Không thể phủ nhận các tác động tích cực của việc cha mẹ đi làm ăn xa đối với cả nơi đi và nơi đến về mặt kinh tế xã hội, đặc biệt là cung cấp nguồn tài chính, góp phần vào việc duy trì
Trang 1Đ Ạ I H Ọ C Q U Ó C G IA H Ă NỘI
BÂO CÂO TỎNG QUAN
Tín đề tăi: Thích ứng tđm lý - xê hội của trẻ em nông thôn có bổ mẹ đi lăm ăn xa
M ê số đề tăi: QG 15.43
Chủ nhiệm đề tăi: TS N guyễn V ăn L ưọt
ĐAI HỌC QUỐC GIA HĂ NỘI 1 TRUNG TẦM THÒNG TIN THƯ VIỆN
OQOẪũQCJẨt l _I
Hă N ội, 7/2017
Trang 21 Đặt vấn đề
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thể giới, các nghiên cứu chỉ ra rằng tình trạng cha mẹ đi làm ăn xa đã có tác
động tiêu cực đến việc học tập của trẻ như kết quả học tập của trẻ bị giảm sút (Zhao, Yu
Wang, & Glauben, 2014), hoặc gián đoạn quá trình học tập (Zhaobao Jia & Tian, 2010), trẻ gặp khó khăn trong việc giao tiếp với thầy/cô và bạn bè (Luo, Gao, & Zhang, 2011) Việc
thiếu vắng cha mẹ khiến trẻ em ở nông thôn có nhiều cảm xúc tiêu cực hơn so với trẻ ở cùne
cha mẹ: trẻ có cảm giác cô đơn, buồn chán (Z Jia & W.Tian, 2010; Jingzhong & Lu, 2011; trẻ vắng cha mẹ cũng tỏ ra lo lắng, bất an, sợ hãi (Fan, Su, & Gill, 2010) Không chỉ vậy, trẻ
em có bố mẹ đi làm ăn xa gặp vấn đề về tự đánh giá bản thân như trẻ thường tự ti, Sốn2
khép kín, cô lập (Jingzhong & Lu, 2011; Shen & Shen, 2014) tự đánh giá bản thân thấp
(Xiaojun, 2015) Trẻ em có cha mẹ đi làm ăn xa có điểm số về cảm nhận hạnh phúc thấp
hơn so với nhóm trẻ ở cùng cha mẹ (Graham & Jordan, 2011); ít hài lòng với cuộc sống và học tập hơn so với trẻ ở cùng cha mẹ, đặc biệt là nhóm trẻ có mẹ đi làm ăn xa (Wen & Lin, 2012) Việc cha mẹ đi làm ăn xa, không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tập, cảm xúc
và tự đánh giá bản thân mà nó khiến cho những đứa trẻ ở lại có các hành vi tiêu cực, trẻ trai
có xu hướng biểu hiện các hành vi tiêu cực cao hơn trẻ nữ (Fan và cộng sự., 2010; Wen & Liu, 2012)
Ở Việt Nam, tình trạng người dân nói chung, các bậc cha mẹ nói riêng rời nông thôn
ra các thành phố lớn hoặc sang một nước phát triển hơn để tìm kiếm việc làm ngày càng gia tăng Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2015, số người di cư nội địa từ 15 tuổi trở lên ước tính khoảng 1,24 triệu người, trong đó 57,7% là phụ nữ, có tới 78,4% tham gia vào lực lượng lao động và phần lớn di chuyển đến khu vực thành thị Ngoài ra, tính đến hết năm
2015, Việt Nam có khoảng 500.000 người đang tham gia xuất khẩu lao động ở 40 quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau Nhiều người trong số đó phải bỏ con lại ở nhà cho người thân chăm sóc, thậm chí một số gia đình cả chồng và vợ đều đi làm ăn xa Không thể phủ nhận các tác động tích cực của việc cha mẹ đi làm ăn xa đối với cả nơi đi và nơi đến về mặt kinh
tế xã hội, đặc biệt là cung cấp nguồn tài chính, góp phần vào việc duy trì đời sổng ở quê nhà
và việc học tập của con em những người đi làm ăn xa (Hoàng Bá Thịnh 2012; Nicola Piper 2012; Vũ Ngọc Bình 2012) Bên cạnh những lợi ích trước mắt về kinh tế-xã hội có thể nhìn thấy, việc cha mẹ phải rời bỏ quê hương đi làm ăn xa ở thành phố hoặc một nước khác đã tác động tiêu cực về mặt tâm lý cho những đứa trẻ bị bỏ lại ở nông thôn Tuy nhiên còn quá
ít các nghiên cứu về tác động của tình trạng này đến sức khỏe tinh thần của trẻ (Graham và cộng sự 2011: 763)
Cho đến thời điểm này, ở Việt Nam, các nghiên cứu về những người ở lại do hậu quả củi quá trình di cư, đặc biệt là trẻ em và người già còn ít được quan tâm Điểm luận tài liệu, chung tôi nhận thấy đã có một số nghiên cứu về tác động của tình trạng cha mẹ đi làm ăn xa đến trẻ em bị bỏ lại Graham và cộng sự 2011 thông qua ý kiến của người chăm sóc, khảo sát3876 trẻ em (độ tuổi 3-12) ở 4 nước Đông Nam Á ( trong đó có Việt Nam) về chất lượng cuóc sống của trẻ Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy ở Việt Nam, không có sự khác biệt
