Kết quả khảo sát đối với nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở - Đánh giá của cán bộ về hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở của các tỉnh biên giới Theo kết quả khảo sát của
Trang 1BÁO CÁO TỔNG QUAN SỐ LIỆU KHẢO SÁT
Đề tài Quan hệ tộc người vùng biên giới Việt - Trung
1 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Mục tiêu tổng quát
- Xây dựng khung phân tích các loại quan hệ và các tiêu chí đánh giá mức độ, ảnh hưởng quan hệ tộc người ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ tộc người ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc
- Dự báo các xu hướng biến đổi các mối quan hệ tộc người ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong phát triển bền vững vùng biên giới Tây Bắc
- Đề xuất các chính sách đặc thù và giải pháp giữ gìn, bảo tồn, phát huy mối quan
hệ hữu nghị, tăng cường khối đoàn kết dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, ổn định và phát triển bền vững vùng biên giới Tây Bắc
- Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống thể chế, luật pháp, chính sách của nhà nước Việt Nam đối với vấn đề dân tộc và quan hệ hệ tộc người vùng biên giới, bao
Trang 2gồm cơ cấu tổ chức bộ máy thực thi, hệ thống luật pháp và văn bản dưới luật, nhằm tăng cường khối đoàn kết dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, góp phần ổn định
xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Bắc
- Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm của các định chế quốc tế, các nước trong khu vực và trên thế giới trong việc xử lý các mối quan hệ tộc người ở vùng biên giới
- Dự báo các xu hướng biến đổi các mối quan hệ tộc người ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong phát triển bền vững vùng biên giới Tây Bắc
- Đề xuất quan điểm định hướng, chính sách đặc thù và giải pháp giữ gìn, phát huy mối quan hệ hữu nghị, tăng cường khốiđoàn kết dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, ổn định và phát triển bền vững
vùng biên giới Tây Bắc
II Đặc điểm mẫu khảo sát
Đề tài đã triển khai khảo sát thực địa tại các tỉnh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc Các tỉnh triển khai thực địa gồm: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu
Bộ công cụ được xây dựng với 02 bộ phiếu hỏi (có mẫu phiếu kèm theo):
1 Phiếu hỏi đối với cán bộ lãnh đạo quản lý gồm 5 phần với 26 câu hỏi
2 Phiếu hỏi đối với hộ gia đình gồm 8 phần với 103 câu hỏi
Phương pháp chọn mẫu là chọn ngẫu nhiên theo danh sách của địa phương cung cấp Mỗi huyện chọn 2 xã, mỗi xã chọn 1 đến 2 bản để điều tra hộ gia đình Đối với nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở, dựa theo danh sách của xã cung cấp, lựa chọn ngẫu nhiên các cán bộ đang làm việc, tuy nhiên có lưu ý đến chức danh nghề nghiệp và nhiệm vụ đang trực tiếp lãnh đạo quản lý
Cụ thể đặc điểm mẫu phiếu khảo sát như sau:
Bảng 1: Số lượng mẫu hộ gia đình chia theo tỉnh điều tra
Hộ gia đình Cán bộ lãnh đạo quản lý
Trang 3Bảng 2: Dân tộc của người trả lời
Trang 4Vùng biên giới Việt Nam- Trung Quốc có khoảng 35 dân tộc cư trú, trong đó có 16 dân tộc
có dân số rất ít người Do vậy, đề tài đã lựa chọn đại diện cho một số dân tộc có dân số đông trong vùng để khảo sát Cụ thể là, đối với đối tượng hộ gia đình, các dân tộc được khảo sát chủ yếu là H mông, Dao, Nùng, Tày và Hà Nhì Ngoài ra, đề tài còn lựa chọn nhóm người Kinh và người Thái để làm nhóm đối chứng
Bảng 3: Trình độ học vấn của người trả lời
Hộ gia đình Cán bộ lãnh đạo quản lý
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Valid Chua di hoc 471 19.6
Trang 5Bảng 4: Chức vụ của người trả lời
