1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng ngành Hà Nội học

237 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 22,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ năm, trong thực tiễn phát triển hiện nay của Thủ đô Hà Nội và của đất nióc đang đặt ra nhiều vấn đề có tính phức hợp cao, đòi hỏi phải được tiếp cận, ngiiên cứu vừa theo hướng liên

Trang 1

Đ ẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN • • • •

Đ Ề TÀI

C ơ SỞ KHOA HỌC VÀ T H ự C TIỄN CHO VIỆC XÂY D ự N G NGÀNH H À NỘI HỌC• • • •

Mã số: QGTĐ.12.26

Chủ nhiệm: GS TS Phạm H ồng Tung

Cơ quan chủ trì: Viện V iệt Nam học và Khoa học phát triển

Hà Nội - 2016

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU * 3

1 Tính cấp thiết của đề tà i 3

2 Tình hình nghiên cứu 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứ u 9

4 Phương pháp và cách tiếp c ậ n 10

Chương 1: c ơ SỞ T H ựC TIỄN ĐẺ XÂY D ựN G VÀ PHÁT TRIẺN NGÀNH HÀ NỘI H Ọ C 11

1.1 Vấn đề định hướng và mô hình phát triể n 11

1.2 Vấn đề nguồn lực, quản lý và phát huy các nguồn lực phát tr iể n 20

1.3 Vấn đề sinh kế và phát triển sinh kế bền vững, hiệu quả của các nhóm cư dân Hà N ộ i 23

1.4 Vấn đề mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triể n 27

1.5 Vấn đề dân cư và lao động, việc là m 30

1.6 Vấn đề xã hội và đảm bảo an sinh xã h ộ i 34

1.7 Vấn đề xây dựng hành trang văn hóa và lối sống của người H à Nội trong kỷ nguyên hội nhập và toàn cầu h ó a 37

1.8 Vấn đề đảm bảo môi trường sống đô thị Hà N ộ i 40

1.9 Vấn đề tổ chức hệ thống chính quyền v à quản lý đô thị Hà N ội 43

1.10 Vấn đề giao thông và thông tin, truyền th ô n g 46

1.11 Vấn đề phát triển giáo dục, khoa học công nghệ và kinh tế tri th ứ c 51

1.12 Vấn đề đảm bảo quốc phòng và an ninh ở Hà N ộ i 55

1.13 Vấn đề m ối quan hệ Trung ương - T hủ đô - các địa phương 57

1.14 Vấn đề quy hoạch và quy hoạch phát triển Hà N ộ i 61

1.15 Vấn đề phát triển kinh tế Hà N ộ i 66

1

Trang 3

Chương 2: TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u VÈ HÀ NỘI: x u HƯỚNG VÀ

NHỮNG THÀNH Tựu c ơ B Ả N 70

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Hà Nội cho đến năm 2008 70

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cún về Hà Nội từ sau năm 2008 đến nay 82

Chương 3: c ơ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DựNG VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀ NỘI H Ọ C 94

3.1 Khu vực học và khu vực học hiện đ ạ i 95

3.2 Việt Nam học và Việt Nam học hiện đại 103

3.3 Đô thị học và Đô thị học phát triể n 117

Chương 4: ĐÈ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀ NỘI H Ọ C I ! ĩ 121 4.1 Những ý tưởng khởi nguồn cho ngành Hà N ội học 121

4.2 Xây dựng và phát triển ngành H à Nội học qua hệ phân tích SWOT 129

4.2.1 Những thế mạnh và điều kiện thuận lợi để p h á t triển ngành Hà Nội h ọ c 129

4.2.2 Những cơ hội để phát triển ngành Hà N ội học 131

4.2.3 Những điểm yếu và hạn chế cần khắc p h ụ c trong quá trình xây dựng và p h á t triển ngành H à Nội h ọ c 132

4.2.4 Các nguy cơ đối với sự p h á t triển bền vững của Hà N ộ i 133

4.3 Tầm nhìn, mục tiêu và định hướng phát triển Hà Nội học 134

4.3.1 Tầm nhìn và mục tiêu p h á t triển ngành Hà Nội h ọ c 134

4.3.2 Nguyên tắc cơ bản định hướng học thuật của ngành Hà Nội học 138

KỂT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

PHỤ L Ụ C 160

2

Trang 4

Thing Long - Hà Nội mà dẫu cho không cần ai đặt vấn đề tổ chức riêng một mci khoa học là Hà Nội học thì những khám phá, những ghi chép và khảo cứu

về Mà Nội vẫn cứ liên tục xuất hiện, và không chỉ có những công trình khoa học ngiiêm túc - không tránh khỏi có phần khô khan, xơ cứng, mà còn có biết bao tác phẩm văn chương, nghệ thuật đã ra đời nhằm biểu đạt và truyền tải những giếtrị, những đặc trưng của Thăng Long - Hà Nội - Kẻ Chợ - Tràng An - Kinh

K>

Thứ tư, hiện tại, Hà Nội đang là thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam, một

trcig những đô thị lớn nhất, giữ vai trò trọng yếu nhất của quốc gia: là trung tân đầu não chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, là trung tâm khoa học - công ngiệ và giáo dục - đào tạo lớn nhất, là bộ mặt quốc gia, là nơi diễn ra các sự kiối quan trọng của đất nước, trong bang giao và hội nhập quốc tế Vì vậy, ngiiên cứu toàn diện về Thủ đô luôn luôn là yêu cầu bức thiết của quốc gia - dâi tộc

Thứ năm, trong thực tiễn phát triển hiện nay của Thủ đô Hà Nội và của đất

nióc đang đặt ra nhiều vấn đề có tính phức hợp cao, đòi hỏi phải được tiếp cận, ngiiên cứu vừa theo hướng liên ngành của Khu vực học hiện đại, vừa theo hiớng chuyên sâu, chuyên ngành nhằm cung cấp kịp thời những cơ sở và luận

cú khoa học và thực tiễn để giải quyết các vấn đề đó một cách hiệu quả nhất, plục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của Thủ đô nói riêng và của đất nước nói ehing

Chính các nguyên nhân nói trên đã thúc đẩy sự xuất hiện khá sớm của các côig trình nghiên cứu về Hà Nội và là động lực khiến cho sự nghiệp nghiên cứu H: Nội liên tục phát triển trong suốt hơn 150 năm qua và bùng nổ trong khoảng thri gian trên dưới 4 thấp kỷ gần đây, kể từ khi công cuộc Đổi mới được khởi xiớng tại Thủ đô Hà Nội vào tháng 12 năm 1986 Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử plát triển của sự nghiệp nghiên cứu về Hà Nội, có một số câu hỏi cần có những cái trả lời thấu đáo, để một mặt nhận diện cho đúng thành tựu, hạn chế, xu hiớng v à định hướng phát triển của công việc này trong những thập kỷ tới, và mít khác, xác lập những cơ sở khoa học, thực tiễn, những nguyên tắc học thuật

Vỉ những định hướng nội dung cho ngành Hà Nội học trong tương lai

Thứ nhất, sự nghiệp nghiên cứu về Hà Nội có những đặc trưng gì? Phải đăng có một ngành khoa học với danh xưng "Hà Nội học" đã ra đời và phát

trển trong thực tiễn?

Trang 5

Thứ hai, nếu đã có một ngành Hà Nội học thực tế được hình thành và phát

triểr thì những thành tựu, đóng góp, những hạn chế của ngành này là gì? Đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc và thấu đáo nhằm tiếp tục kế thừa và phái triển các thành tựu, khắc phục những hạn chế và tồn tại trong chặng đường tiếp theo của Hà Nội học

Thứ ba, cơ sở thực tiễn của sự ra đời và tiếp tục phát triển của Hà Nội học là

gì? Hay nói khác đi, yêu cầu khách quan mà thực tiễn phát triển bền vững của Thủ đô đặt ra đối với sự nghiệp nghiên cứu H à Nội là gì? Đây là "mệnh lệnh từ cuộc sống", ỉà một trong những vấn đề quan yếu nhất, vì nếu không giải đáp được vấn đề này thì H à Nội học không thể phát triển bền vững trong bất kỳ hình thức tổ chức nào

Thứ tư, cơ sở khoa học của Hà Nội học là gì? Để phát triển bền vững thì bất

kì ngành khoa học nào cũng cần có một nền tảng học thuật vững chắc Đó là hệ thống lý thuyết, hệ thống phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận, kèm theo là một hệ thống các công cụ, phương tiện phân tích w Đ ây là những vấn đề rất cần làm sáng tỏ trong quá trình xây dựng và phát triển ngành Hà Nội học Trên

cơ sở đó làm rõ những vấn đề cơ bản như đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, xác định hệ thống sản phẩm đầu ra và địa chỉ cũng như phương thức chuyển giao, ứng dụng các sản phẩm đó như thế nào

Thứ năm, phải có những phân tích, dù ở m ức tổng quát nhất về những điều

kỉện v à yéu tố tác động đối với quá trình xây dựng và phát triển của Hà Nội học, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội v à thách thức đặt ra với ngành này trong tầm nhìn ngắn hạn và dài hạn

Thứ sáu, định hướng nội dung nghiên cứu của Hà Nội học là gì - xét cả

trong tầm nhìn ngắn hạn v à dài hạn? Sự kết hợp giữa các nghiên cứu chuyên ngành, chuyên biệt với các nghiên cứu đa ngành và liên ngành về Hà Nội ra sao?

Thứ bảy, phương thức tổ chức nghiên cứu và đào tạo H à Nội học như thế

nào cho phù hợp và hiệu quả nhất? Những tổ chức khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo "của" Hà Nội và đứng chân trên địa bàn H à Nội cần phải phối hợp với nhau theo hình thức tổ chức và cơ chế vận hành như thế nào để tạo nên sức m ạnh cộng hưởng với tổ chức chuyên về Hà Nội học nhằm phát huy cao độ nguồn lực tri thức trong sự nghiệp phát triển bền vững của Thủ đô?

5

Trang 6

^hừng nào các vấn đề cơ bản nói trên chưa được làm sáng tỏ về cơ bản thì

sự tòn tại và phát triển của ngành Hà Nội học sẽ còn lúng túng, tự phát và kém

h iệi quả Góp phần giải đáp những vấn đề trên chính là lý do và mục đích chính của Ighiên cứu này

2 Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu về H à Nội sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể và phân tích, đánh giá sâu ở các phần sau của công trình này ở đây chúng tôi chỉ trình bày khái quát về tình hình nghiên cứu để xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của ngành H à Nội học

Thông thường, trong lịch sử khoa học thể giới, mỗi khi xuất hiện một ngành hay một chuyên ngành mới thì đều diễn ra m ột số cuộc trao đổi, thậm chí là nhữig cuộc tranh luận kéo dài, nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản như đối tượng nghiên cứu, hệ thống lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu,

n hiận vụ và định hướng phát triển w Trong không ít trường hợp, có những mÔE khoa học đã ra đời và phát triển khá lâu nhưng những vẩn đề nói trên còn chưa được xác lập Hơn nữa, dường như với không ít ngành khoa học, các vấn

đề nói trên lại luôn luôn được đặt ra và xem xét lại Đây cũng là hiện tượng bình thưòng, bởi không có khoa học nào ra đời và “nhất thành bất biến” trong toàn

bộ lịch sử phát triển của mình Trái lại, các khoa học cũng luôn phải tự đổi mới bản thân mình để đáp ứng tốt hơn yếu cầu mà thực tiễn đặt ra với chúng

Việc nghiên cứu về Hà N ội đã được bắt đầu từ khá sớm và phát triển liên tục trong suốt 150 năm qua Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, dường như không ai đặt vấn đề nghiên cứu về Hà N ội cần dựa trên nền tảng lý thuyết, phương pháp như thế nào? Đ ối tượng và phạm vi của các nghiên cứu về Hà Nội

có cần phải phân biệt / khu biệt ở mức độ nào không? Sở dĩ những vấn đề trên không được đặt ra và thảo luận trong giới nghiên cứu là bởi vì cho đến trước thời kỳ Đổi mới, tuyệt đại đa số các nghiên cứu về Hà Nội đều là các nghiên cứu chuyên ngành Đối với các nghiên cứu này, dường như việc vận dụng những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành đã được coi như đầy

đủ, chỉ có đối tượng và phạm vi nghiên cứu là cần phải có những giới thuyết nhất định, và điều này hiếm khi đặt ra những vấn đề lớn, cần trao đổi Chỉ đến khi xuất hiện những nghiên cứu liên ngành về Hà Nội và chỉ khi thực tiễn nghiên cứu về Hà Nội đặt ra những hệ vấn đề riêng thì “câu chuyện” Hà Nội

6

Trang 7

học mới thực sự trở thành vấn đề cần được xem xét một cách căn bản và những trao đổi nghiêm túc mới xuất hiện.

