Bên cạnh việc sản xuất nông nghiệp, nông hộ còn tận dụng thời gian nhàn rỗi của mình để làm một số nghề phụ như: đan lục bình, se nhang, chằm nón lá, nấu rượu, dệt chiếu….dần dần làng ng
Trang 1KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
Ths NGUYỄN HỒ ANH KHOA NGUYỄN NGỌC THÚY HIỀN
MSSV: 4077549
Lớp Kinh tế nông nghiệp 3
Khóa: 33
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Qua 4 năm học tập tại trường Đại học Cần Thơ với sự chỉ dạy và hướng dẫn nhiệt tình của các thầy (cô) khoa Kinh tế-Quản trị kinh doanh đặc biệt là bộ môn Kinh tế nông nghiệp, đã giúp cho tôi có những kiến thức để hoàn thành bài luận văn này, cũng như cung cấp những kinh nghiệm quý báu để bắt đầu bước vào đời Trong quá trình làm luận văn, tôi đã có được những hiểu biết thêm về quá trình lịch sử, địa lý của địa bàn mà mình tìm hiểu nói chung và hoạt động của làng nghề nói riêng Đồng thời tôi còn học hỏi được một số kinh nghiệm thực tế
từ các cô chú ở các phòng ban của Sở NN&PTNT cũng như ở Huyện Tam Bình;
đó sẽ có ích cho tôi sau này khi làm việc
Xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Thị Tuyết Mai, giám đốc phòng Trung tâm thông tin nông nghiệp nông thôn thuộc Sở NN&PTNT Tỉnh Vĩnh Long và các cô (chú), anh (chị) ở Ủy ban Xã Tường Lộc cũng như các cô (chú), anh (chị) trong làng nghề bánh tráng giấy đã tận tình giúp tôi có số liệu và tài liệu để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Hồ Anh Khoa, người đã hướng dẫn và đóng góp ý kiến để tôi có thể hoàn thành bài luận văn
Vì kiến thức của tôi và thời gian thực tập có hạn và do đây là lần đầu tiếp xúc với thực tế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong thầy (cô) bỏ qua
và góp ý để bài hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn
Ngày 22 tháng 4 năm 2011 Sinh viện thực hiện
Nguyễn Ngọc Thúy Hiền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này cho chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực và không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày 22 tháng 4 năm 2011 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Thúy Hiền
Trang 4NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Ngày 22 tháng 4 năm 2011
Thủ trưởng đơn vị
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ngày … Tháng… Năm 2011
Giáo viên hướng dẫn
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Ngày… Tháng… Năm 2011
Giáo viên phản biện
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Các giả thuyết cần kiểm định và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định 2
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Không gian nghiên cứu 2
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 2
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.4 Lược khảo tài liệu 3
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4 2.1 Phương pháp luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Các tiêu chí về làng nghề và nghề truỳên thống 6
2.1.3 Tìm hiểu sơ lược về Nghị định 66/2006/NĐ-CP 7
2.1.4 Tìm hiểu sơ lược về Thông tư 113/2006/TT-BTC 8
2.1.5 Các khái niệm chỉ tiêu kinh tế 10
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 11
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 11
2.3 Các công cụ thống kê 11
2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 11
2.3.2 Mô hình hồi quy đa biến 11
2.3.3 Kỳ vọng của mô hình 12
2.3.4 Các bước kiểm định trong phần mềm Eview 14
Trang 82.3.5 Ma trận SWOT 15
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 16
3.1 Khái quát về Huyện Tam Bình 16
3.1.1 Lịch sử hình thành 16
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 16
3.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội 18
3.2 Khái quát về Xã Tường Lộc và Ấp Nhà Thờ 23
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 23
Chương 4: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA LÀNG NGHỀ BÁNH TRÁNG GIẤY Ở HUYỆN TAM BÌNH 26
4.1 Khái quát về làng nghề 26
4.1.1 Lịch sử hình thành làng nghề 26
4.1.2 Vai trò của làng nghề 27
4.1.3 Công đoạn làm bánh 29
4.1.4 Tình hình sản xuất bánh ở Xã Tường Lộc hiện nay 30
4.2 Thực trạng sản xuất của làng nghề 31
4.2.1 Nguồn nhân lực 31
4.2.2 Nguồn lực tài chính 35
4.2.3 Nguồn vật lực 36
4.3 Phân tích kết quả sản xuất bánh tráng giấy năm 2010 36
4.3.1 Phân tích các loại chi phí 36
4.3.2 Đánh giá kết quả sản xuất 39
4.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ sản xuất 42
4.4.1 Kết quả mô hình hồi quy 42
4.4.2 Các bước kiểm định mô hình 43
4.4.3 Giải thích ý nghĩa của các biến trong mô hình 44
4.5 Phân tích SWOT 45
4.5.1 Điểm mạnh 45
4.5.2 Điểm yếu 46
4.5.3 Cơ hội 46
Trang 94.5.4 Thách thức 47
4.5.5 Phân tích SWOT 47
Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 50
5.1 Giải pháp về vốn 50
5.2 Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm 50
5.3 Giải pháp về vệ sinh an toàn thực phẩm 51
5.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 51
Chương 6: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 52
6.1 Kết luận 52
6.2 Kiến nghị 53
6.2.1 Các Sở ban ngành Tỉnh 53
6.2.2 Ngân sách chính sách xã hội Việt Nam 53
6.2.3 UBND Huyện và cơ quan ban ngành địa phương, hộ sản xuất 53
6.2.4 Đài truyền hình, phát thanh, báo đài và các công ty du lịch 54
6.2.5 Hộ sản xuất trong làng nghề 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Số lượng bánh sản xuất của làng nghề từ năm 2008 -2010 28
Bảng 2: Giá trị sản xuất bánh của làng nghề từ năm 2008 – 2010 28
Bảng 3: Tỷ lệ nhân khẩu của hộ 29
Bảng 4: Tỷ lệ lao động tham gia sản xuất 29
Bảng 5: Số lượng lao động phân theo giới tính – độ tuổi 30
Bảng 6: Kinh nghiệm của lao động tham gia sản xuất 30
Bảng 7: Trình độ học vấn của hộ sản xuất 31
Bảng 8: Số hộ tham gia hợp tác xã 31
Bảng 9:Các khoản mục chi phí nguyên liệu chính năm 2010 33
Bảng 10: Chi phí củi sử dụng trong năm 2010 35
Bảng 11: Chi phí nhân công năm 2010 35
Bảng 12: Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất bánh tráng giấy năm 2010 36
Bảng 13: Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất bánh quặng năm 2010 36
