1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

102 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 138,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

.ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia. Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” Với vai trò và ý nghĩa đặc biệt đó thì việc bảo vệ và sử dụng đất có hiệu quả là dất cần thiết và cấp bách. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường... Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm. Tuy nhiên đất đai có giới hạn về số lượng, vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Con người không thể sản xuất ra đất đai mà chỉ có thể chuyển mục đích sử dụng từ mục đích này sang mục đích khác. Đất đai có độ màu mỡ tự nhiên, nhưng độ phì phân bố không đồng đều, đất tốt lên hay xấu đi được sử dụng có hiệu cao hay thấp tuỳ thuộc sự quản lý của Nhà nước và kế hoạch, biện pháp khai thác của người quản lí, sử dụng đất. Vì vậy, quản lí Nhà nước về công tác lập quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một yêu cầu đặc biệt để phân bố quỹ đất đai cho các lĩnh vực vàđối tượng sử dụng đất hợp lí, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng tránh được sự chồng chéo lãng phí trong sử dụng, hạn chế huỷ hoại đất đai, phá vỡ môi trường sinh thái. Với tình hình đất manh mún như hiện nay, cùng với sự gia tăng dân số nhu cầu sử dụng đất của nhân dân cho mục đích chuyên dùng là rất lớn nên quy hoạch sử dụng đất càng trở nên cấp thiết. Trong hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp thì quy hoạch sử dụng đất cấp huyện có vai trò vừa là kế hoạch sử dụng đất từng năm cho huyện vừa từng bước cụ thể hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Việc đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất để tìm ra những trở ngại khó khăn và đề xuất hướng giải quyết là cần thiết giúp việc lập quy hoạch sử dụng đất tốt hơn. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, được sự nhất trí của trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, ban chủ nhiệm Khoa Quản lý đất đai, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS. Phạm Anh Tuấn tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá kết quả và những tác động của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình”. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CƯU Trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện QHSDĐ của thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 2017 nhằm đánh giá được những thành tựu, hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Từ đó tìm được nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khắc phục cho công tác QHSDĐ của UBND thành phố trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình sư dụng đất của thành phố. 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Tìm hiểu, nắm vững được các kiến thức thực tế về luật đất đai nói chung và công tác thực hiện QHSDĐ của địa phương nói riêng. Ý nghĩa trong thực tiễn: Qua việc đánh giá kết quả công tác thực hiện QHSDĐ, tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác thực hiện QHSDĐ nói riêng của thành phố, từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục cho những khó khăn, tồn tại đó.  

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LÊ PHƯƠNG NGÂN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 THÀNH PHỐ

THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8 85 01 03

Hà Nội – 2018

Trang 2

MỞ ĐẦU 1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu

tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trêntrái đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinhtồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông,lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào,con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trìnòi giống đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đấtđai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốcgia Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đấtđai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phầnquan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựngcác cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta

đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!”

Với vai trò và ý nghĩa đặc biệt đó thì việc bảo vệ và sử dụng đất có hiệu quả làdất cần thiết và cấp bách Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quảnguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, anninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường Hiệu quả quản lýnhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngàycàng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhànước bảo đảm

Tuy nhiên đất đai có giới hạn về số lượng, vị trí cố định trong không gian, khôngthể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người Con người không thể sản xuất

ra đất đai mà chỉ có thể chuyển mục đích sử dụng từ mục đích này sang mục đích khác.Đất đai có độ màu mỡ tự nhiên, nhưng độ phì phân bố không đồng đều, đất tốt lên hay

Trang 3

xấu đi được sử dụng có hiệu cao hay thấp tuỳ thuộc sự quản lý của Nhà nước và kếhoạch, biện pháp khai thác của người quản lí, sử dụng đất.