Số lượng Tỷ lệ % Valid Can bo Doan 14 2.3
Can bo hoi Phu nu 38 6.1
Can bo thong ke 33 5.3
Can bo Van hoa 37 6.0
Hoi dong nhan dan 36 5.8
Mat tran To quoc 24 3.9
Trang 6Chức vụ của người trả lời dành chủ yếu cho nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý Mẫu lựa chọn của đề tài chia đều cho các cơ quan chính quyền, đoàn thể ở cấp cơ sở và cấp huyện Trong đó,chủ yếu là các cán bộ chuyên viên phụ trách thống kê, dân vận và tuyên giáo, phụ trách trực tiếp các hoạt động ở cơ sở
II Tổng quan kết quả cuô ̣c khảo sát
I Kết quả khảo sát đối với nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở
- Đánh giá của cán bộ về hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở của các tỉnh biên giới
Theo kết quả khảo sát của 620 cán bộ hiện đang đảm nhiệm các chức vụ trong hệ thống chính trị cơ sở của 6 tỉnh biên giới phía bắc giáp với Trung Quốc, khi đánh giá
về hiệu quả quản lý các mối quan hệ tộc người của hệ thống chính trị cơ sở, có nhiều nhận định khác nhau Với cán bộ là người Kinh, có 102 người tham gia trả lời thì có 52,9% ý kiến cho ở mức bình thường, 6,9% cho là chưa tốt Trong đó, tỷ lệ đánh giá chưa tốt nhiều ở các tỉnh Lào Cai (65,9% bình thường và 9,1% chưa tốt), Cao Bằng với tỷ lệ tương ứng là 47,6% và 4,8% Với cán bộ là người dân tộc Tày, các ý kiến đánh giá khá tương đồng giữa các mức tốt, khá tốt và bình thường, sự thể hiện quan điểm đánh giá chưa thực sự rõ ràng Với dân tộc Nùng, mặc dù chỉ có 23 ý kiến nhưng phần nhiều lại nghiêng về nhận định hiệu quả quản lý về các mối quan hệ dân tộc chưa tốt Trong khi đó, có tới 75,7% ý kiến của người Hmông lại cho là khá tốt và ở người Dao thì lại có tới 67,6% ý kiến đánh giá ở mức bình thường Tuy nhiên, các nhận định, đánh giá này chỉ ở mức tương đối khi nội hàm của công tác quản lý các mối quan hệ dân tộc tại các địa phương đang ở khái niệm chung mà chưa đi vào từng vấn đề cụ thể Biểu đồ 1: Đánh giá của cán bộ ở cơ sở về hiệu quả quản lý các mối quan hệ dân tộc ở các tỉnh biên giới
Trang 7Nguồn: Kết quả khảo sát thực địa 2015, 2016
Nếu tính chung cho cả 6 tỉnh biên giới trong khảo sát, số ý kiến đánh giá ở mức trung bình khá cáo (41,5%) và ở mức khá tốt là 29,5%, chỉ có 17,7% ở mức tốt Phân tích theo biến số cấp tỉnh, các ý kiến đánh giá có khác nhau giữa một số tỉnh, chẳng hạn ở tỉnh có tỷ lệ ý kiến đánh giá ở mức tốt cao nhất (25,2%) và thấp nhất là ở Quảng Ninh (9,9%) Ở ý kiến đánh giá chưa tốt thì tỷ lệ đánh giá là chưa tốt cao nhất là Lai Châu (20,6%) và thấp nhất cũng là Quảng Ninh (4,0%)
Bảng 5: Ý kiến đánh giá của nhóm cán bộ về hiệu quả quản lý các mối quan hệ dân tộc ở địa phương
Tinh dieu tra
Total Lang Son Lai Chau Cao Bang Quang Ninh Lao Cai Ha Giang
Trang 8Số lương chung 105 102 100 101 105 107 620
% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0%
Nguồn: Kết quả khảo sát thực địa, 2015, 2016
Đánh giá về năng lực và hiểu biết của cán bộ cấp huyện, chỉ có 0,8% ý kiến nhận xét ở mức rất tốt, 21,3% ở mức tốt, 27,7% ở mức khá tốt, 41,8% ở mức bình thường và 8,4% ở mức chưa tốt
Bảng 6: Ý kiến đánh giá về năng lực và hiểu biết của cán bộ cấp huyện
Số lượng Tỷ lệ % Tỷ lệ % tích luỹ
Tỷ lệ % cộng dồn
Nguồn: Kết quả khảo sát thực địa, 2015, 2016
Bảng 7: ý kiến đánh giá về năng lực và hiểu biết của cán bộ cấp huyện chia theo tỉnh điều tra
Lang Son Lai Chau Cao Bang Quang Ninh Lao Cai Ha Giang
Trang 9Nguồn: Kết quả khảo sát thực địa, 2015, 2016
Theo kết quả bảng 4 cho thấy, phần lớn ý kiến đánh giá về năng lực và hiểu biết của
cán bộ ở các tỉnh chỉ ở mức trung bình (bao gồm mức khá tốt và mức bình thường) Riêng có
tỉnh Lai Châu và Hà Giang có nhiều đánh giá ở mức chưa tốt (14,7% và 13,1%0