Bảng 14: Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất bánh xếp năm 2010 37
Bảng 15: Phân tích ma trận SWOT 43
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1: Cơ cấu ngành nghề của Huyện năm 2010 18
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ năm 1975 đến nay, đặc biệt là từ năm 1986 trở về sau, nền kinh tế nói chung ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được phục hồi và đang trên đà phát triển Có thể nói nghề thủ công cùng với nông nghiệp là hai hoạt động kinh
tế chủ yếu, gắn chặt và bổ sung cho nhau trong giai đoạn phát triển ĐBSCL; trong đó nông nghiệp trồng lúa vốn là thế mạnh của vùng góp phần đảm bảo an toàn lương thực cho cả nước và xuất khẩu với khối lượng ngày càng tăng Bên cạnh việc sản xuất nông nghiệp, nông hộ còn tận dụng thời gian nhàn rỗi của mình để làm một số nghề phụ như: đan lục bình, se nhang, chằm nón lá, nấu rượu, dệt chiếu….dần dần làng nghề truyền thống và làng nghề lần lượt ra đời nhằm góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm, tạo thêm thu nhập cho một bộ phận cư dân tại Nam bộ, đặc biệt là người dân sống ở nông thôn
Tỉnh Vĩnh Long là một trong những Tỉnh được cấp giấy công nhận làng nghề và nghề truyền thống nhiều nhất vùng ĐBSCL Hiện nay Tỉnh có khoảng
121 làng nghề và nghề truyền thống với nhiều ngành nghề khác nhau như: làng nghề truyền thống quết cốm dẹp, nghề làm đậu hũ ky ở Huyện Bình Minh, nghề dệt chiếu ở Huyện Vũng Liêm, làng nghề gạch – gốm ở Huyện Long Hồ đã tồn tại khoảng 100 tuổi Bên cạnh những làng nghề truyền thống kể trên thì Tỉnh còn
có các làng nghề mới phát triển như làng nghề làm bánh tráng giấy ở Huyện Tam Bình, làng nghề se lõi lát ở Huyện Vũng Liêm, làng nghề nấm rơm Huyện Trà Ôn… đang phát triển Trong đó sản phẩm của làng nghề bánh tráng giấy ở Huyện Tam Bình được Sở NN&PTNT Tỉnh Vĩnh Long đánh giá có khả năng phát triển với tốc độ cao vì làng nghề đã không ngừng tìm tòi làm ra nhiều loại bánh mới để đáp ứng nhu cầu khách hàng và rất được nhiều người ưa thích, chính vì vậy mà nhắc đến bánh tráng giấy (hoặc bánh xếp, bánh quặng) là du khách nhớ đến bánh tráng giấy Ấp Nhà Thờ Nhưng trong hai năm trở lại đây, do khủng hoảng kinh tế làm giá cả nguyên liệu đầu vào tăng cao, thị trường tiêu thụ không ổn định, lao động có xu hướng đi làm thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) dẫn đến
Trang 14việc các hộ trong làng thu hẹp sản xuất Mặc dù làng nghề được hưởng chính sách giải quyết việc làm 120 của Chính phủ vào năm 2010 và đặc biệt là được sự
hỗ trợ của nước Bỉ thông qua dự án FOS cách đây 10 năm đến nay vẫn còn, nhưng tình hình sản xuất hiện nay chưa thực sự phát triển Chính vì nguyên nhân
này, tôi chọn đề tài “Giải pháp phát triển làng nghề bánh tráng giấy ở Huyện Tam Bình Tỉnh Vĩnh Long”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số giải pháp để phát triển làng nghề bánh tráng giấy
1.3 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định
Các nhân tố chi phí bột, dừa, củi, nhân công, vay vốn, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ làm bánh tráng giấy
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Kết quả sản xuất năm 2010 thu được bao nhiêu lợi nhuận?
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ sản xuất?
Làng nghề có những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức nào?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Ấp Nhà Thờ, Xã Tường Lộc, Huyện Tam Bình
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Các số liệu thứ cấp trong đề tài được lấy từ giai đoạn 2008 – 2011
Số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 3 năm 2011 Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu bắt đầu từ 27/01/2011 đến 15/4/2011
Trang 151.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ gia đình sản xuất bánh tráng giấy tại
Ấp Nhà Thờ, Xã Tường Lộc, Huyện Tam Bình
1.4.4 Lược khảo tài liệu
Ngô Cẩm Chương (2009) “Phân tích thực trạng và giải pháp phát triển
nghề đan lục bình tại Xã Hòa An Huyện Phụng Hiệp Tỉnh Hậu Giang” Mục tiêu
của nghiên cứu này là đánh giá thực trạng nghề đan lục bình ở Tỉnh Hậu Giang,
từ đó đề ra giải pháp để phát triển nghề đan lục bình
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính, thống kê mô tả để xác định thực trạng hàng thủ công mỹ nghệ
+ Giải pháp phát triển nghề đan lục bình sử dụng công cụ phân tích ma trận SWOT
Sự khác biệt giữa luận văn và đề tài nghiên cứu là luận văn tập trung nghiên cứu về kết quả sản xuất, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ sản xuất bánh, sau đó đề ra giải pháp phát triển dựa trên ma trận SWOT và có đánh giá của chuyên gia
Trang 16CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghề thủ công truyền thống thường có các đặc điểm sau:
Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta
Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề
Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề
Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam
Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất
Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam
Là nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể về kinh tế vào Ngân sách Nhà nước
(Nguồn: Nguyễn Quang Viết (2010) Định hướng đào tạo nghề cho lực lượng lao động trong các làng nghề truyền thống, NXB Lao động-xã hội)
2.1.1.2 Làng nghề
Làng nghề là một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi 2 yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa
Trang 17Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc
Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề
đó chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng
Tóm lại, khái niệm làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông
(Nguồn: Nguyễn Quang Viết (2010) Định hướng đào tạo nghề cho lực lượng lao động trong các làng nghề truyền thống, NXB Lao động-xã hội)
