thường tổ chức vui chơi giải trí, biểu diễn văn hóa nghệ thuật, những đêm thi nghề, thi hát tượng trưng cho sự nhớ ơn người xưa Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất đều được đưa ra phô diễn, đem lại niềm vui cho mọi người Phần hội thường gắn liền với tình yêu, giao duyên nam nữ nên đậm nét thi vị
Như vậy, có thể nói lễ hội là đối tượng hấp dẫn khách du lịch, bởi vì thông qua
đó, họ có thể hiểu biết thêm về phong tục, tập quán, lối sống cũng như truyền thống
Trang 22lịch sử của địa phương Nó lôi cuốn khách du lịch không thua kém gì các di tích văn hóa - lịch sử
c Nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công truyền thống là nghề mà các công đoạn sản xuất tạo ra sản phẩm chủ yếu bằng các công cụ sản xuất thô sơ và bằng chính tài nghệ tinh xảo, khéo léo của các nghệ nhân Các sản phẩm của các nghề thủ công cổ truyền không những mang những giá trị sử dụng mà còn có giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng và được gìn giữ phát triển, lưu truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
Chính vì vậy, nghệ thuật sản xuất hàng thủ công cổ truyền và các làng nghề thủ công truyền thống là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quý giá, hấp dẫn du khách, nhất là khách du lịch quốc tế đến từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển, nơi mà nghề và làng nghề thủ công cổ truyền đã bị mai một nhiều
Ngoài các tài nguyên du lịch nhân văn nêu trên thì các hoạt động khác như văn hóa nghệ thuật, ẩm thực cũng là nguồn tài nguyên du lịch quý giá, hấp dẫn và cũng có tác động đến hoạt động du lịch
d Văn hóa nghệ thuật
Trong quá trình lịch sử phát triển ở mỗi quốc gia, các nghệ nhân dân gian cùng với nhân dân đã sáng tạo, nuôi dưỡng, bảo tồn được nhiều làn điệu dân ca, điệu múa, bản nhạc, các loại nhạc cụ, các loại hình biểu diễn nghệ thuật nói chung,…
Những giá trị văn hóa nghệ thuật là món ăn tinh thần của nhân loại, thể hiện giá trị thẩm mỹ, truyền thống và bản sắc văn hóa, tâm tư, tình cảm, ước vọng của con người, là tài sản văn hóa vô giá, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách, nhất là du khách quốc tế Bởi vì nó vừa mang lại cho du khách sự thư giãn, vui vẻ, nâng cao đời sống tinh thần, làm lãng quên bao lo toan, vất vả thường nhật; vừa mang lại sự nhận thức, cảm nhận cái đẹp, giúp cho du khách có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi, nhất là vào ban đêm
e Văn hóa ẩm thực
Ăn uống là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được đối với mọi người Do đó nó cũng là một loại hình văn hóa riêng biệt của mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới Bởi vậy nó cũng tạo ra sức hút du lịch rất lớn cho du khách
f Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục
lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong qui hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc,… tạo ra sức hấp
Trang 23g Các hoạt động mang tính sự kiện
Các hoạt động mang tính sự kiện như: liên hoan phim ảnh, ca nhạc quốc tế, các giải thể thao lớn… cũng được coi là tài nguyên có ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch
Các địa phương, các quốc gia đứng ra đăng cai tổ chức các sự kiện lớn như: liên quan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nghệ thuật, các cuộc thi đấu thể thao lớn, biểu diễn balê, các cuộc thi hoa hậu, thi giọng hát hay, các cuộc triển lãm, những thành tựu kinh
tế khoa học kỹ thuật, các hội nghị, hội thảo lớn, các lễ hội điển hình cũng là những đối tượng hấp dẫn du khách và là điều kiện, tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình
du lịch MICE
Những hoạt động mang tính sự kiện thường được tổ chức ở các thủ đô và thành phố lớn, nơi có các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng cũng như nguồn nhân lực phong phú, chất lượng cao,…
Các đối tượng văn hóa - thể thao thu hút không chỉ khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu, mà còn thu hút đa số khách đi du lịch với các mục đích khác, ở các lĩnh vực khác và từ nơi khác đến Do vậy, tất cả các thành phố có các đối tượng văn hóa hoặc tổ chức những hoạt động văn hóa - thể thao đều được nhiều khách tới thăm và đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia, các khu vực
và là hạt nhân tạo vùng du lịch
1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch đối với sự phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch có các vai trò đối với hoạt động du lịch như sau:
- Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch
Trong các hệ thống lãnh thổ du lịch, tài nguyên du lịch là những phân hệ giữ vai trò quan trọng và quyết định sự phát triển du lịch của hệ thống lãnh thổ du lịch Đặc biệt, tài nguyên du lịch có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với các phân hệ khác và với môi trường kinh tế - xã hội Do vậy tài nguyên du lịch là nhân tố quan trọng hàng đầu để tạo nên sản phẩm du lịch
Để hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, các sản phẩm du lịch cũng cần phải đa dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ Chính sự phong phú, đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch
và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng Chất lượng của tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả của hoạt động du lịch
- Tài nguyên du lịch là mục đích chuyến đi của du khách và tạo những điều kiện thuận lợi để đáp ứng các nhu cầu của họ trong chuyến đi
Hoạt động du lịch có phát triển hay không, hiệu quả kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào yếu tố cầu du lịch, đặc biệt là khách du lịch Du khách có quyết định thực hiện các chuyến đi du lịch hay không phụ thuộc vào các giá trị của tài nguyên du lịch nơi đến Do vậy, mỗi địa phương, mỗi quốc gia muốn phát triển du lịch đạt được
Trang 24hiệu quả cao, hấp dẫn du khách cần phải quan tâm đầu tư cao cho việc bảo tồn, tôn tạo