Khi được hỏi về việc kết hợp quản lý nhà nước với quản lý xã hội ở cấp cộng đồng, ý kiến của nhóm cán bộ khẳng định là rất cần (83,9%), cần (16%)
Đánh giá về hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, vai trò của
chính quyền được khẳng định là tổ chức có uy tín và có hiệu quả hoạt động cao nhất, tính
chung là đạt 76,8% ý kiến đồng ý Tiếp theo là tổ chức Đảng (58,7%) Các tổ chức chính trị
xã hội có Mặt trân Tổ quốc và Hội Phụ nữ được đánh giá là những tổ chức có uy tín trong
việc triển khai các hoạt động tại cơ sở
Bảng 8: Ý kiến đánh giá của cán bộ về hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống
chính trị cơ sở chia theo tỉnh
Các tổ chức Lang Son Lai Chau Cao Bang Quang Ninh Lao Cai Ha Giang
% 66.7% 22.5% 74.0% 60.4% 51.4% 76.6% 58.7%
Trang 10Nếu phân tích theo góc nhìn của các tộc người, sự đánh giá về hiệu quả hoạt động của các tổ chức dưới góc nhìn của cán bộ là người dân tộc có sự khác nhau Cán bộ là người dân tộc Thái có đánh giá thấp nhất đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng (17,9%), tiếp đến là dân tộc Hmông (37,8%) Các dân tộc còn lại có sự đánh giá khả quan về vai trò của tổ chức đảng trong tổ chức các hoạt động tại địa phương Trong khi đó, nếu so sánh giữa vai trò của Chính quyền và tổ chức Đảng thì cán bộ dân tộc Dao lại cho rằng tổ chức Đảng hoạt động hiệu quả hơn so với chính quyền Các dân tộc khác như Tày, Thái, Nùng, Hmông đánh giá nghiêng về chính quyền hơn là tổ chức đảng
Bảng 9: Ý kiến đánh giá của cán bộ là người dân tộc thiểu số về hiệu quả hoạt động của hệ
thống chính trị cơ sở
Trang 11Các tổ chức Kinh Tay Thai Hmong Nung Dao Khác
Tổ chức Đảng Số lượng 56 183 14 14 19 66 12 364
% 54.9% 72.6% 17.9% 37.8% 82.6% 61.1% 63.2% 58.7% Chính quyền Số lượng 87 206 60 21 21 64 16 476
Biểu đồ 2: Đánh giá của cán bộ về sự tham gia quản lý các mối quan hệ tộc người xuyên biên giới của các tổ chức trong hệ thống chính trị
Trang 12Theo kết quả khảo sát, hiệu quả của việc tham gia quản lý các mối quan hệ tộc người xuyên biên giới ở các tỉnh cũng có sự khác biệt Tương tự như hiệu quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị cơ sở, ở tỉnh Lai Châu, tổ chức đảng được coi là quản lý yếu kém hơn so với các tỉnh Tỉnh Cao Bằng có tổ chức Mặt trận hoạt động yếu kém hơn, trong khi ở Hà Giang thì Hội phụ nữ là tổ chức chưa phát huy được vai trò của mình trong việc góp phần quản lý các mối quan hệ xuyên biên giới
Về quản lý xã hội ở vùng biên giới, vai trò của cán bộ cấp thôn bản có vị trí hết sức quan trọng Thông qua đội ngũ này, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đến được với người dân và ngược lại, cũng thông qua bộ máy này, các ý kiến, nguyện vọng của người dân cũng được chuyển tải tới các cấp cao hơn Tuy nhiên, trên thực tế ở các tỉnh vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc, đội ngũ cán bộ cấp thôn bản còn hạn chế về năng lực, mỏng về số lượng cán bộ và phân bố chưa đồng đều giữa các tộc người và giữa các thôn bản vùng biên giới Qua khảo sát thực tế cho thấy, vai trò của trưởng bản ở cấp cộng đồng hết sức quan trọng Hầu hết các công việc của thôn bản, các chế độ, chính sách của nhà nước đều thông qua vai trò của trưởng bản, bí thư chi bộ để triển khai thực hiện tại cộng đồng Bên cạnh đó, trưởng bản, bí thư chi bộ cũng là người phải trực tiếp giải quyết mọi vấn đề của người dân Nhất là trong cộng đồng các tộc người thiểu số, vai trò của trưởng bản càng quan trọng hơn trong mối quan hệ giữa thiết chế truyền thống và các phương thức quản lý xã hội truyền thống của các tộc người