2.1.1.3 Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không nhứt thiết tất cả các dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông để đảm bảo cuộc sống, sự kết hợp đa nghề này thường được thể hiện trong một làng hay trong từng gia đình Nghề thủ công ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nông dân, nông nghiệp và thúc đẩy nhau cùng phát triển
Do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề nơi khác Tuy nhiên, không phải bất cứ làng nào có vài ba lò rèn hay hai ba nhà làm nghề là làng nghề
Để xác định đó có phải làng nghề hay không cần xem xét tỷ trọng lao động, thu nhập từ làng nghề so với tổng thu nhập của thôn làng
(Nguồn: Nguyễn Quang Viết (2010) Định hướng đào tạo nghề cho lực lượng lao động trong các làng nghề truyền thống, NXB Lao động-xã hội)
2.1.1.4 Hộ kiêm
Còn gọi là hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề hoặc hộ ngành nghề kiêm sản xuất nông nghiệp; là những hộ vừa làm nông nghiệp, vừa làm một hoặc một số ngành nghề phi nông nghiệp Cả hai hoạt động ngành nghề và sản xuất nông
Trang 18nghiệp đều có vai trò quan trọng hoặc ít nhất là không thể thiếu được một trong hai loại hoạt động sản xuất kinh doanh này trong việc đảm bảo công ăn việc làm
và đời sống cho bản thân hộ gia đình đó Các loại hộ này có thể có hoặc không đăng ký sản xuất kinh doanh ngành nghề phi nông nghiệp tùy theo điều kiện của từng địa phương
(Nguồn: Nguyễn Mạnh Dũng (2004) Phát triển ngành nghề ở nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội)
2.1.1.5 Hộ chuyên ngành nghề (gọi tắt là hộ chuyên)
Hộ chuyên ngành nghề nông thôn là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động bao gồm các thành viên trong hộ cũng như lao động thuê ngoài tham gia các ngành nghề phi nông nghiệp dưới bất cứ hình thức sản xuất hay kinh doanh, dịch vụ nào; tự tạo việc làm hay làm công hưởng lương; nguồn thu nhập chủ yếu (khoảng 80% tổng thu nhập) của hộ là từ các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp
Các hộ chuyên ngành nghề có thể có đất nông nghiệp nhưng số lao động tham gia và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp chỉ là thứ yếu, không đáng kể so với số lao động và thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp (khoảng 20% tổng thu nhập)
(Nguồn: Nguyễn Mạnh Dũng (2004) Phát triển ngành nghề ở nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội)
2.1.2 Các tiêu chí về làng nghề và nghề truyền thống
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT, tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau:
2.1.2.1 Nghề truyền thống
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:
a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc c) Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Trang 192.1.2.2 Làng nghề
Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau:
a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
c) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
2.1.3 Tìm hiểu sơ lược về Nghị định 66/2006/NĐ-CP
Ngân sách địa phương hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn Đối với các Tỉnh khó khăn về nguồn thu ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần trong dự toán hàng năm
Đối với các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được :
+ Hưởng ưu đãi đầu tư theo Luật đầu tư + Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định hiện hành
Trang 20hành
+ Vay vốn từ Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm theo quy định hiện
+ Thực hiện theo quy định của Nhà nước về tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu
+ Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa bảo lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng
Xúc tiến thương mại
+ Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các
cơ sở ngành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiện hành của chương trình xúc tiến thương mại quốc gia
+ UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương để hỗ trợ cho các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn xuất xứ địa lý hàng hóa, có chính sách bảo hộ sở hữu thương hiệu
Khoa học công nghệ (KHCN)
+ Ngân sách Nhà nước từ nguồn kinh phí khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công hỗ trợ cơ sở ngành nghề nông thôn về các nội dung: thông tin, tuyên truyền, xây dựng mô hình, chuyển giao KHCN, bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo, tư vấn và dịch vụ
2.1.4 Tìm hiểu sơ lược về Thông tư 113/2006/TT-BTC
2.1.4.1 Nội dung của Thông tư
Hướng dẫn một số nội dung về ngân sách Nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP
2.1.4.2 Đối tượng hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước
Phạm vi lĩnh vực ngành nghề nông thôn: chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản
Đối tượng được hỗ trợ kinh phí: các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn được UBND Tỉnh quyết định công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống theo quy định của Bộ NN&PTNT về nội dung và tiêu chuẩn công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống
Trang 212.1.4.3 Nội dung hoạt động được hỗ trợ
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm
cơ sở ngành nghề nông thôn
Hoạt động thông tin, tuyên truyền, xây dựng mô hình, chuyển giao khoa học công nghệ, bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo, tư vấn và dịch vụ
2.1.4.4 Căn cứ và nguồn kinh phí hỗ trợ
Hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn:
Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn của cả nước và quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh được cấp thẩm quyền phê duyệt, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện (nếu được UBND cấp tỉnh phân cấp) quyết định dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn; trong đó xác định rõ nguồn kinh phí thực hiện dự án bao gồm: từ nguồn Ngân sách Nhà nước, nguồn huy động từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ việc đầu tư dự án và nguồn huy động hợp pháp khác Trong đó nguồn hỗ trợ từ ngân sách địa phương tối đa là 60% tổng mức vốn đầu tư dự án, nguồn huy động đóng góp của tổ chức cá nhân được hưởng lợi và nguồn huy động hợp pháp khác tối thiểu là 40% tổng mức đầu
