44 CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG XOÀI CÁC HÒA LỘC Ở HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG.... Tiền Giang là một địa bàn có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có giá trị k
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-*o0o* -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH SẢN
XUẤT XOÀI CÁT HÒA LỘC TẠI
HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
MSSV: 4077586 Lớp: Kinh tế nông nghiệp 2 Khóa: 33
Cần Thơ – 4/2011
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Luận văn hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân là sự giúp đỡ có ý nghĩa quyết định của thầy Đỗ Văn Xê trong việc hoàn chỉnh luận văn cả về nội dung và hình thức trong suốt thời gian qua
Ngoài ra, tôi rất trân trọng sự nhiệt tình giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức trong quá trình thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp, đặc biệt là các nông hộ trồng xoài tham gia trả lời phỏng vấn và phòng Nông nghiệp – phát triển nông thôn huyện Cái Bè
Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến tất cả các thầy cô Khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh đã truyền dạy cho tôi kiến thức trong những năm qua và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đỗ Văn Xê đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn trong học kỳ cuối này
Ngày … tháng 04 năm 2011 Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên
Lê Thị Thu Oanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
(ký và ghi họ tên)
Lê Thị Thu Oanh
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HUỚNG DẪN
Giáo viên huớng dẫn
PGS.TS Đỗ Văn Xê
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HUỚNG DẪN
Giáo viên phản biện
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Danh mục hình vi
Danh mục bảng vii
Danh mục chữ viết tắt viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Phạm vi về thời gian 2
1.3.2 Phạm vi về không gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 Phương pháp luận 3
2.1.1 Giới thiệu cây xoài 3
2.1.2 Hiệu quả kinh tế 4
2.1.3 Khái niệm nông hộ 4
2.1.4 Tài nguyên nông hộ 4
2.2 Phương pháp nghiên cứu 6
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 6
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 6
2.2.3 Các chỉ số tài chính 7
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 9
2.2.5 Các phương pháp sử dụng trong phân tích 10
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 13
3.1Giới thiệu về tỉnh Tiền Giang 13
3.1.1 Vị trí địa lý 13
3.1.2 Hành chính - xã hội 13
3.1.3 Điều kiện tự nhiên 13
3.1.4 Điều kiện kinh tế 18
3.1.5 Cơ cấu kinh tế 21
3.2 Sơ lược về huyện Cái Bè 21
3.3 Giới thiệu về xoài cát Hòa Lộc 24
3.3.1 Nguồn gốc cây xoài cát Hòa Lộc 24
Trang 73.3.2 Quy trình trồng xoài 25
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TRỒNG XOÀI CÁT HÒA LỘC Ở HUYỆN CÁI
BÈ TỈNH TIỀN GIANG 30
4.1 Tình hình trồng xoài cát hòa lộc của các nông hộ 30
4.1.1 Đặc điểm của nông hộ trồng xoài 30
4.1.2 Thực trạng trồng xoài ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang 31
4.2 Tình hình trồng xoài cát hòa lộc ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang 34
4.2.1 Lý do trồng xoài 34
4.2.2 Diện tích trồng và mật độ trồng xoài 35
4.2.3 Giống cây trồng 35
4.2.4 Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 37
4.2.5 Trang bị khoa học kĩ thuật 39
4.2.6 Hợp tác trong sản xuất 39
4.2.7 Hoạt động thu hoạch xoài 40
4.2.8 Hoạt động mua bán 41
4.2.9 Vốn để trồng xoài 44
4.2.10 Dự định tăng diện tích trồng xoài 44
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG XOÀI CÁC HÒA LỘC Ở HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG 46
5.1 Phân tích các chỉ số tài chính của mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc 46
5.1.1 Các loại chi phí trong trồng xoài 46
5.1.2 Doanh thu trồng xoài 47
5.1.3 Phân tích các chỉ số tài chính thể hiện hiệu quả trồng xoài 47
5.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc 48
5.2.1 Hiệu quả kinh tế của trồng xoài cát Hòa Lộc 48
5.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông hộ trồng xoài 50
CHƯƠNG 6: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ DUY TRÌ ỔN ĐỊNH MÔ HÌNH TRỒNG XOÀI CÁT HÒA LỘC 53
6.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc trồng xoài của nông hộ 53
6.1.1 Những thuận lợi trồng trồng xoài ở khu vực 53
6.1.2 Những tồn tại trong trồng xoài cát Hòa Lộc 53
6.2 Các giải pháp thúc đẩy sự phát triển cho ngành trồng xoài 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
A Kết luận 57
B Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Số mẫu điều tra trồng xoài Cát Hòa Lộc 7
Bảng 2: Cơ cấu sử dụng đất ở Tiền Giang 18
Bảng 3: Tốc độ tăng sản phẩm trong tỉnh theo giá năm 1994……….…19
Bảng 4: Tình hình cơ bản của nông hộ trồng xoài điều tra 30
Bảng 5: Trình độ học vấn của nông hộ 31
Bảng 6: Diện tích trồng cây ăn trái của huyện Cái Bè qua các năm 34
Bảng 7: Lý do trồng xoài cát Hòa Lộc 35
Bảng 8: Diện tích và mật độ trồng xoài của các nông hộ 35
Bảng 9: Nơi mua giống cây xoài 36
Bảng 10: Lý do mua giống cây 37
Bảng 11: Đánh giá về chất lượng giống 37
Bảng 12: Nơi mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 38
Bảng 13: Căn cứ xác định thời điểm, liều lượng bón phân và phun thuốc 38
Bảng 14: Nguồn tiếp thu kiến thức khoa học kĩ thuật trồng xoài 39
Bảng 15: Sinh hoạt trong hội nông dân hoặc hợp tác xã 40
Bảng 16: Đặc điểm thu hoạch xoài cát Hòa Lộc của nông hộ 41
Bảng 17: Đặc điểm hoạt động mua bán xoài cát Hòa Lộc 42
Bảng 18: Người quyết định giá bán và hình thức bán xoài 43
Bảng 19: Phân loại xoài cát Hòa Lộc theo trọng lượng 43
Bảng 20: Thái độ của nông hộ trồng xoài khi giá cả biến động 43
Bảng 21: Vay vốn để trồng xoài 44
Bảng 22: Dự định tăng diện tích trồng xoài 45
Bảng 23: Chi phí sản xuất bình quân hàng năm/công trong thời kì thu hoạch của mô hình xoài cát Hòa Lộc 46
Bảng 24: Doanh thu bình quân của mô hình trồng xoài 47
Bảng 25: Phân tích các chỉ số tài chính 48
Bảng 26: Chi phí kinh tế hằng năm của nông hộ trồng xoài 49
Bảng 27: Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc 49
Bảng 28: Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận của nông hộ trồng xoài 50
Bảng 29: Những khó khăn trong quá trình sản xuất 55
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HTX: Hợp tác xã
NN – PTNT: Nông nghiệp – phát triển nông thôn
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Châu thổ sông Cửu Long là một vùng đồng bằng phù sa màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển các loại hình nông nghiệp nhất trong cả nước Bên cạnh là nơi sản xuất lúa nhiều nhất cả nước, đồng bằng Sông Cửu Long còn là khu vực sản xuất và xuất khẩu thủy sản lớn nhất, và là một vườn trái cây đủ loại với sản lượng hằng năm cao Trong vùng có nhiều loại cây ăn trái thích hợp phát triển như nhãn, xoài, chôm chôm, măng cụt, bưởi, vú sữa,… được trồng rãi rác khắp các tỉnh Nam Bộ từ Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, đến các tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ,… và trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều người dân