và phát triển tài nguyên du lịch và cần đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh
du lịch để phát triển du lịch
- Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Trong quá trình phát triển du lịch, để đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và ngày càng cao của khách du lịch, các doanh nghiệp, các địa phương, các quốc gia đã không ngừng phát triển nhiều loại hình du lịch mới Các loại hình du lịch mới ra đời đều phải dựa trên cơ sở các tài nguyên du lịch, và chính sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm cho nhiều yếu tố của điều kiện tự nhiên và xã hội trở thành tài nguyên du lịch
- Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ
du lịch
Trong phạm vi một lãnh thổ cụ thể, mọi hoạt động du lịch đều phản ánh một tổ chức không gian du lịch nhất định Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó Các yếu
tố đó là: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lý du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch được tổ chức, phân chia theo nhiều cấp phân vị khác nhau như: điểm du lịch, khu du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch, vùng du lịch Tuy nhiên, dù ở cấp phân vị nào thì tài nguyên du lịch luôn là những phân hệ quan trọng bậc nhất mang tính quyết định trong việc tổ chức phát triển
du lịch và là yếu tố cơ bản của hệ thống lãnh thổ du lịch
Như vậy, có thể nói TNDL là cơ sở, nền tảng để phát triển ngành kinh tế du lịch của một quốc gia, cũng như của các vùng, các địa phương
Trang 25Chương 2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH CÀ MAU 2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH CÀ MAU
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành tỉnh Cà Mau
Cà Mau được mở mang cách đây 300 năm Vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, khi một số lưu dân người Việt vì không chịu nổi cảnh áp bức bóc lột của chế độ phong kiến đã rời bỏ quê hương nơi cư trú đến làm ăn sinh sống tại đây, dựng thành một xã với tên gọi “xã Cà Mau”
Đến năm 1808, dưới thời Gia Long, Minh Mạng, xã Cà Mau được nâng lên thành huyện Long Xuyên thuộc tỉnh Hà Tiên
Sang thời Pháp thuộc ngày 18/12/1882 vùng Cà Mau nhập với Bạc Liêu lập thành tỉnh Bạc Liêu
Ngày 09/03/1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập tỉnh Cà Mau, tỉnh
Sau ngày 30/04/1975, hợp nhất hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải Tỉnh lỵ ban đầu đặt tại thị xã Bạc Liêu (được đổi tên là thị xã Minh Hải)
Từ ngày 18/12/1984 tỉnh lỵ chuyển về thị xã Cà Mau
Ngày 01/01/1997 tỉnh Minh Hải được tách ra thành hai tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu Hiện nay tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chính là thành phố Cà Mau và 8 huyện: huyện Đầm Dơi; huyện Ngọc Hiển; huyện Cái Nước; huyện Trần Văn Thời; huyện U Minh; huyện Thới Bình; huyện Năm Căn; huyện Phú Tân
Trung tâm của tỉnh Cà Mau là Thành phố Cà Mau, được công nhận là đô thị loại 3 vào năm 1999, đô thi loại 2 vào năm 2010
2.1.2 Vị trí địa lý
Cà Mau là một tỉnh thuộc châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phần đất cực Nam của Tổ quốc Việt Nam, có hình dạng giống chữ V, như một bán đảo có 3 mặt giáp với biển Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giáp với Biển Đông, phía Tây giáp vịnh Thái Lan Cà Mau có tọa
độ địa lý: điểm cực Bắc: 9033’ vĩ độ Bắc (thuộc xã Biển Bạch, huyện Thới Bình), điểm
cực Nam: 8033’ vĩ độ Bắc (thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển) theo đường chim bay
từ Bắc tới Nam 100 km; điểm cực Đông: 105024’ độ kinh Đông (thuộc xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi), điểm cực Tây: 104043’ độ kinh Đông (thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển), từ Đông sang Tây 68 km
Trang 26Vùng biển của tỉnh rộng trên 71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á
Với vị trí địa lý thuận lợi như thế đã tạo cho Cà Mau có tiềm năng lớn để phát triển đánh bắt thủy sản và khai thác dầu khí; thuận lợi trong giao lưu, hợp tác kinh tế, văn hóa với các nước khác; dễ dàng thông thương với các nước trong khu vực và quốc
tế bằng đường bộ, đường thủy và đường hàng không Trong đó, khả năng mở rộng và kết nối khai thác du lịch là rất lớn
2.1.3 Đặc điểm tự nhiên
Cà Mau - vùng đất mới bồi tụ, được hình thành bởi 2 dòng hải lưu ở biển Đông
và vịnh Thái Lan, đón nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp dần theo năm tháng tạo nên Vì là vùng đất do phù sa lắng đọng, bồi cao dần, nên độ cao không chênh lệch mấy so với mặt nước biển; phần lớn đất đai là đồng ruộng lầy trũng và có nhiều rừng thiên nhiên ngập nước như: rừng tràm U Minh hạ, rừng đước Năm Căn,… rừng sác Cà Mau đứng thứ hai thế giới về tầm quan trọng và diện tích; có nhiều loại cây, thảm thực vật quý hiếm, không phải tỉnh nào cũng có được Đặc điểm này là ưu thế của Cà Mau
so với cả nước và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó tạo ra lợi thế về trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản rất lớn Lợi thế này cho phép Cà Mau phát triển nông, lâm nghiệp đa dạng kết hợp với nuôi trồng và khai thác thủy hải sản ven bờ, ngoài khơi với quy mô và tốc độ cao hơn các địa phương khác của Đồng bằng sông Cửu Long
Cà Mau nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, ổn định và mang tính đặc trưng phân mùa rõ rệt Thời tiết Cà Mau chia ra 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm 26,50C và lạnh nhất vào tháng giêng; số giờ nắng trung bình năm đạt
từ 2.018 - 2.322 giờ/năm Lượng mưa trung bình 1.931 - 2.630 mm, trong đó mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm Chế độ thủy triều vùng gần biển lên xuống nhanh, những vùng xa biển lên xuống chậm nhưng không gây lũ Độ ẩm trung bình hàng năm 80 - 83%, gió chướng Tây Nam nói chung thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn Bão lũ tuy có nhưng không nhiều và không lớn