tư dự án Đối với những tỉnh khó khăn về ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần trong dự toán ngân sách hàng năm để thực hiện, mức hỗ trợ do Chính phủ trình Quốc hội quyết định theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước
Hỗ trợ hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công hỗ trợ cơ sở ngành nghề nông thôn:
Ngân sách trung ương hỗ trợ các hoạt động khuyến công do trung ương quản lý; ngân sách địa phương hỗ trợ hoạt động khuyến công do địa phương quản lý; mức chi và nội dung chi cụ thể được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 36/2005/TTLT-BTC-BNN&PTNT-BCN ngày 16/5/2005 của Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT, Bộ Công nghiệp về hướng dẫn sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công
Trang 222.1.5 Các khái niệm chỉ tiêu kinh tế
Tất cả các chi phí này đều tính cho 1 bọc bánh
- Tổng chi phí: là toàn bộ các khoản đầu tư mà người sản xuất đã chi ra trong hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm mong muốn Các loại chi phí bao gồm: chi phí lao động, chi phí vật chất và chi phí khác
Tổng chi phí = chi phí lao động + chi phí vật chất + chi phí khác
- Doanh thu: là giá trị thành tiền từ số lượng sản phẩm sản xuất với đơn giá sản phẩm bán ra
Doanh thu = số lượng × đơn giá
- Lợi nhuận: là phần giá trị còn lại của doanh thu sau khi trừ đi các khoản chi phí bỏ ra
Lợi nhuận = doanh thu – chi phí Lợi nhuận có 2 loại: lợi nhuận không tính lao động gia đình và lợi nhuận tính công lao động gia đình
- Doanh thu trên chi phí (DT/CP): tỷ số này cho biết một đồng chi phí bỏ ra thì hộ sản xuất sẽ nhận được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Doanh thu/chi phí = doanhthu
Trang 232.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Dữ liệu của đề tài được thu thập từ hai nguồn: dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
Dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ Internet, các tài liệu và niên giám thống
kê của Huyện Tam Bình ở phòng thống kê, phòng công thương của Huyện; UBND và Hội phụ nữ Xã Tường Lộc, các kế hoạch dự án có liên quan đến làng nghề bánh tráng giấy ở Sở NN&PTNT
Dữ liệu sơ cấp: thu thập số liệu sơ cấp thông qua các phiếu điều tra soạn trước Đối tượng được chọn phỏng vấn trực tiếp là các hộ sản xuất bánh tráng giấy, bánh xếp và bánh quặng ở Ấp Nhà Thờ, Xã Tường Lộc, Huyện Tam Bình Những nội dung được phỏng vấn liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên đơn giản và theo mạng quan hệ với
cỡ mẫu 47 (40 hộ làm bánh tráng giấy, 7 hộ làm bánh xếp và bánh quặng)
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Đối với mục tiêu 1: sử dụng các phương pháp thống kê mô tả với các tiêu
chí như tần suất, tỷ lệ, trung bình để phân tích thực trạng làng nghề hiện nay
- Đối với mục tiêu 2: sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ sản xuất
- Đối với mục tiêu 3: sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT và phỏng vấn chuyên gia để xây dựng các giải pháp phát triển làng nghề
2.3 CÁC CÔNG CỤ THỐNG KÊ
2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp mô tả dữ liệu bằng các phép tính và chỉ số thống kê như: số trung bình, số trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn…là quá trình xử lý các số liệu thu thập bằng phần mềm SPSS nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu
2.3.2 Mô hình hồi quy đa biến
Hồi quy đa biến là thủ tục ước lượng các hệ số trong một phương trình hồi quy, khi kết quả dự báo phụ thuộc một cách tuyến tính vào các biến mô tả Số liệu được xử lý bằng phần mềm Eview 4.0 Phương pháp hồi quy tuyến tính tốt nhất được xác định thông qua sai số bình phương tối thiểu
Trang 24Mô hình hồi quy đa biến có biến phụ thuộc là Y, phụ thuộc vào nhiều biến độc lập X khác nhau Do đó mô hình có dạng như sau:
Y 0 1 1 2 2 i i u i
Trong đó Y: là biến phụ thuộc (biến được giải thích)
0 : là hệ số tự do, nó cho biết giá trị trung bình của biến Y khi các biến X1, X2…Xi bằng 0
X1, X2…Xi: là các độc lập (biến giải thích)
1 , 2 , … i gọi là hệ số hồi quy riêng Hệ số hồi quy riêng cho biết ảnh hưởng của từng biến độc lập lên giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi biến còn lại được cố định
ui là phần biến động của mô hình không giải thích được nên gọi là phần dư
2.3.3 Kỳ vọng của mô hình
Trong quá trình sản xuất để sản xuất được 1 sản phẩm đầu ra thì người sản xuất cần kết hợp một cách hợp lý nhiều yếu tố đầu vào để đạt được lợi nhuận mà mình mong muốn Cụ thể hộ làm bánh tráng giấy thì cần bỏ ra các loại chi phí đầu vào như: bột mỳ, bột khai, bột mỳ, củi, dừa, ngày công lao động…Vì vậy để phân tích kết quả trong sản xuất của hộ sản xuất, ta cần xem xét mối liên hệ giữa biến phụ thuộc (lợi nhuận) và các biến độc lập (các loại chi phí…) Theo lý thuyết về kinh tế sản xuất thì lợi nhuận được xem là khoản dôi ra sau khi trừ đi các khoản chi phí, cũng có thể nói lợi nhuận là khoản thu nhập chấp nhận rủi ro Qua các nghiên cứu trước đây cho thấy sự thay đổi của các yếu tố đầu vào
có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận Hầu hết mối quan hệ giữa các loại chi phí, vốn vay với lợi nhuận là ngược chiều; quan hệ giữa sản lượng và giá bán, kinh nghiệm, trình độ học vấn là cùng chiều Dựa vào các lý thuyết đó, sau đây là bảng kỳ vọng mô hình, trong đó dấu “-” thể hiện mối quan hệ ngược chiều giữa biến phụ thuộc với biến độc lập, dấu “+” thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa biến phụ thuộc với biến độc lập trong mô hình
Trang 25GIABAN: giá bán bánh (1.000 VNĐ/bọc bánh) KINHNGHIEM: kinh nghiệm của hộ (năm) TDHV: trình độ học vấn (cấp)
VAYVON: biến giả (1/0) vay vốn với 1 là hộ có vay vốn, 0 là hộ không vay
Phương trình hồi quy kỳ vọng của mô hình
Lợi nhuận = 0 - 1 *CPBOT - 2 *CPCUI - 3 *CPDUA - 4 *CPNC +
5 *SANLUONG + 6 *GIABANH + 7 *KINHNGHIEM + 8 *TDHV -
9 *VAYVON