Bảng 10: Người giải quyết hiệu quả nhất các vấn đề quản lý xã hội ở cơ sở
Trang 13Người giải quyết hiệu quả nhất(%) Trưởng bản Công an
Có thể thấy rõ nét vai trò của trưởng bản trong mối quan hệ với các tộc người về
giải quyết các vấn đề của cộng đồng Thông qua vai trò của trưởng bản, các vấn
đề của cộng đồng được giải quyết phù hợp với nhu cầu và phong tục tập quán
của các tộc người Do vậy, có 60,3% ý kiến đánh giá vai trò của trưởng bản là
rất quan trọng, 36,1% là quan trọng và chỉ có 3,4% ý kiến cho là bình thường
Nếu phân tích theo mối quan hệ giữa các tộc người về vai trò của trưởng bản,
theo số liệu khảo sát, hầu hết các tộc người đều đánh giá cao vai trò của trưởng
bản trong cộng đồng
Biểu đồ 3: ý kiến đánh giá của nhóm cán bộ về vai trò của trưởng bản
Trang 14Phân tích theo địa bàn, kết quả cho thấy ở các địa phương, vai trò của trưởng bản cũng được
đánh giá cao trong các hoạt động quản lý xã hội ở cơ sở
Bảng 11: Vai trò của trưởng bản chia theo địa bàn khảo sát
Tinh dieu tra
Total Lang Son Lai Chau Cao Bang Quang Ninh Lao Cai Ha Giang
Trang 15Để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số, các chương trình về vốn và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân luôn được đặt lên hàng đầu Trên thực tế, vai trò của lãnh đạo cơ sở, của các đoàn hội
ở địa phương là rất quan trọng Thực tế ở một số nơi cho thấy, rất nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo nhờ những chương trình này Tuy nhiên, nhìn vào công tác xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở những địa bàn nghiên cứu, có thể thấy một số vấn đề còn tồn tại ở đội ngũ cán bộ cơ sở
Chủ nghĩa bình quân đầu người và quan hệ dòng tộc đã có sự ảnh hưởng không nhỏ trong quy trình phân loại, đánh giá, bình xét hộ nghèo ở các điểm điều tra Đ/c Bế Văn Hang - chủ tịch xã Bính Xá (Đình Lập) cho biết, mặc dù đã được tập huấn rất kỹ về những tiêu chuẩn và quy định của Nhà nước về việc bình xét hộ nghèo, song do chủ nghĩa bình quân đầu người từ trong truyền thống vẫn còn khá đậm nét trong quan hệ cộng đồng nên việc điều tra tình trạng nghèo, phân loại đối tượng, xác định nguyên nhân và đánh giá hộ nghèo của các cán bộ dưới thôn bản trong xã thiếu chính xác, nhiều khi nặng về tập quán và tình cảm Cán bộ xã Mẫu Sơn cho rằng, tình trạng chung khi các thôn bình xét các hộ nghèo là tính “cào bằng” luôn được xem như một tiêu chuẩn hàng đầu, việc hộ đó có phải diện nghèo hay không cũng không thực sự quan trọng Lần lượt từng hộ gia đình trong bản sẽ được “xét” là hộ nghèo, kể cả những hộ thuộc loại khá giả Bởi lối tư duy đơn giản là, tất cả mọi người đều có “phần” Hơn nữa, lãnh đạo thôn bản (trưởng bản, phó bản, trưởng các đoàn thể,…) là những người có nhiệm vụ bình xét thì đa phần trong số họ đều thuộc hộ khá, vì thế, tính
“bình quân đầu người” là khó tránh khỏi Điều này dẫn đến những nguồn lực mà Nhà nước hỗ trợ không được phát huy theo đúng mục tiêu đã đề ra
Do hạn chế về trình độ, đội ngũ này thực sự còn lúng túng trong việc triển khai các chương trình xoá đói giảm nghèo Có thể nêu ra trường hợp một số chi hội trưởng Hội nông dân của một số bản ở xã Mẫu Sơn Chủ tịch Hội nông dân
Trang 16xã Mẫu Sơn cho biết, khi ngân hàng chính sách thực hiện chương trình cấp vốn cho người nghèo, Chi hội trưởng Hội nông dân các bản được bầu làm tổ trưởng
tổ vay vốn Nhưng do hạn chế về trình độ nên đa phần các đồng chí này không thể hoàn thành công việc được giao Một công việc rất đơn giản là tính lãi hàng tháng của những hội viên vay vốn để trả ngân hàng nhưng họ cũng không thể tính toán được Vì thế, công việc này đòi hỏi sự vào cuộc và hỗ trợ của lãnh đạo
xã và các đoàn thể khác