V jì công trình “Hà Nội nghìn x ư a ” được công bố vào năm 1975, có lẽ GS

Trần ^uốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ Tuân Sán là những người đầu tiên tiếp cận Eà Nội như m ột chỉnh thể, một đối tượng nghiên cứu độc lập được tiếp cận theo iướng liên ngành Tuy nhiên, trong công trình này cũng như trong các nghiêi cứu tiếp theo, GS Trần Quốc Vượng và các cộng sự của ông cũng không đặt thẳng vấn đề trao đổi về những khuôn khổ và nền tảng của ngành Hà Nội bọc

Trong thực tiễn nghiên cứu về H à Nội cũng đã nảy sinh những cuộc thảo luận sôi nổi, thậm chí khá quyết liệt, như vấn đề thành c ổ Loa và nguồn gốc Thục Phán - An Dương Vương, vấn đề đền c ẩ u Nhi, vấn đề Thập Tam Trại

w Iihưng ngay trong những cuộc thảo luận này các vấn đề cơ bản có liên quan đến ngành Hà Nội học cũng chưa được đi sâu thảo luận, mặc dù vấn đề tiếp cận liên ngành ngày càng được quan tâm sâu sắc hơn

Việc phát lộ Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long vào năm 2002

và qui trình nghiên cứu về khu di tích này là một kinh nghiệm thực tiễn vô cùng quan trọng cho thấy những nghiên cứu công phu, bài bản, toàn diện theo hướng liên rgành và đa ngành là vô cùng cần thiết, bên cạnh cách nghiên cứu chuyên sâu, chuyên ngành, nhằm đưa lại nhận thức tổng thể về môi sinh lịch sử trong

đố khi di tích vô giá này đã hình thành và tồn tại trong suốt chiều dài hon 1.000 năm Cuộc thảo luận sôi nổi về các phương án bảo tồn và phát huy giả trị của khu ci tích này v à sau đó những nghiên cứu cơ bản, toàn diện để xây dựng bộ

hồ sc trình UNESCO công nhận khu di tích này là di sản văn hóa thế giới đã góp phần quan trọng vào việc xác lập những cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và phát triển Hà Nội học như là một ngành khoa học riêng, với những tiêu chí, chuẩn mực, đinh hướng về tính chất, lý luận, phương pháp và cách tiếp cận.Trong quá trình chuẩn bị hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long -

Hà Kội, đã xuất hiện một yêu cầu thực tiễn đối với việc tổng kết các thành tựu nghiên cứu về H à Nội và triển khai nghiên cứu cơ bản, toàn diện về Thăng Long - Hà Nội nhằm làm rõ các đặc điểm, đặc trưng, những giá trị đặc sắc của không gian lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội, đồng thời đánh giá toàn diện

về nguồn lực, cơ hội, thách thức, triển vọng phát triển bền vững của Hà Nội trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Đây chính là lý do tổ chức và triển

Trang 8

khá Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước về Hà Nội

- G ương trình KX.09 Thực tiễn triển khai Chương trình, đặc biệt là những thàih công, đóng góp quan trọng của Chương trình một lần nữa khẳng định tính chấ đúng đắn của việc phát triển Hà Nội học với tính chất là một khoa học cơ bảr, liên ngành và sự phối hợp, tương tác hiệu quả giữa các nghiên cứu chuyên ngmh và liên ngành về Hà Nội

Hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững Thủ đô Hà N ội văn hiến, anh hùng,

vì lòa bình” được tổ chức thành công nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm

Thing Long - Hà Nội (2010) là một dấu mốc đặc biệt trên lộ trình xây dựng và phít triển ngành Hà Nội học Đây chắc chắn là diễn đàn khoa học lớn nhất về ngtièn cứu H à Nội với sự tham gia của nhiều chuyên gia Việt Nam và nước ngoài thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau Hệ vấn đề quai tâm, thảo luận khá rộng, không chỉ bao chứa được nhiều vấn đề thuộc các chiyên ngành khác nhau mà còn có nhiều vấn đề liên ngành, liên quan đến Hà

N ạ ở nhiều phạm vi không gian và thời gian khác nhau Tại hội thảo, các nhà khoa học không chỉ trình bày và trao đổi ý kiến về các vấn đề học thuật cụ thể

mà còn nêu ra đề xuất về việc thành lập một tổ chức khoa học và công nghệ ngìiên cứu cơ bản, liên ngành về Hà Nội Đây là lần đầu tiên vấn đề này được chíìh thức đặt ra, và ngay lập tóc nhận được sự đồng thuận cao của các nhà kh»a học, lãnh đạo Thành phố Hà Nội và các nhà quản lý

Tiếp đó, Hội thảo Hà Nội học: phương pháp tiếp cận và nội dung nghiên cứi do Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển và Hội Sử học Hà Nội phối

hợ) tổ chức vào tháng 12 năm 2011 là hoạt động chuyên môn quan trọng, lần đầi tiên đặt thẳng vấn đề nghiên cứu, thảo luận để đi đến xác lập những nền tàrg, khuôn khổ và định hướng nghiên cứu cơ bản cho ngành Hà Nội học Các ý kiối nêu ra tại Hội thảo này đều thống nhất cao ở việc xác định Hà Nội học là mét môn khoa học liên ngành, dựa trên Khu vực học, với nhiệm vụ nghiên cứu toai diện về Hà Nội với tính cách một không gian lịch sử - văn hóa đặc sắc Hội thíO cũng đề xuất những cách tiếp cận và định hướng nội dung nghiên cứu nhím đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới Tuy nhiên, trong khuôn khổ còn khá hạn hẹp, Hội thảo chưa thể đi sâu trao

đổ về những vấn đề đặt ra

N hư vậy, mặc dù đã có lịch sử phát triển khá lâu dài với những thành tựu và đóig góp to lớn, có ý nghĩa trên nhiều phương diện, ngành Hà Nội học còn một

8

Trang 9

kh)ảng trống không nhỏ là sự thiếu vắng những nghiên cứu nhằm xác lập nhĩng cơ sở, nguyên tắc và định hướng cho sự phát triển bền vững và hiệu quả củi chính ngành này Đây chắc chắn là một việc làm cần thiết, cần được đội ngũ ngiiên cứu về Hà Nội, dù tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng liên ngành,

đa ngành hay chuyên ngành, tiếp tục, thường xuyên cân nhắc, trao đổi để xác lậi và không ngừng hoàn thiện, cập nhật và bổ sung làm cho nền móng của Hà

N ã học ngày thêm vững chắc, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học và côig nghệ trên thế giới và đặc biệt là có năng lực đáp ứng ở mức ngày càng cao

hm các yêu cầu do thực tiễn phát triển bền vững của Thủ đô đặt ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• t # o

Nghiên cứu này của chúng tôi là một trong những nghiên cứu đầu tiên được thrc hiện trong quá trình chuẩn bị cho việc thành lập và đưa vào hoạt động Tung tâm Hà Nội học và phát triển Thủ đô Với ý nghĩa đó, nghiên cứu này hiớng tới mục đích làm rõ những cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, những ngiyên tắc, nền tảng và định hướng nội dung nghiên cứu chính của Hà Nội học

Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu này có những nhiệm vụ chính như

Thứ nhất, làm rõ cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và phát triển ngành Hà

Nti học, trong đó tập trung vào làm sáng tỏ những yêu cầu mà thực tiễn phát trển bền vững của Thủ đô đang đặt ra, đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cung cấ) luận cứ khoa học và thực tiễn, các giải pháp để giải quyết các vấn đề đó một c&h hiệu quả và bền vững Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và phát triển của nịành H à Nội học cũng chính là tình hình phát triển của nghiên cứu Hà Nội tnng khoảng thời gian cận - hiện đại với những thành tựu, hạn chế, kinh nghiệm w đây vừa là nền tảng để Hà Nội học tiếp tục kế thìra, xây dựng và plát triển trong điều kiện mới, lên tầm cao mới

Thứ hai, nghiên cứu, xác lập những cơ sở khoa học, những nguyên tắc và

địih hướng cơ bản về lý thuyết, phương pháp, cách tiếp cận và nội dung nghiên cíu chính của ngành Hà Nội học Từ chỉ dẫn và đề xuất của đội ngũ nghiên cứu

Ví Hà Nội, đặc biệt là những ý kiến đề xuất từ Hội thảo Hà Nội học: phương pịảp tiếp cận và nội dung nghiên cứu do Viện Việt Nam học và Khoa học phát

trển và Hội Sử học Hà Nội phối họp tổ chức vào tháng 12 năm 2011, có thể ữấy phương hướng cơ bản của ngành Hà Nội học là: một khoa học cơ bản, liên njành, định hướng ứng dụng dựa trên nền tảng học thuật của Khu vực học và

9

Trang 10

Việt Nam học N ghiên cứu này tiếp tục đi sâu, cụ thể hóa và làm rõ hơn những vấn đề cơ bản của ngành Hà Nội học về mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, hình thức và phương thức tổ chức nghiên cứu và chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu.

Thứ ba, trên cơ sở đó, nghiên cứu này tiếp tục đề xuất, kiến nghị những giải

pháp xây dựng và phát triển H à Nội học về lâu dài cũng như trong những năm trước mắt, trước hết là đối với Trung tâm Hà Nội học và phát triển Thủ đô

Trang 11

sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực và các phương diện của đời sống Đây chỉnh là

cơ sở thực tiễn quan trọng nhất, đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan đặt ra đổi với sự hình thành và p h á t triển của Hà Nội học với tính cách một khoa học liên ngành dựa trên nền tảng của Khu vực học hiện đại.

Đe nhận diện rõ hơn những cơ sở thực tiễn và yêu cầu thực tiễn, khách quan đặt ra với ngành Hà Nội học, dưới đây chúng tôi sẽ luận giải điều này trên

cơ sở phân tích tổng quát m ột số vấn đề hoặc nhóm vấn đề cơ bản, cấp bách và

có độ phức hợp cao đang đặt ra trong thực tiễn phát triển bền vững của Thủ đô trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải được tiếp cận và giai quyết theo hướng

tiếp cận liên ngành {ỉnterdỉsciplinary approach) và phân tích đa chiều {multi- dimensional analysis) N hững vấn đề chuyên biệt, vốn là đối tượng của những

khoa học chuyên ngành (lịch sử, ngôn ngữ, công nghệ sinh học VY ) sẽ chỉ được đề cập ở mức độ nhất định, khi thật cần thiết

1.1 Vấn đề định hướng và mô hình phát triển

Đây là vấn đề cơ bản nhất đang đặt ra với hầu hết các địa phương, tỉnh vàthành phố và cũng là vấn đề cơ bản, cấp bách luôn được đặt ra với nhiều bộ,ngành, doanh nghiệp ở nước ta hiện nay Điều này trước hết xuất phát từ thực tế

11

Trang 12

là Mệt Nam đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đang có sự chirển đổi mạnh mẽ từ mô hình phát triển “tập trung, quan liêu, bao cấp” theo

mô lình CNXH kiểu cũ sang mô hình phát triển dựa trên nền kinh tế thị trường địiứ hướng XHCN Đồng thời, quá trình trên lại diễn ra trong bối cảnh toàn nhâi loại đang bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và phát triển bền vững, chuyển từ các mô hình “tăng trưởng nâu” sang các mô hình “tăng trưcng xanh” vv

Riêng đối với Hà Nội, vấn đề xác định định hướng và mô hình phát triển càaị được đặt ra cấp bách với tỉnh cách là vấn đề cơ bản nhất, mở đường để nghén cứu, giải quyết các vấn đề khác đang đặt ra trong thực tiễn p hát triển bền vững của Thủ đô - trước mắt cũng như lâu dài Hơn nữa, với vị trí là Thủ

đô, 'àệc xác định định hướng và mô hình phát triển của Hà Nội vừa gắn chặt với địiử: hướng và mô hình phát triển quốc gia, vừa 1Ĩ1Ở đường, dẫn đạo cho định huớig v à mô hình phát triển ấy

Thực tế, trong lịch sử, nhất là lịch sử cận đại và hiện đại, Hà Nội đã và đaig phát triển theo những định hướng và mô hình khác nhau Chắc chắn cần có thém những nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ vấn đề này, nhất là chỉ ra những yếi tố xuyên suốt, ảnh hưởng lâu dài tới sự phát triển của thành phố, đồng thời chi ra những khác biệt, rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích đối với quá trìiử xác định định hướng và lựa chọn mô hình phát triển của Thủ đô hiện nay vàtiong tương lai Trong khuôn khổ nghiên cứu này, có thể nêu ra đây những nhìri diện tổng quan nhất như sau

Trong thời kỳ tiền cận đại, trong suốt hơn 9 thế kỷ, Thăng Long - Hà Nội

là đnh đô và là trọng trấn hàng đầu của nước quốc gia Đại Việt - Đại Nam quân chỉ tập quyền Trong suốt thời gian đó, trải qua thăng trầm lịch sử, nhìn chung kiih thành Thăng Long không có sự thay đổi đáng kể về mô hình phát triển Dù

có nhiều lần thay đổi về địa giới, dù có những thời gian là biểu tượng cho sự cừrag thịnh của nhà nước quân chủ Đại Việt, dù có những thời gian xứ Kẻ Chợ đãừở thành một trong những nơi đô hội bậc nhất với sự nở rộ những mầm móng kinh tế hàng hóa, hay có lúc khá tiêu điều, đến nỗi "nền cũ lâu đài bóng

tịch dương", thi Thăng Long - Hà Nội vẫn trước sau vẫn trung thành với mô hìih p h á t triển của một đô thị phương Đông trung đại với công thức cổ điển