Trang 262.3.4 Các bước kiểm định theo phần mềm Eview:
Bước 1: dùng thống kê Jarque-Bera và mức xác suất P-value dùng để kiểm
định phân phối chuẩn của biến phụ thuộc (Y) Nếu P-value > 10% thì chấp nhận
H0, với giả thuyết
H0: biến phân phối theo quy luật chuẩn
H1: biến không phân phối theo quy luật chuẩn
Bước 2: kiểm định đa cộng tuyến bằng hệ số tương quan, cặp X nào có r
> 0,7 thì cặp biến đó có hiện tượng đa cộng tuyến và loại bỏ 1 biến ra
Bước 3: chạy thử mô hình 1 (mô hình gốc)
Kiểm định độ phù hợp của mô hình: để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến ta dùng giá trị F Giả thuyết H0: 1 2 …= i 0 Nếu Sig F < ( là mức ý nghĩa) thì bác bỏ giả thuyết H0, khi đó mô hình phù hợp với tập dữ liệu và có thể suy rộng ra cho toàn tổng thể Nếu Sig F thì chấp
nhận giả thuyết H0 khi đó mô hình không phù hợp với tập dữ liệu và không thể suy rộng ra cho toàn tổng thể (trong đó mức ý nghĩa được sử dụng phổ biến là 1%, 5% và 10%)
Hệ số xác định R2: được định nghĩa như là tỷ lệ (hay phần trăm) biến động của biến phụ thuộc Y được giải thích bởi các biến độc lập Xi
Bước 4: kiểm định Ramsey RESET xem mô hình 1 có bỏ sót biến hay
không bằng cách xem P-value, nếu P-value > 10% thì chấp nhận H0 với giả thuyết
H0: mô hình gốc không thiếu biến, dạng hàm đúng H1: mô hình gốc thiếu biến, dạng hàm sai
Bước 5: kiểm định White do Eview thực hiện dựa trên hồi quy bình phương
phần dư (ký hiệu là RESID) theo bậc nhất và theo bậc 2 của các biến độc lập Có
2 trường hợp: kiểm định không có tích chéo giữa các biến độc lập và kiểm định tích chéo Nếu P-value > 10% thì chấp nhận H0 với giả thuyết
Trang 27H0: mô hình gốc có phương sai sai số không đổi (đồng đều) H1: mô hình gốc có phương sai sai số thay đổi (không đồng đều)
Bước 6: dùng kiểm định d của Durbin-Watson để kiểm định sự tự tương
quan giữa các biến
2.3.5 Ma trận SWOT
Phân tích SWOT là đưa các cơ hội và nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu ảnh hưởng đến vị thế hiện tại và tương lai
O (Opportunities) Chiến lược S-O
Sử dụng những điểm mạnh bên trong để tận dụng những cơ hội bên ngoài
Chiến lược W-O Vượt qua những điểm yếu bằng cách tận dụng các cơ hội
T (Threats) Chiến lược S-T
Sử dụng các điểm mạnh
để tránh khỏi hay giảm đi những ảnh hưởng đe dọa của bên ngoài
Chiến lược W-T Tối thiểu hóa những điểm yếu và tránh những thách thức
Trang 28CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TAM BÌNH
3.1.1 Lịch sử hình thành
Quận Tam Bình được thành lập từ ngày 29/6/1916, thuộc Tỉnh Vĩnh Long
do đổi tên từ quận Chợ Mới, gồm 3 tống: Bình Chánh với 5 làng, Bình Phú với 8 làng và Bình Thới với 5 làng Ngày 18/12/1916 quận Tam Bình nhận thêm phần đất của quận Cái Nhum bị giải thể
Ngày 11/8/1942 giải thể tống Bình Chánh, nhập làng Chánh An và làng An Phước của tống Bình Quới, quận Vũng Liêm; các làng Chánh Lợi, Chánh Hiệp, Chánh Hòa và Tân Long Hội nhập vào tống Bình Quới Ngày 20/3/1956 quận Tam Bình thuộc Tỉnh Tam Cần; ngày 22/10/1956 quận thuộc Tỉnh Vĩnh Long bao gồm: tống Bình Thuận gồm 4 xã, tống Bình Phú với 2 xã , tống Bình Định với 2 xã; sau năm 1965 các tống mặc nhiên bị giải thể
Sau ngày 30/4/1975 Tam Bình là Huyện thuộc Tỉnh Cửu Long; ngày 11/3/1977 Huyện nhận thêm phần đất của Huyện Bình Minh bị giải thể; ngày 29/9/1981 tái lập Huyện Bình Minh; ngày 27/3/1985 lập xã Long Phú trên cơ sở tách đất xã Song Phú; ngày 26/12/1991 Tỉnh Cửu Long tách thành hai Tỉnh là Tỉnh Vĩnh Long và Tỉnh Trà Vinh; Huyện Tam Bình thuộc Tỉnh Vĩnh Long Ngày 01/8/1994 Huyện lập mới các xã: Phú Định, Tân Phú, Tân Lộc, Hòa Lộc, Phú Lộc, Hòa Thạnh Cuối năm 2004 thì Huyện có 1 thị trấn và 16 xã
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Vị trí địa lý
Tam Bình là một Huyện của Tỉnh Vĩnh Long, nằm về phía Nam cách trung tâm Thành phố Vĩnh Long 32 km, cách trung tâm TP.Hồ Chí Minh 162 km, cách TP.Cần Thơ 28 km Huyện có vị trí khá thuận lợi khi phía Bắc tiếp giáp với Huyện Long Hồ, phía Nam giáp với Huyện Bình Minh, là trục trung tâm của Thành phố Vĩnh Long – Long Hồ - Măng Thít – Trà Ôn thông qua hệ thống giao thông đường thủy rộng khắp như đường quốc lộ 1A, 53, 54; tỉnh lộ 904, 905, 908
và 15 tuyến lộ cấp 5 và đường thủy có sông Măng Thít là thủy lộ quốc gia, tuyến
Trang 29chính chạy dài suốt ranh giới Đông – Nam, hệ thống kênh rạch chằng chịt được phân bổ đều trên địa bàn Huyện Với lợi thế này đã mang lại khả năng và tạo cho Tam Bình có một vị thế quan trọng trong chiến lược phát triển chung của Tỉnh nhất là đã tạo điều kiện cho nhân dân, các thành phần kinh tế trong vùng lưu thông và giao lưu trao đổi hàng hóa
3.1.2.2 Địa hình
Địa hình của Huyện tương đối bằng phẳng; cao độ giữa các vùng chênh lệch 0,3 – 0,5 m từ phía Đông - Đông Bắc và thấp dần về phía Tây - Tây Nam; có cao trình 0,5 – 0,7 m so với mực nước biển nên rất thuận lợi cho dòng chảy của nước phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, nhất là phát triển vườn cây ăn trái
3.1.2.3 Đất đai
Huyện có diện tích đất tự nhiên là 279,72 km2; Tam Bình có địa chất cấu tạo đất mềm: đất sét, đất cát và cát pha tạp chất hữu cơ; về thổ nhưỡng có 3 nhóm đất: đất sét có diện tích 83.845 ha (chiếm 67,51%), đất phù sa 17.849 ha (chiếm 32,06%) và đất giồng khoáng sản rất quý giá Với trữ lượng lớn đất sét sẽ rất thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy sản xuất gạch, ngói, gốm mỹ nghệ xuất khẩu…
3.1.2.4 Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ quanh năm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và phát triển các vườn cây ăn trái nhiệt đới
Về thủy văn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông, mực nước và biên độ triều khá cao, cường độ truyền triều mạnh, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên tiềm năng tự chảy cho cây trồng khá lớn, khả năng tiêu rút tốt nên ít bị tác hại do mùa lũ hàng năm gây ra Hiện tại Tam Bình đã phát triển 3 vụ trồng lúa trong năm, thuận lợi cho cơ giới hóa thâm canh tăng vụ
Trang 303.1.3 Tình hình kinh tế xã hội
3.1.3.1 Đơn vị hành chính