Các thôn bản bố trí cách xa nhau, các hộ dân trong một số thôn bản cư trú thưa thớt, khoảng cách giữa các hộ gia đình là khá xa khiến cán bộ xã và cán bộ thôn gặp nhiều khó khăn khi triển khai công việc Đồng chí chủ tịch xã Bính Xá cho biết: trước kia, tại một số thôn ở xã Bính Xá, huyện Đình Lập, trưởng thôn phải mất cả đêm mới có thể thông báo cho tất cả các hộ gia đình trong thôn tập trung họp Hiện nay, do điều kiện thông tin liên lạc được cải thiện, những khó khăn về địa hình và giao thông đã phần nào được giảm bớt nhưng do đặc thù về điều kiện sản xuất và sinh hoạt của người dân các dân tộc thiểu số thường phải
đi làm xa, có những thời kỳ phải thường xuyên vắng mặt ở nhà nên trưởng thôn
ở các thôn biên giới vẫn còn gặp nhiều khó khăn, mức phụ cấp được hưởng còn chưa thỏa đáng, thêm vào đó lại dễ bị va chạm với người dân trong thôn, xã, bà con họ hàng đồng tộc Điều này khiến một số trưởng thôn được dân bầu đã từ chối không nhận chức danh này Đây cũng là tình trạng chung đối với các thôn của xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình Trước tình trạng này, đồng chí chủ tịch xã Yên Khoái có ý kiến đề xuất cần phải điều chỉnh mức phụ cấp phù hợp cho các trưởng thôn ở các xã biên giới để giảm bớt sự chênh lệch về mức thù lao giữa trưởng thôn ở các thôn nhỏ, ít hộ dân và trưởng thôn ở các thôn lớn, đông hộ dân Tuy nhiên, đồng chí chủ tịch xã Bính Xá, huyện Đình Lập lại cho rằng không nhất thiết phải có sự điều chỉnh này bởi có những thôn tuy đông dân nhưng đặc điểm cư trú mật tập, ngược lại, có những thôn ít hộ dân nhưng dân cư
ở thưa thớt, địa hình thôn không thuận lợi nên mặc dù quản lý thôn có ít hộ dân nhưng mức độ vất vả của người trưởng thôn cũng không kém so với trưởng thôn
Trang 17của những thôn lớn Sự thiếu nhiệt tình và hoạt động kém hiệu quả của các cán
bộ thôn đã gây khó khăn không ít cho hệ thống lãnh đạo cấp xã
Bảng 12: Thực trạng về tham gia hoạt động khám chữa bệnh của đồng bào các dân tộc vùng biên giới phía Bắc
Chung (n=2395) Khám
Trong khi đó, cơ sở vật chất và các trang thiết bị y tế cho khám chữa bệnh ở tuyến xã thì hết sức khó khăn, thiếu thốn Đội ngũ y bác sĩ chưa qua đào tạo và không có tay nghề dẫn tới hiệu quả khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho người dân vẫn còn nhiều bất cập
Trang 18
II Kết quả sơ bộ khảo sát hộ gia đình
Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đóng vai trò hết sức quan trọng trong mối quan hệ giữa các tộc người và quốc gia Thông qua ngôn ngữ, các cá nhân có thể giao tiếp, tìm hiểu và tăng cường, củng cố hơn ý thức quốc gia của mình, cùng với đó là của những người thân trong gia đình để có ý thức hơn về tổ quốc của mình Trong mẫu khảo sát tại 5 tỉnh ở vùng biên giới phía Bắc, kết quả cho thấy, hầu hết người dân đã sử dụng được tiếng phổ thông Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hoá tộc người Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 82,9% số người được hỏi cho rằng họ sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, chỉ có 3% là sử dụng
tiếng phổ thông
Bảng 13 : Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày
Số lượng Tỷ lệ % Tieng dan toc cua bo 1989 82.9 Tieng dan toc cua me 114 4.8
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
Trang 19Từ thực tiễn sử dụng ngôn ngữ quốc gia ở các dân tộc các tỉnh biên giới phía Bắc cho thấy, trở ngại về ngôn ngữ tiếng phổ thông vẫn đang là rào cản đối với một bộ phận các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Đặc biệt là đối với phụ