Tíành + Thị, được bao bọc bởi vành đai nông thôn, nông dân, nông nghiệp, xen kẽvới hàng chục làng / phường thủ công

12

Trang 13

Trong thời cận đại, với tính cách là một thành phố nhượng địa, về sau trở thànl thủ phủ của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, lần đầu tiên Hà Nội đã

có SỊ chuyển biến căn bản về định hướiig và mô hình phát triển Sau nhiều thế

kỷ tồi tại, lần đầu tiên thành phố được giải phóng khỏi khuôn khổ Thành + Thị + vàih đai nông thôn để trở thành một đô thị cận đại - thuộc địa Tuy người Pháp nhất là các quan chức thực dân cao cấp, như Paul D oum er,1 Albert Samut2 hay Alexandre Varenne3 không ngừng ca tụng "sứ mệnh khai hóa văn

mirử' (mỉssion civilỉsatrice) của họ đối với các thuộc địa, nhưng họ chưa bao

giờ ’ạch được ra một định hướng và mô hình phát triển dài hạn cho Đông

Dươig hay các xứ (pay) thuộc địa, đặc biệt là cho các đô thị thuộc địa, trong đó

có Hì Nội Vì vậy, trong suốt thời cận đại, Hà Nội đã vận động trong quỹ đạo phátxiển / hiện đại hóa nửa vời và mập mờ, bấp bênh của toàn bộ Đông Dương

và Bíc Kỳ Đây chính là căn nguyên dẫn đến diện mạo chắp vá, ghép mảnh của

Hà >ội, trong đó ba "mảnh ghép" chính là khu "phố Tây" và khu "bản xứ", tiếp tục drợc bao bọc bởi một vành đai nông thôn gồm các làng nông nghiệp xen kẽ

các ảng nghề thủ công Dầu mang nhiều hạn chế của một đô thị thuộc địa, nhictg trong thời cận đại, Hà Nội đã từng bước trở thành một đô thị tổng hợp

đa rúrg, mang dáng dấp phương Tây: vừa là trung tâm chính trị - hành chính, vừa 'ò trung tâm kỉnh tế - tài chỉnh, trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao tuông và trung tâm văn hóa - giáo dục Đây chính là một trong những cơ

sở qim trọng nhất để Hà Nội tiếp tục phát triển trong những thập kỷ tiếp theo

I ư sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đến trước thời kỳ Đổi

m ớ i(1954 - 1986), với vai trò là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

và Cộig hòa X ã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội đã có những bước phát triển

m ạnitnẽ với những biến đổi đáng kể về định hướng và mô hình phát triển Đây

là ứờ kỳ Thủ đô Hà Nội được xây dựng theo định hướng của một đô thị XHCN kiểu ":ổ điển" Trong thời kỳ này, tổng hợp, đa năng vẫn là đặc trưng lớn nhất

của đt thị Hà Nội: Thành phố vẫn tiếp tục đóng vai trò là đô thị lớn và quan ừọng ìhất của cả nước, vừa là trung tâm đầu não chính trị - hành chính, vừa là trung âm kinh tế - tài chính, trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông

và tin g tâm văn hóa - giáo dục, đồng thời cũng là một trung tâm đầu não về

1 PaulDìumẹr làm Toàn quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902 và là Tổng thống Pháp từ 1931 đến 1932, tác giả

và là ngời tồ chức công cuộc khai thác, phát triển thuộc địa của Pháp ờ Đông Dương lần thứ nhất.

2 AlbỉrtSarraut giữ chức Toàn quyền Đông Dương hai lần (1911-1914 và 1917 - 1919) và từng giữa nhiều chức

vụ cao ấp khác trong Chính phủ Pháp qua các thời kỳ, trong đó có chức vụ Bộ trường Bộ Thuộc địa (1920- 1924) V hai lần làm Thủ tướng Pháp.

3 Alexadre Varenne giữ chức Toàn quyền Đông Dương từ 1925 đến 1928.

13

Trang 14

quóc phòng, an ninh của cả nước Tuy nhiên, tính chất của một thành phổ

X ỈC N kiểu "cổ điển" hay "kiểu cũ" mới là đặc tính chi phổi định hướng phát triìn của Hà Nội trong suốt thời gian hơn 30 năm Đặc tính này chi phối định

hưmg quy hoạch tổng thể của thành phố và quy hoạch chuyên biệt của các khu vự:, các lĩnh vực, ngành nghề, dân cư, giao thông và chi phối cả cơ chế quản lý, điải hành cũng như diện mạo và đời sống đô thị Hà Nội

Trong thời kỳ Đổi mới (từ 1986 đến nay), hòa nhịp cùng cả nước, Thủ đô

Hề Nội đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ Tuy vẫn duy trì đặc trưng cơ bải là một đô thị tổng hợp, đa năng với vị trí là trung tâm đầu não chính trị - hàih chính, vừa là trung tâm kinh tế - tài chính, trung tâm thương mại, dịch vụ, đầi mối giao thông và trung tâm văn hóa - giáo dục, đồng thời cũng là một trmg tâm đầu não về quốc phòng, an ninh của cả nước, nhưng định hướng và m< hình phát triển của thành phố đã có những thay đổi to lớn Tính chất, định hiứng và mô hình phát triển kiểu XHCN "cổ điển" với cơ chế vận hành tập tring, quan liêu, bao cấp, nặng về hành chính, mệnh lệnh đã tòng bước bị xóa

bỏ Thủ đô đã tùng bước trở thành một đô thị của kinh tế thị trường Đây chính

là yếu tố quan trọng nhất, làm thay đổi từ diện mạo đến cơ chế vận hành, nhịp sốig, mức sống, đời sống và toàn bộ cấu trúc ngành nghề, dân cư, không gian, cảih quan đô thị vv Cùng với kinh tế thị trường, quá trình CNH, HĐH và đô

th hóa đã diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn Hà Nội, nhất là trong những năm gần đ& Bên cạnh đó, Hà Nội cũng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố mang tíĩh toàn cầu như quá trình toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và tnyền thông, quá trình biến đổi khí hậu V Y Tác động tổng hợp của những yếu tốvà quá trình nói trên đã làm thay đổi căn bản phương hướng và mô hình phát trển của Hà Nội Đây cũng là những nguyên nhân dẫn tới sự điều chỉnh nhiều lầi quy hoạch chung và quy hoạch chuyên biệt của Hà Nội, nhất là việc mở rộig địa giới hành chính Hà Nội vào tháng 8 năm 2008

Tiếp cận định hướng và mô hình phát triển của Hà Nội từ phương diện lị(h sử giúp chúng ta có được cái nhìn xuyên suốt chiều dài tồn tại và phát triển cia thành phố hơn 1.000 năm, trên cơ sở đó cho phép nhận diện một sổ vấn đề sai đây:

Thứ nhất, trong toàn bộ lịch sử phát triển của mình, Hà Nội không tự mnh xâ y dựng được m ột triết lý phát triển nào khả d ĩ làm nền tảng cho việc xác ãnh định hướng, mô hình phát triển dài hạn Trong tất cả các thời kỳ lịch sử,

14

Trang 15

dù lum đóng vai trò là trọng trấn hàng đầu của cả nước, nhưng các nhà lãnh đạo quốcịia / xứ / Hà Nội chưa bao giờ thành công trong việc xác định định hướng

và m< hình phát triển dài hạn cho Hà Nội

Thứ hai, trong lịch sử, ít nhất đã ba lần định hướng và mô hình phát triển của là Nội có sự thay đổi căn bản Lần thứ nhất là bước chuyển từ một đô thị

truyề thống phương Đông sang một đô thị tổng hợp đa năng cận đại kiểu phưcig Tây dưới chế độ thuộc địa Lần thứ hai là bước chuyển từ một đô thị tổng lợp, đa năng cận đại sang một đô thị tổng hợp đa năng kiểu XHCN "cổ điển'và lần thứ ba là bước chuyển sang một đô thị tổng hợp, đa năng XHCN hiện ại dựa trên phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

Thứ ba, trải qua những thời kỳ lịch sử, có thể nhận thấy mỗi bước biến đổi V định hướng và mô hình phát triển của Hà Nội đều gắn liền với chuyển biến rong định hướng và mô hình ph á t triển của đất nước Vì là thủ đô và là

trọngtrấn hàng đầu, nên sự thay đổi trong định hướng và mô hình phát triển của đất ước là điều kiện tiên quyết và là yếu tố tác động quan trọng nhất đối với sự xác cnh và thay đổi định hướng và mô hình phát triển của Hà Nội, đồng thời, đến rợt mình, sự thay đổi và mức độ thành công trong chuyển biến về định hưón; và mô hình phát triển của Hà Nội có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển chun của cả nước Qua đó, có thể thấy trong tương lai, Hà Nội cần phát huy cao ộ tính chủ động, tích cực, dẫn đạo của mình trong việc xác định và thực hiện hành công những thay đổi và điều chỉnh trong định hướng và mô hình phátriển, thông qua đó mà khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò và vị trí của Thủ

đô vi những đóng góp tích cực và xứng tầm hơn vào sự nghiệp phát triển nhan v à bền vững của quốc gia - dân tộc

Thứ tư, trải qua ba lần thay đổi lớn về định hướng và mô hình phát triển,

có itẺ thấy vận trình phát triển và biến đổi chung của Hà Nội ỉà theo hướng tích ực, hiện đại, luôn luôn khẳng định được vai trò và vị trí trọng yếu hàng đầu ủa cả nước Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử đó, một số di tồn mang tính

lâu ai cũng cần được nhận diện để rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích đối ói việc xác lập định hướng và mô hình phát triển cho Hà Nội trong thời giamrước mắt cũng như lâu dài Bên cạnh tính thiếu định hướng dài hạn, thiếu

mô> lnh phù hợp, bền vững thì điều cần nhấn mạnh là thiếu tính chủ động của

Hà ô i với tính cách là chủ thể phát triển đối với việc xác định định hướng và mô' inh phát triển cho chỉnh mình và của chính mình Đồng thời, cần phải làm

15

Trang 16

rõ n ố i quan hệ giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị trong quá trình phá: triển của Hà Nội, nhất là trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Đưcng nhiên, hai khu vực này luôn gắn kết chặt chẽ với nhau trong mối tương tác da chiều và trên nhiều lĩnh vực Nhưng việc phân định rõ Hà Nội là / trên

căn bản là một đô thị (city / stadt) hay là / trên căn bản là một tỉnh (province) có

ý nghĩa vô cùng quan trọng X ét trên nhiều phương diện, nhất là trên phương diện lãnh đạo, quản lý, điều hành thì việc xác định Hà Nội là / trên căn bản là một đô thị hướng tới mục tiêu là một đô thị hiện đại, phát triển bền vững, khác

xa với việc coi Hà Nội như một tỉnh, cho dù cùng hướng tới mục tiêu phát triển hiện đại, bền vững

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu phát triển bền vững trước mắt và lâu dài của Thủ đô đang đặt ra đòi hỏi khách quan và cấp bách đối với việc xác định

rõ định hướng và mô hình phát triển của Hà Nội Hai văn bản quan trọng nhất,

có thể được coi như cơ sở pháp lý cơ bản và trực tiếp nhất của công việc này chính là:

- Luật Thủ đô tức Luật số: 25/2012/QH13 do Quốc hội nước CHXHCN

Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2012;

- Chiến lược p h á t triển kinh tế - xã hội Thành p h ố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số

222/QĐ-Ttg ngày 22 tháng 2 năm 2012 (sau đây gọi là Chiến lược).4

Trong khi Luật Thủ đô (gồm 27 điều) quy định rõ "vị trí, vai trò của Thủ đô; chính sách, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô" của các chủ thể khác nhau, như Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Mặt trận rổ quốc, các bộ ngành, Chính quyền và nhân dân thành phố Hà Nội, thì Chiến lược vạch ra những nguyên tắc xác định định hướng và mô hình phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Trước hết, Chiến lược xác định rõ vị thế và chức năng của Thủ đô Hà Nội: là trái tim của cả nước - đầu não chính trị - hành chính quốc gia; là trung

tâm văn hóa lớn của cả nước và bản sắc trong khu vực; là trung tâm khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế lán của cả nước và có uy tín trong khu vực; là trung tâm kinh tế, tài chính lớn; đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cả nước, là động lực phát triển cho vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng Sông

4 Xin :em toàn ván Luật Thủ đô và Chiến lược tại phần Phụ lục.

16

Trang 17

Hồng; là trung tâm giao dịch quốc tế lớn của cả nước và có uy tín trong khu vực.