Huyện bao gồm thị trấn Tam Bình và 16 xã: Bình Ninh, Loan Mỹ, Ngãi Tứ, Song Phú, Phú Thịnh, Tân Lộc, Long Phú, Mỹ Thạnh Trung, Tường Lộc, Hòa Thạnh, Hòa Hiệp, Hòa Lộc, Mỹ Lộc, Phú Lộc, Hậu Lộc và Tân Phú
3.1.3.2 Dân số
Năm 2010 Huyện Tam Bình có dân số trung bình là 153.667 người, trong
đó dân tộc Kinh có 148.046 người chiếm 96,34%; dân tộc Khmer có 5.342 người chiếm 3,48%; người Hoa có 173 người chiếm 0,11% và 0,07% là dân tộc khác Mật độ dân số trung bình là 549 người/km2 với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 9,91‰ Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế, quá trình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, nông thôn là điều tất yếu;
do đó trong tương lai sẽ dẫn đến tình trạng thừa lao động vì Huyện có nền kinh tế nông nghiệp là chính và có dân số trong đó tuổi lao động là 103.634 người, nhưng Huyện chỉ mới giải quyết được việc làm cho 5.966 người nên việc giải quyết việc làm cho người dân là một vấn đề khó khăn mà Huyện phải đối mặt Hiện nay cuộc sống của người dân có phần được cải thiện dần, thu nhập bình quân đầu người là 12,8 triệu đồng/năm
3.1.3.3 Giao thông
Đường bộ: có các quốc 1A đi qua dài 10km, quốc lộ 53 dài 6 km, quốc lộ
54 dài 5 km, tỉnh lộ 904 dài 25 km, 905 dài 19 km, 908 dài 5 km Huyện đang quản lý 15 tuyến hương lộ, lộ cấp 5 với chiều dài 84,64 km; với phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong suốt hai mùa mưa nắng hiện Huyện có 16/16 xã có đường ôtô đến trung tâm xã
Đường thủy: có sông Măng Thít là con sông lớn đi qua Huyện và có 328
km sông rạch dừa và nhỏ
Thủy lợi: gắn với giao thông vừa tạo điều kiện đi lại và sản xuất của người dân được thuận lợi vừa góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, trong năm 2010 số công trình thi công là 64/74 công trình
Trang 31Nước sạch: tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch nông thôn đến nay là 564 hộ đạt 21,3% kế hoạch năm lũy kế (10.416 hộ/37.743 hộ), tỷ lệ hộ dân sử dụng nước máy chiếm 29,67% so với tổng số hộ đạt 82,42% so với kế hoạch
Về điện: trong năm 2010 phát triển thêm được 230 hộ đạt 104,54% so với
kế hoạch, nâng toàn hộ có sử dụng điện của Huyện lên 38.117/39.076 hộ có điện
sử dụng Bên cạnh đó, ngành điện đã triển khai thi công 5 công trình hã thế điện gồm: tuyến ấp Kỳ Son, tuyến ấp Giữa, ấp Tống Hưng B, trạm Trạch Tinl – xã Loan Mỹ và trạm Rạch Lá xã Bình Ninh với tổng chiều dài 3,75 km
Bưu điện viễn thông: hiện các xã, thị trấn có 18 bưu cục, bưu điện văn hóa
xã, với hệ thống tổng đài điện thoại, telex, điện hóa và các dịch vụ chuyển phát nhanh bưu phẩm, bưu kiện, tiền và dịch vụ EMS, Internet tới 16 xã và 1 thị trấn Hiện Huyện có 73.659 máy điện thoại (63.921 di động và 9.738 máy cố định), trung bình cứ 100 người thì có 46 người sử dụng điện thoại
3.1.3.4 Về giáo dục, y tế, văn hóa
Giáo dục: có 16/16 xã và thị trấn được công nhận xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Hiện nay Huyện có 52 trường (36 trường tiểu học, 15 trường phổ thông cơ sở, 5 trường phổ thông trung học), 1.451 giáo viên (636 giáo viên tiểu học, 815 giáo viên trung học), số học sinh đi học là 24.110 học sinh/45.735 học sinh trong độ tuổi đi học Hệ thống dạy nghề được mở rộng từ Huyện đến cơ
sở, toàn Huyện hiện có 11 trung tâm dạy nghề và 16 trung tâm học tập cộng đồng
ở 16 xã – 1 thị trấn Trong năm 2010 đã đào tạo nghề cho 1.230 lao động tại Huyện, giải quyết việc làm cho 7.588 lao động trong đó có 35 lao động đi xuất khẩu; mặt bằng dân trí được nâng lên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 27% Cơ cấu lao động xã hội trên địa bàn Huyện có sự chuyển dịch nhưng còn chậm, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp hiện nay là 62,5%
Y tế: Huyện có 1 bệnh viện, 1 phòng khám đa khoa khu vực, 16 trạm y tế
xã, thị trấn Với số lượng giường bệnh 259 giường; 218 cán bộ ngành y và 29 dược trung thì không đủ phục vụ cho 154.094 người dân nơi đây
Văn hóa: nhằm phục vụ nhu cầu giải trí của người dân thì Huyện có xây dựng 47 thư viện, 3 nhà văn hóa, 3 bảo tàng, 1 nhà truyền thống để phục vụ cho
Trang 32cộng đồng Ngoài ra còn có 18 đài truyền thanh ở các xã thị trấn và 1 đơn vị chiếu bóng
3.1.3.5 Cơ cấu ngành nghề trong Huyện
Qua hình 1 ta thấy ngành nông nghiệp chính là ngành phát triển mạnh mẽ nhất chiếm 58,34%, kế đến là ngành thương mại dịch vụ chiếm 39,17% đây là điều đáng mừng cho thấy nền kinh tế của Huyện đang ngày một phát triển mạnh góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Tuy nhiên ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp kém phát triển chỉ có 2,49%, do đó cần phải đẩy mạnh phát triển lĩnh vực này hơn nữa để theo kịp các huyện khác Sau đây là các tình hình sản xuất và kinh doanh của các ngành nghề:
39.17%
57.33%
3.5%
Nông nghiệp Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thương mại dịch vụ
(Nguồn: niên giám thống kê Huyện Tam Bình)
Hình 1: CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CỦA HUYỆN NĂM 2010
a) Nông nghiệp
Cây lúa: năm 2010 tổng diện tích trồng lúa là 42.572,92 ha, năng suất trung bình 3 vụ là 5,1 tấn/ha cho sản lượng 215.272,4 tấn đạt 96% so với kế hoạch, tăng 16% so với năm 2009, giá trị sản xuất thu được khoảng 863.089 triệu đồng Cây ăn trái: sau lúa là cây ăn trái, tổng diện tích trồng cây là 7699,6 ha đạt giá trị 377.309 triệu đồng trong đó cây cam sành được xem là cây chủ lực của Huyện được phát triển mạnh ở diện quy mô sản xuất hàng hóa và đã được đăng
ký thương hiệu gắn liền với việc ra đời hợp tác xã cam sành Tiếp tục phát triển
Trang 33mạnh kinh tế vườn, trong năm 2010 đã cải tạo vườn thực hiện nâng lũy kế 320 ha; mô hình cây ca cao đến nay thực hiện 07 xã (Hòa Hiệp, Phú Thịnh, thị trấn, Hòa Thạnh, Tường Lộc, Loan Mỹ, Bình Ninh) với 100 hộ 26 ha tương đương 15.913 cây ca cao giống