về chất lượng cuộc sống giữa nhóm trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa và nhóm trẻ ở cùng cha mẹ
Sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát Young Lives năm 2007 và 2009 với 7725 trẻ em trong độ
tu a 5-8 ở 4 nước Ethiopia, Ấn Độ, Peru và Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt Cường cho rằng qin trình cha mẹ đi làm ăn xa giúp cải thiện tình hình tài chính cho các gia đình nhưng khóng giúp cải thiện sức khỏe và khả năng nhận thức của trẻ Cha mẹ đi làm ăn xa là ngiyên nhân dẫn đến các vấn đề về sức khỏe và nhận thức của trẻ ở Việt Nam cũng như các
1
Trang 3nước Peru, Án Độ Nhóm trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa trong thời gian dài có xu hướng bị ảnh hưởng tiêu cực hơn so với nhóm trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa trong thời gian ngắn Sự thiếu hụt giao tiếp giữa cha mẹ và trẻ cũng như thiếu sự chăm sóc của cha mẹ chính là neuyên nhân dẫn đến những vấn đề về dinh dưỡng và học tập của trẻ
Như vậy, có thể thấy có rất ít các nghiên cứu sự ảnh hưởng của tình trạng cha mẹ đi làm ăn xa đến trẻ em bị bỏ lại ở nông thôn Việt Nam nói chung, sự thích ứng tâm lý-xã hội cùa trẻ nói riêng Đây thực sự là một khoảng trống cả về mặt lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
* Cha mẹ đi làm ăn xa và trẻ em bị bỏ lại
Cha mẹ đi làm ăn xa ( Parent working fa r from home) trong nghiên cứu này được
h ểu là những ông bố, bà mẹ phải rời quê hương nơi đang cư trú thường xuyên đi làm việc ở
1 tỉnh, thành phố khác (ở Việt Nam thường tập trung tại vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh) hoặc sang hẳn một nước, vùng lãnh thổ khác (thường theo diện xuất khẩu lao động) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những ông bố, bà mẹ
co thời gian đi làm ăn xa từ 6 tháng trở lên (Graham & Jordan, 2011)
Trẻ em có cha mẹ đi làm ăn xa ,( trên thế giới người ta thường gọi là trẻ em bị bỏ lại - Lỉft- behind Children) trong nghiên cứu này được hiểu là nhữne trẻ em có bố hoặc mẹ (hoặc
C£ 2 bố mẹ) đi làm ăn xa ở thành phố hoặc sang hẳn 1 nước/vùng lãnh thổ khác; thời gian đi làn ăn xa từ 6 tháng trở lên, có độ tuổi dưới 18 (Graham & Jordan, 2011) Những trẻ em ruy đang sống ở quê nhà và được nuôi dưỡng bởi những người chăm sóc (caregivers) thường là ông/bà nội ngoại hoặc sống với cha (nếu mẹ đi làm ăn xa) hoặc sống với mẹ (nếu
d a đi làm ăn xa)
* Thích ứng tâm lý của trẻ em có bo mẹ đi làm ăn xa
Thuật ngữ “thích ứng” trong tiếng Anh là adaptive, adjustment Theo từ điến Tâm lý
học của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA), Adịusment có nghĩa là: (i) sự thay đổi thái độ, hành
vi của cá nhân cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường hoặc những tình huống không qien thuộc Một người được coi là thích ứng tốt là người thỏa mãn các nhu cầu của bản thân thỉo cách có lợi cho sức khỏe, phù hợp với chuẩn mực xã hội và tình huống khác nhau, (ii) Sưa đổi để phù hợp với chuẩn mực 1
Theo từ điển Tâm lý học của Đại học Cambridge, thuật ngữ thích ứng (Adịustment) thiờng được hiểu là khả năng thích nghi tốt hơn trong một môi trường cụ thể Là sự thay
đổ suy nghĩ, hành động trong những cách thức khác nhau để thỏa mãn tốt hơn với môi trvờng văn hóa, xã hội và thể chất của mỗi cá nhân Xét về khía cạnh Tâm lý học, thích ứng thíờng được quan niệm là quá trình học tập để đối phó tốt hơn với những thay đổi trong cuộc sống2
Các nhà Tâm lý học Xô Viết (cũ) và Việt Nam thường phân biệt khái niệm thích nghi