ở khu vực, giúp nông dân vươn lên làm giàu Từ đó, vấn đề phát triển cây ăn trái
ở Miền Nam ngày càng được Nhà nước và các Bộ Ngành có liên quan quan tâm, khuyến khích phát triển về các nguồn lực như giống, thuốc bảo vệ thực vật và kỹ thuật canh tác, đặc biệt vựa trái cây quốc gia ở Cái Bè – Tiền Giang có tác dụng
hỗ trợ tích cực cho nghề làm vườn trong khu vực Nhờ đó, có nhiều loại trái cây
ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã xây dựng được thương hiệu như vú sữa Lò rèn – Vĩnh Kiêm, xoài cát Hòa Lộc, bưởi Hoàng Gia, bưởi Năm Roi,…
Tuy nhiên, sản xuất trái cây ở khu vực còn gặp nhiều khó khăn cho người dân và các khâu thu mua liên quan Số lượng các loại trái cây đạt thương hiệu chiếm một số lượng nhỏ trong tổng số sản lượng của Đồng bằng Sông Cửu Long Người dân được tiếp thu kỹ thuật canh tác mới nhưng áp dụng vào sản xuất vẫn chưa cao Thị trường tiêu thu còn thay đổi nhiều theo mùa, theo thị hiếu và tâm
lý của người tiêu dùng nên giá cả không ổn định
Tiền Giang là một địa bàn có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế như: xoài, bưởi, mận, sầu riêng… Trong đó mô hình sản xuất xoài cát Hòa Lộc ở huyện Cái Bè đã được các nhà vườn áp dụng trong nhiều năm nay đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao
Chính vì vậy nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng và phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất xoài cát Hòa Lộc tại huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang” Nội dung đề tài sẽ cho biết tình hình
trồng xoài Cát Hòa Lộc hiện nay và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng
Trang 12xoài cát Hòa Lộc tại các địa phương chưa thành lập vùng chuyên canh, từ
đó rút ra một số biện pháp làm duy trì diện tích trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế mà xoài cát Hòa Lộc mang lại
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất xoài Cát Hòa Lộc tại huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang nhằm xác định chi phí, doanh thu, lợi nhuận của các hộ nông dân trồng xoài và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận từ trồng xoài của nông hộ Từ đó, đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc ở địa phương
Đề tài được thực hiện trong giới hạn thời gian của học kỳ II năm học
2010-2011, và trong khung kế hoạch làm luận văn tốt nghiệp của Khoa Kinh tế - Trường Đại học Cần Thơ
Thời gian tiến hành thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp được thực hiện từ 27/01/2011 đến 15/04/2011
1.3.2 Phạm vi về không gian
Luận văn được thực hiện tại trường Đại học Cần Thơ với các số liệu điều tra từ hộ nông dân sản xuất xoài Cát Hòa Lộc tại một số xã thuộc huyện Cái Bè – Tiền Giang
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nông hộ trồng xoài cát Hòa Lộc tại các xã không thành lập vùng chuyên canh thuộc huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang
Trang 13CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Các khái niệm
2.1.1 Giới thiệu cây xoài
Xoài là cây ăn quả nhiệt đới (tên khoa học là Mangifera Indian L., thuộc họ
đào lộn hột Anacadiaceae), phần lớn các tác giả đều cho rằng nguồn gốc cây xoài
ở miền Đông Ấn Độ và các vùng giáp ranh như Miến Điện, Việt Nam, Malaysia Trên thế giới hiện nay có 87 nước trồng xoài với diện tích khoảng 1,8 – 2,2 triệu hecta Vùng châu Á chiếm 2/3 diện tích trồng xoài trên thế giới, trong đó đứng đầu là Ấn Độ (chiếm gần 70% sản lượng xoài thế giới với 9,3 triệu tấn), Thái Lan, Pakistan, Philippin, và miền Nam Trung Quốc, Conggo, Ghine, Nam Phi, Kenya, Mali, Ai Cập, Brazin, Mehico, Hoa Kỳ Ngoài ra, xoài còn được trồng ven biển nước Úc Ở Việt Nam xoài được trồng từ Nam chí Bắc, vùng trồng xoài tập trung từ Bình Định trở vào nhiều nhất là các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như: Tiền Giang (trên 6.000ha), Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ…
Trái xoài chứa nhiều vitamin A, C, đường (15,4%), các loại acid hữu cơ: A, B2, C,… và chất khoáng: K, Ca, P,… nên xoài được sử dụng rộng rãi cả trái chín
và trái già còn xanh Xoài chín được ăn tươi, đóng hộp, làm nước trái cây, mứt kẹo, kem, sấy khô để tiêu thụ nội địa hay xuất khẩu [1, Tr.7]
Xoài cát Hoà Lộc là một trong những giống xoài nổi tiếng nhất ở đồng
bằng Sông Cửu Long - Việt Nam và là một trong những loại quả được ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Quả xoài cát Hoà Lộc có trọng lượng trung bình 350- 450g/quả, hình thuôn dài, khi chín
vỏ màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng tươi, cấu trúc thịt chắc, mịn và ít xơ, vị rất ngon và thơm Cây cho trái sau 3-4 năm trồng nếu được chăm sóc tốt, thu hoạch tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 dương lịch Nếu áp dụng kỹ thuật xử lý ra hoa, thời gian thu hoạch khoảng tháng 1-2 dương lịch Thời gian từ khi cây ra hoa đến thu hoạch trái 3,5-4,0 tháng Giống này cho năng suất trung bình 100 kg/cây/năm đối với cây 10 năm tuổi và khá ổn định
Trang 142.1.2 Hiệu quả kinh tế
Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào [2, Tr.124] Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thật ra là giá trị Có nghĩa là, khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không hiệu quả
2.1.3 Khái niệm nông hộ
Hộ gia đình là tập hợp những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống, cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như: ăn, uống… Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp số thành viên của hộ không có họ hàng huyết thống, nhưng những trường hợp này rất ít
Nông hộ (hay còn gọi là hộ nông dân) là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp Ngoài các hoạt động nông nghiệp, nông
hộ còn có thể tiến hành thêm một số hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế của hộ gia đình Tuy nhiên cũng cần chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế.[3, Tr 5]
2.1.4 Tài nguyên nông hộ
Tài nguyên nông hộ: là những nguồn lực mà nông hộ có thể sử dụng vào việc sản xuất nông nghiệp của mình như: đất đai, lao động, tài chính, kĩ thuật…
- Đất đai: Đặc trưng nổi bậc của các nông hộ ở nước ta hiện nay là có
qui mô canh tác nhỏ bé Qui mô canh tác bình quân của một nông hộ ở miền Bắc là 0,48 hecta, Duyên hải miền Trung là 0,4 - 0,6 hecta và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là 0,6 – 1,0 hecta Điều đáng quan tâm là qui mô đất canh tác của nông hộ có xu hướng giảm dần do tác động của các nhân tố: số dân nông thôn tăng lên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, với việc phát triển ngành giao thông thương mại, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp khác đã lấy đi đất nông nghiệp
Trang 15Về sở hữu đất đai: Nông hộ không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền
sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền thừa kế, và quyền thế chấp sử dụng đất đai [4, Tr7.]