Cây màu, cây công nghiệp: chỉ tập trung các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: đậu nành, đậu phộng, mía, mè, thuốc lá, nấm rơm… có phát triển nhưng diện tích gieo trồng nhỏ nên không đáng kể, tuy nhiên trong mấy năm gần đây phong trào trồng nấm rơm trong nhân dân phát triển mạnh nâng lũy kế đến nay lên 2.700 ha góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn và tăng thu nhập cho người dân, giá trị đạt 142.010 triệu đồng
Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản: năm 2010 phong trào chăn nuôi có bước phát triển khá, giá trị sản xuất đạt 705.561 triệu đồng Trong đó, đàn heo đạt 88.852 con đạt 103,92% so với kế hoạch và tăng 12% so với 2009; đàn bò 11.011 con đạt 103,39% so với kế hoạch và tăng 6% so với 2009; đàn dê có 562 con đạt 24,98% so với kế hoạch và giảm 71% so với 2009; đàn gia cầm 1.232.000 con đạt 112% so với kế hoạch và tăng 23% so với 2009; đàn vịt thời vụ 662.000 con đạt 113,16% so với kế hoạch và tăng 15% so với 2009
+ Về thủy sản, người dân đã tận dụng mặt nước ao hồ, sử dụng đất ngoài bờ vùng, đất trồng lúa năng suất thấp nên lập bờ bao để ươm, nuôi tôm cá… Do đó diện tích thủy sản là 466,9 ha cho sản lượng 6.671,7 tấn đạt giá trị sản xuất 151.727 triệu đồng
b) Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Vẫn tiếp tục giữ vững nhịp độ tăng trưởng, giá trị sản xuất năm 2010 đạt 46,383 tỷ đồng tăng 1,4 lần so với 2009, bình quân hàng năm tăng 7,21% Toàn Huyện hiện có 507 cơ sở với 1.533 lao động, tập trung là thành phần kinh tế tư nhân chủ yếu là trong các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, dầu dừa, nước mắm, gạo xay xát, đường thô, đường kết tinh, nước tương, nước giải khát, đan lát, sửa chữa cơ khí, đóng ghe xuồng, vật liệu xây dựng….Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của Huyện gồm:
Ngành chế biến sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm 56,78% giá trị sản xuất, các ngành hàng xay xát đạt 156.500 tấn/năm
Trang 34Ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến gỗ là ngành hàng truyền thống của địa phương như sản xuất gạch ngói gần 3 triệu viên/năm, cưa xẻ gỗ trên 19.100 m2
Ngành cơ khí trong thời gian qua đã tạo nhiều mặt hàng tốt cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp của Huyện, giải quyết được việc sửa chữa các loại máy móc thiết bị và sản xuất các loại công
cụ, thiết bị đơn giản…
Còn lại là các ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề của địa phương như: may mặc, chiếu, thảm, lò đường, bánh tráng giấy…
c) Thương mại, dịch vụ và du lịch
Do nằm trên trục lộ giao thông thủy bộ nối liền với các huyện trong Tỉnh như gần TP.Vĩnh Long, TP.Trà Vinh, TP.Cần Thơ, TP.Mỹ Tho, TP.Bến Tre, TP.Cao Lãnh nên Huyện sớm trở thành một địa điểm có lợi thế phân phối, giao lưu hàng hóa nên thương mại và dịch vụ khá phát triển Công tác phát triển chợ được Huyện quan tâm chỉ đạo theo quy hoạch, trong năm 2010 Huyện đã khởi công xây dựng: chợ Long Phú, Tân Lộc, Ngãi Tứ trong đó đã nghiệm thu chợ Ngãi Tứ và Tân Lộc
Ước tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 1.662.719 triệu đồng, đạt 101,28% kế hoạch tăng 23,76% so với 2009 Trong đó doanh nghiệp tư nhân đạt 236.965 triệu đồng tăng 23,71% so với 2009; cá thể đạt 1.551.422 triệu đồng tăng 23,77% so với 2009; khách sạn nhà hàng đạt 149.606 triệu đồng đạt 101,31% so với kế hoạch; dịch vụ đạt 61.691 triệu đồng tăng 23,33% so với 2009
Về dịch vụ vận tải, mạng lưới thủy bộ ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách; bình quân hàng năm khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 11,02%, hành khách tăng 10,05%
Về du lịch, riêng điểm du lịch Cái Ngang (khu di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang), năm 2010 đã có hơn 9.080 lượt khách trong và ngoài tỉnh, khách quốc tế đến tham quan du lịch và tìm hiểu lịch sử Cách mạng địa phương
3.2 KHÁI QUÁT VỀ XÃ TƯỜNG LỘC VÀ ẤP NHÀ THỜ
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 353.2.1.1 Vị trí địa lý
a) Xã Tường Lộc: có diện tích tự nhiên là 1.171,69 ha trong đó diện tích
nông nghiệp là 918,69 ha, đất thổ cư là 63,15 ha và đất khác là 189,85 ha
- Phía Đông: giáp Xã Xuân Hiệp, Huyện Trà Ôn
- Phía Tây: giáp Xã Hòa Lộc, Mỹ Thạnh Trung
- Phía Nam: giáp Xã Tân Mỹ, Loan Mỹ
- Phía Bắc: giáp Xã Hòa Hiệp
b) Ấp Nhà Thờ: có diện tích tự nhiên là 67,80 ha (trong đó đất thổ cư là
3,4ha) đất đai phù hợp với việc lập vườn trồng cây ăn trái như: nhãn, dừa, xoài, bưởi…
- Phía Đông: giáp sông Kinh sau Ấp Tường Trí, Xã Nhơn Bình
- Phía Tây: giáp sông Măng Thít
- Phía Nam: giáp Ấp Tường Trí B, Xã Tường Lộc
- Phía Bắc: giáp sông Sa Rài
3.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.2.1 Dân số
Năm 2010 Xã có 9 ấp, 2.744 hộ với 10.330 người, số người trong độ tuổi lao động là 5.536 người, trong đó lao động nông nghiệp 5.106 người chiếm 49,43% tổng số lao động của xã, lao động công nghiệp 4.839 người, lao động thương mại – dịch vụ 385 người
Ấp Nhà Thờ là 1 trong 9 ấp của Xã Tường Lộc, có 313 hộ với 1.400 người dân sinh trong đó số hộ thuộc làng nghề bánh tráng giấy là 101 hộ chiếm 30,6%
số hộ trong ấp, dân số 411 người trong đó có 343 người trong độ tuổi lao động Lao động phân theo ngành nghề gồm: lao đông nông nghiệp có 237 hộ với 719 người chiếm 80% số lao động làng nghề, trong đó có 97 hộ với 198 lao động đan xen tham gia làng nghề trong thời gian nông nhàn; lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có 47 hộ với 99 người chiếm 10%; lao động thương mại – dịch
vụ có 29 hộ với 99 người cũng chiếm 10%
3.2.2.2 Kinh tế
Giá trị sản xuất ngành nông – lâm - thủy sản của Xã năm 2010 ước tính là 35.475 triệu đồng trong đó giá trị nông nghiệp ước đạt 34.142 triệu đồng với diện
Trang 36tích lúa cả năm là 716.345 ha cho sản lượng 51,07 tạ/ha, diện tích màu lương thực là 72,6 ha, diện tích cây công nghiệp và cây hàng năm khác là 49 ha, số lượng đàn heo là 4.557 con, đàn bò là 765 con, đàn gà và vịt là 29.494 con Giá trị công nghiệp ước đạt 82.238 triệu đồng; giá trị thương nghiệp là 68.757 triệu đồng Thu nhập bình quân đầu người là 12 triệu đồng/người/năm
Trước đây đời sống nhân dân trong Ấp sống dựa vào sản lượng thu hoạch