và thích ứng Họ cho rằng, thích nghi là quá trình biến đổi của cơ thể cho phù hợp với nhìng điều kiện tự nhiên thay đổi, trong khi đó, thích ứng thường nhấn mạnh đến tính tích cự;, chủ động của chủ thể trước sự thay đổi của môi trường, hoàn cảnh mới
1 APA D ictionary of P sychology, A m erican P sy c h o lo g ic a l A sso cia tio n , 2015, p.22
2 Cavid M atsum oto, The C a m b rid g e D ictìo n a ry o f P sych o/ogy, Cambridge Ư niversity Press, 2009, p 17
2
Trang 4Tác giả Trần Hiệp và Đỗ Long phân biệt thích nghi và thích ứng xã hội “Thích nghi:
sự biến đôi về cấu tạo và chức năng của cơ thê bao gôm cả các cơ quan và tế bào của nó đời với điều kiện của môi trường Thích nghi xã hội thể hiện: (ỉ) Quá trình thích nghi tích cực của cá nhân đổi với những điểu kiện của môi trường xã hội mới; (2) Kết quả của quá trinh trên ”3.
Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên đưa ra quan điểm về thích ndhi và thích nghi xã hội như sau:
- “Thích nghi là sự thích nghi về cấu tạo và chức năng của cơ thể, bao gồm cả các cơ qian và tế bào của nó, đổi với điều kiện của môi trường’'4
- Thích nghi xã hội là “ 1-quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với những điều kiận của môi trường xã hội mới; 2-kết quả của quá trình trên Nội dung tâm lý - xã hội của thch nghi xã hội là sự gần gũi về mục đích và các định hướng giá trị của nhóm với mỗi thinh viên, ý thức của cá nhân về các tiêu chuẩn, truyền thống và văn hóa tinh thần trong rứóm, sự hòa nhập của người đó vào cấu trúc, vai trò của nhóm”
Có quan niệm cho rằns thích ứng là sự tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ
vả hành vi của chủ thể để đáp ứng các yêu cầu mới của thực tiễn: “Thích ứng là sự tích cực, chì động thay đổi nhận thức, thái độ, hành động của chủ thể nhằm đáp ímg yêu cầu mới cia hoạt động để tiến hành có kết quả ”5.
Các tác giả Sara S.Sparrow, Domenic V.Cicchetti quan niệm sự thích ứng phải được biẽu hiện và đo lường bằng hành vi Họ coi hành vi thích ứng là sự thể hiện/thực hiện của chỉ thể trong các hoạt động đáp ứng các yêu cầu của xã hội: ở gia đình, trường học, chơi vói bạn bè/đồng nghiệp và các mối quan hệ xã hội V V “Hành vi thích ứng như là sự thể hiịn các hoạt động hàng ngày đòi hỏi cho khả năng cá nhân và xã h ộ i”6 Bốn khía cạnh
quin trong định nghĩa hành vi thích ứng này là (1) hành vi thích ứng có liên quan tới độ tuói; (2) hành vi thích ứng được định nghĩa bằng sự kỳ vọng hoặc tiêu chuẩn của người khic; (3) hành vi thích ứng có thể thay đổi được; (4) hành vi thích ứng được định nghĩa bằig những thể hiện đặc thù chứ không phải là khả năng
Tác giả Trần Thu Hương, Trần Thành Nam cho rằng “Hành vi thích ứng được hiểu
là khả năng làm việc một cách độc lập và thành thạo, khả năng thích ứng cũng như kiếm so(t được môi trường xung quanh cả nhân theo những kỳ vọng của xã hội và cộng đồng’'1.
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự, tiếp cận từ góc độ kết quả thích ứnỊ, cho rằng thích ứng tâm lý -x ã hội ở chủ thể được hiểu là chủ thể có cảm xúc tích cực
và ít có cảm xúc tiêu cực, yêu cuộc sống và tràn đầy năng lượng cho mọi hoạt động của mìih Đồng thời chủ thể có khả năng hòa nhập tốt vào các mối quan hệ xã hội mới, ứng xử
m ậ cách phù hợp với các nội qui và tham gia các hoạt động xã hội để tồn tại và phát triển (Nịuyễn Thị Minh Hằng, Cao Thị Thanh Nhàn, 2 0 17)8
3 Tồn H iệp - Đ ỗ Long (chủ biên), (1991), s ổ ta y Tâm lý học, N xb Khoa học X ã hội.
[ V i D ũng (chủ biên), (2 0 0 8 ), T ừ đ iế n Tâm lý h ọ c , N xb Từ điển Bách khoa, p 3 18
5 Nmyễn Thị ú t Sáu, Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chi cùa sinh viên đại học Thái Nguyên, Luận án
tiểnsĩ Tâm lý học, Hà Nội 2013, tr.22.