- Lao động: Nông hộ là đơn vị tự tổ chức lao động, sử dụng lao động của
gia đình là chính Lao động của nông hộ chủ yếu là tự đào tạo và truyền nghề Tùy theo qui mô và hình thức sản xuất mà các hộ có thuê mướn thêm lao động [4, Tr7]
- Nguồn vốn sản xuất trong nông nghiệp: Vốn được xem như là một
yếu tố đầu vào có thể nâng cao chất lượng và sản lượng cho sản phẩm nông nghiệp Vốn trong nông nghiệp bao gồm tất cả các máy móc thiết bị được sử dụng trong quá trình sản xuất Hơn nữa vốn trong nông nghiệp còn được thể hiện thông qua sản phẩm của những hoạt động sản xuất nông nghiệp trước đó
mà liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện tại Nhìn chung, vốn trong nông nghiệp được sử dụng kết hợp với các yếu tố đầu vào khác như: nhân lực, đất đai, năng lượng để hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp cụ thể nào đó
Vốn trong nông nghiệp được đo lường bằng giá trị mà chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp và được xem như một thứ hàng hóa Vì vậy trong mỗi giai đoạn sản xuất nông nghiệp sẽ xuất hiện một khoản chi phí liên quan đến sử dụng vốn như: chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lao động Sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả sản xuất không phải bằng cách trực tiếp mà là gián tiếp thông qua đất, cây trồng, vật nuôi Chu kì sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển vốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn tạo ra sự cần thiết phải dự trữ vốn trong thời gian tương đối dài và làm cho vốn ứ đọng Mặt khác, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên việc sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thấy hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn [5, Tr.19]
- Khoa học – Công nghệ kỹ thuật: Việc nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ
khoa học – công nghệ trong nông nghiệp mang tính vùng, tính địa phương cao
Sự khác biệt giữa các vùng nông nghiệp đòi hỏi phải khảo nghiệm, phải địa phương hóa các tiến bộ khoa học – công nghệ trước khi triển khai áp dụng đại trà Sự phát triển từng mặt, từng bộ phận của lực lượng sản xuất là biểu hiện có
Trang 16tính chất kỹ thuật của tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong nông nghiệp Nếu như tiến bộ khoa học công nghệ riêng lẻ thì tác động đến sự phát triển từng mặt, từng yếu tố của lực lượng sản xuất , thì ngược lại, sự phát triển của ngành nông nghiệp lại dựa trên sự phát triển đồng bộ của các yếu tố cấu thành cơ sở vật chất kỹ thuật của bản thân nông nghiệp Điều này có nghĩa là, cần có sự vận dụng tổng hợp các tiến bộ khoa học – công nghệ riêng lẻ đảm bảo sự phát triển ổn định và chắc chắn của nông nghiệp [5, Tr.20]
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Dựa vào tình hình hoạt động sản xuất nông nghiệp và sau khi tham khảo ý kiến của Phòng nông nghiệp huyện Cái Bè nên các xã trồng nhiều xoài cát Hòa Lộc trong huyện nhưng chưa thành lập vùng chuyên canh là:
An Hữu, An Thái Trung, Tân Thanh, Tân Hưng được chọn để phỏng vấn và lấy số liệu sơ cấp
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn:
- Số liệu thống kê của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè như: Niên giám thống kê năm 2010…
- Các đề tài, dự án nghiên cứu, tài liệu hội thảo có liên quan đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của các trường Đại học/Viện nghiên cứu, các tổ chức khác
- Thông tin từ các website, tạp chí có liên quan đến nội dung nghiên cứu
2.2.2.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp người dân ở
ba xã nêu trên thuộc huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang dựa trên bảng câu hỏi phỏng vấn đã soạn sẵn
Tổng số mẫu chính thức được lấy là 60 mẫu để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể đồng thời cân nhắc về thời gian, chi phí và nhân lực
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, toàn huyện phân tầng theo từng xã và sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên trong từng xã
Trang 17Bảng 1: Số mẫu điều tra trồng xoài Cát Hòa Lộc
Để tính toán hiệu quả kinh tế, ta so sánh các tỷ số tài chính sau:
Hiệu quả sản xuất: Hiệu quả sản xuất được đo lường bằng sự so sánh kết
quả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được tính như sau:
Trong đó:
Doanh thu trên một đơn vị diện tích = Giá bán * Sản lượng trên một đơn vị diện tích
Doanh thu: là số tiền mà người sản xuất thu được sau khi bán sản phẩm.
Tổng chi phí: là tất cả các khoản đầu tư mà nông hộ bỏ ra trong quá trình
sản xuất và thu hoạch Bao gồm: chi phí giống, phân bón, thuốc hóa học, chi phí thuê lao động, chi phí vận chuyển, chi phí nhiên liệu, năng lượng dùng trong sản xuất, chi phí thu hoạch…
TCP = Chi phí vật chất + Chi phí lao động + Chi phí khác
Doanh thu = Sản lượng * Đơn giá
Trang 18- Chi phí phân bón: gồm tất cả chi phí bón phân như đạm, lân, kali, phân hỗn hợp và phân hữu cơ (phân dơi hoặc phân chuồng) sử dụng trong một vụ
- Chi phí thuê lao động: gồm chi phí thuê lao động phục vụ sản xuất xoài trong một năm, bao gồm thuê lao động phun xịt, làm cỏ,…
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là phần chi phí sau khi đã khấu hao của các tài sản cố định như máy xịt, mô tưa tưới nước, hệ thống van - ống tưới,…
- Chi phí lao động gia đình: là khoảng chi phí lao động mà nông hộ sử dụng nguồn lao động sẵn có trông gia đình thay vì thuê mướn
- Chi phí khác: gồm tất cả các chi phí còn lại ngoài những chi phí nêu trên như: chi phí nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất xoài trong một năm, như chi phí xăng phun xịt, chi phí nhiên liệu tưới nước, chi phí bồi bùn, chi phí tạo cành tỉa tán…
Thu nhập: là khoảng chênh lệch giữa doanh thu và tổng chi phí tính trên
một đơn vị diện tích (1000m2)
Lợi nhuận (LN): là khoản thu được sau khi trừ đi lao động mà gia đình bỏ
ra tính theo giá thuê mướn lao động tính trên một đơn vị diện tích (1000m2)
Doanh thu trên chi phí (DT/CP): Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí
đầu tư thì chủ thể đầu tư sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu Nếu chỉ số DT/CP nhỏ hơn 1 thì người sản xuất bị lỗ, nếu DT/CP bằng 1 thì hoà vốn, DT/CP lớn hơn 1 người sản xuất mới có lời
Lợi nhuận / chi phí (LN/CP): Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí bỏ ra
thì chủ thể đầu tư sẽ thu lại đươc bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu LN/CP là số dương thì người sản xuất có lời, chỉ số này càng lớn càng tốt
Doanh thu
DT/CP =
Chi phí Lợi nhuận = Thu nhập – Lao động gia đình Thu nhập = Doanh thu – Tổng chi phí
Trang 19
Lợi nhuận/Doanh thu (LN/DT): Thể hiện trong một đồng doanh thu có
bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó phản ánh mức lợi nhuận so với doanh thu
Lợi nhuận / số ngày công lao động của gia đình (LN/NC): là một ngày
công lao động gia đình bỏ ra, tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Doanh thu / số ngày công lao động của gia đình (DT/NC): cho biết một
ngày công lao động gia đình tạo ra doanh thu là bao nhiêu
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Dựa vào phần mềm Excel và SPSS để phân tích số liệu