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Cà Mau dày đặc, chằng chịt nhau Trong đó
có nhiều sông lớn, nước sâu dẫn phù sa bồi đắp mọi vùng và tạo nên mạng lưới giao thông thủy như: sông Tam Giang, sông Gành Hào, sông Bảy Háp, sông Đốc, sông Cái Tàu, sông Trẹm… rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, có điều kiện cho tàu vận tải biển và tàu đánh cá có thể vào sâu trong nội địa…
2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, tỉnh Cà Mau có khoảng: 1.118.830 người, tốc độ tăng dân số trung bình 1,6%/năm
Trang 27Trên địa bàn tỉnh có khoảng 20 dân tộc khác nhau sinh sống, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.087.028 người, chiếm 97,16%; dân tộc Khmer có 20.822 người, chiếm 1,86%; dân tộc Hoa có 10.576 người, chiếm 0,94%; ngoài ra còn có một số dân tộc ít người khác như: dân tộc Tày; dân tộc Mường; dân tộc Nùng; dân tộc Thái… Mật độ dân số trung bình của tỉnh là 232 người/km2, thấp nhất vùng ĐBSCL Là vùng đồng bằng ven biển nhưng Cà Mau vẫn là vùng đất rộng người thưa, bình quân ruộng đất trên 1 nhân khẩu, 1 lao động cao nhất vùng ĐBSCL
Về kinh tế, Cà Mau bao gồm các hoạt động kinh tế chủ yếu là: Nông - Lâm - Ngư nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ
Trong đó: Nông nghiệp tập trung chủ yếu là trồng cây lương thực, chăn nuôi các loài gia súc, gia cầm Đặc biệt lợi thế hàng đầu cần phải kể đến đó là thủy sản Nó được xem là một trong những thế mạnh của Cà Mau Với nguồn lợi thủy sản dồi dào
đã thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở Cà Mau ngày càng phát triển và trở thành ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn của tỉnh Bên cạnh đó công nghiệp Cà Mau trong những năm gần đây có bước chuyển đáng kể như: KCN khí - điện - đạm; KCN
và đô thị mới Khánh An… đã tạo nên cơ hội mới trong phát triển công nghiệp của tỉnh
và cả vùng ĐBSCL
Ngoài ra, Cà Mau còn có diện tích rừng khá lớn, có ý nghĩa kinh tế quan trọng tạo ra nhiều nguồn lợi như: cung cấp gỗ, cung cấp các loài đặc sản rừng, thu hút du lịch… Do đó mà trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành Công nghiệp - Xây dựng, giảm dần tỉ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp, đặc biệt đẩy mạnh phát triển Thương mại - Dịch vụ theo hướng tích cực để nâng cao hiệu quả kinh tế và đã có những thành tựu đáng kể, điều
đó được thể hiện:
Bảng 1 Cơ cấu giá trị tổng sản phẩm (GDP) tỉnh Cà Mau năm 2010
Đơn vị: %
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Cà Mau, 2010)
Trang 28Hình 2 Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau năm 2010
2.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH CÀ MAU
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.1.1 Địa hình
Cà Mau được hình thành bởi 2 dòng hải lưu ở biển Đông và vịnh Thái Lan, đón nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp dần theo năm tháng tạo nên Do đó mà địa hình ở đây khá bằng phẳng, thuần nhất là đồng bằng, độ dốc không lớn từ 0,5 m - 1,5
m, đất đai phì nhiêu, màu mỡ Đó là điều kiện thuận lợi cho việc tập trung các hoạt động sản xuất, là nơi để xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ gián tiếp cho hoạt động du lịch
Do địa hình thấp, thường xuyên bị ngập nước, nên Cà Mau có tới 90% diện tích ngập mặn có chứa phèn Nhóm đất mặn, phèn tập trung chủ yếu ở ven biển Đông và phía Nam thành phố Cà Mau, các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời Điều này đã gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh Tuy nhiên nó cũng có những thuận lợi nhất định Đất mặn, phèn là điều kiện hình thành nên các thảm thực vật vô cùng phong phú gồm các loại đước, tràm, sú, vẹt sinh sôi, phát triển, hình thành nên những khu rừng tràm, rừng đước bạt ngàn với sự đa dạng sinh học cao, đó là yếu tố để Cà Mau phát triển loại hình du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu
Trang 29Đặc biệt hàng năm ở phía Tây vùng Mũi Cà Mau bồi ra biển trên 50 m Đó chính là nơi phát triển các vườn cây ăn trái phục vụ loại hình du lịch miệt vườn
Phía Đông Nam Mũi Cà Mau có bãi cát sạch, rộng thích hợp để phát triển bãi tắm, thể thao biển, tham quan và nghỉ dưỡng như bãi tắm Khai Long
Vùng biển Cà Mau còn có một số đảo gần bờ như: Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn
Đá Lẻ thuộc huyện Ngọc Hiển; Hòn Đá Bạc thuộc huyện Trần Văn Thời Các đảo này
có vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối để khai thác kinh tế biển nói chung, kinh tế
du lịch nói riêng và là điểm tựa tiền tiêu để bảo vệ Tổ quốc
Nhìn chung, địa hình Cà Mau thuộc kiểu đồng bằng ven biển với các đảo gần
bờ, có điều kiện thuận lợi để phát triển các lĩnh vực kinh tế khác nhau Tuy nhiên, vùng có nền đất yếu, khó khăn khi xây dựng các công trình cơ bản Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, thuận lợi cho phát triển giao thông thủy, nhưng lại khó khăn cho giao thông đường bộ
2.2.1.2 Khí hậu
Do ảnh hưởng của vị trí địa lý nên khí hậu Cà Mau thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt trung bình năm cao Nhiệt độ trung bình trong năm của tỉnh vào khoảng 26,50C Biên độ nhiệt trung bình trong năm là 2,70C Số giờ nắng trung bình năm đạt 2.500 giờ, tổng nhiệt độ hàng năm từ 9.500 đến 10.0000C Lượng bốc hơi trung bình khoảng 1.022 mm/năm Độ ẩm trung bình năm khoảng 85,6% Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 2.400 mm, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa
cả năm, tập trung cao nhất từ tháng 8 đến tháng 10
Khí hậu Cà Mau một năm có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11: nhiệt độ trung bình khoảng 25,50C, nhiệt
độ thấp nhất vào tháng 1 khoảng 250C, lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa
cả năm Khoảng thời gian mưa nhiều nhất là từ tháng 8 đến tháng 10 Đây là khoảng thời gian gây khó khăn cho việc đánh bắt thủy hải sản xa bờ, trong đó đặc biệt gây khó khăn cho hoạt động du lịch của tỉnh, do mưa nhiều và kéo dài làm cho lượng du khách đến Cà Mau sẽ ít hơn, hoạt động du lịch không được diễn ra liên tục quanh năm vì phụ thuộc vào tính mùa vụ Tuy nhiên nó cũng có những thuận lợi nhất định: mưa nhiều, lượng nước dồi dào là điều kiện cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt và thích hợp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho cây cối xanh tốt, mùa mưa tiết trời tương đối mát mẽ, dễ chịu hơn mùa khô
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau: nhiệt độ trung bình khoảng 26,50C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 4 khoảng 27,60C Vào mùa khô gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, cây trồng dễ bị sâu bệnh, phát triển không tốt do thiếu nguồn nước tưới Nhưng lại rất thuận lợi cho hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, trong đó rất thích hợp để phát triển du lịch Vào mùa khô lượng khách du lịch đến Cà Mau đông hơn do tiết trời nắng ráo, thích hợp phát triển các loại hình du lịch như: sinh thái, thưởng thức trái cây tại các miệt vườn, nghe đờn ca tài tử Nam Bộ tại
Trang 30các khu du lịch hay thưởng ngoạn trên sông, câu cá, tham quan và nghiên cứu rừng, đặc biệt là thích hợp để khu du lịch Khai Long thu hút du khách với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, thể thao biển và tắm biển tại đây
Mặc dù khí hậu Cà Mau một năm chia làm 2 mùa: mưa và nắng nhưng khí hậu
ở đây nhìn chung ổn định quanh năm, không bị ảnh hưởng của lũ và ít có bão Đây là điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch để thu hút du khách Tuy nhiên du lịch Cà Mau vẫn còn phụ thuộc vào tính mùa vụ Vào mùa khô, do tiết trời nắng ráo nên lượng khách du lịch đến Cà Mau chiếm tỉ lệ cao hơn mùa mưa
2.2.1.3 Nước
Cà Mau là tỉnh có nhiều sông rạch, bắt nguồn từ nội địa chảy ra biển Tổng chiều dài hệ thống sông, rạch của tỉnh khoảng 7.000 km, mật độ trung bình 1,34 km/km2 với tổng diện tích 15.756 ha, chiếm 3,02% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
- Các con sông đổ ra biển Tây:
+ Sông Bảy Háp phần chảy qua địa phận Cà Mau dài hơn 50 km, rộng, đầy nước quanh năm và chảy ra biển ở cửa Bảy Háp
+ Sông Cửa Lớn nối hai cửa Bồ Đề và Ông Trang chảy qua địa phận tỉnh Cà Mau dài 58 km, rộng trung bình 200 m
+ Sông Ông Đốc từ ngã ba Tắc Thủ cửa Ông Đốc dài hơn 60 km, lòng rộng hơn
100 m, sâu 3 đến 4 m, với lưu lượng nước lớn, đầy nước quanh năm
+ Sông Cái Tàu dài 43 km, rộng 50 m, từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Tiểu Dừa + Sông Trẹm từ ngã ba Cái Tàu chạy theo hướng Bắc qua huyện Thới Bình đổ
về tỉnh Kiên Giang, phần thuộc Cà Mau dài 36 km, rộng khoảng 50 m
+ Sông Đồng Cùng dài khoảng 36 km đổ ra cửa Mỹ Bình
+ Sông Bạch Ngưu từ ngã ba Tắc Thủ tới ngã ba Đình - tỉnh Kiên Giang với chiều dài 72 km, phần trên đất Cà Mau khoảng 30 km, rộng từ 30 đến 40 m, sâu từ 2,5 đến 3 m
- Các con sông đổ ra biển Đông:
+ Sông Mương Điều từ Gành Hào qua Đầm Dơi gặp sông Đầm Dơi đổ vào sông Cửa Lớn với chiều dài 45 km, sâu từ 5 đến 6 km, rộng 80 m
+ Sông Gành Hào từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Gành Hào dài 56 km, rộng từ 60 đến 100m, sâu từ 4 đến 5 m, cửa Gành Hào rộng 300 m, sâu 19 m
Hệ thống sông rạch chằng chịt thông ra biển, tạo nên hệ sinh thái ven biển đa dạng và phong phú Các sông này còn mang theo lượng phù sa bồi đắp hằng năm mở rộng thêm phần đất liền phía Tây từ 80 - 100 m, hình thành nên các bãi bồi là nơi để tôm cá và các sinh vật biển sinh sản và phát triển, cung cấp nguồn thủy hải sản dồi dào cho công nghiệp xuất khẩu chế biến và phục vụ nhu cầu ẩm thực cho thực khách Đồng thời các bãi bồi cũng là điều kiện thuận lợi để các khu rừng ngập mặn phát triển Chính điều này đã thúc đẩy loại hình du lịch sinh thái của tỉnh phát triển mạnh hơn
Trang 31Ngoài hệ thống sông lớn nêu trên, Cà Mau còn có hệ thống ao, hồ, kênh, rạch, đầm… cũng có giá trị rất lớn để Cà Mau phát triển du lịch Các đầm nhân tạo nằm ven sông, biển là nơi nuôi trồng thủy sản Đầm tự nhiên rộng lớn nhất là đầm Bà Tường (huyện Cái Nước), ngoài việc cung cấp nguồn thủy sản, còn có tiềm năng về du lịch, là điểm tham quan du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước với loại hình du lịch sinh thái
Với hệ thống sông, hồ, kênh, rạch dày đặc như thế đã cung cấp cho Cà Mau một lượng nước phong phú, dồi dào, vừa cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, giao thông thủy phục vụ cho hoạt động sống của người dân, vừa góp phần thúc đẩy cho hoạt động
du lịch phát triển với loại hình du lịch sông nước, bơi thuyền len lõi vào các khu rừng tràm, rừng đước ở các vườn quốc gia để nghiên cứu, tìm hiểu về sự đa dạng sinh học,
và chính hệ thống sông ngòi ở đây là điều kiện để phát triển loại hình du lịch chợ nổi,
du thuyền trên sông như: chợ nổi Cà Mau để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
2.2.1.4 Sinh vật
Do khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ nên hệ động thực vật ở Cà Mau cũng phát triển phong phú, đa dạng và chúng được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng cho phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái theo xu hướng hiện nay
- Thực vật
Khi nói đến tài nguyên thực vật ở Cà Mau thì người ta sẽ nghĩ ngay và liên tưởng đến hình ảnh của những cánh rừng đước, rừng tràm bạt ngàn, mênh mông Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2007, tổng diện tích rừng của Cà Mau là 96,3 nghìn ha, trong đó: diện tích rừng tự nhiên là 8,9 nghìn ha, diện tích rừng trồng là 87,4 nghìn ha
Nét đặc trưng cơ bản của rừng Cà Mau là có hệ sinh thái rừng ngập nước nằm sâu trong nội địa Hệ sinh thái rừng ngập nước Cà Mau có diện tích gần 100.000 ha được chia thành 2 vùng: rừng ngập lợ và rừng ngập mặn
