Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức, yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Do sự khác nhau về bản chất giữa việc dân sự và vụ án dân sự, vì vậy trình tự giải quyết việc dân sự, vụ án dân sự cũng có những điểm khác biệt, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã phân tách và quy định hai trình tự thủ tục giải quyết khác nhau đối với vụ án dân sự (có tranh chấp) và việc dân sự (không có tranh chấp). Để tìm hiểu thêm về thủ tục giải quyết một việc dân sự, nhóm chúng em xin trình bày Đề bài số 1: “Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân và thực tiễn áp dụng”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân 1
1 Một số quy định chung về yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân 1
1.1.Người có quyền yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân 1
1.2.Điều kiện yêu cầu 2
1.3.Thẩm quyền của Tòa án 3
1.4.Tư cách đương sự 4
1.5.Thời hiệu yêu cầu 4
2 Thủ tục xác định NLHVDS của cá nhân 4
2.1.Hồ sơ yêu cầu 4
2.2.Thủ tục nhận và xử lí đơn yêu cầu 5
2.3.Chuẩn bị xét đơn yêu cầu 6
2.4.Phiên họp xét đơn yêu cầu 7
II Thực tiễn áp dụng thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân 7
1 Phân tích quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS 7 1.1.Tóm tắt việc dân sự 7
1.2.Nhận xét về việc giải quyết yêu cầu 8
2 Phân tích quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi 9
2.1.Tóm tắt việc dân sự 9
2.2.Nhận xét về việc giải quyết yêu cầu 10
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức, yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động
Do sự khác nhau về bản chất giữa việc dân sự và vụ án dân sự, vì vậy trình tự giải quyết việc dân sự, vụ án dân sự cũng có những điểm khác biệt, Bộ luật tố tụng dân
sự (BLTTDS) đã phân tách và quy định hai trình tự thủ tục giải quyết khác nhau đối với vụ án dân sự (có tranh chấp) và việc dân sự (không có tranh chấp) Để tìm hiểu thêm về thủ tục giải quyết một việc dân sự, nhóm chúng em xin trình bày Đề
bài số 1: “Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân và thực tiễn
áp dụng”
NỘI DUNG
I Thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân
NLHVDS của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Việc xác định khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mỗi cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự khó có thể thực hiện với mỗi quan hệ phát sinh trên thực tế Bởi vì trong dân sự, số lượng các quan hệ mà các chủ thể tham gia hàng ngày rất lớn, vì thế các quy định của BLDS đưa ra các cách suy đoán pháp lý về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân NLHVDS của cá nhân được chia thành các mức độ khác nhau giữa các cá nhân khác nhau
1 Một số quy định chung về yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân
1.1 Người có quyền yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân
Điều 376 BLTTDS 2015 quy định về Người có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS, bị hạn chế NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như sau:
“1 Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền
yêucầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.
Trang 42 Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự’”
Mặc dù pháp luật chưa có giải thích cụ thể nhưng có thể hiểu người có quyền, lợi ích liên quan trong trường hợp này là những người trực tiếp bị ảnh hưởng bởi việc tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự của người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc người nghiện ma túy hoặc chất kích thích khác dẫn đến phát tán tài sản của gia đình ( cha, mẹ, vợ, chồng, các con đã thành niên của người đó, những người có liên quan đến họ theo các quan hệ về dân sự, hành chính,…) Đồng thời để thực hiện được quyền yêu cầu tòa án tuyên bố một người mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS thì những người có quyền lợi ích liên quan này phải có năng lực hành vi
tố tụng dân sự 1 Cơ quan, tổ chức hữu quan là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự,
cơ quan đăng ký kết hôn,…
Phạm vi những người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị mất hoặc hạn chế NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi rất rộng, nhằm mục đích loại bỏ hoặc hạn chế sự tham gia của những người này vào các giao dịch liên quan đến tài sản, bảo vệ quyền về tài sản của họ và những người liên quan đến họ, hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của thói quen, tệ nạn xấu đối với xã hội.2
1.2 Điều kiện yêu cầu
Khoản 1 Điều 22,23,24 BLDS 2015 đã quy định về: “ Người mất năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”
Theo đó, mất NLHVDS không phải là một mức độ NLHVDS mà là một tình trạng của NLHVDS của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định đối với cá nhân bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
1 Nguyễn Thị Kiều Trang, Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, tr.23,24.
2Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, tr 418.