nữ và trẻ em gái Do vậy, ý thức quốc gia và những kiến thức về văn hoá quốc gia đối với nhóm phụ nữ và trẻ em gái ở nhiều dân tộc thiểu số vùng biên giới phía Bắc cũng đang là vấn đề đặt ra Đây cũng là một trong những lý do mà một
bộ phận phụ nữ và trẻ em gái đã bị những người truyền đạo trái phép lợi dụng để tuyên truyền, dụ dỗ họ theo đạo, làm theo những ý đồ xấu làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia…
Bảng 15 : Ngôn ngữ sử dụng trong gia đình
Ngon ngu trong gia dinh: Cung dan toc * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Tổng cộng Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
Trang 20Tieng dan
toc minh
Số lượng 36 376 211 13 645 391 198 363 2221
% 100% 88.3% 86.5% 68.4% 100.0% 95.6% 100.0% 86.8% 92.7% Tieng dan
%
100.0% 100.0% 100.0
% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0%
Bảng 16: Ngôn ngữ sử dụng trong các cuộc họp thôn bản
Ngon ngu hop thon ban: Cung dan toc * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
Tieng dan toc
minh
Số lượng 12 278 176 7 615 163 126 250 1621
% 100.0% 72.4% 84.2% 36.8% 95.3% 39.9% 65.6% 69.6% 72.7% Tieng dan toc
cua nguoi giao
tiep voi minh
% .0% .0% .0% .0% .0% .0% 21.9% .0% 1.9% Tieng pho
thong
Số lượng 0 106 33 12 30 246 24 109 566
% 0 27.6% 15.8% 63.2% 4.7% 60.1% 12.5% 30.4% 25.4% Total Số lượng 12 384 209 19 645 409 192 359 2229
%
100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0
% 100.0% 100.0% 100.0%
Bảng 17: Ngôn ngữ sử dụng khi tham gia lễ hội cộng đồng
Ngon ngu trong tham gia le hoi: Cung dan toc * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
Tieng dan toc minh Số lượng 6 262 175 0 586 133 120 238 1520
Trang 21% 50.0% 68.2% 84.1% 0% 92.4% 32.5% 64.5% 67.4% 68.9% Tieng dan toc cua
nguoi giao tiep voi
minh
%
.0% 0% 0% 0% 0% 1.5% 22.6% 0% 2.2% Tieng pho thong Số lượng 6 122 33 19 48 270 24 115 637
% 50.0% 31.8% 15.9% 100.0% 7.6% 66.0% 12.9% 32.6% 28.9% Total Số lượng 12 384 208 19 634 409 186 353 2205
%
100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0
% 100.0%
Bảng 18 : Ngôn ngữ giao tiếp khi đến các cơ quan công sở ở địa phương
Ngon ngu den co quan, chinh quyen: Cung dan toc * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
Tieng dan toc
minh
Số lượng 6 164 105 0 255 38 84 121 773
% 50.0% 42.6% 49.1% 0% 44.3% 9.3% 43.8% 36.8% 36.2% Tieng dan toc
%
100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0
% 100.0% 100.0% 100.0%
Bang 19 : Ngôn ngữ sử dụng khi sang Trung Quốc
Ngon ngu khi sang Trung Quoc: Cung dan toc * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Tay Hmong Dao Ha Nhi Khac
Trang 22% 78.1% 69.6% 10.9% 33.3% 80.0% 49.3% Tieng dan toc cua nguoi giao
tiep voi minh
Bảng 20 : Thực trạng ngôn ngữ người dân nghe truyền thông qua đài phát thanh
Nghe dai phat bang tieng: * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
thong
Số lượng 36 365 202 19 479 397 174 406 2078
% 100.0% 85.7% 82.8% 100.0% 75.7% 97.1% 87.9% 97.1% 87.2%
lượng 36 426 244 19 633 409 198 418 2383
% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0%
Bảng 21 : Thực trạng ngôn ngữ người dân nghe truyền thông qua ti vi
Xem TV phat bang tieng: * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
thong
% 95.8% 100.0% 100.0% 82.0% 98.8% 100.0% 100.0% 93.7%
Trang 23Xem TV phat bang tieng: * Dan toc: Crosstabulation
Dan toc:
Total Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
- Vấn đề văn hóa tộc người và văn hóa quốc gia
Bảng 22: Các thành tố văn hoá thể hiện mối quan hệ tộc người gần gũi
cộng (n=2395)
Kinh Tay Nung Hoa Hmong Dao Ha Nhi Khac
Trang 242.1.5 Một số vấn đề đặt ra hiện nay trong quan hệ giữa các tộc người
thiểu số với quốc gia
Một trong những vấn đề nổi lên có ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh khu vực