’ Kloa Tâm ]ý học, Thang đo Hành vi Thích ứng Vineland, Bản dịch tiếng Việt do nhóm giảng viên của Khoa Tâm lý
học Đại học KHXH&NV - ĐHQGHN dịch năm 2015, tr 13
7 Tồn Thu Hương, Trần Thành Nam (2015), Hiện tượng chậm nói ở trẻ: một số phán tích từ kết quà trắc nghiệm VindandII-VN, Tạp chí Tâm lý học (12), tr.o 1.
' Níuyễn Thị Minh Hằng, Cao Thị Thanh Nhàn (2017), Thích ứng với hoạt động học tập cùa sinh viên năm nhất trường
Đạnọc Hài Phòng, Tạp chí Tâm lý học, số 3 (216), tr.33 - 46.
3
Trang 5Khái quát lại có thể thấy, khi bàn về thích ứng tâm lý các tác giả đều cho rằn2 đó là quá trình chủ động, tích cực thay đổi nhận thức, hành vi của chủ thể để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Sự thích ứng phải được thể hiện thông qua các hành vi cụ thể trong việc thực hiện các chức năng sống của mỗi người Đổi với trẻ em, thích ứng phải được thể hiện ở việc trẻ thực hiện tốt các hoạt động, đảm nhận tốt các vai trò của mình (vui chơi, học tập, quan hệ bạn bè )
Trong nghiên cứu này, xuất phát từ cách hiểu về thích ứng ở trên và các hoạt độne đặc trưng của trẻ em nông thôn có bố mẹ đi làm ăn xa trong độ tuổi từ 6-18 tuổi, chúng tôi
cho răng, thích ứng tâm lý - xã hội của trẻ em nông thôn có bổ mẹ đi làm ăn xa là sự phù hyp, đáp ứng của trẻ với các yêu cầu của cuộc song gia đình và trường học Thích ứng tâm l) ~xã hội của trẻ được thể hiện ở cảm xúc tích cực, tự tin vào bản thân, cảm thấy hạnh paúc và ứng phó tích cực với những khó khăn gặp phải trong học tập, cuộc sống trong thời g.an cha mẹ đi làm ăn xa.
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Mau nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu định lượng theo lát cắt ngang Tổng số mẫu nghiên cứu gồm
1119 trẻ em trong độ tuổi từ 9 tới 15 tuổi (469 trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa, 650 trẻ ở cùng cha mẹ) và 373 người chăm sóc của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa Địa bàn khảo sát tại 3 tỉnh miền BỈC Việt Nam: huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam Lý do chúng tôi chọn 3 địa bàn nghiên cứu trên vì đây là các địa phương có tỷ lệ người đi làm ăn xa cao so với các địa phương khác ở phía Bắc của Việt Nam Các trẻ đều đang theo học từ lớp 4 tới lớp 9 tại các trường tiểu học và THCS ở 3 địa ban trên
2.2 Công cụ nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, để đo lường thích ứng tâm lý-xã hội của trẻ có cha mẹ đi làm
ăr xa chúng tôi đã sử dụng một số thang đo/bảng hỏi sau:
2.2.1 Thang đo cảm xúc, lòng tự trọng của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa
Đe nghiên cứu cảm xúc của trẻ, nhóm nghiên cứu đã sử dụng trắc nghiệm Positive ard Negative Affect Schedule (PANAS) của Watson, Clark and Tellegen (1988) gồm 20 it(ms, trong đó có 10 items tích cực và 10 items tiêu cực Cụ thể như sau: 10 items đo cảm xíc tiêu cực gồm: lo lắng, sợ hãi, cảm giác có lỗi, buồn bã, khó chịu, cáu kỉnh, khiếp đảm, bcn chồn lo sợ, thù địch, xấu hổ; 10 items tích cực gồm: thú vị, nhanh nhẹn, đầy cảm hứng, qiyết tâm, tập trung, năng động, háo hức, mạnh mẽ, nhiệt tình, tự hào
Đe đo lòng tự trọng (Self-Esteem) của trẻ chúng tôi đã sử dụng thang đo Self Esteem của Rosenberg gồm 10 items (5 items âm tính và 5 items dương tính), được thiết kế theo thing Likert 4 mức độ: rất không đồng ý = 1 điểm; không đồng ý = 2 điểm; đồng ý = 3 đièm; rất đồng ý = 4 điểm Các item 2, 5, 6, 8, 9 là các item được đảo ngược so với các item CỜI lại (Rosenberg, M 1965) Điểm số càng cao cho thấy, mức độ tự tin càng cao Tổng đièm của các item càng lớn chứng tỏ sự đánh giá về giá trị của bản thân càne tích cực (điểm thip nhất là 10, cao nhất là 40) Thang đo này có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha = 0,65