Đối với mục tiêu 1: các phương pháp so sánh, phương pháp thống kê để
đánh giá thực trạng trồng xoài Cát Hòa Lộc
Đối với mục tiêu 2: phương pháp hồi quy tương quan và một số chỉ tiêu
kinh tế được sử dụng để phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất xoài cát Hòa Lộc
Đối với mục tiêu 3: từ các phương pháp phân tích và thống kê mô tả
trên, ta rút ra các giải pháp hợp lý và khắc phục các khó khăn cho mô hình sản xuất xoài Cát Hòa Lộc
Lợi nhuận LN/TN =
Doanh thu
Lợi nhuận LN/CP =
Chi phí
Lợi nhuận LN/NC =
Số ngày công lao động gia đình
Doanh thu DT/NC =
Số ngày công lao động gia đình
Trang 202.2.5 Các phương pháp sử dụng trong phân tích
2.2.5.1 Định nghĩa
Tổng thể thống kê: là tập hợp các đơn vị cá biệt về sự vật hiện tượng trên
cơ sở một đặt điểm chung nào đó cần quan sát, phân tích mặt lượng của chúng
Mẫu: là một bộ phận của tổng thể, đảm bảo dược tính đại diện và được
chọn ra để quan sát và dùng để suy diễn cho toàn bộ tổng thể
Số liệu thứ cấp: là các thông tin đã có sẳn và đã qua tổng hợp, xử lý Loại
dữ liệu này có thể thu thập từ: số liệu nội bộ; số liệu từ các ấn phẩm của nhà nước; báo, tạp chí chuyên ngành; thông tin của các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp; các công ty chuyên tổ chức thu thập thông tin, nghiên cứu và cung cấp thông tin theo yêu cầu
Số liệu sơ cấp: là các thông tin thu thập từ các cuộc điều tra Gồm 2 loại:
Điều tra toàn bộ: là tiến hành thu thập thông tin trên tất cả các đơn vị thuộc
tổng thể nghiên cứu
Điều tra chọn mẫu: ta chỉ cần lấy một số phần tử đại diện để nghiên cứu và
từ đó suy ra kết quả cho tổng thể bằng các phương pháp thống kê
2.2.5.2 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp phân tích nhờ vào tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn
Bảng thống kê: là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả nghiên cứu, nhờ đó mà các nhà quản trị có thể nhận xét tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.2.5.3 Phương pháp hồi quy tương quan
Các số liệu sơ cấp từ bảng câu hỏi phỏng vấn và các số liệu thứ cấp được cung cấp bởi cơ quan thực tập được phân tích thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính bằng mô hình hồi quy bội tuyến tính
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến một chỉ tiêu nào đó, xác định các nhân tố ảnh hưởng tốt để phát huy
và nhân tố ảnh hưởng xấu để khắc phục Phương trình hồi quy tổng thể có dạng:
Y = β0 + β1 X1 + β2 X2+…+βk Xk
Trang 21Trong đó:Y: biến phụ thuộc (biến được giải thích)
Xi ( i = 1,2,…,k) là các biến độc lập (biến giải thích)
β0 là hệ số tự do
β1,β 2 , ,β k là hệ số chặn của các biến độc lập hay hệ số qui riêng
Hệ số hồi quy riêng cho biết ảnh hưởng của từng biến độc lập lên giá trị trung bình của các biến phụ thuộc khi các biến còn lại được giữ không đổi Các tham số β0, β1…, βk được ước lượng thông qua các hệ số 0 ,k của hàm hồi quy mẫu, và các hệ số này được tính toán bằng phần mềm SPSS
2.2.5.4 Phương pháp lợi ích - chi phí (CBA - Cost Benefit Anylysis)
Phân tích lợi ích - chi phí là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định xem có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án đã được đề xuất hay không Phân tích lợi ích - chi phí cũng được dùng để đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều dự
án loại trừ lẫn nhau Hay phân tích lợi ích - chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội
Phương pháp này tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực sự mà xã hội
có được từ một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt được lợi ích đó Theo cách này, đây là phương pháp ước tính sự đánh đổi thực giữa các phương án, và nhờ đó giúp cho xã hội đạt được những lựa chọn kinh tế tối ưu cho mình
Nói rộng hơn, phân tích lợi ích - chi phí là một khuôn khổ nhằm tổ chức thông tin, liệt kê những thuận lợi và bất lợi của từng phương án, xác định các giá trị kinh tế có liên quan, và xếp hạng các phương án dựa vào tiêu chí giá trị kinh tế Vì thế phân tích lợi ích - chi phí là một phương thức để thực hiện sự lựa chọn chứ không chỉ là một phương pháp để đánh giá sự ưa thích
Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào
và các đầu ra Cơ bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai Trong quá trình phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc chủ yếu dựa vào doanh thu từ trồng xoài và chi phí trong quá trình trồng
Trang 22xoài để tính ra lợi ích của hoạt động trồng xoài, không phân tích đến lợi ích và chi phí xã hội.[6.Tr.13]
2.2.5.5 Phương pháp khấu hao
Các tài sản nói chung thì có vòng đời một số năm và sẽ bị mất giá trị qua thời gian Giai đoạn giá trị của máy móc công ty bị mất giá trị như vậy
là 1 khoảng chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và hầu hết doanh nghiệp sẽ khấu hao khoảng chi phí đó theo từng năm
Nếu chúng ta giả thiết “giá trị tài sản bị hao mòn qua mỗi năm và giá trị hao mòn từng năm là bằng nhau” thì chúng ta sử dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng
Theo phương pháp khấu hao đường thẳng chúng ta có:
- Các tài sản cố định như máy xịt, máy bơm, hệ thống van tưới, mô tưa tưới, có thời gian khấu hao là 15 năm
- Các dụng cụ thu hoạch (cần xé, giỏ sách, thang, sào hái) có thời gian khấu hao là 3 năm
Nguyên giá của tài sản cố định
Giá trị khấu hao từng năm =
Trang 23CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.1 GIỚI THIỆU VỀ TỈNH TIỀN GIANG
Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120km Tiền Giang có diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2, chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, 0,7% diện tích cả nước
3.1.2 Hành chính - xã hội
Tiền Giang là tỉnh đất hẹp người đông, dân số năm 2010 là 1.681.465 người, mật độ dân số trung bình là 677 người/km2, chiếm khoảng 9,8% dân số Vùng đồng bằng sông Cửu Long, 11,4% dân số Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 1,9% dân số cả nước
Tình hình dân số trong các năm qua ổn định, không biến động nhiều do thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình Tỷ lệ tăng dân số năm
2010 là 10,6% Dân số của tỉnh: nam chiếm 49,2% (826.534 người), nữ chiếm 50,8% (854.931 người); thành thị chiếm 13,9% ( 232.977 người), nông thôn chiếm 86,1% (1.448.488 người)
Tiền Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 8 huyện: Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phước, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông, thị xã Gò Công và thành phố Mỹ Tho với 169 đơn vị hành chính cấp
xã, trong đó, thành phố Mỹ Tho là đô thị loại 2
3.1.3 Điều kiện tự nhiên
* Địa hình
Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trình biến thiên từ 0m đến 1,6m so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8m đến 1,1m
Trang 24Nhìn chung, toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực
có tiểu địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung như sau:
- Khu vực đất cao ven sông Tiền (đê sông tự nhiên) phân bố dọc theo sông Tiền và kéo dài từ xã Tân Hưng (Cái Bè) đến xã Xuân Đông (Chợ Gạo) Cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,3m, đặc biệt trên dãy đất cao ven sông Nam quốc