Vì vậy, quản lí Nhà nước về công tác lập quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụngđất là một yêu cầu đặc biệt để phân bố quỹ đất đai cho các lĩnh vực vàđối tượng sử dụngđất hợp lí, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòngtránh được sự chồng chéo lãng phí trong sử dụng, hạn chế huỷ hoại đất đai, phá vỡ môitrường sinh thái Với tình hình đất manh mún như hiện nay, cùng với sự gia tăng dân sốnhu cầu sử dụng đất của nhân dân cho mục đích chuyên dùng là rất lớn nên quy hoạch sửdụng đất càng trở nên cấp thiết

Trong hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp thì quy hoạch sử dụngđất cấp huyện có vai trò vừa là kế hoạch sử dụng đất từng năm cho huyện vừa từng bước

cụ thể hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh Việc đánh giá công tác thực hiệnquy hoạch sử dụng đất để tìm ra những trở ngại khó khăn và đề xuất hướng giải quyết làcần thiết giúp việc lập quy hoạch sử dụng đất tốt hơn Xuất phát từ cơ sở lí luận và thựctiễn, được sự nhất trí của trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, ban chủnhiệm Khoa Quản lý đất đai, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS Phạm Anh

Tuấn tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá kết quả và những tác động của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình”.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CƯU

Trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện QHSDĐ của thành phố Thái Bình, tỉnhThái Bình giai đoạn 2011 - 2017 nhằm đánh giá được những thành tựu, hạn chế, tồn tạitrong việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Từ đó tìm đượcnguyên nhân và đề xuất những giải pháp khắc phục cho công tác QHSDĐ của UBNDthành phố trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình sư dụng đất củathành phố

Trang 4

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Tìm hiểu, nắm vững được các kiến thứcthực tế về luật đất đai nói chung và công tác thực hiện QHSDĐ của địa phương nóiriêng

- Ý nghĩa trong thực tiễn: Qua việc đánh giá kết quả công tác thực hiện QHSDĐ,tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và côngtác thực hiện QHSDĐ nói riêng của thành phố, từ đó tìm ra những giải pháp khắc phụccho những khó khăn, tồn tại đó

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đất đai

1.1.1.1 Khái niệm

Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: "đất đai làmột diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, boa gồm tất cả các cấu thành của môi trườngsinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địahình, mặt nước ( hồ, sông, suối, đầm lầy, ) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nướcngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư củacon người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồchứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )"

C.Mac viết: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, làđiều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâmnghiệp

Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch

sử phát triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết địnhcho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nếu không có đất đai thì rõ ràng không

có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người Đấtđai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống chođộng vật, thực vật và con người trên trái đất

Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai làđịa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông,thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác Đất đai cung cấpnguyên liệu cho ngành côngnghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi, măng, gốm sứ

Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định là thước đo sựgiầu có của mộ quốc gia Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài

Trang 6

chính,như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực cho cácmục đích tiêu dùng.

Luật đất đai 1993của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai

là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàngđầu của môi trường sống, là đại bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế,văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêucông sức, xương máu mới tạo lập,bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay !"

Như vậy, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặcbiệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mại quá trình sản xuất, lànơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao dộng và nơi sinh tồn của xã hội loàingười

1.1.1.2 Đặc điểm của đất đai

Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị trí quyếtđịnh tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môitrường nơi có đất Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh quaquá trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn Tuy nhiên, giá trị của đất đai ở các vị trí khácnhau lại không giống nhau Đất đai ở đô thị có giá trị lớn hơn ở nông thôn và vùng sâu,vùng xa; đất đai ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện cơ sở hạ tầng hoànthiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều kiện kém hơn Chính vì vậy, khi vịtrí đất đai, điều kiện đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó trởnên tốt hơn thì đất đó có giá trị hơn Vị trí đất đai hoặc điều kiện đất đai không chỉ tácđộng đến việc sản xuất, kinh doanh tạo nên lợi thế thương mại cho một công ty, mộtdoanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa đối với một quốc gia Chẳng hạn, Việt Nam là cửangõ của khu vực Đông nam á, chúng ta có biển, có các cảng nước sâu thuận lợi cho giaothông đường biển, cho buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới, điều mànước bạn Lào không thể có được

Trang 7

Đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xuhướng tăng lên theo thời gian.