Có thể thấy, cách xác định vị thế và chức năng của Thủ đô Hà Nội của Chiến lược như trên về cơ bản là chính xác, vừa kế thừa được vị thế, chức năng của Thủ đô trong lịch sử dân tộc, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của Hà Nội đặt trong bối cảnh của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay Điểm mới nổi bật của Chiến lược ở đây là đã xác định vị thế và chức năng của Hà Nội không chỉ trong chiển lược phát triển quốc gia mà còn trong các mối liên hệ vùng, liên vùng và với khu vực Đông Nam Á, Đông Á

và thế giới Tuy nhiên, cũng cần phải chỉ ra rằng trong Chiến lược, vị thế và chức năng của Thủ đô về phương diện quốc phòng, an ninh chưa được làm rõ.Tiếp theo, Chiến lược đã xác lập những quan điểm phát triển của Thủ đô

Hà Nội trong nửa đầu thế kỷ 21 Đây có thể coi là những nguyên tắc cốt lõi trong triết lý và định hướng phát triển của Hà Nội Các quan điểm đó là:

" 1 Phát triển nhanh, hài hòa, bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển Hà Nội; đặt con người vào vị trí trung tâm phát triển; kết hợp hài hòa các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo trật tự, văn minh, công bằng xã hội

2 Xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội là trọng điểm trong chiến lược xây dưng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; phát huy đồng bộ sức mạnh tổng hợp của Thủ đô

Hà Nội, của cả nước và hợp tác quốc tế trong quá trình phát triển; khai thác nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực ngoài nước là quan trọng

3 Phát triển kinh tế - xã hội được gắn kết chặt chẽ trong mối quan hệ hữu cơ với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước, quy hoạch phát ữiển các vùng và hội nhập kinh tế quốc tế

4 Quán triệt phương châm: phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là nhiệm

vụ then chốt; quản lý đô thị là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng; xác định đúng trọng tâm, các khâu đột phá, có những giải pháp năng động, sáng tạo và hiệu quả; phải có bước đi thích hợp trong từng giai đoạn để kết hợp hài hòa giải quyết các vấn đề cấp bách với kiên trì thực hiện các mục tiêu dài hạn

5 Gắn kết phát triển kinh tế, xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh, với tiến trình mở rộng, tăng cường hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế."

Trang 18

Tuy trong văn bản Chiến lược không có mô hình phát triển cụ thể nào được trình bày, nhưng thông qua việc xác định mục tiêu phát triển dài hạn đến năm 1050 và mục tiêu phát triển đến năm 2030, có thể nhận diện mô hình phát triển ổng quát của Hà Nội như sau:

"Hà Nội là Thủ đô và là đô thị đặc biệt, văn hiến, văn minh, thanh lịch, đẹp, ịiàu bản sắc dân tộc và hiện đại, tiêu biểu cho cả nước, xứng đáng là trái tim cìa cả nước, đầu não chỉnh trị - hành chính quốc gia của một nước phát triển ĩ ới khoảng 1 1 0 -1 1 5 triệu d ân."

Cụ thể hon, Hà Nội phải là "Trung tâm văn hóa, nơi hội tụ các giá trị văn hóa tuyền thống, hiện đại, giàu bản sắc Hà Nội và Việt Nam.", là "Trung tâm sángfạo hàng đầu của cả nước với nhiều lĩnh vực đạt trình độ quốc tế: văn hóa

tiên tến đậm đà bản sắc dân tộc; khoa học - công nghệ tiên tiến, hiệu quả cao; giáo lục - đào tạo tiên tiến, hiện đại; y tế chuyên sâu chất lượng cao hàng đầu

cả niớc và có uy tín trong khu vực" Hà Nội cũng phải trở thành "Trung tâm kinh ể, tài chính, dịch vụ, thương mại và du lịch lớn nhất ở phía Bắc, thứ hai

của d nước và có vị trí cao trong khu vực; kinh tế tri thức phát triển với cơ cấu hiện tại, năng động và hiệu quả; môi trường đầu tư và kinh doanh tốt, đạt chuẩn

quốctế; vé' cơ bản không còn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn" Hà Nội

cũngphải có "Hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, hiện đại, đồng bộ liên hoàn, kết nối tô n g suốt trong thành phố, với tất cả các địa phương trong nước và quốc tế." là Nội có "Xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, văn minh." Hà Nội "là trung tâm giao dịch quốc tế chính của cả nước và giao dịch quốc tế quan trọng tron£ khu vực", là "Thành phố xanh, không gian mặt nước phong phú với hệ sinh hái bền vững, sạch, đẹp, môi trường được bảo vệ tốt." Đồng thời, Hà Nội

"là kiu vực phòng thủ vững mạnh, an ninh chính trị được đảm bảo, 'thành phố

vì h à bình', trật íự an toàn xã hội tốt." Tóm lại, Hà N ội phải "trở thành một đô thị Jơnh, Văn hiến, Văn minh, Hiện đại trên nền tảng phát triển bền vững" Đặc biệt, Chiến lược cũng xác định rõ Hà Nội sẽ phát triển theo mô hình của hùm đô thị đa năng, đa hệ, đa tầng: "Xây dựng, phát ừiển chùm đô thị Hà

Nội ,ồm: đô thị trung tâm hạt nhân đa hệ, đa tầng, đa chức năng; mạng lưới các

đô tỉị vệ tinh chuyên năng công nghệ cao, khoa học - công nghệ, giáo dục đào tạo (ỉòa Lạc, Xuân Mai), du lịch - văn hóa - nghỉ dưỡng - vui chơi giải trí (Sơn Tây' công nghiệp sạch, công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao (SócSơn), công nghiệp (Phú Xuyên, Phú Minh); các đô thị lẻ là trung tâm hành

18

Trang 19

chính khu vực (các huyện, tiểu vùng) và trung tâm hội tụ các cơ sở đào tạo, y tế; các đô thị sinh thái gắn với các vành đai nông nghiệp sinh thái công nghệ cao và phát triển du lịch; kết họp hài hòa giữa đô thị trung tâm, các đô thị vệ tinh với các vùng đệm sinh thái, môi trường xanh, sạch đẹp, bền vững."

Trên cơ sở mô hình chùm đô thị đa năng, đa hệ, đa tầng đó, Chiến lược

cũng chỉ ra rằng Thủ đô Hà Nội sẽ "Hình thành và phát triển hệ không gian chức nàng" với "Phát triển Sông Hồng là trục không gian trung tâm kết nối hai

bờ sông, trục Bắc - Nam", bao gồm: trung tâm bảo tồn (khu vực quanh Hồ Gươm, phố cổ, phố cũ), trung tâm chính trị - hành chính quốc gia và Hà Nội; trung tâm tài chính - ngân hàng; các cụm trung tâm đào tạo trình độ cao (trường đại học cao đẳng); trung tâm sáng tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ; các cụm bệnh viện - trung tâm y tế chất lượng cao; các trung tâm văn hóa - giải trí -

ẩm thực - du lịch, thể dục thể thao cao cấp; các trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng; các khu công nghiệp trung tâm; các trung tâm dịch vụ - thương mại cao cấp; các nút đầu mối giao thông; hệ thống các trung tâm kho vận và phân phối hàng hóa; các trur.g tâm, không gian văn hóa truyền thống và đương đại đặc trưng cho Thủ

đô và tiêu biểu cho cả nước." Đ ồng thời phát triển và hình thành các không gian sinh thci đặc trưng.

Qua những gì được xác định trong Chiến lược, có thể thấy Chính phủ và lãnh đạo Hà Nội chủ trương xây dựng v à phát triển Thủ đô thành một đô thị tổng hẹp, đa năng xanh, văn hiến, hiện đại và phát triển bền vững Đây chính là

mô h im của một M egapolỉs hiện đại - xu hướng phát triển tất yếu của nhiều đô

thị lớn trên thế giới, v ề cơ bản, có thể khẳng định định hướng và mô hình phát ừiển cCa Hà Nội được xác định như trong Chiến lược là đúng đắn

'Tuy nhiên, vẫn còn m ột số vấn đề lớn đang được đặt ra m à trong Chiến lược chưa được đề cập đến, hoặc chưa rõ ràng

7hứ nhất, Chiến lược vẫn chưa thoát khỏi tầm nhìn, tư duy chiến lược cũ

đối với phát triển đô thị Rõ ràng là thế giới đã tiến những bước dài trong nhận thức vé khái niệm "đô thị" và "công nghiệp đô thị" Trong tương lai, chắc chắn

Hà N ộ phải trở thành thủ phủ của kinh tế tri thức, dựa trên sự phát triển chủ yếu của n ềi công nghiệp hiện đại với những công nghệ mới và thân thiện với môi trường có vòng đời ngày càng rút ngắn Vì vậy, chiến lược phát triển công nghiệp nói riêng và kinh tế H à Nội như trình bày trong Chiến lược chắc chắn sẽ sớm trí nên lạc hậu

19

Trang 20

Thứ hai, Chiến lược luôn khẳng định Hà Nội là m ột đô thị và sẽ trở thành

một đô thị, teng đó "về cơ bản không còn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn" Chúng tôi cho rằng xác định như vậy chưa rõ Chỉ có thể hiểu "khoảng cách" ở đây la sự khác biệt về trình độ phát triển, mức thu nhập, chất lượng sống Nếu hiểu như vậy thì việc thu hẹp và tiến tới xóa bỏ "khoảng cách" này là

có thể và cần ihiết Trong khi đó, không thể có chủ trương là xóa bỏ hoàn toàn khu vực nông thôn của Hà Nội theo những phương thức "đô thị h óa" cổ điển

Ngược lại, phải có chiến lược và giải pháp bảo tồn những khu vực nông thôn mang đậm bản sắc văn hóa của Thủ đô, có mô hình thích hợp để cho những khu vực này phát ừiển để trở thành những điểm nhấn văn hóa - sinh thái - nhân văn của Thủ đô hiện đại Đây là điều trong Chiến lược không đặt ra Hy vọng, vấn

đề này sớm đuợc đặt ra và giải quyết, trước khi những không gian nông thôn ấy

bị quá trình đố thị hóa ào ạt, xô bồ nuốt chửng và nghiền nát vĩnh viễn Đây sẽ

là một sự mất mát vô cùng lớn của H à Nội

Thứ ba, tuy trong Chiến lược xác định đổi mới 1Ĩ1Ô hình quản lý đô thị gắn với thê chê và đẩy mạnh cải cách hành chính và coi đây là những giải pháp

đột phá, ưu tiên hàng đầu trong xây dựng và phát triển Thủ đô, nhưng điểm mẩu chốt nhất trong mô hình quản lý, điều hành Thủ đô thì lại không được đặt ra và

do đó không xác định được phư ơng hướng giải quyết Đó là mối quan hệ giữa

các yếu tố trung ương và yếu tố địa phương và mối quan hệ gữa các yếu tố nông thôn và yếu tố thành thị Đây chính là hai nút thắt cơ bản nhất cần phải được nghiên cứu và giải quyết trong việc xây dựng định hướng chiến lược và mô hình phát triển Thủ đô Hà Nội trong các thập kỷ tới

1.2 Vấn đề nguồn lực, quản lý và phát huy các nguồn lực phát triển

Trong thực tiễn phát triển bền vững của Hà Nội hay bất kỳ địa phương nào, vấn đề đánh gia các nguồn lực, quản lý, khai thác v à phát huy các nguồn

lực có tầm quan trọng đặc biệt Chiến lược p h á t triển kỉnh tế - x ã hội Thành p hổ

Hà Nội đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2050 đã đề cập đến và xác định một

loạt các giải pháp quản lý, khai thác và phát triển các nguồn lực trong quá trình xây dựng v à phát triền Thủ đô Tuy nhiên, Chiến lược chưa đưa ra được những đánh giá, dù ở mức tổng quát nhất các nguồn lực Đồng thời, cách đặt vấn đề khai thác v à phát huy các nguồn lực còn chưa mang tính hệ thống và theo các nguyên tắc của phái triển bền vững Nhiều công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến m ột số ngiồn lực cụ thể, nhưng cho đến nay còn thiếu vắng những

20

Trang 21

nghiên cứu công phu, khoa học nhằm đánh giá tổng thể các nguồn lực, trên cơ

sờ đó đua ra được những giải pháp quản lý, khai thác và phát huy các nguồn lực phát triầi bền vững của Hà Nội

Vắn đề thứ nhất được đặt ra là đánh giá các nguồn lực phát triển bền vững của Hà Nội Đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, đặt ra thường xuyên đối

với công tác nghiên cứu, quy hoạch, lãnh đạo, quản lý của Thủ đô Chỉ dựa trên kết quả íánh giá đúng về các nguồn lực thì các công tác quy hoạch, lãnh đạo, quản lý :ủa Thủ đô mới đạt hiệu quả như mong muốn Đồng thời, việc đánh giá các nguón lực phát triển của Hà Nội cũng phải dựa trên những hệ thống phương pháp đáih giá khoa học, trên cơ sở các tiêu chí và nguyên lý của phát triển bền vững

Đề đánh giá, trước hết cần phân loại các nguồn lực phát triển bền vững

của H à sTội Cho đến nay, việc phân loại các nguồn lực này đang được thực hiện theo nhúng phương pháp khác nhau:

- Dựa vào nguồn gốc, có thể phân loại các nguồn lực thành các nguồn lực

nội sinl (endogenous resources) và các nguồn lực ngoại sinh (exogenous resouras).

- Dựa vào hình thức, có thể phần chia các nguồn lực thành nguồn lực hữu

hình (tmgible resources) và nguồn lực vô hình (ỉntangỉble resources).