lộ 1 từ Hoà Hưng đến thị trấn Cái Bè do hầu hết đã lên vườn nên có cao trình lên đến 1.6 – 1,8 m
- Khu vực thuộc địa bàn huyện Cai Lậy, Cái Bè, giới hạn giữa kinh Nguyễn Văn Tiếp và dãy đất cao ven sông Tiền có cao trình phổ biến từ 0,7 - 1,0m và có khuynh hướng thấp dần về kinh Nguyễn Văn Tiếp Trên địa bàn có hai khu vực giồng cát và vùng lân cận giồng cát có cao trình lớn hơn 1.0m là giồng Cai Lậy (bao gồm Bình Phú, Thanh Hoà, Long Khánh, thị trấn Cai Lậy, Tân Bình, Nhị Mỹ) và giồng Nhị Quý (kéo dài từ Nhị Quý đến gần Long Định) Do đó, khu vực nằm giữa hai giồng này là dãy đất cao ven sông Tiền (bao gồm khu vực Long Tiên, Mỹ Long, Bàn Long, Bình Trung) có cao trình thấp hơn nên khó tiêu thoát nước
- Khu vực trũng phía Bắc Đồng Tháp Mười (bao gồm hầu hết huyện Tân Phước) có cao trình phổ biến từ 0,60 - 0,75m, cá biệt tại xã Tân Lập 1 và Tân Lập 2 có cao trình thấp đến 0,4 - 0,5m Do lũ hàng năm của sông Cửu Long tràn về Đồng Tháp Mười cộng với cao trình mặt đất thấp nên đây là khu bị ngập nặng nhất của tỉnh
- Khu vực giữa Quốc lộ 1 và kinh Chợ Gạo có cao trình từ 0,7 - 1,0m bao gồm vùng đồng bằng bằng phẳng 0,7 - 0,8m nằm kẹp giữa giồng Phú Mỹ, Tân Hương, Tân Hiệp (Châu Thành) phía Tây và giồng Bình Phục Nhất, Bình Phan (Chợ Gạo) phía Đông
- Khu vực Gò Công giới hạn từ phía Đông kinh Chợ Gạo đến biển Đông, có cao trình phổ biến từ 0,8 và thấp dần theo hướng Đông Nam, ra đến biển Đông chỉ còn 0,4 - 0,6m Có hai vùng trũng cục bộ tại xã Thạnh Trị, Yên Luông, Bình Tân (Gò Công Tây) và Tân Điền, Tân Thành (Gò Công Đông) Do tác động bồi lắng phù sa từ cửa Xoài Rạp đưa ra, khu vực ven biển phía Bắc (Tân Trung, Tân Phước, Gia Thuận, Vàm Láng) có cao trình hơn hẳn khu vực phía Nam
Trang 25Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1m nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh
* Khoáng sản
Khoáng sản Tiền Giang có mỏ đất sét Tân Lập với trữ lượng hơn 6 triệu
m3, chất lượng tốt, có thể sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, đồ gốm xuất khẩu; và trên 1 triệu m3 than bùn có thể làm phân vi sinh hữu cơ Ngoài ra, còn trữ lượng cát dọc sông Tiền phục vụ cho san lắp mặt bằng và tài nguyên nước khoáng, nước nóng …
* Thời tiết khí hậu
Khí hậu Tiền Giang mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm Nhiệt độ bình quân trong năm là 27 - 27,9oC; tổng tích ôn cả năm 10,183oC/năm
Có 2 mùa : Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau ; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thường có hạn Bà chằng vào tháng 7, tháng 8)
Tiền Giang nằm trong dãy ít mưa, lượng mưa trung bình 1.210 - 1.424mm/năm và phân bố ít dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông; Độ ẩm trung bình 80 - 85%
Gió: có 2 hướng chính là Đông bắc (mùa khô) và Tây nam (mùa mưa); tốc
độ trung bình 2,5 - 6m/s
* Biển và sông ngòi
Tiền Giang có khu vực giáp biển Đông thuộc huyện Gò Công Đông với bờ biển dài 32km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Xoài Rạp (sông Vàm Cỏ) và cửa Tiểu, cửa Đại (sông Tiền) Sóng biển có độ cao cực đại (bình quân 1,25m và tối đa 3m) vào các tháng 10 đến tháng 02 khi có ảnh hưởng rõ nét của gió Đông Bắc (gió chướng) Ngoài ra, chế độ thủy triều khu vực biển Gò Công Đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển Đông
Vùng ven biển, thuộc hệ thống các cửa sông giáp biển nên từ lâu đã thiết lập được hệ thống rừng trồng ngập mặn với diện tích 2.028 ha gồm các loại bần, đước, mắm, dừa nước, phi lao Thực vật dưới tán lá rừng ngập mặn rất phong phú gồm 75 loài thuộc 35 họ Khu vực ven biển được phù sa bồi đắp quanh năm, hiện quá trình bồi đắp đang hình thành các cồn ven biển:
Trang 26- Cồn Vân Liễu - cồn Ông Mão : nằm tiếp giáp với vùng đất liền thuộc xã Tân Thành (Gò Công Đông), có chiều dài 7km, rộng 5km với diện tích 4.055ha
Độ cao đường bình độ từ 0,6 đến -6,0m, vùng ven bờ nổi lên khi triều kém
- Cồn Ngang : nằm tiếp giáp phía Đông cù lao Tân Thới thuộc xã Phú Tân (Gò Công Đông), có chiều dài 5,5km, rộng 2,5km với diện tích 1.617ha Độ cao dường bình độ từ -1,1 đến -0,6m, nổi một phần diện tích khi triều kém Hiện một
số khu vực cao trên cồn đã trồng được phi lao, mắm
- Cồn Vượt : nằm cách 1,5km về phía Đông Nam cồn Ngang, có chiều dài 10km, rộng 3km, với diện tích 3.188ha Độ cao đường bình độ từ -2,3 đến - 6,1m, ngập hoàn toàn
Với điều kiện nằm giữa các cửa sông nên rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Thủy sản nước lợ: gồm con giống và con non sinh sản
và di chuyển vào sâu trong bờ, trữ lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, cá,
sò, nghêu tại các vùng cửa sông là 156.000 tấn Hải sản, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực vật phiêu sinh, 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7 triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn cá
+ Nhóm đất mặn : Chiếm 14,6% tổng diện tích tự nhiên 34.552ha, chiếm phần lớn diện tích huyện Gò Công Đông, thị xã Gò Công, Gò Công Tây và một phần huyện Chợ Gạo Về bản chất đất đai thuận lợi như nhóm đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc thường xuyên Nếu được rửa mặn loại
Trang 27đất này sẽ rất thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp với chủng loại cây trồng tương đối đa dạng
+ Nhóm đất phèn : Chiếm diện tích 19,4% diện tích tự nhiên 45.912ha, phân bố chủ yếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc 3 huyện Cái bè, Cai Lậy, Tân Phước Đây là loại đất hình thành trên trầm tích đầm lầy mặn ven biển thành tạo trong quá trình biển thoái, nên loại đất này giàu hữu cơ và phèn Đất phèn tiềm tàng và hoạt động sâu (phèn ít) có diện tích ít hơn so với đất phèn tiềm tàng và hoạt động nông (phèn nhiều) với tỷ lệ 6,82% so với 12,19%
Hiện nay, ngoài tràm và bàng là hai loại cây cố hữu trên đất phèn nông, đã tiến hành trồng khóm và mía có hiệu quả ổn định trên diện tích đáng kể Ngoài
ra, một số diện tích khác cũng đã bước đầu được canh tác có hiệu quả với một số
mô hình như trồng khoai mỡ và các loại rau màu, trồng hai vụ lúa và cả trồng cây
ăn quả trên những diện tích có đủ nguồn nước ngọt và có khả năng chống lũ Đất phèn nặm chiếm diện tích nhỏ phân bổ dọc bờ đất thấp (đất biền) bị ngập triều ven các lạch triều bưng trũng
+ Nhóm đất cát giồng : Chiếm 3,1% diện tích tự nhiên với 7.336ha, phân bổ rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở huyện Gò Công Đông do đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, nên chủ yếu làm đất thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu
Nhìn chung, đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa (chiếm 53%), thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4% (45.912ha) là nhóm đất phèn và 14,6% (34.552ha) là nhóm đất phù sa nhiễm mặn trong thời gian qua được tập trung khai hoang, mở rộng diện tích, cải tạo
và tăng vụ thông qua các chương trình khai thác phát triển vùng Đồng Tháp Mười, chương trình “ngọt hoá Gò Công”, đã từng bước mở rộng vùng trồng lúa năng suất cao, vườn cây ăn trái sang các huyện phía Đông và vùng chuyên canh cây công nghiệp thuộc huyện Tân Phước
Trang 28Bảng 2 : Cơ cấu sử dụng đất ở Tiền Giang