4
Trang 62.2.2 Thang đo cảm nhận hạnh phúc của trẻ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụn2 thang đo Phổ sức khỏe tinh thần, bản rút gọn - (Mental Health Continuum-Short Form/MHC-SF) của tác giả Keyes (1998, 2002) Thang đo MHC-SF đã được tác giả Trương Thị Khánh Hà (2015) Việt hóa và thích ứng trên nhóm trẻ vị thành niên Việt Nam
Thang MHC-SF gồm 14 items, đo 3 chiều cạnh gồm: hạnh phúc cảm xúc (3 items), hạnh phúc tâm lý (6 items) và hạnh phúc xã hội (5 items) Với mỗi items đều có 6 mức độ trả lời và được cho điểm như sau: không lần nào = 1 điểm; 1, 2 lần trong tháng = 2 điếm; khoảng mỗi tuần 1 lần = 3 điểm; khoảng mỗi tuần 2, 3 lần = 4 điểm; Gần như hàng ngày = 5 điểm; Hàng ngày = 6 điểm Phân tích hệ sổ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy, 3 tiểu thang
đo và thang đo tổng có hệ số tin cậy đảm bảo cho việc triển khai nghiên cứu, cụ thể: tiểu thang đo hạnh phúc cảm xúc có Cronbachs’ Apha = 0.767; tiểu thang đo hạnh phúc tâm lý
có Cronbach’s Alpha = 0.699; tiểu thang đo hạnh phúc xã hội có Cronbach’s Alpha = 0.680
và Thang đo hạnh phúc nói chung có C ronbach’s Apha = 0.834
2.2.3 Bảng hỏi điêm mạnh, điếm y ếu của trẻ (SDQ-25)
Bảng hỏi điểm mạnh và điểm yếu (Strengths and Diffículties Questionnaire-SDQ) cho 3 nhóm khách thể, trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa, trẻ ở cùng cha mẹ và người chăm sóc của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa Bảng hỏi gồm 25 items bao gồm 10 item về điểm mạnh, 14 items về điểm yếu, 1 item trung lập Mỗi item có 3 phương án trả lời tương ứng với 0 - không đúng; 1 - đúng một phần; 2 - chẳc chắn đúng Bảng hỏi được chia thành 5 thang đo, mỗi thang 5 câu: tăng động giảm chú ý; vấn đề tình cảm; vấn đề hành vi; vấn đề bạn bè; xã hội tích cực Thang xã hội tích cực là theo chiều dương tính, bốn thang còn lại theo chiều
âm tính được cộng chung thành điểm tổng các khó khăn Bảng hỏi SDQ được chúng tôi sử dụng dựa trên phiên bản tiếng Việt đã được thích ứng và sử dụng bởi nhóm tác giả Đặng Hoànẹ Minh và cộng sự (Đặng Hoàng Minh và cộng sự, 2013)
2.2.4 Thang đo chiến lược ứng phó với khó khăn của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thang đo chiến lược ứng phó của trẻ khi eặp phải những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống, phiên bản 2012 do Elena Camisasca và cộng sự sử dụng trên nhóm trẻ ỉtalia từ thang đo gốc của Ayers và Sandler (1999) Thang đo gồm 54 mệnh đề, đo 5 chiến lược ứng phó của trẻ, cụ thể như sau (Elena Camisasca và cộng sự, 2012):
- Chiến lược tập trung giải quyết vấn đề (Problem fo cu sed coping), gồm 12 mệnh đề,
hệ số Alpha của Cronbach = 0,779
- Chiến lược thay đổi nhận thức (Positive cognitive restructuring), gồm 12 mệnh đề,
hệ số Alpha của Cronbach = 0,804
- Chiến lược tìm kiến sự trợ giúp (Support seeking strategies), gồm 9 mệnh đề, hệ số
Alpha của Cronbach = 0,811
- Chiến lược tiêu khiển/giải trí (Distraction strategies), gồm 9 mệnh đề, hệ số Alpha
của Cronbach = 0,668
- Chiến lược né tránh vấn đề (Avoidance strategies), gồm 12 mệnh đề, hệ số Alpha
của Cronbach = 0,707
5
Trang 7Trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa có điểm số về lòng tự trọng thấp hơn so với trẻ ở cùng cha