từ vườn cây ăn trái, làm thuê, làm mướn nên nghề sản xuất chính của Ấp là sản phẩm thu hoạch từ vườn cây ăn trái Đến năm 1985 do nguồn đầu tư vào và thu hoạch sản phẩm đầu ra của vườn trái cây không còn phù hợp do đó người dân chuyển sang làm bánh tráng giấy Đến nay nghề làm bánh hoạt động mạnh nhờ nguồn nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra với giá hợp lý, hơn nữa thị trường tiêu thụ cũng khá ổn định, đã giải quyết trên 80% số lao động còn lại của địa phương, nhìn chung cuộc sống nhân dân ổn định Thu nhập bình quân của lao động làng nghề là 10,5 triệu đồng/người/năm
3.2.2.3 Văn hóa, giáo dục
Ấp có 1 Nhà Thờ: được thành lập năm 1905 do linh mục Trần Hiếu Ngãi đảm nhiệm họ đạo Qua nhiều lần thay đổi hiện nay do linh mục Nguyễn Văn Hiền quản lý, có 2.800 giáo dân thờ Chúa Giêsu và kính các vị thánh trong đạo
Ấp có 1 Chùa Phật: được thành lập năm 1953 do bà trần Thị Sáu thành lập, đến năm 2004 được Sở Văn hóa thông tin công nhận và lấy tên chùa là Thanh Hoa
Ấp có 1 trường mẫu giáo, số lượng con em trong ấp là 110 em trong đó học phổ thông là 86; đại học, cao đẳng là 9, trung cấp 10 và học nghề là 5 và để phục
vụ cho nhu cầu giải trí và sức khỏe của người dân thì ấp có 1 tổ y tế, 1 sân bóng
Trang 37đá dăm) tạo điều kiện cho việc vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm giữa làng nghề và các đại lý tiêu thụ sản phẩm
+ Làng nghề bánh tráng giấy có tuyến lộ 905 dài 800 m, với 2.800 m đường bêtông xi măng và rãi đá hình thành đường bộ, liên kết giữa những khu phố trong làng nghề nhằm thuận tiện sinh hoạt sản xuất của người dân Trong 5 năm tới, làng nghề có hướng phát triển nên xã có kế hoạch mở rộng đều khắp 9 ấp và các
tổ trong xã, do đó đã vận động nhân dân góp vốn cùng Nhà nước xây dựng thêm tuyến lộ mới phục vụ cho sản xuất làng nghề
Đường thủy: xã có hệ thống sông rạch chằng chịt khoảng 20 km bao gồm sông Măng và sông Cái Ngang, Ngã Hàn và Sa Rài do đó thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho các hộ dân trong xã
Trang 38CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA LÀNG NGHỀ BÁNH TRÁNG GIẤY Ở
HUYỆN TAM BÌNH
4.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ
4.1.1 Lịch sử hình thành làng nghề bánh tráng giấy ở Huyện Tam Bình
Trước đây đời sống nhân dân trong Ấp sống dựa vào sản lượng thu hoạch
từ vườn cây ăn trái, làm thuê, làm mướn Đến năm 1985 do nguồn đầu tư vào và thu hoạch sản phẩm đầu ra của vườn trái cây không còn được phát triển như xưa, đời sống người dân trở nên khó khăn Bấy giờ trong nhà thờ có dì Phước chuyên làm bánh lễ, cơ bản dựa trên bánh lễ này mà dì đã tạo ra loại bánh to, mỏng hơn
có thêm chút nguyên liệu khác trở thành một loại bánh mới có tên gọi là bánh tráng giấy dùng để gói xôi và làm kẹo đậu phộng Thế là từ đó làng nghề bánh tráng giấy Ấp Nhà thờ ra đời; tuy thu nhập không cao nhưng đây thực sự là một nghề đã thu hút được nhiều lao động, giúp cho rất nhiều hộ dân nơi đây từ thiếu thốn có được cuộc sống ổn định cho đến nay Để tăng tính đa dạng sản phẩm của làng nghề, chị Trương Thị Kiều đã tìm cách học hỏi, nâng cao chất lượng chiếc bánh tráng giấy, biến nó trở thành một loại bánh ngon, hợp khẩu vị nhiều người, không đơn thuần chỉ là vỏ cho kẹo đậu phộng hay bánh gói xôi Từ đó chiếc bánh xếp và bánh quặng được hình thành; ngoài nguyên liệu cơ bản là bột mỳ, nước, bánh còn có vị ngọt của đường, vị béo của nước cốt dừa, vị bùi của mè, vị thơm của hành và vani, vị đậm đà của muối, độ phao xốp của lòng đỏ trứng… tạo nên nét đặc trưng riêng của bánh Suốt chục năm qua bánh đã theo dòng sông Măng Thít đi khắp các tỉnh ĐBSCL như: Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh…
Cư dân xóm nghề bánh tráng giấy Nhà Thờ không thờ nhân vật Tổ nghiệp
cụ thể như những người hành nghề nấu ăn, làm bánh khác…., tức những nghề cần dùng đến bếp lò, nhưng thợ làm bánh tráng giấy cũng có tín ngưỡng cúng ông lò Họ cúng vào ngày mùng 2 và 16 âm lịch hàng tháng; thức cúng rất đơn giản chỉ có trà, nước, bánh và trái cây; tất cả được bày trên mâm, đặt ngay trên
Trang 39thành bếp lò Khi cúng, chủ lò khấn vái xin ông lò phù hộ cho làng nghề bánh tráng giấy làm ăn thuận lợi, buôn bán suông sẻ, cầu cho người làm trong lò “lành tay lành chân”…
4.1.2 Vai trò của làng nghề
4.1.2.1 Phát triển văn hóa
Một đặc thù hết sức quan trọng của mặt hàng truyền thống đó là tính cá biệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi người thợ và nét đặc trưng địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưu, được chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển cùng với sự bổ sung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện cho những sản phẩm cùng loại được sản xuất tiếp theo
Sản phẩm của làng nghề mang tính đơn chiếc, thường nhạy bén với thị trường trong việc đổi mới mẫu mã, chất lượng và có điều kiện thay đổi hướng sản xuất linh hoạt Nhờ bám sát thị trường, am hiểu thị hiếu của người tiêu dùng nên làng nghề bánh tráng giấy đã không ngừng sáng tạo để sản xuất ra nhiều loại bánh khác nhau như: bánh xếp, bánh quặng, bánh sâm banh, bánh ngò nhằm đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng
4.1.2.2 Góp phần xóa đói giảm nghèo
Sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề Từ khi thành lập đến nay, làng nghề có 101 hộ tham gia chiếm 32% số hộ dân trong ấp (313 hộ); tạo công ăn việc làm cho 411 lao động của làng nghề chiếm 41,56% số lao động trong ấp (989 người lao động) trong đó có 198 lao động nông nghiệp tham gia làm bánh trong thời gian nông nhàn Năm 2010 làng nghề tạo ra trung bình 138 tấn sản phẩm bánh tráng các loại trong đó bánh tráng giấy đạt trung bình 10 tấn đã mang lại giá trị sản xuất cho ngành nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Huyện ước tính khoảng 1,810
tỷ đồng Chính vì vậy, làng nghề đã đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói giảm nghèo ở Huyện, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động nhàn rỗi, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nơi đây