Đất đai có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phùhợp với từng vùng địa lý, đối với đất đai sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì tính đadạng phong phú của đất đai do khả năng thích nghi cuả các loại cây, con quyết định vàđất tốt hay xấu xét trong từng loại đất để làm gì, đất tốt cho mục đích này nhưng lạikhông tốt cho mục đích khác

Đất đai một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người Con người tácđộng vào đất đai nhằm thu được sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống.Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và làm thay đổi tính chất của đất đai có thểchuyển đất hoang thành đất sử dụng được hoặc là chuyển mục đích sử dụng đất Tất cảnhững tác động đó của con người biến đất đai từ một sản phẩm của tự nhiên thành sảnphẩm của lao động Trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa, những đầu tư vào ruộngđất có liên quan đến các quan hệ kinh tế – xã hội Trong xã hội có giai cấp, các quan hệkinh tế – xã hội phát triển ngày càng làm các mâu thuẫn trong xã hội phát sinh, đó là mốiquan hệ giữa chủ đất và nhà tư bản đi thuê đất, giữa nhà tư bản với công nhân

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều, quyền

sử dụng đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đấtđai Lúc này, đất đai được coi như là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt Thịtrường đất đai có liên quan đến nhiều thị trường khác và những biến động của thị trườngnày có ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống dân cư

1.1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của đất đai

Vai trò của đất đai đối với từngngành rất khác nhau :

Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là

cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòngđất(các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không

Trang 8

phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất

Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội lòai người, sự hình thành vàphát triển của mọi nền văn minh vật chất-văn minh tinh thần, các tinh thành tựu kỹ thuậtvật chất-văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản- sử dụng đất

Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con người cònthấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất,đặc biệt trong sảnxuất nông nghiệp Thời kì cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, công năng của đất đâitừng bước được mở rộng, sử dụng đất đai cũng phức tập hơn là căn cứ của khu vực 1,vừa là không gian và địa bàn của khu vực 2 Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp chocon người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cầnthiết về hưởng thụ và đấp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại Mục đích sử dụngđất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển

Kinh tế xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mốiquan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng những sai lầm liên tục của con ngườitrong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại mội trường đất, một số công năng nào

đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên quan trọng và mang tínhtoàn cầu

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.1.2.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất

QHSDĐ là một hiện tượng kinh tế – xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất

- Kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất)

Trang 9

- Kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: Điều tra, khao sát, xây dựng bản

đồ, khoanh định, sử lý số liệu )

- Pháp chế (xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảmbảo sử dụng và quản lý đất đai theo pháp luật)

Như vậy , QHSDĐ là hệ thống các biện pháp của Nhà nước ( thể hiện đồng thời 3tính chất kinh tế, kỹ thuật , pháp chế) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ ( mọiloại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định ), hợp lý ( đặc điểm tínhchất tự nhiên ,vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng ), khoa học(ápdụng thành tựu khoa học- kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến) và có hiệu quả nhất (đápứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường), thông qua việc phân bố quỹ đấtđai (khoanh định cho các mục đích và các nghành), các tổ chức sử dụng đất như tư liệusản xuất

Thực chất QHSDĐ là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưađất đai vào sử dụng bền vững phát huy lợi thế của thổ nhưỡng và lãnh thổ để mang lạilợi Ých cao, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổchức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuấtcủa xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian đểthực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất”

1.1.2.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc thù có tính khốngchế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọngcủa hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quyhoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:

- Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất chủ yếu thể hiện ở hai

mặt:

Trang 10

+ Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo

và bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân Quy hoạch

sử dụng đất đề cập đến 2 nhóm đất chính là đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp

+ Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội, kinh tế, dân số, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường sinh thái…

vv Với đặc điểm này, quy hoạch sử dụng đất, điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của cácngành, các lĩnh vực Xác định điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụngđất phù hợp với kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định,bền vững và đạt tốc độ cao

- Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố

kinh tế, xã hội quan trọng như: sự thay đổi về dân số, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, từ đó xây dựng các quy hoạch trung và dài hạn về

sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách, biện pháp có tính chiến lược, tạocăn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm Quyhoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát triển kinh tế, xã hội lâu dài, cơ cấu

và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước cho đến khi đạt được mục tiêu

dự kiến Thời hạn của quy hoạch sử đất được quy định tại Điều 37 Luật Đất đai 2013 là

10 năm

- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử

dụng đất chỉ được dự báo trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơcấu và phân bố sử dụng đất một cách đại thể chứ không dự kiến được các hình thức vànội dung chi tiết, cụ thể của những thay đổi đó Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quyhoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, kháilược về sử dụng đất của các ngành như:

+ Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trongvùng

+ Cân đối sử dụng đất của các ngành

Trang 11

+ Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng

+ Phân định ranh giới và các hình thức quản lý sử dụng đất trong vùng

+ Đề xuất các chính sách, các biện pháp lớn để đạt được mục tiêu

Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh

tế, xã hội khó xác định, nên ở tầm vĩ mô, chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá thì quyhoạch càng ổn định

- Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rõ tính chính trị và chính sách

xã hội Khi xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách và các quyđịnh có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo cụ thể trên mặt bằng đấtđai các mục tiêu phát triển của nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế

- xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu về dân số, đất đai và môi trường

- Tính khả biến: Do sự tác động của nhiều yếu tố khó dự đoán trước theo nhiều

phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là trong những giải pháp nhằm biếnđổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế

ở trong một giai đoạn nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến

bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất sẽtrở nên không còn phù hợp nữa, việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điềuchỉnh quy hoạch và các biện pháp thực hiện là cần thiết, điều đó thể hiện tính khả biếncủa quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp đi lặplai theo chu kỳ: "Quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện

"với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính thích hợp ngày càng cao

1.1.2.3 Vai trò của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất đai là việc sắp xếp, bố trí sử dụng các loại đất Quy hoạch

sử dụng đất đai thường được tiến hành theo từng giai đoạn 5 năm hoặc 10 năm, tuý theoyêu cầu phát triển của từng giai đoạn, từng thời kỳ của từng vùng lãnh thổ

Quy hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát triển kinh tế – xãhội của đất nước cũng như của vùng, địa phương Quy hoạch sử dụng đất đai gần như là

Trang 12

quy hoạch tổng thể bởi vì mọi quy hoạch khác như quy hoạch phát triển đô thị, quyhoạch các ngành nghề, các vùng kinh tế, quy hoạch phát triển vùng… đều phải dựa trên

sự bố trí sử dụng đất của quy hoạch sử dụng đất đai làm căn cữ

Quy hoạch sử dụng đất đai là căn cữ quan trọng của kế hoạch sử dụng đất hàngnăm, trên cơ sở đó để thực hiện và vạch ra các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cảnước, của vùng hay địa phương

Quy hoạch sử dụng đất đai là chố dựa để thực hiện việc quan lý Nhà nước trên địabàn quy hoạch (hay của cả nước, của vùng tuỳ theo phạm vi quy hoạch) Quy hoạch sửdụng đất đai sẽ hạn chế được tình trạng sử dụng đất tự phát không theo quy hoạch, gâynên những hậu quả lãng phí về sức người sức của Quy hoạch sử dụng đất đai tạo ra sự

ổn định về mặt pháp lý cho việc quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở cho việc giaođất, cho thuê đất, đầu tư phát triển kinh tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,góp phân bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước quy hoạch sử dụng đất đai tạo nhiều điều kiện xác lập cơ chế điềutiết một cách chủ động việc phân bổ quỹ đất đai cho các mục đích sử dụng phát triểnnông nghiệp, công nghiệp, đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội

Quy hoạch sử dụng đất đai là công cụ hữu hiệu giúp cho Nhà nước nắm chắc quỹđất đai và xây dựng chính sách sử dụng đất đai đồng bộ có hiêụ quả cao, hạn chế sựchồng chéo trong quan lý đất đai, ngăn cchặn các hiện tượng chuyển mục đích sử dụngđất đai tuỳ tiện, hiện tượng tiêu cực, tranh chấp lẫn chiếm, huỷ hoại đất đai, phá vỡ cânbằng sinh thái

Trang 13

Trình tự các bước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Chuẩn bị điều tra cơ bản

Phân tích, đánh giá điều kiện TN, KT-XH

Đánh giá tình hình quản lý, phân tích hiện trạng sử dụng đất và dự báo nhu

cầu về đất đai phục vụ cho phát triển KT-XH

1.1.2.4 Trình tự nội dung các bước lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất

Hình 1.1: Các bước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

B1: Chuẩn bị điều tra cơ bản

- Thông tin tài liệu, số liệu đất đai:

+ Thống kê số lượng và chất lượng đất

+Định mức sử dụng đất

+ Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan môi trường

+ Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất

B2: Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên

+Vị trí địa lý:

+ Đặc điểm địa hình, đại mạo

+ Đặc điểm khí hậu ( nhiệt độ,lượng mưa )

+ Chế độ thuỷ văn (hệ thống lưu vực, mạng lưới sông suối, ao hồ, đập: điểm đầu,điểm cuối, chiều dài chiều rộng, dung tích )

- Phân tích các loại tài nguyên và cảnh quan môi trường

Trang 14

+ Tài nguyên đất (nguồn gốc phát sinh;các tính chất đặc trưng về lý tính, hoá tính;mức độ sói mòn đất, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn )

+ Tài nguyên nước

+ Tài nguyên rừng

+ Tài nguyên biển

+ Tài nguyên khoáng sản

+ Tài nguyên nhân văn (tôn giáo, dân tộc ),

+ Cảnh quan môi trường

- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế xã hội

+ Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, tốc

độ phát triển bình quân tổng thu nhập, năng xuất, sản lượng, loại sản phẩm và áp lực đốivới việc sử dụng đất đai của các ngành: nông lâm - ngư nghiệp; công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp - xây dựng; dịch vụ - du lịch và các ngành nghề khác

+ Phân tích đặc điểm về dân số lao động, việc làm và mức sống

+ Thực trạng phát triển và phân bố các khu dân cư

+ Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

B3: Đánh giá tình hình quản lý, phân tích hiện trạng sử dụng đất và dự báo nhu cầu

về đất đai phục cho phát triển kinh tế xã hội

- Đánh giá tình hình quản lý đất đai

- Phân tích hiện trạng sử dụng đất

+ Loại hình sử dụng đất (diện tích, phân bố, bình quân diện tích trên đầu người )

+ Hiệu quả sử dụng đất đai

+ Hiệu quả sản xuất của đất đai

+ Phân tích tổng hợp hiện trạng và biến động đất đai

- Dự báo nhu cầu về đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội

+ dân số

+ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 15

+ nhu cầu đất đai (nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, phi nông nghiệp,đất chưa sử dụng )

1.1.2.5 Xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

a Xây dựng phương án quy hoạch

Cần phải xây dựng quy hoạch một cách chi tiết đối với các loại đất:

- Đất dùng cho sản xuất nông nghiệp

- Đất dùng cho sản xuất và bảo vệ lâm nghiệp

+ Xây dựng biểu, bảng và bản đồ cho vùng quy hoạch

+ Việc báo cáo thuyết minh hội thảo và hoàn chỉnh tài liệu

Trang 16

1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

- Luật đất đai ngày 29/11/2013;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ chi tiết thi hànhmột số điều Luật Đất đai;

- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về giáđất;

- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thutiền sử dụng đất;

- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về thutiền thuê đất, thuê mặt nước;

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014, quy định về bồithường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 28/3/2013 của Chính Phủ về việc phê duyệt Quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) củatỉnh Thái Bình;

- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môitrường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất;

- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môitrường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Quyết định số 2090/QĐ-UBND ngày 27/9/2013 của UBND tỉnh Thái Bình vềviệc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011

- 2015) Thành phố Thái Bình;

- Quyết định số 257/QĐ-UBND ngày 26 tháng 01 năm 2016 của Ủy ban nhân dântỉnh Thái Bình về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của thành phố TháiBình, tỉnh Thái Bình

Trang 17

- Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2016 của Ủy ban nhân dântỉnh Thái Bình về việc phê duyệt điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của thànhphố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Công văn số 3221/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 05 tháng 8 năm 2016 của Bộ Tàinguyên và Môi trường về việc lập kế hoạch sử dụng đất năm 2017 cấp huyện

- Công văn số 2913/UBND-NNTNMT ngày 15 tháng 8 năm 2016 của Ủy bannhân dân tỉnh Thái Bình về việc lập hế hoạch sử dụng đất năm 2017 cấp huyện

- Công văn số 1378/STNMT-QLĐĐ ngày 19 tháng 8 năm 2016 của Sở Tàinguyên và Môi trường về việc thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm

2020 và lập hế hoạch sử dụng đất năm 2017 cấp huyện

- Công văn số 1977/STNMT-QLĐĐ ngày 07/11/2016 của Sở Tài nguyên và Môitrường tỉnh Thái Bình về việc tổng hợp danh mục thu hồi đất, dự án sử dụng đất trồnglúa và lập kế hoạch sử dụng đất năm 2017 trên địa bàn tỉnh

1.3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.3.1 Trung Quốc

Việc lập quy hoạch sử dụng đất phải bảo đảm tuân thủ triệt để nhiều nguyên tắc,như: sử dụng đất phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao nhất; bảo đảm sự cân bằnggiữa nhu cầu và lợi ích sử dụng đất của các ngành kinh tế, xã hội và các địa phương;tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm duy trì và nâng caochất lượng sống cho người dân của cả nước… Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất làbảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác Điều này được thể hiện rõ và xuyên suốttrong hệ thống pháp luật về đất đai của Trung Quốc Theo đó, trong quy hoạch sử dụngđất cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theoquy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80%tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không đượcphép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì Hàng năm, căn cứ vào quy

Trang 18

hoạch sử dụng đất được duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đấtnông nghiệp sang mục đích khác cho từng tỉnh Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnhphân bổ cụ thể cho từng đơn vị hành chính cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp huyệnphân bổ kế hoạch sử dụng đất đến từng đơn vị xã để thực hiện Việc chuyển mục đích sửdụng đất canh tác sang sử dụng vào các mục đích khác phi nông nghiệp phải được phêduyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ Trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bị viphạm thì tùy mức độ vi phạm mà người đứng đầu địa phương sẽ bị xử lý hành chínhhoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu hồi (kể cả trường hợp

đã đầu tư)

Về thẩm quyền lập, quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtBộ Đấtđai và Tài nguyên quốc gia và Cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnhđều có trách nhiệm chung là tổ chức lập và thực hiện quy hoạch đất quốc gia, quy hoạchtổng thể sử dụng đất; tham gia vào việc thẩm tra quy hoạch tổng thể đô thị trình Quốc vụviện phê chuẩn Nhìn chung, Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia chỉ đạo và thẩm tra quyhoạch tổng thể sử dụng đất của địa phương; còn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, chỉđạo và thẩm định quy hoạch tổng thể sử dụng đất của thành phố (thuộc tỉnh), huyện Cơquan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào quy hoạch tổng thể sửdụng đất của cấp trên, tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tổng thể sử dụng đất và cácquy hoạch chuyên ngành có liên quan cấp huyện Phòng tài nguyên đất đai cấp xã lập vàthực hiện quy hoạch tổng thể sử dụng đất cấp xã, hợp tác và hỗ trợ làm tốt công tác lấy ýkiến quần chúng đối với quy hoạch

Đối với đất đai thành thị, Nhà nước tiến hành quản lý bằng quy hoạch Quy hoạchtổng thể thành phố là kế hoạch có tính tổng thể, lâu dài, chiến lược và chỉ đạo về pháttriển kinh tế và xã hội với các công trình xây dựng của thành phố, bao gồm các nội dungchính:

Tính chất của thành phố, mục tiêu và quy mô phát triển

Tiêu chuẩn xây dựng chủ yếu và chỉ tiêu định mức của thành phố

Trang 19

Bố cục chức năng, phân bố phân khu và bố trí tổng thể các công trình của đấtdùng xây dựng thành phố.

Hệ thống giao thông tổng hợp và hệ thống sông hồ, hệ thống cây xanh thành phố.Các quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch xây dựng trước mắt…

Luật cũng quy định cụ thể quy hoạch của cấp dưới phải tuân thủ quy hoạch củacấp trên và phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn mới được thi hành

Ba là, về công tác thông kê, phân loại đất đai Luật quản lý đất đai của TrungQuốc quy định, đất đai được chia làm 8 loại chính:

Đất dùng cho nông nghiệp: là đất đai trực tiếp sử dụng cho sản xuất nông nghiệpbao gồm đất canh tác, đồng cỏ, đất nuôi trồng thuỷ sản

Đất xây dựng: là đất được sử dụng để xây dựng công trình kiến trúc, nhà cửa đôthị, dùng cho mục đích công cộng, khai thác khoáng sản, đất sử dụng trong các côngtrình an ninh quốc phòng