Loại đất Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích 233.922 100,0 232.609 100,0 236.663 100,0
I Đất nông nghiệp 165.408 70,7 184.883 9,48 181.505 76,69
Đất ruộng lúa 102.438 43,79 106.953 45,98 112.832 47,68 Đất cây lâu năm 47.486 20,30 64.573 27,76 65.996 27,89
3.1.4 Điều kiện kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn: năm 2010 ước tính đạt 13.767 tỷ đồng
(giá so sánh năm 1994), tăng 10,6% so với năm 2009 (kế hoạch 10,5%), khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,5% (kế hoạch 4,2%), khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 16,7% (kế hoạch 16,7%), khu vực dịch vụ tăng 11,5% (kế hoạch 12,3%), GDP theo giá thực tế đạt 35.153 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người tính theo VNĐ đạt 20,9 triệu đồng/người/năm; tính theo USD đạt 1.094 USD/người/năm (kế hoạch 1.100 USD)
Trang 29Bảng 3: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh
theo giá so sánh năm 1994
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước
( % ) Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Đóng góp của năm
2010 vào tăng trưởng
* Nông, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Năm 2009 khu vực nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản chiếm tỷ trọng 48,3%, công nghiệp - xây dựng 23,4% và thương mại - dịch vụ 28,3% Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đạt trên 7.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 416 triệu USD, nhập khẩu 92,8 triệu USD
Sản phẩm nông lâm ngư nghiệp gồm cây lương thực có hạt đạt sản lượng trên 1,3 triệu tấn; khóm sản lượng gần 100.000 tấn; dừa trên 79.000 tấn, cây ăn quả trên 800.000 tấn (không tính cây khóm) Tiền Giang có diện tích trồng cây
ăn quả lớn nhất so với các địa phương trong cả nước với nhiều giống cây có giá trị xuất khẩu như: xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Vĩnh Kim, sầu riêng Ngũ Hiệp, thanh long Chợ Gạo, nhãn xuồng cơm vàng, sơri Gò Công, bưởi long Cổ Cò và nhiều loại cây có múi khác… Sản lượng từ nuôi và khai thác thủy sản năm 2009 đạt 189.000 tấn, trong đó khai thác đạt 80.000 tấn
* Công nghiệp - xây dựng
Năm 2010 tăng 16,7% so năm 2009 Sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng trưởng rất khả quan, tăng cao hơn cùng kỳ 2,6%, ước cả năm tăng 17,3%, đây là ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất so với các ngành khác Sản xuất công nghiệp
Trang 30của tỉnh phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở Mỹ Tho và Châu Thành, chiếm đến 60,8% giá trị của ngành công nghiệp Nhìn chung tốc độ phát triển của ngành công nghiệp ở tất cả các huyện đều tăng, đều đạt kế hoạch đề ra ở đầu năm, trong
đó có một số huyện tăng khá cao so với năm 2009 như: Tân Phước tăng gấp 4,8 lần so với năm 2009, Châu Thành tăng 52,3%
* Dịch vụ, du lịch
Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch Hàng năm, lượng
du khách đến hàng năm đều tăng, riêng năm 2009 mặc dù chịu tác động của suy thoái kinh tế thế giới nh ưng lượng khách đến Tiền Giang vẫn đạt 866.400 lượt người
Thế mạnh của du lịch Tiền Giang chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch
sử và sinh thái như: di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên); di tích lịch sử Rạch Gầm - Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài; nhiều lăng mộ, đền chùa: lăng Trương Định , lăng Hoàng Gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới được tôn tạo như: vườn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu sinh thái Đồng Tháp Mười, biển Gò Công
Năm 2010, khu vực dịch vụ tăng trưởng 11,5%, tuy không đạt kế hoạch nhưng hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng so với năm 2009 Có một
số ngành năm 2009 tăng trưởng âm nay đã tăng trở lại như: thương nghiệp tăng 11,7% (năm 2009 giảm 0,2%), hoạt động Bưu chính - Viễn thông tăng trưởng cao nhất, tăng 20,7% (năm 2009 giảm 9,5%) Ngành du lịch tốc độ tăng trưởng vẫn ở mức cao, tăng 17,9% so năm 2009 Nhìn chung hoạt của khu vực dịch vụ của tỉnh chưa đa dạng, phong phú, chưa có nhiều ngành, nghề mới tạo ra bước đột phá giúp cho khu vực này tăng trưởng cao
* Giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Mạng lưới viễn thông Tiền Giang được hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế Điện lưới quốc gia đến toàn bộ trung tâm các xã, phường, thị trấn Lượng nước sạch cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt đạt 55.000m3/ngày đêm cho các khu đô thị và nhiều vùng nông thôn
Trang 31Mạng lưới giao thông đường bộ khá hoàn chỉnh - đặc biệt là tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương vừa mới đưa vào vận hành đã giúp rút ngắn đáng kể khoảng cách thời gian từ thành phố Mỹ Tho đến thành phố
Hồ Chí Minh Mạng lưới đường thủy thuận lợi Trục chính là sông Tiền, chiều dài 120km chảy ngang qua tỉnh về phía Nam và 30km sông Soài Rạp ở phía Bắc, tạo điều kiện cho Tiền Giang trở thành điểm trung chuyển về giao thông đường sông từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đi TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Về phía Đông, đường biển từ huyện Gò Công Đông đến Bà Rịa- Vũng Tàu khoảng 40km
3.1.5 Cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch theo hướng tích cực, khu vực nông lâm thủy sản chiếm 44,7% (năm 2009 chiếm 45,7%, kế hoạch 44,9%); khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 28,3% (năm 2009 chiếm 27,5%, kế hoạch 25,2l%); khu vực dịch vụ chiếm 27,1% (năm 2009 chiếm 26,8%, kế hoạch 29,9), khu vực dịch vụ tuy chuyển dịch không đạt kế hoạch năm nhưng so với năm 2009 thì cũng có chuyển dịch được 0,3%
3.2 SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN CÁI BÈ
* Vị trí địa lý
Hình 1: Bản đồ địa lý huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang
Trang 32Huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Tiền Giang; Bắc giáp tỉnh Long An; Nam giáp sông Tiền ngăn cách với tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Đồng Tháp; Tây giáp tỉnh tỉnh Đồng Tháp; Đông giáp huyện Cai Lậy cùng tỉnh
Huyện Cái Bè có diện tích tự nhiên là 420,9 km2, là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Tiền Giang Huyện nằm ở bờ Bắc của cầu Mỹ Thuận cửa ngõ đi các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long; đất đai trù phú, kinh tế vườn phát triển mạnh với những đặc sản nổi tiếng như: bưởi lông Cổ Cò, xoài cát Hoà Lộc Huyện có trung tâm trái cây quốc gia đặt tại xà Hoà Khánh do Tổng công ty Thương mại Sài Gòn đầu tư xây dựng, và một số chợ trái cây lớn như An Hữu, Cái Bè, Mỹ Đức Tây,chợ nổi Cái Bè cũng là một trong những chợ đầu mối nông sản nổi tiếng ở miền Tây
Đặc thù huyện Cái Bè có nhiều kênh, rạch, sông ngòi, bến bãi, khu dân cư tập trung làm đầu mối lưu thông hàng hoá và phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến, xay xát lương thực xuất khẩu,
Về du lịch, Cái Bè phát triển mạnh loại hình du lịch sinh thái miệt vườn, tham quan chợ nổi Các di tích lịch sử văn hoá bao gồm: phủ thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh (xã Tân Hưng), miếu Hà Dương Thủy Thần ở xã Hoà Khánh, đình Mỹ Lương, các di tích chiến thắng Á Rặc (xã Thiện Trí), chiến thắng đập Ông Tải (Hậu Mỹ Trinh), chiến thắng Thẻ 23 (xã Hội Cư) nhà cổ ở Đông Hoà Hiệp, cầu Mỹ Thuận