mẹ, cụ thể ĐTB của trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa = 22.46 so với 27.80 được ghi nhận ở nhóm trẻ ở cùng cha mẹ và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê khi p = 0.00 Điều này cho thấy, trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa tự đánh giá bản thân thấp hơn so với trẻ ở cùng cha mẹ Chúng tôi nhận thấy có kết quả tương đồng khi so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với nghiên cưu của Sun Xiaoịun và cộng sự (2015) Khảo sát trên 1708 trẻ em đang ở độ tuổi vị thành niên, trong đó có 1108 trẻ em-chiếm 64.9% có bố mẹ đi làm ăn xa, độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 15.03 +/-1.93 ở các vùng nông thôn miền Trung của Trung Quốc di cư ra thành phố làm ăn, Sun Xiaọịon và công sự cho thấy, trong mối so sánh với những trẻ em ở
cùng cha mẹ thì “những trẻ em vắng cha mẹ có điểm tự đảnh giá bản thân thấp hơn ” (Sun
Xiaoịun và cộng sự 2015, tr 235)
Không chỉ có biểu hiện cảm xúc tiêu cực hơn, lòng tự trọng thấp hơn trẻ ở cùng cha
mẹ, trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa còn có điểm số về sự hài lòng với cuộc sống thấp hơn so với tré ở cùng cha mẹ, ĐTB = 3.54 (trên thang điểm 5) so với 4.23 ở nhóm trẻ ở cùng cha mẹ và
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,00)
Ket quả nehiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng về học tập của trẻ ở cùng cha mẹ và trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa (ĐTB của 2 nhóm lần lượt là 3.63 và 3.64 với mức ý nghĩa, p = 0.82)
3.2 Cảm nhận hạnh phúc của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa
Bảng 2 So sánh cảm nhận hạnh phúc giữa trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa với trẻ ở cùng cha mẹ
Xét một cách tổng thể, điểm số cảm nhận hạnh phúc của trẻ em ở cùng cha mẹ cao hon so với trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa ĐTB của trẻ ở cùng cha mẹ = 4.26, trong khi đó điểm
số của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa = 4.10 Sự khác biệt có ý nRhĩa thống kê với t =2.669, p =
0 (0.
Xét từng khía cạnh biểu hiện cảm nhận hạnh phúc, trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa có cảm nhìn hạnh phúc xúc cảm, tâm lý thẩp hơn so với trẻ đang ở cùng cha mẹ ĐTB well-being
7
Trang 8Emotion của Lelf-behind Children thấp hơn 0.21 điểm so với Children living with parents (t
= 2.621, p = 0.00)
Không chỉ vậy, điếm cảm nhận hạnh phúc tâm lý (well-being psychological) của trẻ
có bố mẹ đi làm ăn xa cũng thấp hơn 0.37 điểm so với trẻ ở cùng cha mẹ (t = 6.287, p =
Một điểm đáng chú ý là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cảm nhận hạnh phúc xã hội giữa nhóm trẻ có bổ mẹ đi làm ăn xa và nhóm trẻ ở cùng cha mẹ ĐTB của cả 2 nhóm trẻ = 3.74 (t = 0.034, p = 0.97)
3.3 Sức khỏe tâm thần của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa
Bảng 3 Điểm khó khăn của trẻ có cha mẹ đi làm ăn và trẻ ở cùng cha mẹ (%)
Tỷ lệ
thường
thường
Tăng đông
(0-10)
LBC ( n=447) Non-LBC (n = 610) Người chăm sóc (n=336)
3.31 (1.94) 2.56(1.11) 3.17(1.94)
86.6%
80.3%
87.5%
12.1%
15.4%
9.8%
1.3% 4.3% 2.7% Vân đê cảm
xúc
(0-10)
LBC ( n=443) Non- LBC (n = 605) Người chăm sóc (n=329)
3.93 (2.40) 3.04 (1.49) 3.64(1.59)
84.2%
78.7%
79.6%
7.2%
21.3%
7.0%
8.6% 0%
13.4% Vấn đề
hành vi
(0-10)
LBC ( n=445) Non-LBC (n = 607) Người chăm sóc (n=333)
1.87 (1.92) 1.68 (1.43) 1.44(1.59)
81.6%
87.7%
88.6%
1.9%
7.1%
4 1%
6.5% 5.1%
6 9% Vân đê bạn
bè
(0-10)
LBC ( n=440) Non-LBC (n = 601) Người chăm sóc (n = 331)
3.48 (1.65) 2.93 (1.35) 3.03 (1.56)
88.4%
87.5%
84.0%
6.4%
9.5%
12.7%