+ Rừng ngập lợ: là thảm rừng hỗn giao được hình thành trên địa bàn ngập úng
trong mùa mưa Thảm rừng hỗn giao này gồm một số loài cây có số lượng chiếm ưu thế: tràm, choại, sậy, năng… Loại rừng này tập trung ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình trong đó điển hình là Vườn quốc gia U Minh Hạ Hệ sinh thái này tạo
ra tiềm năng để phát triển sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước ngọt đa dạng và là điều kiện lý tưởng để phát triển loại hình du lich sinh thái, tham quan, nghiên cứu theo chuyên đề
+ Rừng ngập mặn: Với đặc trưng là cây đước, cây mắm là chủ yếu Trong đó
tập trung và được phân bố nhiều ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, rừng đước Năm Căn
và rừng Sác ven biển, chiếm khoảng 77% diện tích rừng ngập mặn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có vai trò phát triển nuôi trồng thủy sản, cân bằng sinh thái và điều hòa khí hậu Thảm rừng này phát triển mạnh trở thành những cánh rừng cổ thụ nhờ lớp
Trang 32bồi tụ dày, màu mỡ, nhờ khí hậu xích đạo nóng ẩm quanh năm Trong rừng có nhiều loài động vật, thực vật phong phú với trữ lượng lớn là đặc sản của rừng ngập nước
Ngoài rừng tràm, rừng đước thì Cà Mau còn có hơn 100 loài thực vật thuộc các
họ khác nhau, trong đó nhiều loài có giá trị đã và đang được khai thác vào hoạt động
du lịch như: bồn bồn (ẩm thực), lác (nghề dệt chiếu), các vườn cây ăn trái như: vườn dâu Cái Tàu (U Minh), vườn ổi Tân Thành (Cà Mau) gắn với loại hình du lịch sinh thái miệt vườn, thưởng thức trái cây vùng sông nước để thu hút và hấp dẫn khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu và thưởng ngoạn vào những dịp cuối tuần Chính điều này đã góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch ở Cà Mau, góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch của tỉnh phát triển
Tuy nhiên những năm gần đây nạn tàn phá rừng diễn ra hết sức phức tạp và không ngừng gia tăng ở vườn quốc gia Mũi Cà Mau, rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn Năm Căn, Ngọc Hiển, khu vực cồn Ông Trang Chính điều này đã làm cho số lượng rừng và các loài động thực vật quý hiếm ở các vườn quốc gia, ở các khu rừng ngập lợ, ngập mặn ở Cà Mau ngày càng giảm nghiêm trọng, làm cho hoạt động du lịch
bị giảm đáng kể, kém hấp dẫn đối với những du khách thích tham quan ở những nơi thiên nhiên hoang dã như xu hướng ngày nay
Trước tình trạng đó, nếu Cà Mau không có những biện pháp xử lý kịp thời và cấp bách thì e rằng trong những năm tới đây, diện tích rừng của tỉnh sẽ bị giảm sút và
sẽ thu hẹp nhiều hơn nữa
Na - Năm Căn…
Cà Mau có vùng biển rộng 71.000 km2, độ sâu trung bình từ 30 đến 35 m Vùng biển Cà Mau có nguồn tài nguyên hải sản dồi dào, phong phú Hải sản ở đây có trữ lượng lớn và phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao như: tôm, mực, ghẹ, cá hồng, cá sạo, cá thu, cá chim, cá mú Trữ lượng cá ước tính khoảng 320 nghìn tấn cá nổi, 530 nghìn tấn cá đáy với 661 loài, 319 giống thuộc 138
họ Vùng mặt nước ven biển có thể nuôi các loại thủy sản có giá trị xuất khẩu cao như: nghêu, sò huyết, tôm sú… tất cả không chỉ có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế nói
Trang 33chung mà còn được khai thác vào mục đích du lịch với vai trò là ẩm thực phục vụ nhu cầu thưởng thức cho thực khách
Nhìn chung các điều kiện tự nhiên ở đây kết hợp với nhau tạo cho Cà Mau nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và hấp dẫn Trong đó, có giá trị nhất đối với du lịch ở đây là tài nguyên rừng, tài nguyên sông nước và biển đảo
Một số danh thắng tiêu biểu ở Cà Mau
- Mũi Cà Mau
Mũi Cà Mau - mảnh đất tận cùng của Tổ quốc, nơi chứa đựng biết bao huyền thoại của một thời khẩn hoang, mở cõi Đây là nơi tiếp giáp của 2 dòng hải lưu Bắc - Nam và Tây - Nam với 2 chế độ thủy triều khác nhau, tạo nên một vùng lấn đọng phù
sa rộng lớn hàng chục ngàn ha nằm dọc theo phía Tây - Nam tỉnh Cà Mau, tạo nên Xóm Mũi Mũi Cà Mau như một vòng cung, mỗi năm phù sa theo những con sông đổ
về lắng tụ tạo nên các bãi bồi lắng dần ra biển khoảng 80 - 100 m, với các loài thực vật điển hình như: mắm, đước, sú, vẹt… Chính vì thế mà ở đây ngày nay diện tích rừng phòng hộ ven biển cứ mãi sinh sôi nảy nở tạo nên nét đẹp kỳ lạ như một tấm áo choàng màu xanh bao quanh bãi bồi mũi Cà Mau Đây được xem là khả năng kỳ diệu
và độc đáo mà không nơi nào có được Đó là khả năng: “Đất mở ra, rừng biết đi và
biển sinh sôi” Nơi mà nhà thơ Xuân Diệu từng ví: “Tổ quốc ta như một con tàu Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau” Đến đây, du khách mới được ngắm nhìn vẻ đẹp hùng vĩ
của rừng, bao la của biển cả Thật thú vị bởi đây là nơi duy nhất trên đất liền Việt Nam, du khách thấy mặt trời mọc trên biển Đông và lặn ở biển phía Tây Đến Đất Mũi, du khách được thưởng thức những đặc sản tươi ngon còn mặn mùi phù sa như hàu, sò huyết, sò lông, vọp, ốc len, tôm, cua, ghẹ… vừa trải lòng với các bài ca vọng
cổ đằm thắm, sâu lắng đi vào lòng người, mang đậm nét văn hóa truyền thống vùng Đồng bằng Nam bộ
Mũi Cà Mau ngày nay không chỉ là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong nước mà còn là điểm dừng chân có sức hút rất lớn đối với khách du lịch quốc tế khi họ tìm đến để chiêm ngưỡng và cảm nhận vẻ đẹp hoang dã, đa dạng của hệ sinh thái rừng ngập mặn của mảnh đất tận cùng cực nam này
- Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
VQG Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002, có diện tích trên 41.862 ha rừng ngập mặn Với vốn rừng đước, rừng mắm nằm ven biển bãi bồi, nơi đây được xem là khu rừng ngập mặn có giá trị lớn nhất nước ta hiện nay Đặc biệt ở một số nơi trong VQG còn bảo tồn được rừng đước già tự nhiên cao hơn 30 m và hệ động vật với nhiều loài có trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ IUCN Các loài quý hiếm như: Cò Trung Quốc, Bồ Nông chân xám, Giang sen, Quắm trắng Ngoài ra, VQG còn có nhiều loài chim khác như: Diều Cá, Cò Bợ, Diệt Xumatra, Cốc Đế Nhỏ, Hạt Cổ Trắng… Các loài