- Dựa vào đặc điểm của nguồn lực, người ta có thể phân chia nguồn lực thành CIC nhóm nguồn lực, bao gồm:

•4 Các nguồn lực vị thế (địa - chính trị - geopolỉtỉcal resources)

4 Nguồn lực tự nhiên (natural resources)

-+ Nguồn lực con người (human resources)

4 Nguồn lực tài chính (fmancỉal resources)

-t Nguồn lực vật chất (physicaỉ resources)

H Nguồn lực văn hóa (cultural resources)

- Nguồn lực trí tuệ (intellectual resources)

lự a vào tính chất của nguồn lực, người ta cũng có thể phân chia nguồn

lực thcàih các nhóm sau khác nhau như nguồn lực tái sinh (renewable resources)

21

Trang 22

và ngiồn lực không tái sinh (un-renewable resources), nguồn lực hữu hạn (limiteỉ resources) và nguồn lực vô hạn (unlimited resources) w

Đương nhiên, các cách phân loại nguồn lực thường chỉ có ý nghĩa tương đối, nlưng việc phân loại các nguồn lực có ý nghĩa rất quan trọng đối việc đánh giá, quy hoạch, quản lý, khai thác và phát huy nguồn lực trong thực tiễn phát triển bén vững Theo chúng tôi, để có cái nhìn biện chứng về các nguồn lực phát

triển bằn vững của Hà Nội, trong nghiên cứu, đánh giá cần thiết phải phổi hợp

áp dụng nhiều hệ tiêu chí và cách phân loại khác nhau.

Dánh giá các nguồn lực bao giờ cũng là một công việc rất khó khăn, nhất

là các nguồn lực phục vụ phát triển bền vững của các đô thị lớn, đa năng, đa tầng, có độ phức họp cao như Thủ đô Hà Nội Riêng đối với Hà Nội, công việc này CÒ.1 trở nên phức tạp hơn bởi hiện nay chúng ta đang thiếu một hệ thống cơ

sở dữ íiệu (data warehouse) tích họp, liên ngành, hiện đại và cập nhật về các

nguồn lực của Hà Nội, kèm theo đó là những bộ công cụ phân tích, đánh giá phù họp

Thực tế là các thông tin về nguồn lực phát triển của Hà Nội đang được lưu giữ rải rác ở nhiều cơ quan, sở ngành; nhìn chung việc thu thập, xử lý thông tin còn chưa thực sự khoa học, cập nhật; mức độ thông tin (độ nông, sâu) không đồng đều và chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy Vì vậy, theo chúng tôi,

yêu cầu thực tiễn đang đặt ra hết sức nóng bỏng là phải đầu tư, xây dựng một

hệ thong thông tin dữ liệu phục vụ phát triển bền vững của Thủ đô, đàm bảo tính tích hợp, liên ngành, hiện đại, cập nhật và tiện dụng (với sự hỗ trợ của các

bộ công cụ phân tích, đánh giá và chiết xuất hiện đại cùng đội ngũ chuyên viên, nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp) Lợi ích mà hệ thống cơ sở dữ liệu này mang

lại sẽ vỏ cùng to lớn, đặc biệt là đối với công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, chỉ đạo của Thủ đô Đối với các hoạt động kinh doanh, sản xuất, xây dựng, hoạt động dph vụ, nghiên cứu khoa học và nhất là công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh ở Hà Nội thì hệ thống cơ sở dữ liệu này cũng hết sức cần thiết và hữu ích

Irên cơ sở có được nền tảng thông tin tích họp, liên ngành, cập nhật, cần tiến hàĩh nghiên cứu đánh giá về các nguồn lực phát triển bền vững của Hà Nội Các ngiiên cứu đó cần phải kế thừa kết quả nghiên cứu hiện có, đồng thời phải đáp ứ nỉ ở mức độ cao hơn, thiết thực hơn yêu cầu do thực tiễn phát triển bền vững cia Hà Nội đặt ra Cụ thể, các nghiên cứu đó vừa phải đánh giá chuyên sâu, tom diện đối với từng nguồn lực và tòng nhóm nguồn lực, đồng thời vừa

22

Trang 23

phải đặt ự đánh giá chuyên sâu đó trong cách nhìn, các tiếp cận liên ngành, liên

lĩnh vực đa chiều, tức là trong mối liên hệ với các nguồn lực khác và nhất là trong din thế p h á t triển bền vững của các nguồn lực và của Thủ đô.

Tèn cơ sở các nghiên cứu đánh giá nói trên, các nhà khoa học và các nhà quản lý ;ần phải đề xuất được các nguyên tắc, mô hình và giải pháp đối với công tác quy hoạch, quản lý, khai thác và phát huy các nguồn lực trong quá trình pht triển bền vững của Thủ đô Bên cạnh đó, trên cơ sở xác lập nguyên tắc bảo lật trong tiếp cận và khai thác, cần có giải pháp tổ chức dịch vụ cung cấp thôn; tin về nguồn lực cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động trog vùng Hà Nội hoặc tại Hà Nội Đây là giải pháp vừa góp phần quản

lý và pht huy nguồn lực, góp phần thiết thực và hiệu quả hơn vào sự nghiệp phát trié bền vững của Thủ đô, vừa trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của ngành

Hà Nội ọc lên một tầm cao mới

1) Vấn đề sinh kế và phát triển sinh kế bền vững, hiệu quả của các nhóm c- dân Hà Nội

“7ệc nhân nghĩa cốt ở an dân ” - mở đầu Cáo Bình Ngô, Lê Lợi và

N guyễnrrãi đã viết như vậy.5 Đây cũng là nội dung “kế sâu rễ bền gốc” của

Hưng ỉiO Đại Vương,6 là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Neu nước độc ỉậpnà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ỷ nghĩa g ”7 Bởi vì: "Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được

5 Đại Viịệtừ ký toàn thư, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr 282.

6 Như tréêitr 79.

7 Hồ Chíí inh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, ừ 56.

8 NhưtríẻTtr 152.

23

Trang 24

Ọua đó, có thể thấy yêu cầu chăm lo đảm bảo đời sống nhân dân luôn luôn C( ý nghĩa vô cùng quan trọng trong mọi thời đại, đối với cả nước và đặc biệt là iối với Hà Nội - trọng trấn quan trọng bậc nhất của quốc gia Giải pháp bền vữig nhất để đảm bảo chăm lo đời sống cho tất cả các tầng lớp nhân dân Hà Nội chnh là tạo ra những điều kiện thuận lợi để người dân có được sinh kế bền vững vì hiệu quả nhất.

"rong thực tế, ở mỗi khu vực, mỗi không gian phát triển, các nhóm cư dân đềi có những lựa chọn sinh kế khác nhau Hà Nội là một đô thị lớn với khoảnị trên 7 triệu người cư trú thường xuyên và trên dưới 3 triệu người cư trú không thường xuyên Bên cạnh những nhóm cư dân cơ bản như nông dân, công nhân, cán bộ - công chức còn có thợ thủ công, tiểu thương, học sinh, sinh viên, ngày cìng xuất hiện nhiều hơn những nhóm cư dân mới, như doanh nhân, lao động ự do, lao động nước ngoài w Ngay trong từng nhóm cư dân nói trên, nhất lả lông dân, công nhân, tiểu thương, chủ doanh nghiệp vv cũng đang phân tóa thành nhiều tiểu nhóm với nhiều lựa chọn sinh kế khác nhau

ĩ:ong thời gian 3 thập kỷ vừa qua, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tỉ, Hà Nội là một trong những địa phương diễn ra nhiều chuyển biến sâu sắc, toàn diện, mạnh mẽ và nhanh chóng nhất Đây chính là nguyên nhân cội nguồn dẫn đến những biến đổi sâu sắc, đa dạng và hết sức sôi động về sinh kế của các :ầng lófp và nhóm cư dân Thủ đô Trong quá trình đó xuất hiện nhiều mô hình §íiti kế đã chứng tỏ được tính bền vững và hiệu quả cao Bên cạnh đó, ở nhiều kiu vực và nhiều nhóm dân cư đã và đang diễn ra những dạng thức

“khủng hoảng sinh kế” (livelỉhood crỉsỉs) ở nhiều mức độ khác nhau.

Ee thực hiện Chiến lược p h á t triển kinh tế - xã hội Thành phổ Hà Nội đến nàn 2030, tầm nhìn đến năm 2050 thì chắc chắn cần xây dựng và phát triển

được nlững mô hình sinh kế bền vững và hiệu quả, phù hợp với từng địa bàn, từng nhóm cư dân Thủ đô Đây chắc chắn là một trong những vấn đề cốt lõi, cấp báci nhất đang đặt ra trong thực tiễn phát triển của Hà Nội

Cho đến nay đã có hàng chục công trình nghiên cứu về sinh kế của một

số cộn£ đồng dân cư Việt Nam do các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài công b* Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này có chung hai đặc điểm sau đây:

Ihứ nhất, phần lớn các công trình chỉ tập trung làm rõ một hay m ột vài

khía cạih của sinh kế, như các công trình về xóa đói, giảm nghèo, chuyển đổi

24

Trang 25

nghề ngũệp, biến đổi kinh tế - xã hội, biến đổi phương thức sử dụng đất, rừng, đánh bắ, nuôi trồng thủy, hải sản, biến đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phương thức tín iụng, huy động vốn đấu tư, tham gia thị trường, biến đổi vốn xã hội, tái định cưvv Chỉ có rất ít các công trình áp dụng cách tiếp cận toàn diện, liên ngành cia khung sinh kế bền vững trong nghiên cứu về sinh kế.

Tiứ hai, tuyệt đại đa số các công trình nghiên cứu về sinh kế đều tập

trung và) các không gian phát triển hoặc các cộng đồng dân cư đang trải qua khủng hoảng sinh kế hoặc chuyển đổi sinh kế ở khu vực nông thôn, miền núi

hay vùnỊ ven đô thị Hầu như vắng bóng hoàn toàn các nghiên cứu, khảo sát về các mô lình sinh kế của cư dân đô thị, nhất ỉà các mô hình tiêu biểu, đã chủng

tỏ được ở mức độ khác nhau về tính bền vững và hiệu quả.

T'ong tình hình trên, thực tế là chưa có bất kỳ nghiên cứu, khảo sát nào

về sinh kế của người Hà Nội, nhất là ở khu vực đô thị Hà Nội với những mô hình sim kế bền vững, hiệu quả

Hnh 1.1: S ơ đồ Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)

25

Trang 26

Tìai hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với những nghiên cứu về sinh

kế của các khu vực, các nhóm cư dân Hà Nội, được triển khai dựa trên cách tiếp cận khoa 7ọc, hiện đại của khung sinh kế bền vững.9

Theo cách tiếp cận này, sinh kế của hộ gia đình hoặc của một nhóm hay cộng đồng dân cư cụ thể nào đó sẽ được hình thành và phát triển bền vững dựa

trên 5 lo ậ “tài sản sinh kế” chủ yếu là: vốn xã hội (social Capital), vốn con người (/himan Capital), vốn cơ sở vật chất (physical Capital), vốn tài chính (financìal Capital), và vốn tự nhiên (natural Capital) Vì vậy, để đánh giá toàn diện, khách quan, khoa học về sinh kế của các nhóm dân cư ở Hà Nội thì một lần nữa vin đề xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp, liên ngành, hiện đại

và luôn cộp nhật lại tiếp tục được đặt ra hết sức cấp bách.

Thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu này, không chỉ các nhà khoa học, các nhà quản lý, (ác cơ quan chức năng, doanh nghiệp và chính người dân Hà Nội đều không có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn đối với công việc của mình Kết quả là iứững nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến sinh kế của nhân dân

Hà Nội cằc đến nay phần lớn mới chỉ đề cập đến ở mức độ nhất định, các phân tích phần nhiều còn nông và phiến diện, do đó chưa thực sự trở thành luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch, quản lý, kinh doanh w

T h ế i những phân tích dựa trên thông tin đầy đủ và cập nhật về “tài sản sinh kế” “lựa chọn sinh kế” của người dân Hà Nội cũng khiến cho các doanh nghỉệp trài địa bàn Thủ đô khó mà có được chiến lược kinh doanh hiệu quả, bền vững Mgay cả với từng hộ và cộng đồng cư dân, điều này cũng không cho phép họ cc được những chiến lược và lựa chọn sinh kế đúng đắn, hiệu quả và bền vững

Đièi: cần đặc biệt lưu ý là: trong các nghiên cứu về sinh kế hiện nay, kể

cà ở Việt Nam và nước ngoài, người ta thường bỏ qua một điều cốt tử: sinh kế, nhất là s m kế bền vững bao giờ cũng là, và chi có thể là kết quả lựa chọn của chính cá i chủ thể sình kế, tức là của các hộ hoặc nhóm / cộng đồng dân cư

Mọi sự “smg tạo” và áp đặt các mô hình hay chiến lược sinh kế tò bên ngoài đều sẽ klông đưa lại kết quả như mong đợi Vì vậy, trong nghiên cứu, đánh giá

về sinh ì.ế của người dân Hà Nội nhất định không thể thiếu các điều ứa, khảo

phat-trien-^virgam-ngheo.html.

http://nhanihtcidu.vn/thu-vien/thu-muc-tap-chi/328-khung-sinh-ke-ben-vung-mot-cach-tiep-can-toan-dien-ve-26

Trang 27

sát và ph.n tích liên ngành về nhu cầu, sự lựa chọn, các yếu tố tác động đến sựlựa chọn inh kế của từng cộng đồng / nhóm dân cư.