5.2% 3.0% 3.3% Tông khó
khán
(0-40)
LBC ( n = 413) Non- LBC (n = 547) Người chăm sóc (n = 292)
12.55(5.96) 10.17(3.38) 11.12(5.14)
81.1%
82.3%
84.9%
17.4%
16.5%
11.3%
1.5% 1.8% 3.8% Ung hộ xã
hôi
(10-0)
LBC ( n=469) Non- LBC (n - 650) Người chăm sóc (n = 337)
7.14(1.90) 7.09(1.96) 10.0(7.22)
81.8%
78.5%
97.6%
13.6%
17.7%
2.4%
4.7%
3 9% 0%
Ghi chú: LBC- Trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa; Non-LBC- Trẻ ở cùng cha mẹ
Bảng 3 cho thấy, điểm tổng khó khăn của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa theo đánh giá của chính các em ở mức ranh giới là 17.4%, bất thường 1.5%, gộp cả 2 nhóm này thì tỷ lệ là 18.9% Trong mối quan hệ so sánh với nhóm trẻ ở cùng cha mẹ, tỷ lệ trẻ ở cùng cha mẹ thiộc nhóm ranh giới là 16.5%, bất thường 1.8%, gộp cả 2 nhóm là 18.3% Tỷ lệ này theo đáih giá của người chăm sóc thấp hơn, đạt 15.1%
Trong các thang đo, theo báo cáo của LBC thì tỷ lệ các em có vấn dề về tăng động gian chú ý (Hvperactivity) là cao nhất với 12.1% ở mức ranh giới, 1.3% ở mức bất thường (gòp chung cả 2 nhóm ranh giới và bất thường là 13.4%) và tiếp đến là tỉ lệ các em có vấn
đề về Cảm xúc (Emotional Problems) với 7.2 % ở mức ranh giới và 8.6 % ở mức bất thường (gòp chung cả 2 nhóm này là 15.8%) Theo đánh giá của người chăm sóc, tỷ lệ trẻ LBC có
8
Trang 9về Cảm xúc (Emotional Problems) là cao nhất với 7.0 % ở mức ranh giới, 13.4 % ở mức bất thường (gộp chung cả 2 nhóm là 20.4%) và tiếp đến là tỉ lệ các em có vấn đề về hạn bè (Peer Problems) với 12.7% ở mức ranh giới và 3.3% ở mức bất thường (gộp chung cả 2 nhóm là 16%)
3.4 Chiến lược ứng ph ó với những khó khăn gặp phải của trẻ có cha mẹ đi làm
ăn xa
Trước những khó khăn gặp phải trong học tập, cuộc sống trẻ em có cha mẹ đi làm ăn
xa ứng phó như thế nào và có sự khác biệt gì giữa ứng phó của trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa
và nhóm trẻ ở cùng cha mẹ? Ket quả được thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 4 So sánh chiến lược ứng phó với khó khăn trong học tập, cuộc song
của trẻ ở cùng cha mẹ và trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa
1 Tập trung giải
quyết vấn đề
Trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa (n = 417) Trẻ ở cùng cha mẹ (n = 565)
35,31 (5,50) 36,11 (5,72) 1,038 0,02
2 Thay đổi
nhận thức
Trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa (n = 404) Trẻ ở cùng cha mẹ (n = 549)
34,93 (5,92) 35,67 (6,26) 1,896 0,06
3 Tìm kiến sự
trợ giúp
Trẻ có bổ mẹ đi làm ăn xa (n = 429) Trẻ ở cùng cha mẹ (n = 574)
25,03 (5,07)
4 Tiêu
khiển/giải trí
Trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa (n = 425) Trẻ ở cùng cha mẹ (n = 584)
27,69 (4,27) 28,34 (4,48) 1,067 0,02
5 Né tránh vấn
đề
Trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa (n = 411) Trẻ ở cùng cha mẹ (n = 555)
32,63 (5,38) 33,09 (5,69) 11,311
0,20
Các số liệu ở bảng 4 cho thấy:
- Mức độ sử dụng chiến lược “Tập trung giải quyết van đề” của trẻ ở cùng cha mẹ
cao hơn so với trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với F = 1,038;
p = 0.02
- Mức độ trẻ em ở cùng cha mẹ sử dụng chiến lược “Tìm kiếm sự trợ giúp''’ cao hơn
so với nhóm trẻ ở cùng cha mẹ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với F = 0,064; p = 0,02 Thực tể cho thấy, khi trẻ ở cùng với ông bà thì ông bà chỉ có thể lo về cái ăn, cái mặc cho các cháu còn những chuyện học hành hoặc những vấn đề về tâm lý sinh lý của các cháu thì ône bà không thể giải đáp được như tâm sự của em N., 14 tuổi, cha đi xuất khẩu