bò sát thường gặp ở đây như: Kỳ Đà Hoa, Trăng Mốc, Trắng Gấm, Rắn Lục, Rùa hộp
Trang 34lưng đen… Dưới nước là cả một quần thể các loài động vật thủy sinh với nhiều loài tôm cá…
Ngày nay VQG Mũi Cà Mau không chỉ đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế mà còn tạo môi trường sinh thái trong lành, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái
và nghiên cứu khoa học
- Vườn quốc gia U Minh Hạ
VQG U Minh Hạ được thành lập năm 2006 trên cơ sở nâng cấp khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi Nơi đây có hệ sinh thái điển hình là rừng tràm và có giá trị rất cao
về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hóa và lịch sử Năm
2009, VQG U Minh Hạ được UNESSCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới
VQG U Minh Hạ có tổng diện tích 8.286 ha Vườn có chức năng bảo tồn, tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của
hệ sinh thái đất ngập nước, rừng tràm trên đất than bùn, bảo tồn phát triển nguồn gen các loài động thực vật quý, các giá trị văn hóa, tinh thần, di tích lịch sử… phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan, phát triển du lịch…
VQG U Minh Hạ có giá trị sinh học rất cao Hệ thực vật, động vật rừng tràm rất phong phú, trong đó có hàng chục loài chim, thú quý hiếm được ghi vào Sách đỏ của
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) Đến đây du khách sẽ rất ngạc nhiên khi được thấy hoa tràm nở quanh năm tạo ra mùi hương thoang thoảng, dễ chịu và chính vì
lẽ đó rừng U Minh Hạ còn là nơi cung cấp đặc sản mật ong rừng có giá trị và chất dinh dưỡng cao Từ xa xưa nghề nuôi ong lấy mật đã là truyền thống của cư dân vùng này Nếu vào mùa mưa các loài cá lóc theo con nước đổ về, sinh trưởng nơi đầm lầy, rất to
và chắc nịt, nếu có dịp du khách sẽ được thưởng thức những món ăn dân giã, mang đậm phong vị hương tràm Cà Mau như: cá lóc nướng trui, lẩu mắm U Minh, ong mật,… và thưởng thức những câu chuyện vui trào lộng của bác Ba Phi thì không có cảm giác nào thú vị bằng Ngày nay, VQG U Minh Hạ đã được quy hoạch có những khu rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng được đưa vào chương trình du lịch sinh thái Đặc biệt, VQG U Minh Hạ nằm trên trục lộ giao thông nối liền giữa khu du lịch Hòn Đá Bạc với thành phố Cà Mau nên du khách rất thuận lợi trong việc tham quan du lịch
- Khu đa dạng sinh học lâm trường 184
Lâm ngư trường 184 nằm giữa cánh rừng đước thuộc ấp Chà Là, xã Tam Giang, huyện Năm Căn với diện tích là 6.300 ha, nơi có tiềm năng phát triển những sản phẩm
du lịch sinh thái hấp dẫn Do được thiên nhiên ưu đãi, khu du lịch sinh thái Lâm ngư trường 184 đang có một hệ động thực vật phong phú và mang nét đặc trưng của hệ thống rừng ngập mặn mũi Cà Mau
Tại đây, có Khu bảo tồn đa dạng sinh học rừng ngập mặn với diện tích 252 ha Khu đa dạng sinh học không chỉ là khu bảo tồn các nguồn gen động thực vật quý hiếm
mà còn là điểm du lịch có sức hấp dẫn lớn Khi đến đây, du khách sẽ được hướng dẫn
Trang 35đước hơn 15 năm tuổi mát rượi để thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng sự đa dạng phong phú của rừng ngập mặn và len lỏi dưới những tán rừng bằng những chiếc xuồng thông qua
hệ thống kênh đào đan xen nhau chằng chịt Ngoài ra, du khách còn được ngắm những chú khỉ xinh xắn sống theo đàn đu đưa trên những cành đước Và chiều về khách sẽ được nghỉ mát trong những ngôi nhà thoáng mát sâu trong rừng và thưởng thức những đặc sản của miền biển như: cá chẽm, cá dứa, cá bóp… để cùng hòa mình vào với cuộc sống trong môi trường tự nhiên hoang dã thoáng đãng phù hợp với đặc trưng sinh thái rừng ngập mặn ở Khu đa dạng sinh học Lâm ngư trường 184
- Đầm Thị Tường
Đầm Thị Tường cách thành phố Cà Mau khoảng 1 giờ ngồi tàu cao tốc, nằm cạnh kênh Xáng Bà Kẹo, nối qua vịnh Thái Lan qua con sông Mỹ Bình, có diện tích nước khoảng 700 ha, dài hơn 10 km, rộng khoảng 2 km ăn sâu vào ba huyện đất liền là Trần Văn Thời, Phú Tân và Cái Nước Đến với Đầm Thị Tường du khách sẽ được nghe truyền thuyết kỳ lạ về Bà, một trong những người đầu tiên đi mở đất ở Cà Mau Đứng giữa nơi này, du khách sẽ cảm nhận được sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn, để ngắm nhìn vẻ đẹp của quê hương nơi tận cuối chân trời và thưởng thức những món ăn đặc sản cá, tôm được người dân sống trên đầm chế biến mang ra đãi khách rất hấp dẫn và nghe dân nơi đây kể chuyện về sinh hoạt cuộc sống ở trên đầm
- Cụm đảo Hòn Khoai
Hòn Khoai thuộc huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau, với diện tích hơn 5,6 km2 nơi cao nhất là 318 m so với mặt nước biển và cách đất liền hơn 14 km về phía Tây Nam huyện Ngọc Hiển Nếu đi tàu từ Rạch Gốc chỉ sau 3 giờ vượt biển, du khách sẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp Hòn Khoai - một trong những hòn đảo quyến rũ của miền cực Nam Tổ Quốc
Cụm đảo gồm 5 hòn: Hòn Khoai, Hòn Đồi Mồi, Hòn Sao, Hòn Đá Lẽ và Hòn Tương nằm cạnh nhau, trong đó hòn Khoai là đảo lớn nhất Đến Hòn Khoai, ngoài việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của những bãi biển đầy đá cuội tròn như trứng ngỗng, du khách còn có dịp leo núi, băng rừng, trực tiếp thưởng lãm một cánh rừng nguyên sinh quý hiếm ở nước ta với hơn 1.000 loài thực vật và hàng trăm giống chim thú vẫn còn nguyên vẹn
Trên đỉnh cao nhất của Hòn Khoai, hiện vẫn còn ngọn Hải đăng do người Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX Từ ngọn Hải đăng, phóng tầm mắt thông qua kính viễn vọng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng Hòn Đồi Mồi - một hòn đảo với thảm thực vật xanh biếc, giống hệt con đồi mồi đang bơi giữa biển xanh Đặc biệt, du khách có thể hướng kính viễn vọng về hướng về Mũi Cà Mau để một lần trong đời chiêm ngưỡng từ