biên giới là nhận thức của người dân về ý thức chủ quyền và ý thức quốc gia dân tộc
Qua khảo sát cho thấy, hầu hết những người có con em kết hôn với người nước ngoài
ở khu vực biên giới dường như không có khái niệm về sự chia cắt của đường biên giới
Ranh giới về luật pháp và địa phận chủ quyền quốc gia dường như nằm ngoài những
suy nghĩ và các hoạt động mưu sinh hàng ngày của cư dân khu vực biên giới Điều này
cũng là một tất yếu với các cư dân vốn có lịch sử lâu đời cư trú ở vùng biên giới mà
biên giới giữa các quốc gia thường hình thành khá muộn so với cộng đồng của các cư
dân này Trên thực tế, người dân ở vùng biên giới coi trọng mối quan hệ anh em họ
hàng, quan hệ thông gia, đồng tộc nhiều hơn là vấn đề chủ quyền quốc gia hay ý thức
quốc gia dân tộc Chính từ những mơ hồ về ý thức chủ quyền và ý thức quốc gia dân
tộc, việc khai báo, trình báo qua lại biên giới của họ dường như ít được chú trọng Các
hoạt động trình báo này chỉ thực hiện khi có cán bộ biên phòng hoặc công an địa
phương đến yêu cầu và nhắc nhở Trong tiềm thức của mỗi người dân, nhất là các cộng
đồng dân tộc đã cư trú lâu đời ở khu vực biên giới, ranh giới cộng đồng tộc người mới
là quan trọng và điều này đúng với quan điểm lý thuyết về vùng biên giới, ranh giới
quốc gia dường như đã bị lu mờ trước tính cố kết cộng đồng tộc người và các biểu
hiện của văn hoá tộc người
“Thứ nhất là trình độ dân trí c ủa người dân khu vực biên giới, họ không có ý niệm về
đường biên giới với Trung Quốc , theo họ thì chỉ có cộng đồng của họ mà không ý thức
được các quy định đường biên và ý thức quốc gia, do vậy họ vẫn nghĩ là đường biên thì
hình như không chia Theo tôi nghĩ, các xã của cả mấy tỉnh Tây Bắc này bà con mì nh ít
tiếp xúc, trừ những các cô gái ví dụ như là đi lao đ ộng xuất khấu sang Trung Quốc hay
Đài Loan này nọ, thì họ mới hiểu , còn những cái cô nông thôn này thì còn lâu lắm , họ
Trang 25không biết và cũng chẳng có ý thức quốc gia hay đường biên giới gì đâu.” (TLN cán bộ
xã, Cao Bằng)
Khi được hỏi về ý thức quốc gia, một số người dân địa phương cho rằng, “ở đây là những người đồng tộc, là anh em họ hàng thì không có phân biệt gì hết Chúng tôi
cũng không biết quốc gia như thế nào, chỉ biết họ hàng, anh em của mình thôi” “Việc
đi làm thăm thân là bình thường thôi, từ xưa các cụ đã như thế rồi, bây giờ vẫn thế”
(TLN, người dân, Cao Bằng) Cũng có một số ít người dân đã có ý thức quốc gia nhờ vào công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của các chiến sĩ biên phòng, tuy
nhiên nhận thức của người dân rất hạn chế: “Chúng tôi biết chứ, biên giới quốc gia là
rõ ràng phân biệt được chứ Nhưng gần đây, bên Trung Quốc cũng có nhiều điều sợ lắm, chúng tôi cũng không biết thế nào, không dám sang đâu Hôm trước nghe nói có
vụ gì ở biển, thấy người dân bên đó họ bảo đừng có sang, nếu sang thì không về được đâu nên cũng sợ, chỉ ở đất mình thôi, không có việc làm thì trồng rau, trồng ngô ăn vậy thôi, đi làm ở Trung Quốc sợ lắm, mà biên phòng mình cũng không cho sang đâu
Có đi làm thì công an Trung Quốc cũng bắt vì họ nói mình nhập cảnh trái phép”
(PVS, Nam, dân tộc Dao, 50 tuổi, Quảng Ninh)
Về phía Trung Quốc, các mối quan hệ xuyên biên giới cũng được cho là nguyên nhân gây ra mất ổn định an ninh ở khu vực biên giới Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, tình trạng người lạ xuất hiện trong các thôn bản khá phổ biến