Trơi cơ sở đó, các nghiên cứu sẽ khám phá ra những mô hình sinh kế bền vững, hiệi quả đang được các nhóm dân cư Hà Nội lựa chọn; các giải pháp hỗ trợ, thúc tẩy, hoàn thiện các mô hình sinh kế đó và cuối cùng là đề xuất các giải pháp chíih sách đối với lãnh đạo, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp Rõ ràng là thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách đối với những nghiên cíu liên ngành, chất lượng cao về sinh kế của người Hà Nội

1.4 Vấn đề mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển

Tr<ng thực tế, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển luôn luôn là một

“bài toánklió giải” không chỉ đối với riêng Hà Nội mà với tất cả các địa phương

và với tấ cả các nước trên thế giới Sự phức tạp của vấn đề trước hết nằm ở ngay chírh quan điểm và triết lý phát triển

Trong các giai đoạn lịch sử trước đây, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế pơi, khi các chủ thể phát triển chưa thực sự thấm nhuần quan điểm và triết lý plá; triển bền vững, thì sự phát triển chỉ được quan niệm như sự gia tăng

về số lưạig, khối lượng và quy mô của một số chỉ tiêu, chỉ số nào đó Sự phát triển cũng ìm g được đồng nhất với tăng trưởng kinh tế, đồng thời quá trình hiện

đại hóa (nodernizatỉon) cũng được đồng nhất với quá trình công nghiệp hóa (industriclzation) Tuy nhiên, những quan điểm phát triển này, dù đã bị phê

phán và ctỉ ra nhiều điểm sai lầm, bất cập, trên thực tế vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng ở mững mức độ khác nhau đối với công tác quy hoạch phát triển, lãnh đạo và quải lý ở nhiều địa phương, ngành hoặc lĩnh vực ở nước ta, trong đó có

cả Hà Nội Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho việc giải quyết mổi quar ìệ giữa bảo tồn và phát triển ở Hà Nội gặp nhiều khó khăn Vì vậy,

yêu cầu ihcc tiễn khách quan đặt ra là phải có những nghiên cứu để cung cấp luận cứ cha học và thực tiễn, trên cơ sở đó xây dựng những nguyên tắc chủ đạo đối ’>d sự phát triển Thủ đô trên nguyên lý của p h á t triển bền vững Đây

chính là cc sở quan trọng nhất để phát triển Thủ đô trong những thập kỷ tới, mở đường giả quyết bài toán phức tạp về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong thụctiễn

v ề ’ấn đề “bảo tồn” trong nghiên cứu cũng như trong chỉ đạo thực tiễn

cũng đang còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau Thứ nhất là vấn đề cái gì cần được bảo Ỷồn trong quá trình phát triển bền vững? Đương nhiên, di sản văn

27

Trang 28

hóa, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể đều thuộc đối tượng cần được bảo tồn, theo đúng Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi và bổ sung năm 2009) Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong thời gian qua ở Hà Nội cũng như nhiều địa phương khác, vấn đề bảo tồn thường chỉ được đặt ra đối với bản thân các di sản mà rất ít chú ý đến công việc bảo tồn những yếu tố gắn với di sản, như cảnh quan, không gian kiến trúc và không gian xã hội - nhân văn Chắc chắn là di sản sẽ không thể “sống” nếu thiếu đi “môi trường sống” của chúng Nhưng trên thực tế, trong không ít trường họp môi trường sống của di sản, nhất là di sản văn hóa phi vật thể, bị biến dạng, xâm hại hoặc “đánh tráo” Trong điều kiện của những đô thị đang trải qua quá trình phát triển sôi động với nhiều biến chuyển sâu sắc và mạnh mẽ như Hà Nội thì việc bảo tồn các di sản gắn với ư.ôi trường sống của chúng thực sự là một thách thức nan giải Do vậy cần phải có những nghiên cứu nghiêm túc để đề xuất những giải pháp khoa học, khả thi cho vấn đề này.

Vấn đề thứ hai, còn phức tạp hơn vấn đề thứ nhất nhiều lần, là bảo tồn như thế rào? Và đặc biệt là bảo tồn như thế nào để không những không gây

xung đột /ới phát triển, mà trái lại, để cho việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản trở ứ ành nhu cầu đối với sự phát triển và trở thành một nguồn lực phát triển? Ở cay có nhiều vấn đề đang đặt ra cần phải có những nghiên cứu thấu đáo

để đưa ra được những câu trả lời tối ưu, phù hợp nhất

Vói bề dày văn minh - văn hiến hàng nghìn năm, Hà Nội là một trong những á ụ phương tập trung dày đặc nhất các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Riêmỉ về di tích lịch sử - văn hóa, theo một báo cáo với số lượng thống kê chưa đ ầy đủ vào năm 2009, "Hà Nội có 5.175 di tích, 2.311 di tích đã xếp hạng, trong đ ỗ có 9 di tích được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt, 1.184 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 1.118 di tích xếp hạng cấp tỉnh, thành phố Thời gian gần đây có <05 di tích, danh thắng của Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyểt địịrh xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt là Đen Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh), Đèn Hát Môn (huyện Phúc Thọ), Đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm), Hồ Hoàn K-itm và Đen Ngọc Sơn (quận Hoàn Kiếm) và Đình Tây Đằng (huyện Ba Vì)."10 B':n cạnh các di tích này, còn hàng trăm di tích khác chưa được nghiên cứu, đámì giá và xếp hạng, công nhận Ngay cả những di tích, di sản văn hóa vật

10 Ngô Du>y,'Giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội", In:

http://nxbhiaoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/14918/language/vi-VN/Default.aspx

28

Trang 29

thể củ các thời kỳ cận đại, hiện đại và đương đại cũng cần tiếp tục được nghiên cứu, đnh giá, phân loại và xếp hạng để có cơ sở cho công tác quy hoạch, bảo tồn vàohát huy giá trị.

Hùng với các di sản văn hóa vật thể, Hà Nội cũng sở hữu kho tàng di sản văn h a phi vật thể vô cùng phong phú và đặc sắc, không chỉ tiêu biểu cho các giá trịvăn minh - văn hiến Thăng Long - Hà Nội mà còn là biểu tượng kết tinh của v n hóa dân tộc suốt hàng ngàn năm lịch sử Thực hiện Thông tư số 04/20 O/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 6 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Dutịch, từ cuối năm 2013, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội đã triển khai tiực hiện chương trình “Tổng kiểm kê, bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể

Hà Nii” Theo thống kê bước đầu, đến tháng 10/2014, đã kiểm kê 12 quận, huyệntrên địa bàn thành phố Cụ thể, có 857 di sản văn hoá phi vật thể của Hà Nội đrợc nhận diện, xác định chủ thể và giá trị, đánh giá hiện trạng sức sống và

đề xu.t biện pháp để bảo vệ.11 Hiện nay, Đề án này đang được tiếp tục triển khai, lự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2015

Công tác kiểm đếm, thống kê và đánh giá thực trạng của hệ thống di sản văn h«a vật thể và phi vật thể ở Hà Nội là việc làm rất quan trọng Tuy nhiên, đây ró i chỉ là bước đi đầu tiên trong toàn bộ công tác bảo tồn và phát huy giá trị củí các di sản văn hóa đó trong quá trình phát triển bền vững của Thủ đô.Trong những năm vừa qua, nhờ nỗ lực to lớn của chính quyền, nhân dân

Thủ ô , cộng đồng các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và các tổ chức

quốc ế, nhiều di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã phát huy được giá trị to lớn, t»a sáng và trở thành một trong những nguồn nội lực phát triển to lớn của

Thủ ô N hiều di sản đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa, di sản tư

liệu c> giá trị đặc sắc của nhân loại; nhiều di sản được công nhận là di sản văn hóa ờp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt Thành tựu to lớn của Hà Nội trong việc lảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Thủ đô không những cần được ghi nhận, đánh giá cao mà cần có những nghiên cứu, đánh giá để rút ra nhũn; bài học hữu ích đối với việc tiếp tục giải quyết thỏa đáng hơn mối quan

hệ gira bảo tồn và phát triển bền vững ở Hà Nội và trên phạm vi cả nước trong các tlập kỷ sắp tới

11 N ghĐung "Di sản văn hóa phi vật thể: từ kiểm kê đến công tác quản lý",

http://hanoi.gov.vn/30/-

/hn/ZV)m7e3VDMRM/3/2705311/7/di-san-van-hoa-phi-vat-the-tu-kiem-ke-en-cong-tac-quan-ly.htm]ịsessionid=Z3qZ6uN8IQiVOFyDsFLdeZuc.node5

29

Trang 30

E n cạnh những thành tựu to lớn, trong thời gian vừa qua, việc giải quyết mối quai hệ giữa bảo tồn và phát triển đã xuất hiện nhiều vụ việc phức tạp, nóng bcig, gây nên nhiều cuộc thảo luận sôi nổi, đôi khi không kém phần gay gắt, qirết liệt trên công luận Điển hình nhất là các cuộc tranh luận về các phươngán bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Tiăng Long, Khu di tích Đền Xã Tắc, Toà nhà Quốc hội, làng cổ Đường Lâm, Ciùa Trăm gian, Đền Và, Đình Mông Phụ (Đường Lâm), Đền Voi phục (Cầu Gấy), N hà hát Lớn, Khu Phố cổ, c ầ u Long Biên, Thành c ổ Loa vv Qua các cuộ: thảo luận sôi nổi với nhiều ý kiến khác nhau xung quanh các phương

án và gải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nổi tiếng nói trên

có thể tiấy nhiều chiều cạnh và vấn đề phức tạp đã bộc lộ mà chưa có được những 'lời giải" thỏa đáng Các vấn đề được đặt ra, bao gồm cả những vấn đề

cơ bản ìhư quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa trong quá trìni phát triển bền vững; vấn đề đánh giá toàn diện, đầy đủ và chính xác về giá trị cìa từng di sản; vấn đề quy hoạch phát triển; vai trò của cộng đồng dân

cư - chỉ thể của các di sản trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị của di sản; vai trc (ủa các chủ thể quản lý, của các doanh nghiệp VY đối với công tác bảo tồn vàỊhát huy giá trị di sản; các giải pháp, kỹ thuật, công nghệ bảo tồn và phát huy giátrị di sản văn hóa ở Hà Nội w

Chắc chắn trong thời gian tới, trong thực tiễn phát triển bền vững của Thủ

đô, vấn đề bảo tồn và phát triển hệ thống giá trị di sản văn hóa tiếp tục bộc lộ thêm ứ iều vấn đề mới Đây chính là cơ sở, là đòi hỏi khách quan phải xem vấn

đề nàv là đối tượng của những nghiên cứu tổng hợp, liên ngành dựa trên hệ thống 1) thuyết, phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận của Khu vực học hiện đại nhằm xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho các giải pháp có tính kiá thi, hiệu quả cao để giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát tiién của Thủ đô Hà Nội

1,5 Vấn đề dân cư và lao động, việc làm

Tương tự như nhiều đô thị lớn ở Việt Nam và trên thế giới, dân cư, lao động, việc là luôn luôn là những vấn đề trọng yếu trong thực tiễn phát triển bền vững ;íia Thủ đô Hà Nội v ề dân cư, theo ý kiến của một trong những chuyên gia hàng đầu về vấn đề này thì "Hà Nội đã thực sự là một siêu đô thị."12 Có thể

12 Đỗ Tlị Minh Đức, "Gia tăng dân số và di dân trên địa bàn Hà Nội" Tham luận tại Hội thảo "Thù đô Hà Nội:

Truyền tiống, nguồn lực và định hướng phát triền Kỳ yếu Hội thào, tr 130.

30

Trang 31

thấy rô vấn đề này qua diễn thế dân số Hà Nội trong vòng gần một thế kỷ qua (xem Bảng 1.1).

Theo những thông tin cập nhật hơn thì đến cuối năm 2014 dân số Hà Nội

đã vượt qua con số 7,212 triệu người, với tỷ lệ tăng trung bình hằng năm khoảng 2,35% (khoảng 200.000 người / năm) Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 3.490 người/km 2 (gấp gần 100 lần m ật độ chuẩn do Liên hợp quốc xác định),13 Cần lưu ý rằng số liệu thống kê trên đây mới chỉ cho biết số người có đăng ký cư trú chính thức Bên cạnh đó, còn hàng triệu người không có đăng ký chính thức hoặc chỉ cư trú ở H à Nội trong m ột khoảng thời gian nhất định

Bảng 1.1 Dân sô trung bình thành phô Hà N ội m ột sô năm

* Năm có sự thay đổi địa giới hành chính TP Hà Nội

ìĩguồn: Tổng h ợ p từ T ổng tậ p nghìn năm văn h iến T hăn g Long, tậ p 1 (tr.3 6 0 )

"CTK, Số liệu thống kê 1930-1984, N X b Thống kê 1985.

CÓ nhiều dấu hiệu cho thấy hiện nay, Thủ đô Hà N ội đ ã thực sự quá tải

về dân số, mặc dù trong quy hoạch cũng như trong các dự báo của giới nghiên

13 http:///vww,doisongphapluat.com/tin-tuc/tin-trong-nuoc/moi-nam-dan-so-ha-noi-tang-gap-100-lan-mat-do- chuan-aill3997.html.