xa mũi đất thiêng liêng tận cùng của Tổ quốc mà không phải ai cũng có dịp khám phá nếu không ra Hòn Khoai
Trang 36Khách du lịch đến với Hòn Khoai, điều thú vị nhất là bày tiệc giữa rừng, nơi có những tán dù cổ thụ hoặc quây quần bên bờ suối nghe nước róc rách, nghe tiếng chim hót ríu rít Trong không gian lãng mạn đó, du khách có thể vừa thưởng thức những món ăn đậm đà hương biển như: sò, vọp, tôm tích, sú… vừa hát cho nhau nghe những bài tân cổ hoặc những làn điệu dân ca mượt mà của xứ biển quả thật không có cảm giác nào thú vị bằng Hòn Khoai còn là một kho tàng dược thảo quý giá như: huyết rồng, kỳ hương, phục linh, thiên niên kiện, rán bay, thần nông, nấm linh chi…
Đặc biệt Hòn Khoai còn được biết đến như một di tích lịch sử gắn với những chiến công của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của thầy giáo Phan Ngọc Hiển
Năm 1992, Hòn Khoai được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch
sử cấp Quốc gia
- Khu du lịch biển Khai Long
Nằm ở phía Đông Nam mũi Cà Mau là Khu du lịch biển Khai Long với vẻ đẹp hoang sơ và mới mẻ với bãi biển được bao bộc giữa bốn bề hệ sinh thái rừng ngập mặn Khai Long có diện tích hơn 220 ha, được tạo hóa ban tặng cho một vị trí rất đặc biệt Đứng ở bờ biển, khi bình minh ló rạng, du khách sẽ được thấy mặt trời tròn như vành thúng chói đỏ nhô lên từ mặt biển phía Đông, và khi chiều xuống cũng ở vị trí ấy
du khách lại thấy vầng kim ô vàng rực từ từ lặn xuống mặt biển phía Tây Khai Long
có bãi cát rộng mênh mông với chiều dài 3 km, hàng năm cát cứ lấn dần ra biển như muốn nối liền với đảo Hòn Khoai Bãi biển Khai Long sẽ mang đến cho du khách cảm giác thoải mái, thú vị, những phút giây thư giãn của hương vị biển Hiện nay, đến với Khai Long du khách sẽ được tham quan Khu du lịch Lý Thanh Long - một khu vui chơi giải trí với những dịch vụ phong phú và đa dạng để đáp ứng mọi nhu cầu của du khách khi đến đây tham quan, nghỉ dưỡng, tắm biển…
Đặc biệt ở Khu du lịch Khai Long còn có nhiều loài đặc sản như: tôm, cua, cá các loại, nghêu, sò huyết, vọp, ốc len… để du khách tha hồ lựa chọn và thưởng thức chúng khi có dịp đến đây, để cảm nhận sự tuyệt vời từ vẻ đẹp thiên nhiên cũng như tận hưởng không khí trong lành từ biển cả của vùng đất cuối trời thân yêu mang đến
- Khu du lịch Hòn Đá Bạc
Hòn Đá Bạc thuộc xóm Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Cách thành phố Cà Mau hơn 50 km Hòn Đá Bạc có diện tích 6,43 ha, là cụm đảo đẹp gồm ba đảo nằm sát bờ biển Hòn Đá Bạc là nét chấm phá kỳ diệu của thiên nhiên với những câu chuyện huyền thoại về bàn chân tiên, bàn tay tiên, giếng tiên, lăng Cá Ông,… trong một hệ sinh thái thực vật phong phú
Nơi đây, đá tạo nên những hình thù kỳ vĩ như thách thức những cơn thủy triều của biển cả, đây cũng là nơi trú ngụ của vô số những loài hải sản mà bất cứ du khách nào đặt chân đến đây cũng không thể bỏ qua thú vui câu cá Hòn Đá Bạc không chỉ có
Trang 37non nước, chim thú, muôn cây… mà còn là nơi hội tụ nhiều giá trị tâm linh của người dân xứ biển với lăng Ông ghi lại câu chuyện huyền bí về cá Ông cứu người bị nạn trên biển
Nơi đây được xem là khu dã ngoại ngoài trời tuyệt đẹp và rất thích hợp cho các chuyến đi cắm trại, du ngoạn, nghỉ ngơi và nghiên cứu Bên cạnh đó còn được thưởng thức đặc sản tươi sống như: hàu sống, cua đá, cá bống mú, cá nâu… Tất cả tạo thêm một Hòn Đá Bạc đầy quyến rũ không chỉ có khách địa phương hay trong nước mà còn cho cả khách nước ngoài
- Sân chim trong lòng thành phố
Sân chim trong lòng thành phố nằm ở Công viên văn hóa Cà Mau, thuộc thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau Cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía Tây Đây được xem là một địa chỉ tham quan gần nhất và lý thú nhất đối với mọi du khách khi đến với Cà Mau Từ hàng chục năm nay cứ hoàng hôn bắt đầu buông xuống cũng là lúc hàng chục ngàn con chim, cò, vạc, cúm núm lần lượt vội vã bay về khu rừng có diện tích khoảng 2 ha của công viên này để trú ngụ qua đêm Có lẽ loài chim gây ấn tượng nhất ở đây là loài sếu Ngoài ra còn có các loài khác như: mồng, két, le le, vịt nước…
Đến với sân chim Công viên văn hóa Cà Mau du khách còn có dịp tham gia các hoạt động vui chơi giải trí mà nơi đây đã đầu tư xây dựng như: tượng đài, vườn cây cảnh, ao hồ, ao cá, nhà sàn, vườn thú…
Quả thật vườn chim Công viên văn hóa Cà Mau được xem là nét đặc thù vô cùng quý giá có một không hai của cả nước, là tài sản quý hiếm mà người dân thành phố Cà Mau luôn tự hào mỗi khi được nhắc đến Đây quả là một thắng cảnh lạ, hiếm thấy nơi đâu lại có một sân chim tự nhiên nằm ngay giữa lòng thành phố Bởi vậy, nhiều năm liền khách du lịch phương xa đều chọn sân chim làm nơi tham quan chủ yếu khi đến Cà Mau
- Sân chim Đầm Dơi
Khi nhắc đến nét đặc thù của vùng đất Phương Nam, nhắc đến các sân chim nơi mãnh đất cuối trời Cà Mau yêu dấu ta không thể nào quên nhắc đến sân chim Đầm Dơi Bởi vì nơi đây được xem là một điểm tham quan khá hấp dẫn đối với mọi du khách khi họ có dịp đến với mãnh đất cuối trời này
Sân chim Đầm Dơi thuộc huyện Đầm Dơi, cách thành phố Cà Mau khoảng 45
km về phía Đông Nam Đây là nơi trú ngụ và sinh sản của các loài chim cò Ngoài ra, nơi đây còn là nơi rất tốt và lý tưởng để du khách có thể thưởng ngoạn, quay phim và chụp ảnh dưới nhiều góc độ khác nhau để có được những bức ảnh quý giá, độc nhất…
và cùng hòa mình với thiên nhiên thư thái, hoang dã trong một môi trường sinh thái trong lành, mát mẻ và bình yên Chính vì thế, sân chim Đầm Dơi là địa chỉ thường xuyên được khách du lịch và các các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp chon lựa để làm
Trang 38điểm đến cho cuộc hành trình của mình với mục đích tham quan, nghiên cứu và ghi hình về thế giới động vật, đặc biệt là các loài chim, cò cư ngụ và sinh sống nơi đây