lao động tại Đức đã 7 năm: “Đ ôi khi, em có cảm giác cô đơn và buồn chán tại vỉ nhiều lúc
em muốn có người che chở, bảo vệ và tâm sự, những lúc như vậy, bo không có mặt Và do
áp lực học tập ở trường, ở lớp, em mong có bổ nhờ bổ giúp đ ỡ Điều này có thế là
nsuyèn nhân khiến trẻ có bổ mẹ đi làm ăn xa ít sử dụng chiến lược tìm kiếm sự trợ giúp hơn so với trẻ ở cùna cha mẹ
9
Trang 10- Khi gặp phải những khó khăn trong học tập, trong cuộc sổng, nhóm trẻ ở cùng cha
mẹ cũng sử dụng chiến lược “Tiêu khiển/giải t r ĩ ’ cao hon so với nhóm trẻ có cha mẹ đi làm
ăn xa Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với F = 1,067; p = 0,02
- Trẻ ở cùng cha mẹ cũng sử dụng chiến lược “Thay đỗi nhận thức” cao hơn so với
trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê
với F = 1,896; p = 0,06 Ket quả tương tự cũng tìm thấy ở chiến lược “Né tránh vấn đe" với
F = 11,311; p - 0 ,2 0
Như vậy, có thể kết luận một cách khái quát rằng, trẻ em ở cùng cha mẹ có mức độ sử dụng các chiến lược ứng phó với những khỏ khăn gặp phải trong học tập, trong cuộc sống tích cực cao hơn so với nhóm trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa
Câu hỏi đặt ra là “Liệu ràng giữa các nhóm trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa khác nhau thì
có chiến lược ứng phó với những khó khăn gặp phải trong học tập khác nhau không”? Các kết quả thu được ở bảng 2 cho thấy:
- v ề chiến lược "Tập trung giải quyết vấn đề”, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
£Ìữa các nhóm trẻ có bố mẹ đi làm ăn xa nếu xét theo tiêu chí cấp học, độ tuổi, thời gian cha
mẹ đi làm ăn xa và địa bàn sinh sống của trẻ Xu hướng chung là: trẻ đang học THCS, trong
độ tuổi từ 12 đến 15, thời gian cha mẹ đi làm ăn xa trên 3 năm và nhóm trẻ sống ở Phú Thọ có
xu hướng sử dụng chiến lược này cao hơn so với nhóm trẻ đang học tiểu học, độ tuổi từ 9 đến
11, thời gian cha mẹ đi làm ăn xa dưới 3 năm ở các địa phương Bắc Ninh và Hà Nam Không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong việc sử dụng chiến lược này giữa các nhóm trẻ nếu xét theo tiêu chí giới tính, người đi làm ăn xa là cha hay mẹ và thời gian liên hệ giữa cha mẹ
đi làm ăn xa và trẻ
- v ề chiến lược “Thay đỏi nhận thức”, nhóm trẻ đang học trung học cơ sở, có cha mẹ
đi làm ăn xa trên 3 năm, ở địa bàn Phú Thọ sử dụng chiến lược này thường xuyên hơn so với nhóm trẻ ở các địa phương Bắc Ninh, Hà Nam, nhóm trẻ đang học tiểu học, có cha mẹ đi làm
ăn xa dưới 3 năm và ở các địa phương khác
- v ề chiến lược “ 77m kiếm sự trợ giúp”, số liệu cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm
trẻ ở Bắc Ninh có cha mẹ đi làm ăn xa với nhóm trẻ ở các địa phương Phú Thọ, Hà Nam
4 Một số kiến nghị/giải pháp giúp trẻ thích ứng tốt hơn vói việc học tập, cuộc sống
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng khác nhau chúng tôi đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhàm giúp trẻ thích ứng tốt hơn trong học tập, cuộc sống:
(1) về phía cha mẹ trẻ
- Các bậc cha mẹ cần làm tốt công tác tư tưởng cho trẻ trước khi đi làm ăn xa Cha
mẹ hãy nói cho trẻ biết mục đích, ý nghĩa của việc cha mẹ đi làm ăn xa; chuẩn bị tâm lý cho trẻ (kể cả những trẻ nhỏ tuổi), thảo luận với trẻ về những cách thức liên lạc giữa cha mẹ và con cái; những khó khăn mà trẻ có thể gặp phải khi cha mẹ đi làm ăn xa và những cách thức trẻ tìm kiếm các nguồn lực trợ giúp cho trẻ
- Các bậc cha mẹ cần giữ mối liên hệ thường xuyên với trẻ qua các kênh giao tiếp
khác nhau (tel, m ạng xã hội V V ).
10