“Theo người dân thôn Kim Thủy cho biết, trong thôn của họ ngày nào cũng xuất hiện một số người lạ mặt Mỗi lần những người đó đến, cơ quan công an biên giới Trung Quốc đều cử người theo dõi Những người lạ mặt này có một số là người Trung Quốc, một số là người Việt Nam Họ vượt biên qua các nước lân cận gây án, sau đó men theo những con đường nhỏ chạy trốn về nước Hành vi phạm tội của những người này tại khu vực biên giới thường là trộm cắp, cướp bóc, cưỡng hiếp phụ nữ “(Mã Y, 2011)
Phía bên kia biên giới, các trường hợp kết hôn hay di cư việc làm xuyên biên giới thường không thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật của địa phương Trong trường hợp kết hôn, phụ nữ Việt qua Trung Quốc kết hôn không được mang quốc tịch Trung Quốc, cũng không được đăng ký hộ khẩu tại địa phương Do tồn tại hai vấn đề trên mà dẫn tới việc phát sinh ra một loạt các vấn đề khác như:
- Những bất lợi trong đời sống sinh hoạt và đảm bảo quyền lợi của phụ nữ Việt qua Trung Quốc kết hôn Kinh tế chủ yếu ở nông thôn Trung Quốc đa phần là do làm nông, trong khi đó phụ nữ Việt Nam qua Trung Quốc kết hôn đều không có quốc tịch, không có hộ khẩu Trung Quốc nên không có quyền lợi gì trong việc phân chia ruộng đất, cũng không có cách nào gia nhập được kinh tế tập thể để lao động sản xuất Những quyền lợi khác như khám chữa bệnh, bảo hiểm thân thể, bảo hiểm lao động… cũng đều không được bảo đảm
Trang 26Gia đình hôn nhân có yếu tố nước ngoài do có 2 nền tảng văn hóa khác nhau mà con cái họ sẽ tiếp thụ được từ gia đình những nền văn hóa không giống nhau Nhưng ở thị trấn Kim Thủy, do sự bất đồng trong tính hôn nhân bất hợp pháp của cha mẹ, cha
mẹ có trình độ văn hóa thấp, nền tảng kinh tế gia đình khó khăn làm cho địa vị xã hội của gia đình họ cũng thấp Điều này đã phát sinh những ảnh hưởng bất lợi trong việc giáo dục con em gia đình hôn nhân có yếu tố nước ngoài Rõ nhất là sự bất đồng của tính hợp pháp và sự yếu kém về chức năng của gia đình khiến cho con em họ mơ hồ về khái niệm hợp pháp và phi pháp Đối diện với những hành vi như nhập cảnh phi pháp, kết hôn sinh con phi pháp, buôn lậu…đã có nhưng tư tưởng và hành vi hỗn loạn” (Mã
Trong một số trường hợp, lợi dụng tập quán ông mối, bà mối để dẫn dắt làm quen các cô gái đến tuổi lấy chồng, một số tội phạm đã tổ chức đưa các cháu gái bán sâu vào trong nội địa, gây ra nhiều khó khăn trong quá trình điều tra, phá án của lực lượng an ninh Một số người sử dụng lao động ở bên kia biên giới lợi dụng tình thân của những người có quan hệ đồng tộc, họ hàng, lừa những người có nhu cầu lao động rồi lại chuyển bán cho những chủ lao động khác, khiến cho người lao động không được bảo lãnh và dễ dàng bị quản thúc hay bị công an bên kia biên giới trục xuất hoặc bắt giam…
Với tình trạng di cư việc làm xuyên biên giới ở khu vực biên giới các tỉnh phía Bắc, rất khó cho các cơ quan hữu quan quản lý nhân khẩu tại các địa phương khu vực biên giới Người dân ở các xã biên giới và ở cả các xã sâu trong nội địa, thậm chí ở các tỉnh miền Trung cũng tìm mọi cách vượt biên tìm việc làm, lao động theo thời vụ ở một số tỉnh như Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam của Trung Quốc Các mối quan
hệ này đã gây ra nhiều tình huống phức tạp trong quản lý đường biên và quản lý nhân khẩu, hộ khẩu ở khu vực biên giới
2.3.2 Quan hệ nội bộ các tộc người ở vùng biên giới
Khu vực biên giới là địa bàn cư trú của nhiều tộc người bị phân tách bởi đường biên giới quốc gia Tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc có khá nhiều tộc người có mối quan hệ mật thiết với đồng tộc ở bên kia biên giới
Trang 27Biểu đồ 6: Lý do của những người di chuyển qua biên giới ở khu vực biên giới chia theo dân tộc
Biểu đồ 7: Lý do của những người di chuyển qua biên giới chia theo tỉnh
Quảng Ninh
Có người rủ
Ở gần người thânGần người cùng dân tộcKết hôn