Ngoài các danh lam, thắng cảnh và các sân chim nêu trên Cà Mau còn có rất nhiều điểm du lịch khác không kém phần thu hút du khách như: Cồn Ông Trang, sân chim Tư Na, sân chim Ngọc Hiển,… cũng là những điểm du lịch lý thú được khai thác vào mục đích du lịch phục vụ du khách đến để thưởng ngoạn, tìm hiểu về vùng đất cuối trời này
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Cũng như các tỉnh khu vực ĐBSCL, Cà Mau là tỉnh có lịch sử khẩn hoang rất trẻ nên tài nguyên du lịch nhân văn ở đây khá khiêm tốn cả về lễ hội truyền thống cũng như các di tích lịch sử văn hóa… Tuy nhiên, mặc dù lịch sử khẩn hoang vùng đất Cà Mau diễn ra muộn hơn, có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn khiêm tốn và hạn chế hơn các tỉnh thành khác nhưng tài nguyên du lịch nhân văn ở vùng đất cực Nam của
Tổ quốc cũng khá hấp dẫn, có sự khác biệt và thu hút rất nhiều du khách đến đây tham quan, nghiên cứu, tìm hiểu Đó là điều kiện để du lịch văn hóa của vùng đất phương nam này có điều kiện phát triển để sánh kịp với các tỉnh khác trong khu vực và của cả nước
Tài nguyên du lịch nhân văn ở Cà Mau gồm: các di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội, các làng nghề truyền thống, ẩm thực… điều đó được thể hiện khá đa dạng và phong phú
Bảng 2 Các di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng cấp Quốc gia ở Cà Mau
2 Đình Tân Hưng Ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn
Trang 395 Chùa Quan Âm Cổ Tự Số 84/4 đường Rạch Chùa,
Minh trên biển
Ấp Dinh Hạng, xã Tân Ân,
8
Di tích lịch sử Các địa
điểm thuộc Xứ Ủy
Nam Bộ - Trung ương
cục miền Nam
Huyện Thới Bình, huyện Cái Nước, huyện Đầm Dơi, huyện U Minh, huyện Phú Tân, huyện Trần Văn Thời
Ngoài các di tích được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia, Cà Mau còn có
hệ thống các đình, đền, chùa, miếu mạo được xếp hạng cấp tỉnh như: Chùa Cao Dân, Căn cứ Tỉnh ủy Lung Lá Nhà Thể, nhà dây thép mang đậm nét văn hóa tâm linh, tín ngưỡng cũng như gắn liền với khí phách của cha ông ta thời khẩn hoang mở cõi và chúng cũng được coi là tài nguồn tài nguyên du lịch khá hấp dẫn, thu hút đông đảo khách du lịch đến đây để tham quan, tìm hiểu và sinh hoạt
Một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu:
- Đình Tân Hưng
Đình Tân Hưng là một di tích lịch sử có ý nghĩa, giá trị rất lớn Là nơi thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh và từng là nơi đóng quân của Bộ chỉ huy Mặt trận Tân Hưng Đình tọa lạc ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, cách trung tâm thành phố Cà Mau 4 km
Và được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm
1992
Đình được xây dựng năm 1907, trải qua thời gian đình bị hư hỏng Sau đó, được xây dựng lại theo cấu trúc mái hình bánh ít, gồm một gian hai chái, trên nóc đúc hai rồng chầu, viền mái bằng xi măng, lợp ngói âm dương Đặc biệt trước đình có bức phù điêu được khắc trạm khá tinh tế, nhằm tái hiện lại hình ảnh của các chiến sĩ, của quân và dân Cà Mau trong chiến thắng mặt trận Tân Hưng Trong khuôn viên đình còn
có bia lưu niệm, vườn hoa, nhà kể truyện…
Đặc biệt hằng năm cứ vào ngày 10 - 11 tháng 5 âm lịch, người dân khắp nơi
ở Cà Mau, lại tụ hợp về đình Tân Hưng dự lễ Kỳ Yên, tưởng nhớ những tiền nhân khai
Trang 40phá ra vùng đất này Ngoài ý nghĩa tâm linh, tỏ lòng thành kính đối với các vị thần, lễ
Kỳ Yên còn nhằm tưởng nhớ đến những người có công với nước, đã ngã xuống trên mảnh đất này
Đình Tân Hưng đang được khai thác phục vụ du lịch để thu hút du khách đến đây tham quan tìm hiểu truyền thống lịch sử của Đảng bộ Cà Mau trong chiến tranh, tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa của quân và dân Cà Mau trong chiến thắng Mặt trận Tân Hưng Sau khi được quy hoạch xây dựng lại đình Tân Hưng là một tiềm năng rất lớn cho nhu cầu du lịch địa phương và du khách thập phương
- Di tích Hồng Anh Thư Quán
Vào thập niên 20 của thế kỷ XX, khi phong trào cách mạng dâng cao ở khắp nơi trong cả nước, tại tầng 2 nhà số 43 đường Phạm Văn Ký, phường 2, thành phố Cà Mau ngày nay đã hình thành cơ sở chi hội hoạt động cách mạng là Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội có tên gọi Hồng Anh Thư Quán Nơi đây có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin trong lòng mọi tầng lớp nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cơ sở của Đảng Cộng sản được ra đời tại Cà Mau Hồng Anh Thư Quán đã từng là hiệu sách của chi hội, cung cấp các loại sách, báo tiến
bộ được xuất bản ở Sài Gòn, trong đó có “Tư bản luận” của Mác và Ăng-ghen Vào ngày 25/09/1992 Hồng Anh Thư Quán được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
- Chùa Quan Âm Cổ Tự
Quan Âm Cổ Tự tọa lạc tại số 84/4 đường Rạch Chùa phường 4 thành phố Cà Mau Chùa do hòa thượng Tô Quang Xuân dựng vào khoảng giữa thế kỉ XIX Lúc bấy giờ, chùa là một am nhỏ để Ngài tu hành và chữa bệnh cho dân Sau này Ngài về tu tai chùa Kim Chương (Gia Định) và lấy pháp hiệu là Trí Tâm Năm 1842 vua Triệu Trị sắc phong Hòa Thượng cho Ngài và sắc tứ cho Chùa Quan Âm
Kiến trúc ngày nay của Hòa Thượng Thiện Tường và Thiện Đức xây dựng vào năm 1936 Trong chùa có “Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự” và tháp Hòa Thượng Trí Tâm
Trong chùa có một số hiện vật như: tượng phật, tượng Bồ Tát, tượng La Hán, các bức hoành phi, câu đối và nhiều đồ thờ phụng khác như những di vật Phật giáo của thời kỳ khẩn hoang Mặc dầu không phải là một công trình kiến trúc đồ sộ nhưng đây
là một nơi gắn liền với đời sống tâm linh của người dân Cà Mau Đặc biệt, trong thời
kì chiến tranh, đây là nơi nuôi dấu các chiến sĩ cách mạng và không ít các nhà sư của Quan Âm Cổ Tự thành liệt sĩ Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích lịch sử, kiến trúc vào năm 2000
- Biệt khu Hải Yến Bình Hưng
Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng được xây dựng từ cuối năm 1959 và đầu năm
1960, tọa lạc bên bờ sông Cái Đôi Giữa thuộc ấp Thanh Đạm xã Phú Tân huyện Phú Tân