14 Dẫn hạ theo: Đỗ Thị Minh Đức, tài liệu trên, tr 130.

31

Trang 32

cứu, đến năm 2020 Hà Nội sẽ có dân số khoảng 8,0 triệu người và đến năm

2030 đạt ước chừng 9,2 triệu người.15 Tình trạng quá tải dân số bộc lộ rõ nhất qua các hiện tượng gây bức xúc cho người dân hằng ngày, như ùn tắc giao thông, thiếu trường học, thiếu công ăn việc làm, thiếu các dịch vụ xã hội chất lượng đảm bảo w Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải nói trên, trong đó chủ yếu là do sự phát triển của cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đảm bảo đời sống xã hội không theo kịp tốc độ gia tăng dân số và tình trạng gia tăng dân

số (chủ yếu là gia tăng cơ học) thiếu kiểm soát Đây là m ột trong những vấn đề cần phải nghiên cứu để có giải pháp phát triển dân số, quản lý dân cư phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của H à Nội

Bên cạnh đó, chất lượng dân cư Thủ đô cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách và nan giải Kết quả thống kê về dân số và lao động của Hà Nội gần đây (2013) cho thấy: dân số khu vực thành thị là 3.024,6 nghìn người (42,4%), trong khi dân số vùng nông thôn là 4103,7 nghìn người (57,6%) So với các địa phương khác trong cả nước thì tỷ lệ dân số thành thị / nông thôn của Hà Nội khá cao, song, so với đặc điểm của một đô thị hàng đầu cả nước thì tỷ lệ này lại là rất thấp.16 Chắc chắn trong những thập kỷ tới, quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa ở H à Nội sẽ diễn ra mạnh m ẽ và làm thay đổi nhanh chóng và cơ bản tình hình trên đây Kèm theo đó sẽ nảy sinh nhiều vấn đề nan giải về chuyển đổi sinh

kế, nghề nghiệp, nhà ở và lối sống w Đi sâu xem xét tình hình phân bố lao động giữa các ngành nghề ở Hà Nội cũng bộc lộ những mất cân đối đáng kể Và

do đó, cần có ngay những nghiên cứu để đề xuất những giải pháp phù họp trong quy hoạch phân bố dân cư, nhất là ở những địa bàn đã, đang và sẽ diễn ra những chuyển b iến mạnh mẽ nhất.17

Chất lượng dân số và nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ số, bao gồm các chỉ số về sức khỏe, tỉ lệ sinh, tử và tỉ lệ dân số theo các nhóm tuổi, trong đó, rõ nhất là qua các chỉ số về trình độ và chất lượng lao động Hiện nay,

Hà Nội l à một trong những trung tâm cung ứng lao động lớn nhất của cả nước,

15 Theo: Chi ến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chinh phủ phê duyệt theo Quỵểt định số 222/QĐ-Ttg ngày 22/2/2012.

16 Có ý kiến cho rằng: "Hiện nay dân số thành thị ờ Hà Nội chiểm gần nửa dân sổ thành thị vùng đồng bằng

sổng Hồng chiếm 10,37% dân so thành thị cả nước Nhìn tồng thể, tỉ lệ dân số đô thị của Hà Nội cao hơn ti

lệ chung c ủ a :à nước lại là thấp nhất trong s ố 5 thành phổ trực thuộc Trung ương (chi bằng nửa so với Thành

Trang 33

nhất là lực lượng lao động có trình độ cao, bởi lẽ Hà Nội là nơi tập trung đông đảo nhất các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề của cả nước Riêng về đào tạo nghề, theo thống kê gần đây, toàn Thành phố có gần 300 cơ sở dạy nghề, trong đó cơ sở tư nhân chiếm khoảng 70% Trung bình hàng năm Thành phổ đào tạo mới hơn 140.000 lao động Hà Nội được đánh giá là thành phố có nguồn nhân lực chất lượng cao, với gần 37% lao động có trình độ và tay nghề, trong

đó, lượng lao động trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm đa số Nguồn nhân lực chất lượng cao của Hà Nội chiếm 30% nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước.18 Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì những con số trên đây còn cách

rất xa các chỉ tiêu cần đạt được vào năm 2030: “Xây dụng, phát triển Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo nhân tài và nguồn nhân lực chất lượng hàng đầu của cả nước và có uy tín quốc tế; nâng tỳ lệ lao động qua đào tạo ỉên 70 - 75% năm 2020 và khoảng 85 -90% năm 2030 ”

Các số liệu thống kê nói trên cũng mới chỉ phản ánh những thông tin “bề mặt” về chất lượng nguồn nhân lực có qua đào tạo của Hà Nội c ầ n tiếp tục có những lớp thông tin cho biết chiều sâu chất lượng nguồn nhân lực, nhất là về cơ cấu trình độ, nhóm ngành nghề, nguồn đào tạo (từ các cơ sở đào tạo tại Hà Nội, ngoài Hà Nội và cả các cơ sở đào tạo của nước ngoài và của các doanh nghiệp, các tổ chức, đoàn thể w ), đặc biệt là mức độ đáp ứng yêu cầu của người sử dụng đối với từng nhóm nhân lực Chỉ có trên cơ sở phân tích đày đủ những lóp thông tin này chúng ta mới có thể đưa ra những nhận định và dự báo có cơ sở mạnh, đủ làm luận cứ cho quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của Thủ đô trong thời gian tới

Để có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển bền vững dân cư Hà Nội trong các thập kỷ tới cũng rất cần thiết phải tiếp tục tiến hành nhiều cuộc khảo sát, điều tra liên ngành với sự hỗ trợ của các bộ công cụ đánh giá, phân tích hiện đại để đánh giá sâu và toàn diện các chỉ số về thể chất và tinh thần của các nhóm cư dân Hà Nội, bao gồm cả các chỉ số về trình độ và chất lượng giáo dục, năng lực tham gia các hoạt động xã hội, tình hình sức khỏe, thể chất, bệnh tật, mức độ ảnh hưởng của các tệ nạn xã hội và tội phạm w Các yếu tố tác động đến sự phát triển cũng như chất lượng dân cư Hà Nội cũng cần được phân tích, đánh giá sâu và toàn diện

18 http://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/15282/language/vi-VN/Default.aspx.

33

Trang 34

Cho đến nay các thông tin đã có từ các cuộc khảo sát, thống kê cũng đã

có, đủ để cung cấp các thông tin “nền” (basic information), nhưng chưa có đủ

thông tin liên tục theo diễn thế phát triển của từng nội dung chuyên sâu Tính cập nhật và độ chính xác của thông tin cũng còn chưa được kiểm chứng đầy đủ

Một lần nữa, yêu cầu nóng bỏng vé' việc cần có một hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp liên ngành phục vụ công tác quy hoạch, lãnh đạo, quản lý và chỉ đạo phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội lại được đặt ra.

1.6 Vấn đề xã hội và đảm bảo an sinh xã hội

Song hành với vấn đề dân cư - dân số, trong lĩnh vực xã hội và đảm bảo

an sinh xã hội cũng đang đặt ra với hàng loạt vấn đề cơ bản và cấp bách, đòi hỏi cần phải có nhiều nghiên cứu khoa học tiếp cận theo hướng liên ngành, nhằm cung cấp luận cứ đủ độ tin cậy cho công tác lãnh đạo, quy hoạch, quản lý và chỉ đạo phát triển bền vững của Thủ đô H à Nội

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành p h ố Hà Nội được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012, mục tiêu chiến lược đến năm 2050 trong lĩnh vực xã hội được xác định như sau: “Người dân có mức sống cao về vật chất

và tinh thần, có tính cách thân thiện, hữu nghị và mến khách”; “Xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, văn minh; Hà Nội đi đầu về phát triển xã hội, thực hiện an

sinh xã hội” Trước mắt, đến năm 2030 Hà Nội phải đạt được mục tiêu: “Người dân cỏ điểu kiện song tốt (thu nhập cao hơn mức trung bình của cả nước, được hưởng các dịch vụ chất lượng cao, môi trường sổng tốt, môi trường làm việc và đầu tư đạt tiêu chuẩn quốc tế, thân thiện, an toàn) “X ã hội văn minh, an toàn, gắn kết các tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo; giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị, về cơ bản không có người nghèo tuyệt đổi và giảm thiểu tình trạng thất nghiệp”} 9

Để đạt được các mục tiêu nói trên trong một khoảng thời gian khá ngắn ngủi thực sự là m ột thách thức lớn đối với lãnh đạo và nhân dân Thủ đô, bởi lẽ các mục tiêu đó không chỉ là kết quả của các giải pháp và chính sách trên lĩnh vực xã hội mà thực chất là kết quả tổng hòa của toàn bộ sự phát triển kinh tế -

xã hội, văn hóa, con người, giáo dục - đào tạo, y tế và khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh - tức là mục tiêu tổng họp của toàn bộ sự nghiệp phát triển bền vững của H à Nội Quan điểm được xác định trong Chiến lược chính là

19 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 222/QĐ-Ttg ngày 22/2/2012.

34

Trang 35

nguyê] tắc nền tảng, vạch ra phương hướng để đạt được các mục tiêu nói trên:

“Phát riển nhanh, hài hòa, bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình xây dựng, ’hát triển Hà Nội; đặt con người vào vị trí trung tâm phát triển; kết hợp hài hòi các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng trưởng kinh tế đi đôi vớ.đảm bảo trật tự, văn minh, tiến bộ và công bằng xã hội ”20

"uy nhiên, điều đó không có nghĩa là lĩnh vực xã hội, từ các cơ quan lãnh đạo, qiản lý, chỉ đạo cho đến các cộng đồng cư dân, các tổ chức và từng công dân Tlủ đô, chỉ nên thụ động chờ đợi kết quả, thành tựu phát triển từ các lĩnh vực khíc Thực tế, lĩnh Yực xã hội có đặc thù riêng, trong đó nhiều vấn đề phải nhận dện và giải quyết trong khuôn khổ lĩnh vực xã hội, nhờ đó tạo nên môi trườngvà làm gia tăng vốn xã hội, phát huy nguồn lực xã hội để góp phần tạo nên xuig lực phát triển cho toàn bộ sự nghiệp phát triển bền vững của Thủ đô

"rong những thập kỷ vừa qua, quá trình phát triển xã hội ở Hà Nội đang đặt ra ất nhiều vấn đề cần được tiếp cận và nghiên cứu theo hướng liên ngành nhằm iưa lại luận cứ khoa học và thực tiễn cho sự nghiệp phát triển bền vững của Thỉ đô và đất nước trong thời gian tới Ở đây chúng tôi chỉ điểm qua những vấn đềquan trọng nhất:

Trong quá trình Đổi mới và hội nhập quốc tế, Hà Nội và cả nước đã và đang tải qua nhiều chuyển biến sâu sắc Trong đó có nhiều quá trình chuyển biển tfch cực với những thành tựu to lớn, như: chuyển biến mô hình cấu trúc xã hội củi thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cấu trúc xã hội dựa trên nền kinh t< thị trường định hướng XHCN; chuyển biến từ xã hội nông thôn (của các vùng 'en đô) sang xã hội đô thị do kết quả của quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa minh mẽ những năm gần đây; chuyển đổi của xã hội đô thị kiểu cũ sang xã hội đcthị hiện đại ở các khu vực đô thị với đặc trưng của “xã hội đa lựa chọn”

(multỉchoices socỉetỳ) và “xã hội kết nối toàn cầu” (globally connected societ)', chuyển biến trong phân tầng, phân nhóm xã hội; chuyển biến về mức

sống ihìn chung theo hướng tích cực, xét cả lượng và chất; chuyển biến trong các rrò hình tổ chức và tương tác xã hội; chuyển biến về quy mô, cấu trúc, thành ?hần, vị thế và vai trò của từng giai cấp, tầng lóp và nhóm cư dân w

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, đã và đang xuất hiện tại Hà Nội nhữìĩị hiện tượng và xu hướng biến đổi xã hội tiêu cực không chỉ gãy nhức

20 Như tên.

35

Trang 36

nhối, bức xúc trong công luận mà còn đe dọa đến sự thành công của chiến lược phát triển bền vững của Thủ đô.

Trước hết là sự phân hóa, phân tầng, phân nhóm xã hội Bên cạnh những

xu hướng tích cực đã xuất hiện cả những xu hướng tiêu cực như sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo; sự xuất hiện của tầng lớp / nhóm “đại gia - trưởng giả, trọc phú” với lối sống xa xỉ, thiếu lành mạnh; sự xuất hiện của những nhóm

xã hội yếu thế, kể cả sự gia tăng về quy mô và loại hình các nhóm vô gia cư -

du thủ du thực, “phủi, bụi”; sự gia tăng cả về quy mô và loại hình của những loại hình dân cư vãng lai, nhập cư tạm thời; sự xuất hiện và phát triển thiếu kiểm soát của nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm; sự gia tăng cả về mức độ và

loại hình các kỳ thị xã hội (sociaỉ discriminatỉons) và bất công xã hội (social inequalities).