* Điều kiện khí hậu
Cái Bè là một huyện thuộc Tiền Giang nên khí hậu mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm Nhiệt độ bình quân trong năm là 27 - 27,9oC; tổng tích ôn cả năm 10.183oC/năm
Có 2 mùa: Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau ; mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11 Lượng mưa tập trung vào hai thời kỳ Thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7, lượng mưa tháng xấp xỉ 200mm, thời kỳ thứ hai xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lượng mưa tháng trên dưới 250mm Sự tồn tại 2 đỉnh mưa này gắn liền với sự thường trực của các hệ thống gây mưa (dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, gió mùa tây nam…)
Trang 33Xen kẽ hai thời kỳ mưa nhiều là hai thời kỳ ít hoặc không mưa Thời kỳ thứ nhất vào giữa mùa khô (từ tháng 1-3), khu vực có gió đông hoặc đông nam thịnh hành ổn định, lượng mưa tháng thời kỳ này rất nhỏ (từ 5 đến 10mm) đôi khi cả tháng không có mưa Thời kỳ ít mưa thứ hai thuộc mùa mưa, thường xuất hiện vào tháng 7 hoặc tháng 8, hiếm khi xuất hiện vào tháng 9 Lượng mưa tháng thời
kỳ này trên dưới 150mm Các đợt hạn dài ngày xảy ra vào thời kỳ này nhân dân địa phương gọi là hạn “Bà Chằn”
Huyện Cái Bè có lượng mưa trung bình khoảng 1.380mm/năm
* Giao thông vận tải
Huyện có quốc lộ 1A chạy dọc từ Đông sang Tây dài 27 km; quốc lộ 30 dài
9 km từ ngã ba xã An Thái Trung đi Đồng Tháp Ngoài ra, huyện còn có nhiều tỉnh lộ như các đường 861, 863, 865, 869, 875 với tổng chiều dài gần 60 km Ngoài đường bộ, ở Cái Bè còn có các kênh rạch quan trọng gồm: rạch Cái Bè, rạch Cái Cối, rạch Bằng Lăng, kênh Nguyễn Văn Tiếp, rạch Cổ Cò, rạch Trà Lọt, kênh 28, rạch Ruộng và hàng chục kinh, rạch lớn nhỏ khác, chằng chịt đan xen với tổng chiều dài trên 500 km
* Điều kiện hành chính - dân số
Về hành chánh, huyện có dân số là 292.000 người, mật độ bình quân 604 người/km2, bao gồm thị trấn Cái Bè và 24 xã: Hậu Mỹ Bắc A, Hậu Mỹ Bắc B,
Mỹ Trung, Hậu Mỹ Trinh, Hậu Mỹ Phú, Mỹ Lợi A, Mỹ Lợi B, Mỹ Tân, Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, Tân Hưng, Tân Thanh, An Thái Trung, An Thái Đông, An Hữu, Hoà Hưng, Mỹ Lương, Thiện Trung, Thiện Trí, Hoà Khánh, Đông Hoà Hiệp, Hậu Thành, An Cư, Mỹ Hội
Trang 34Khánh với diện tích hơn 40 ha và cồn Qui với diện tích hơn 80 ha, hiện trở thành một ấp thuộc xã Tân Thanh
3.3 GIỚI THIỆU VỀ XOÀI CÁT HÒA LỘC
3.3.1 Nguồn gốc cây xoài cát Hòa Lộc
Xoài cát Hoà Lộc là một trong những giống xoài nổi tiếng nhất ở đồng bằng Sông Cửu Long - Việt Nam và là một trong những loại quả được ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Những năm gần đây xoài cát Hòa Lộc đem lại giá trị kinh tế cao cho bà con nhân dân hai tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp
Nguồn gốc của xoài cát Hòa Lộc được trồng tại xã Hòa Lộc, quận Giáo Đức, tỉnh Định Tường nay là ấp Hòa, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, nên được mang tên là xoài cát Hòa Lộc Do Trung tâm Cây ăn quả Long Định tuyển chọn, đã được công nhận năm 1997 Đây là vùng đất phù sa ven sông nên giàu chất dinh dưỡng, rất thích hợp cho xoài cát Hòa Lộc sinh trưởng và phát triển Do chất lượng ngon, hương vị đậm đà nên hiện nay giống xoài cát Hòa Lộc được trồng với qui mô công nghiệp Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng xoài cát Hòa Lộc khi được trồng ở những nơi khác thì phẩm chất không ngon bằng tại nơi xuất xứ của nó
Tại Tiền Giang, xoài cát Hoà Lộc được trồng nhiều ở huyện Cái Bè với khoảng hơn một ngàn ha, sản lượng hàng năm khoảng 15.000 tấn, tập trung ở 13
xã gồm Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Hưng, Tân Thanh, Mỹ Lương,
An Thái Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Đức Đông, Thiện Trí, Hòa Khánh, Hậu Thành
và Đông Hoà Hiệp Ngoài ra, xoài cát Hòa Lộc đã được trồng ở nhiều tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long và một số tỉnh miền đông Nam Bộ như Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Riạ - Vũng Tàu…
Năm 2004 tỉnh Tiền Giang tiến hành triển khai dự án "Xây dựng mô hình hợp tác xã (HTX) tiêu thụ sản phẩm VAC cây xoài cát Hòa Lộc" tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang với tổng vốn đầu tư hơn 194 triệu đồng Trong đó, Hội Làm vườn Việt Nam đầu tư 110 triệu đồng, số còn lại do nhân dân địa phương đóng góp Dự án được thực hiện trên 10 ha xoài cát Hòa Lộc do HTX xoài cát Hòa Lộc quản lý Tương lai chủ trương phát triển vườn cây ăn trái
dự kiến đến năm 2010 sẽ nâng tổng diện tích trồng xoài cát Hòa Lộc cả nước lên
Trang 359,0 ngàn ha cung cấp cho thị trường khoảng trên 40 ngàn tấn xoài cát Hòa Lộc
(Nguồn: www.cuctrongtrot.gov.vn/?index=h&id=434)
3.3.2 Quy trình trồng xoài
Cây xoài ở nước ta được trồng nhiều và tập trung nhất là ở các tỉnh miền Tây, Đông Nam bộ, diện tích có thể lên tới hàng trăm ngàn hecta
a Nhu cầu sinh thái
Khí hậu: Xoài có thể chịu được trong khoảng nhiệt độ từ 4oC – 46 oC, nhưng nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng và phát triển tốt là vào khoảng 24oC
- 27oC Mặc dù có khả năng chịu hạn, nhưng để cho sản lượng cao, xoài cần phải được cung cấp nước đầy đủ
Đất đai: Xoài có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt
nhất là loại đất cát hay đất thịt pha cát, thoát nước tốt và mực nước ngầm không sâu quá 2,5 m Nếu trồng trên đất nhẹ, kém màu mỡ, xoài thường cho nhiều hoa
và đậu nhiều trái Ngược lại, nếu trồng trên đất màu mỡ, đủ nước chỉ giúp cây phát triển tốt nhưng cho trái ít hơn Xoài thích hợp ở loại đất có pH từ 5,5 – 7, nếu pH từ 5 trở xuống thì cây sẽ phát triển kém
Thiết kế vườn: Đối với những vùng đất nhiễm phèn nặng nên thiết kế liếp
đơn (trồng một hàng giữa, mặt liếp 3,5 - 4m, khi đào liếp phải chuyển lớp đất mặt lên mặt liếp mới) để tiện cho việc rửa phèn Liếp đôi trồng 2 hàng theo hình nanh sấu có mặt liếp 6 - 8m Liếp thấp cần phải đắp mô, mô trồng được vun từ lớp mặt liếp trộn 30 kg phân hữu cơ (phân chuồng trấu mục rơm mục, tro trấu) lên cao 0,3 – 0,4m, đường kính chân mô 1,0 - 1,2 m, đường kính mặt
mô 0,8 m Liếp cao phải đào hố với kích thước hố 0,6m x 0,6m x sâu 0,4m Trộn 30 kg phân hữu cơ hoai mục với đất đã được đào lên, trộn xong lấp hỗn hợp này trở lại hố, đắp thêm đất tạo mô thấp khoảng 0,1 – 0,15m so với mặt liếp là vừa Trường hợp trồng xoài trên đất nhiễm phèn thì trộn thêm 2 - 3 kg vôi nông nghiệp cho mỗi mô, hố trồng
Chọn cây giống: Để trồng xoài trước tiên ta phải chọn cây giống khoẻ
mạnh, thân thẳng có 2 - 3 tầng lá xanh tốt, không có dấu hiệu của bệnh gây hại
Trang 36Cổ rễ thẳng, gốc ghép phải thích nghi với điều kiện sinh thái của địa phương, vị trí ghép cách cổ rễ 20 cm, mắt ghép và gốc ghép tiếp hợp tốt không bị bong tróc
Thời vụ trồng: chủ yếu tuỳ theo chế độ mưa mỗi vùng, thích hợp nhất là
vào đầu mùa mưa, lúc này thời tiết thuận lợi giúp cho cây con mau bén rễ, sớm phục hồi và phát triển nhanh Thường được trồng vào đầu mùa mưa từ tháng 5–7
Phương pháp trồng cây con: trước tiên ta phải chuẩn bị hố với kích thước