2
Trang 5Người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất NLHVDS thì mới được tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì mới được tuyên bố hạn chế NLHVDS
1.3 Thẩm quyền của Tòa án
Việc xác định Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết VDS có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tố tụng Thẩm quyền của Tòa án đối với thủ tục yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân được tiếp cận dưới 3 góc độ: Thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ
- Thẩm quyền theo loại việc: Khoản 1 Điều 27 BLTTDS 2015 quy định
“1.Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Thẩm quyền theo cấp: Điểm a khoản 2 Điều 35 và Điểm b khoản 1 Điều 37 của BLTTDS 2015 Cụ thể, Điều 35 quy định về thẩm quyền của TAND cấp Huyện, và Điều 37 quy định về Thẩm quyền của TAND cấp Tỉnh
- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Điểm a khoản 2 Điều 40 quy định: “a) Đối với
các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc,
có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết”
Điểm a, điểm b khoản 2 Điều 39 cũng quy định:
“2 Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú,
bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và
Trang 6quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;”
1.4 Tư cách đương sự
Theo quy định tại Điều 68 BLTTDS 2015, các bên đương sự trong việc xác định NLHVDS của cá nhân gồm: Người yêu cầu và người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan
Người yêu cầu là người đưa ra yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất NLHVDS, tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS Chỉ cần xác định được ai
có quyền và nghĩa vụ liên quan với VDS trên thì đều được xác định là người có quyền và nghĩa vụ liên quan
1.5 Thời hiệu yêu cầu
Việc xác định NLHVDS của cá nhân gắn liền với nhân thân của người bị yêu cầu nên thời hiệu yêu cầu không được đặt ra với loại yêu cầu trên căn cứ vào Điều
184 BLTTDS 2015 và Điều155 BLDS 2015
2 Thủ tục xác định NLHVDS của cá nhân
2.1 Hồ sơ yêu cầu
Hồ sơ yêu cầu xác định NLHVDS của cá nhân bao gồm:
Thứ nhất, đơn yêu cầu: theo quy định tại Khoản 2 Điều 362 BLTTDS 2015
gồm:
- Ngày, tháng, năm làm đơn
- Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết VDS
- Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu
- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết VDS đó
- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết VDS đó (nếu có)
- Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình
- Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào
4
Trang 7phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp
Thứ hai, cùng với đơn yêu cầu thì người yêu cầu cần gửi kèm với những tài
liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp
- Đối với yêu cầu tuyên một cá nhân mất NLHVDS hoặc khó khăn trong
nhận thức làm chủ hành vi thì người yêu cầu cần gửi kèm theo quyết định của
cơ quan chuyên môn như tổ chức giám định, cơ quan y tế, và những chứng cứ khác như: sổ bệnh án, giấy xác nhận của UBND, của người thân thích, của láng giềng, tổ dân phố nơi người đó cư trú, cơ quan, tổ chức nơi làm việc,
- Đối với yêu cầu tuyên bố một người hạn chế NLHVDS thì người yêu cầu
gửi kèm theo chứng cứ chứng minh người đó nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác như kết luận của tổ chức giám định, cơ quan y tế về tỉ lệ chất kích thích trong máu, nước tiểu, đồng thời người yêu cầu cũng cần chứng minh cá nhân đó đã thực hiện những giao dịch đáp ứng nhu cầu nghiện ma túy và các chất kích thích khác làm phá tán tài sản của gia đình và những người khác
2.2 Thủ tục nhận và xử lí đơn yêu cầu
Thủ tục nhận và xử lí đơn yêu cầu được pháp luật hiện hành quy định tại Điều 363 BLTTDS 2015:
- Về thủ tục nhận đơn yêu cầu: khi người yêu cầu gửi đơn yêu cầu xác định
NLHVDS của cá nhân thì Tòa án tiến hành thủ tục nhận đơn yêu cầu tương tư như thủ tục nhận đơn khởi kiện quy định tại Khoản 1 Điều 191 BLTTDS 2015
- Xử lí đơn yêu cầu: trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn
yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu Và thẩm phán được phân công giải quyết sẽ kiểm tra đơn cả về hình thức và nội dung
Thứ nhất, đối với đơn yêu cầu, nếu đơn yêu cầu không đúng theo quy định
tại Khoản 2 Điều 362 BLTTDS 2015 thì thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu Và hết thời hạn quy định, người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu kèm theo những tài liệu chứng cứ đã nộp trước đó
Trang 8Thứ hai, thẩm phán kiểm tra những điều kiện về mặt nội dung, nếu có vi
phạm thì Tòa án tiến hành trả lại đơn yêu cầu theo quy định tại Điều 364 BLTTDS 2015 cụ thể Tòa án trả lại đơn trong các trường hợp sau:
- VDS không thuộc thẩm quyền của Tòa án (Trường hợp nếu VDS thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì tiến hành chuyển đơn yêu cầu)
- Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có năng lực tố tụng dân sự
- Sự việc đã được tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết
- Đơn yêu cầu không đáp ứng Điều 362, yêu cầu sửa đổi, bổ sung nhưng không sửa đổi bổ sung
- Người yêu cầu không nộp lệ phí sơ thẩm
- Người yêu cầu rút đơn yêu cầu
Như vậy nếu như không vi phạm các điều kiện về mặt nội dung và hình thức trên đây, thì thẩm phán sẽ xác định tiền tạm ứng lệ phí và thông báo cho người yêu cầu nộp tạm ứng lệ phí tại cơ quan thi hành án cùng cấp Sau khi người yêu cầu nộp lại biên lai tạm ứng lệ phí thì Tòa án ra quyết định thụ lí đơn yêu cầu
2.3 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Chuẩn bị xét đơn yêu cầu là bước 3 trong thủ tục xác định NLHVDS của cá nhân Thời hạn 01 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn (Điều 366 BLTTDS 2015) Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành công việc sau đây:
- Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án
- Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu hoặc thấy cần thiết Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật hoặc giám định pháp y tâm thần Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu (1 tháng)
mà chưa có kết quả giám định, thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 1 tháng
- Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu
- Quyết định mở phiên họp giải quyết VDS
6
Trang 9Khi thấy đủ điều kiện mở phiên họp thì Tòa án ra quyết định mở phiên họp Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp và hồ sơ VDS cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày VKS nhận được hồ
sơ VKS phải nghiên cứu xong Hết thời hạn 07 ngày VKS phải trả hồ sơ cho Tòa án
2.4 Phiên họp xét đơn yêu cầu
Sau khi xét đơn yêu cầu, Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết VDS trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp Quyết định giải quyết VDS phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết VDS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết VDS trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
Phiên họp xét đơn yêu cầu, Tòa án sẽ đưa ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận tuyên bố yêu cầu một người mất NLHVDS, khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, hạn chế NLHVDS Nếu chấp nhận yêu cầu trên thì:
- Đối với yêu cầu tuyên bố một người hạn chế NLHVDS: Tòa án phải xác định người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện
- Đối với yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Tòa án phải chỉ định người giám hộ và xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
- Đối với yêu cầu tuyên bố một mất NLHVDS: Tòa án không phải xác định người giám hộ Việc xác định người giám hộ thực hiện theo quy định tại Điều 53 về người giám hộ đương nhiên của người mất NLHVDS hoặc Điều 54 BLDS 2015 về cử người giám hộ trong trường hợp người mất NLHVDS không
có người giám hộ đương nhiên
II Thực tiễn áp dụng thủ tục giải quyết yêu cầu xác định NLHVDS của
cá nhân
1 Phân tích quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS
Quyết định số 03/2017/QĐDS-ST của TAND huyện Tân Trụ, tỉnh Long An về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” 3
1.1 Tóm tắt việc dân sự
Trang 10Bà Nguyễn Thị M có nộp đơn yêu cầu toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất NLHVDS và được TAND Tân Trụ thụ lý ngày 03/11/2017 Cụ thể bà M là con của ông Nguyễn Công G và bà Nguyễn Thị P (cả hai đã chết) Ông G và bà
P có 5 người con là Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị
T và Nguyễn Thị M Trong những người con của ông G và bà P có bà Nguyễn Thị T đã bị bệnh từ nhỏ, chậm phát triển trí tuệ, không tự chủ về hành vi của bản thân, tàn tật không có khả năng lao động
Nay, bà M yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T mất NLHVDS Ngoài yêu cầu trên, bà M không có yêu cầu gì khác Bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị K thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị M
1.2 Nhận xét về việc giải quyết yêu cầu
Về thẩm quyền của Tòa án
Do yêu cầu về việc “Tuyên bố một người mất NLHVDS” là loại VDS thuộc
thâm quyền giải quyết của Tòa án (Quy định tại Khoản 1 Điều 27 Bộ Luật TTDS 2015); tiếp theo xét về thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật TTDS 2015 thì yêu cầu trên thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện nơi bà Nguyễn Thị T cư trú cụ thể là TAND huyện Tân Trụ
Về quyền yêu cầu
Điều 376 BLTTDS 2015 quy định người có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS là người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan Theo đó bà Nguyễn Thị M có quan hệ huyết thống với bà Nguyễn Thị
T (là chị em) nên giữa bà M và bà T có quyền lợi và lợi ích liên quan đến nhau đồng nghĩa với việc bà M có quyền yêu cầu tuyên bố bà T là người mất NLHVDS
Về xác định tư cách đương sự
Tư cách đương sự trong quyết định được xác định:
- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Ấp 5, xã N, huyện T, tỉnh Long An
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+) Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Ấp 5, xã Q, huyện T, tỉnh Long An
8