Ngay cả các nhóm, giai cấp, tầng lóp xã hội “cũ”, như công nhân, nông dân, trí thức, sinh viên, học sinh w và các nhóm xã hội như phụ nữ, thanh niên, người cao tuổi, nhóm dân cư nội thành w cũng đã và đang trải qua nhiều chuyển biển sâu sắc và đa dạng với những xu hướng tích cực và tiêu cực đan xen nhau

Không chỉ cấu trúc và các quan hệ xã hội mà cả đến những không gian xã hội (gia đình, đoàn thể, cộng đồng, tổ chức w ) và toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội

ở Hà Nội cũng đang trải qua nhiều thay đổi đáng kể

Tất c i những vấn đề trên đều đang đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu, liên ngành ;ông phu, nghiêm túc, toàn diện để cung cấp luận cứ cho công tác quy hoạch và quản lý phát triển nói chung và các chính sách xã hội nói riêng ở

Hà Nội

N hữĩg chuyển biến cơ bản và đa dạng của xã hội đã và đang đặt ra cho công tác quản lý xã hội và an sinh xã hội ở Thủ đô nhiều thách thức to lớn Một mặt phải ghi nhận rằng trong thời gian qua, công tác quản lý xã hội và an sinh

xã hội ở lià Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: mặc dù các quá trình chuyển b iếi diễn ra rất phức tạp, nhưng trong suốt nhiều thập kỷ an ninh, trật tự

xã hội T hủ đô về cơ bản được đảm bảo tốt, trong bất kỳ hoàn cảnh nào đã không

để xảy ra ihủng hoảng xã hội hoặc rơi vào các trạng thái hỗn loạn Không chỉ các chủ thè quản lý chính thức mà cả các cộng đồng dân cư đã được phát huy vai trò tíclhcực của mình trong việc tham gia quản lý xã hội; công tác an sinh xã hội, nhất li công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách với người có

36

Trang 37

công, với người về hưu, với nhiều nhóm xã hội yếu thế đã đạt được những thành

tựu ngày càng to lớn hơn Các tổ chức phi quan phương và các cộng đồng dân

cư, các đoàn thể nhân dân đều đã được huy động, tham gia tích cực vào việc

triển khai các chính sách xã hội Nhờ đó, có thể khẳng định về cơ bản, xã hội

Thủ đô đang được quản lý khá tốt; công tác an sinh xã hội được triển khai có

hiệu quả

Mặt khác, trong thực tiễn, công tác quản lý xã hội và an sinh xã hội đang

bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Rõ nhất là công tác quản lý dân cư, các cộng

đồng và tổ chức dân cư - như đã nói ở trên Bên cạnh đó, bất cập trong công tác

quản lý cũng bộc lộ ra trong việc thiếu các giải pháp định hướng đối với các quá

trình biến đổi xã hội, nhất là quá trình phân tầng, phân nhóm, phân hóa xã hội

Công tác quản lý cũng chưa có giải pháp, mô hình với những công cụ quản lý

chuyên biệt cho các nhóm xã hội cụ thể, đặc thù, như thanh niên, trẻ vị thành

niên và người cao tuổi, hoặc đối với các cộng đồng dân cư thành thị và nông

thôn đặc thù Bất cập nhất là công tác quản lý đối với các tệ nạn và tội phạm xã

hội Đối với công tác an sinh xã hội, tuy nhũng thành tựu đã đạt được là khá to

lớn, nhưng chưa bền vững Nguồn lực dành cho công tác này chưa bền vững

Các sáng kiến và sự tham gia của các tổ chức và đoàn thể nhân dân chưa có

được hành lang pháp lý và cơ sở tổ chức đầy đủ, do đó chưa được phát huy thật

tốt

Những vấn đề nói trên cho thấy cơ sở và nhu cầu khách quan đang đặt ra

trong lĩnh vực xã hội đối với những khảo sát và nghiên cứu liên ngành, nhằm

cung cấp luận cứ vững chắc cho việc xây dựng và phát triển bền vững xã hội

Thủ đô

1.7 Vấn đề xây dựng hành trang văn hóa và lối sống của người Hà Nội trong kỷ nguyên hội nhập và toàn cầu hóa

Chiến ỉược p h á t triển kinh tế - xã hội Thành p h ố Hà Nội được Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt năm 2012 xác định quan điểm chủ đạo đối với quá trình xây dựng và phát triển bền vững Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

là: "đặt con người vào vị trí trung tâm phát triển" Đây là quan điểm hoàn toàn

đúng đắn, phù hợp với mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và phát triển bền vững của Hà Nội, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược xa rộng và tinh thần nhân văn của Đảng và Nhà nước ta Theo đó, mục tiêu xây dựng con người Hà Nội được

Trang 38

xác định như sau: "Người Hà Nội thanh lịch, văn minh, phát triên toàn diện vê trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thong tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có nếp sổng văn minh, lối sống lành mạnh

và mức thụ hưởng văn hóa phong phú ngày càng cao”21

Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng người Thủ đô văn minh, thanh lịch đã được kiên trì tiến hành liên tục ở Hà Nội nhiều thập kỷ qua Nhờ đó, chính quyền và nhân dân Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Cũng nhờ đó, trong nhiều thời đoạn phải đối diện với các thử thách khốc liệt hay những khó khăn gay gắt (chiến tranh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế - xã hội thời bao cấp w ) bản lĩnh và nhân cách văn hóa của người Hà Nội đã và luôn tỏa sáng, được khẳng định vững chắc

Tuy nhiên, chính trong lĩnh vực này cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, gây nhiều bức xúc trong công luận, nhất là trong thời gian gần đây Nổi cộm nhất là sự xuất hiện các xu hướng và hiện tượng tiêu cực trong văn hóa ứng xử và lối sống của nhiều nhóm dân cư Hà Nội, nhất là thanh niên Đây là tình trạng chung của cả nước, do tác động của quá trình chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tuy nhiên các xu hướng và hiện tượng tiêu cực lại biểu hiện ra và có tác động mạnh mẽ nhất trong đời sống các đô thị, trong đó có Thủ đô Hà Nội

Nghiên cứu gần đây của chúng tôi về lối sống của thanh niên Việt Nam cho thấy có một số xu hướng lối sống tiêu cực đáng quan ngại nhất, đang lây lan, ảnh hưởng không chỉ trong thanh niên mà trong một số nhóm dân cư khác ở

Hà Nội.22

Thứ nhất là xu hướng lối sống buông thả bản thân đang có chiều hướng

lây lan khá mạnh trong thanh, thiếu niên Thủ đô và trong cả một số nhóm dân

cư khác Đây chính là nguyên nhân khiến cho thanh thiếu niên kém tinh thần, ý chí phấr đấu trong học tập, công tác và lao động sản xuất, dễ sa vào các tệ nạn

xã hội, rhư nghiện ma túy, mại dâm, bỏ nhà đi lang thang vv

Tnứ hai là xu hướng lối sổng và hành xử hung bạo, bất chấp pháp luật

của tharh, thiểu niên và một số nhóm dân cư ở Hà Nội, biểu hiện ra rõ nhất

21 Chiến lư re phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thù tướng Chím phủ phê duyệt theo Quyết định số 222/QĐ-Ttg ngày 22/2/2012.

22 Xem: Phim Hồng Tung, Thanh niên và lôi sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đỗi mới và hội nhập

quốc tế, N » Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011.

Trang 39

trong tnh trạng vi phạm pháp luật, nhất là luật giao thông ngày càng nghiêm trọng hm; là tình trạng hành xử hung bạo, ưa sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, nhiều khi chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhất, như hiện tượng học sinh, ké cả nữ sinh, đánh nhau tập thể rồi quay video clip để đưa lên internet, là tình hìỉh trộm cắp và các tội phạm hình sự có xu hướng gia tăng, nhất là trong giới trẻ Đáng lưu ý là lối sống và hành xử này cũng ảnh hưởng đến cả một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, người lớn tuổi ở Hà Nội.

Thứ ba là lối sống và hành xử thờ ơ, vô cảm, ích kỷ, thiếu trách nhiệm

đang co ảnh hưởng trong một bộ phận thanh thiếu niên và nhân dân Hà Nội Biểu hiện rõ nhất của lối sống này là ứng xử của cá nhân và cộng đồng, tổ chức, đoàn thể đối với môi trường sống ở các khu vực đô thị và nông thôn Hà Nội Bên cạnh đó là sự thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội trong hầu hết các hoạt động sống và lao động sản xuất

Thủ ~>ư là lối sống và ứng xử vong bản do tiếp thu thiếu chọn lọc ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài Xu hướng này cũng lây lan mạnh nhất trong một bộ phận

thanh, thiếu niên, nhưng cũng có ảnh hưởng đáng kể trong nhiều nhóm và cộng đồng dàn cư khác ở Hà Nội v ố n là một dân tộc nằm ở giao điểm của nhiều luồng văn minh - văn hóa lớn của nhân loại, trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năn, Việt Nam đã luôn rộng mở, khoan hòa để tiếp nhận tinh hoa văn hóa của các ;ộng đồng người trong khu vực và trên thế giới Nhờ đó mà vốn văn hóa của dân tộc thêm phong phủ, bản lĩnh văn hóa của người Việt Nam càng được tôi rèn, chung đúc nên bản sắc văn hóa làm cơ sở cho sức sống mạnh mẽ

và trườn* tồn của dân tộc Với tính cách là Thủ đô, Thăng Long - Hà Nội đã và đang là n ộ t trung tâm giao lưu văn hóa - văn minh lớn nhất của cả nước

Troig bối cảnh toàn cầu hóa ngày một toàn diện và sâu sắc, việc thanh, thiếu nién v à nhân dân Hà Nội chịu ảnh hưởng và tiếp thu những giá trị và thành tựi văn minh, văn hóa từ bên ngoài là không những không tránh khỏi mà còn thực sự rất cần thiết, v ấ n đề ở chỗ là một bộ phận thanh, thiếu niên và nhân dân Hà Nọi đã và đang tiếp thu thiếu chọn lọc, tiếp nhận xô bồ những ảnh hưởng vin hóa, văn minh từ bên ngoài, dẫn đến xu hướng vong bản, mất gốc trong ứnị xử văn hóa Biểu hiện rõ nhất là sự du nhập và tiếp thu ảnh hưởng của

âm nhạc, điện ảnh, trang phục của không ít thanh thiếu niên; diện mạo phố phường Sà Nội với vô vàn biển hiệu, quảng cáo bằng tiếng nước ngoài (trong

39

Trang 40

đa số trường hợp là không cần thiết) cũng là m ột bằng chứng rõ ràng cho xu hướng này.

Tình hình trên đây đã được đề cập đến và phân tích ở những mức độ với những cách tiếp cận và quan điểm khác nhau trong một số công trình nghiên cứu về văn hóa, con người Việt Nam nói chung và văn hóa, con người Hà Nội nói riêng Trên cơ sở đó, nhiều giải pháp và kiến nghị cũng đã được đề xuất

Tuy nhiên, vấn đề cơ bản nhất ở đây là: N gười Hà Nội cần có hành trang và bản lĩnh văn hóa như thế nào để xứng đáng với vị thế đi đầu của cả nước trên các dặm đường hội nhập với thế giới toàn cầu hóa? Đây là vấn đề cơ bản, cấp

bách, có tính nền tảng để xây dựng con người và văn hóa Thủ đô trong những thập kỷ tới Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cún cơ bản, xứng tầm nào được triển khai thành công Đây chính là m ột trong những nhiệm vụ trọng yếu của ngành Hà Nội học trong tương lai, trong đó, việc cần làm đầu tiên là nghiên cứu để đổi mới nội dung và tổ chức để nâng cao hiệu quả các môn học về Hà Nội trong các nhà trường (phổ thông, chuyên nghiệp, đại học) và đối với các cán bộ làm công tác quản lý ở Hà Nội

1.8 Vấn đề đảm bảo môi trường sống đô thị Hà Nội

Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề phức tạp nhất mà ngày nay toàn nhân loại đang phải đương đầu từng ngày, từng giờ Ở một số đô thị lớn, như Bắc Kinh, Bangkok, New Dehli, Mumbai, Addis Ababa (Ethopia), Karachi (Pakistan), Mexico, w mức độ ô nhiễm đã đến mức nguy hại, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của con người và sự phát triển bền vững của khu vực.23 Đây là “viễn cảnh” m à nếu Thủ đô H à Nội không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trưủng sống một cách nghiêm túc, khoa học và hiệu quả thì “viễn cảnh” đó

sẽ trở thành hiện thực trong một tương lai không xa

“‘Môi trường số n g " của cư dân Hà Nội, hiểu theo đúng nghĩa của khái niệm nàv, ít nhất cũng bao gồm hai họp phần cơ bản, là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội hoặc môi trường nhân văn Trong thực tiễn phát triển bền

vững hai họp phần này không thể tách rời nhau, m à trái lại, gắn kết với nhau rất chặt ch ẽ thông qua nhiều tương tác phức hợp, đa chiều cạnh

Trước hết nói về môi trường tự nhiên Trong những năm vừa qua, chính

quyền v à nhân dân Hà Nội đã có nhiều cố gắng to lớn và đã đạt được những

z3Xem: Maii Đan, “ 10 nơi ô nhiễm nhất trên thế giới”, http://baotainguyenrnoitruong.vn/the-gioi/201508/10-noi- o-nhiem-nlhat-tren-the-gioi-2621682/

40

Ngày đăng: 26/09/2020, 22:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w