0,6 x 0,6x 0,4m; trộn 30 kg phân hữu cơ hoai mục với đất đã được đào lên, trộn xong lấp hỗn hợp này trở lại hố và đắp thêm đất tạo mô thấp khoảng 0,1- 0,15m
so với mặt liếp là vừa Sau đó đào hốc hình tròn có đường kính 20cm, sâu 30cm ngay giữa mô, bón lót thêm 200g phân NPK, đặt cây giống vào hốc (cây giống phải được tháo bỏ phần vỏ bầu bằng nylon) lấp đất lại, ém đất xung quanh vừa phải, cắm cọc giữ cho cây khỏi ngã hoặc gió lay làm đứt rễ Sau khi trồng nên che phủ xung quanh gốc cây bằng các vật liệu hữu cơ sẵn có như rơm khô, cỏ khô không hạt, rễ cây lục bình để giữ ẩm và hạn chế xói mòn đất khi tưới Sau khi trồng 3 ngày tưới Urê 30gr/gốc giúp cây bén rễ hồi xanh tốt Sau khi trồng 1 tháng kiểm tra để trồng dặm lại những cây bị chết
b Kỹ thuật chăm sóc
+ Tưới nước
Trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ
3-4 ngày/lần Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc Để hạn chế bớt cỏ dại và ngăn cản quá trình bốc hơi nước ta nên dùng rơm rát mục, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8 – 1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20
cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hại gốc cây
Trang 37Tạo tán cây theo hình chóp nón, cành phân bố đều theo hướng trục thân chính Khi cây con phát triển trên 1m tiến hành cắt đọt chừa lại 80 cm Tránh cắt tại vị trí vòng chồi (vòng chồi là đoạn từ đỉnh sinh trưởng đến đoạn cành 3-4 cm) Nếu cắt ngay vị trí này thì cây sẽ mọc ra trên 7 nhánh con là thừa do đó phải cắt ngay dưới vòng chồi, cây sẽ cho 3 - 4 nhánh con chọn lọc tỉa chừa lại là vừa Tỉa bỏ những cành mọc ra từ cây gốc ghép, cành mọc bên dưới, cành trong cành mọc xiên Giai đoạn cây còn nhỏ có thể tỉa sau mỗi đợt cây phát triển cành nhánh mới tạo cho cây phân nhánh cân đối
- Bón lần 2: 200 g NPK + 100 g Urea (bón một lần cuối tháng 10) Phân được trộn đều, cuốc bốn lỗ xen kẽ với lỗ bón phân lần trước, cách xa hơn theo tán lá quanh mô, bón đều lượng phân, lấp đất lại
Cách bón: phân được trộn đều, cuốc 3 răng cuốc xới đất cách gốc 1m ra
phía ngoài quanh tán cây, tạo thành rìa quanh tán cây bón đều lượng phân (khi
Trang 38cây đã lớn bộ rễ phát triển lan rộng ta không bón theo cách đào hố như giai đoạn cây còn nhỏ)
Trên vùng đất phèn, bón thêm vôi từ 1-3 kg/gốc tuỳ thuộc vào mức độ nhiễm phèn của đất Cách bón: bón vôi trước, sau vài cơn mưa đầu mùa thì tiến hành bón phân vô cơ và hữu cơ
+ Quản lý sâu bệnh hại
Sâu hại chính
- Châu chấu xanh
+ Ấu trùng sinh sống ở dưới đất đục phá rễ và gốc cây Thành trùng cắn gặm lá, đôi khi ăn trụi lá non, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây
+ Phòng trị: Có thể rung cây để thành trùng rớt xuống xong tiêu diệt hay dùng các loại thuốc trừ sâu thông dụng phun đều trên lá ở thời kỳ xoài ra lá non
- Rầy bông xoài
+ Khi xoài trổ bông thì rầy tập trung chích hút trên bông, chồi non Rầy đẻ trứng trên cành non, bông gây vết thương làm cho các phần trên bị khô, héo và có thể rụng Rầy chích hút làm cây bị suy yếu Rầy còn tiết ra chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh nơi rầy bám hoặc các tầng lá phía dưới làm cản trở quang hợp của cây + Phòng trị: Nên ngừa sớm khi xoài có nụ nếu quan sát thấy có nhiều rầy trú trong lá, sử dụng các loại thuốc đặc trị rầy như Cyper Anpha 10 EC, Confidor, Admire,…Dùng bẩy đèn thu hút thành trùng Sau khi thu hoạch trái nên tỉa bớt cành cây để giảm nơi trú ẩn của rầy
- Sâu đục trái
+ Đây là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên xoài Chúng đẻ trứng dưới lớp vỏ
ở phần đít trái xoài, trứng nở ra sâu non có khoan hồng đậm, đục thẳng vào hột để ăn hột xoài Tỉ lệ gây hại có khi đến 30-35%
+ Phòng trị: áp dụng phun thuốc khi trái mới tượng, trước khi sâu vào bên trong trái, lặp lại đến khi trái lớn như các loại thuốc Cyper Anpha 10 EC, Decis 2.5 EC… Gom và tiêu huỷ các trái bị hư
Trang 39Bệnh hại chính
- Bệnh thán thư (do nấm Colletotrichum gloeosporioides)
+Bệnh thường tấn công trên các cành non, lá non Trên lá vết bệnh ban đầu là những đốm nhỏ màu nâu Vết bệnh về sau khô, rách và rụng khỏi lá để lại những lỗ trống trên lá Đối với các lá non mới ra nếu bệnh nặng có thể làm lá bị cháy và chết ngọn
+ Phòng trị: Trồng thưa để hạ độ ẩm trong vườn Vệ sinh vườn, cắt bỏ các lá bệnh cũ đem thiêu huỷ để giảm nguồn bệnh trong vườn Điều chỉnh giai đoạn ra lá non tập trung để dễ dàng phun thuốc hoá học phòng ngừa giai đoạn cây ra lá non đến hết giai đoạn lá lụa
- Bệnh cháy lá ( do nấm Phoma sp và Macrophoma sp.)
+ Trên lá già vết bệnh là những đốm nhỏ màu vàng đến nâu nhạt Khi các vết bệnh liên kết lại tạo thành vết bất dạng, màu vết bệnh chuyển từ nâu sang nâu vàng Rìa vết bệnh có màu đen và tâm có màu xám đục, làm cho lá rụng và trơ cành
+ Phòng trị: Cắt bỏ và tiêu huỷ cành bệnh để giảm nguồn gây bệnh Đối với cây giống cần để thưa cho giảm ẩm độ trong vườn, tạo thông thoáng
- Bệnh đốm lá (do nấm Botryodipdia theobrome)
+ Trên lá vết bệnh có hình bầu dục to, màu nâu nhạt, tâm xám trắng có thể bị rách
đi Trên trái vùng nhiễm bệnh có màu đen, thịt trái bên trong trở nên mềm và ứ nước + Phòng trị: Nguồn bệnh như cành chết, vỏ cây, cuống trái nên được loại trừ Trái nên được thu hoạch trước khi chín với cuống trái còn dính ít nhất là 0,5 cm
Thu hoạch
Thu hoạch lúc trái đã đạt kích thước tối đa, no trái, vỏ trái chuyển sang màu vàng, xung quanh trái có lớp phấn mỏng Có thể kiểm tra độ trưởng thành của xoài bằng cách dùng kim ghim vào đuôi xoài, nếu kim không qua được là hạt xoài đã cứng, trái đủ già, hái được Có thể dựa vào tuổi trái tính từ ngày hoa nở, giống chín sớm 2,5 tháng, giống chính vụ 3,5 tháng và giống chín muộn 4 tháng Nên hái vào những ngày nắng gáo, cắt vào lúc râm mát, nếu hái vào ngày mưa khả năng bảo quản
và vận chuyển sẽ kém (Nguồn: sonongnghiepkiengiang.gov.vn)
Trang 40CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG TRỒNG XOÀI CÁT HÒA LỘC Ở HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG 4.1 TÌNH HÌNH TRỒNG XOÀI CÁT HÒA LỘC CỦA CÁC NÔNG HỘ 4.1.1 Đặc điểm của nông hộ trồng xoài
Từ số liệu điều tra cho thấy, tuổi của chủ hộ nằm trong khoảng từ 41 tuổi đến trên 50 tuổi; đây là độ tuổi đã tích lũy được một số kinh nghiệm nhất định về trồng xoài và đã trồng xoài lâu năm Vì vậy đa số các nông hộ trồng xoài đều có thâm niên trồng xoài và đây là vùng trồng xoài lâu năm của huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang
Phần lớn chủ hộ và lao động chính tham gia trồng xoài đều là nam, nữ chiếm tỷ lệ khá thấp Đều này chứng tỏ rằng nam giới giữ vị trí quan trọng trong khu vực nông thôn; và có vai trò quan trọng trong việc phát triển mô hình trồng xoài ở địa phương
Bảng 4: Tình hình cơ bản của nông hộ trồng xoài điều tra
Nguồn: điều tra trực tiếp nông hộ năm 2011
Theo số liệu bảng 5 ta thấy, đa số chủ hộ đều có trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống; như vậy trình độ học vấn của chủ hộ đều tương đối thấp (cấp 1
>50%) Điều này thể hiện rằng trình độ của nông hộ còn tương đối thấp và cũng cho thấy rằng nông dân ở đây trồng xoài là do kinh nghiệm có được nhiều hơn; đây chính là thực trạng chung của người sản xuất nông nghiệp