Đất chưa sử dụng: là loại đất còn lại không thuộc 2 loại đất nêu trên Nhà nướcquy định tổng kiểm kê đất đai 5 năm 1 lần và có thống kê đất đai hàng năm, việc thống

kê đất đai hàng năm được tiến hành ở các cấp quản lý theo đơn vị hành chính từ trungương đến địa phương; Hồ sơ đất đai được thiết lập đến từng chủ sử dụng đất và cập nhậtbiến động liên quan đến từng chủ sử dụng đất, đến từng mảnh đất

Trang 20

Ở Hàn Quốc, kỳ quy hoạch đối với cấp quốc gia, cấp tỉnh là 20 năm, quy hoạch sửdụng đất vùng đô thị cơ bản và kế hoạch sử dụng đất là 10 năm Sau 5 năm sẽ tiến hành

rà soát để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển và thị trường Ở Trung Quốc,theo quy định của Luật đất đai năm 1999 thì kỳ quy hoạch sử dụng đất của các cấp là 10năm

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tổ chức lấy ý kiến nhân dân Sau khiquy hoạch được phê duyệt sẽ được công khai và phổ biến đến nhân dân Chính quyềncác cấp có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đó Nhà nước có chính sách bảo đảmtính khả thi của quy hoạch, ví dụ: hỗ trợ đối với các khu vực bảo tồn, các khu vực cầnbảo vệ như miễn thuế, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, được hỗ trợ đời sống…

1.3.3 Tình hình thực hiện quy hoạch trong nước

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được “luật hóa” và bắt đầu được triểnkhai chính thức từ Luật đất đai năm 1987 Trong 25 năm qua, các quy định của pháp luật

về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, tạo hànhlang pháp lý ngày càng đầy đủ hơn để triển khai thực hiện, phục vụ kịp thời những yêucầu khác nhau của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Công tác quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất đã có những bước tiến rõ rệt và đạt được những kết quả tíchcực Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã trở thành công cụ quản lý nhà nước về đất đaihiệu quả và là một trong những giải pháp lớn để sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệuquả và bảo vệ môi trường sinh thái Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò phân bổquỹ đất cho các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của cả nước và các địaphương; khắc phục các mâu thuẫn, chồng chéo trong quy hoạch sử dụng các loại đất củacác ngành, cân đối việc sử dụng hợp lý quỹ đất quốc gia giữa các ngành thông qua việcphân bổ hợp lý quỹ đất; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để các ngành, lĩnh

Trang 21

vực lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; định hướng cho các nhà đầu tưtrong và ngoài nước đầu tư có hiệu quả vào đất đai.

Cùng với sự phát triển của Luật Đất đai thì công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất cũng từng bước được bổ sung, hoàn thiện Chúng ta hãy cùng nhìn lại chặng đường

20 năm công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tương ứng với ba giai đoạn của LuậtĐất đai: Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đểcùng nhau đánh giá vai trò, vị trí và tầm quan trọng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấttrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.3.3.1.Thời kỳ trước Luật Đất đai 1993

Trước những năm 80, QHSDĐĐ chưa được coi là công tác của ngành quản lý đấtđai mà chỉ được đề cập tới nh một phần của quy hoạch phát triển ngành nông lâmnghiệp

Từ năm 1981đến 1986, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V,các Bộ, Ngành, các tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập tổng sơ đồphát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến năm 2000 Trong sơ đồ phân

bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đê sử dụng đất đai va được tính toántương đối có hệ thống để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh,các xã trong toàn huyện nên bước đầu đã đánh giá được hiện trạng tiềm năng và đưa racác phương hướng sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000 Còng trong thời kỳ này hầuhết các quận, huyện, thị xã, xã, thị trấn trong cả nước đả tiến hành xây dựng quy hoạchtổng thể cấp huyện, cấp xã

Từ năm 1987 đến trước Luật đất đai năm 1993 do nền kinh tế của nước ta đangđứng trước những khó khăn và thử thách của nền kinh tế thị trường nên công tácQHSDĐ cũng chưa được xúc tiến nh Luật Đất đai đã quy định

Tuy vậy, thời kỳ này công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc, công tácQHSDĐ cấp xã nổi lên nh một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất Vì vậy, đây là mốcđầu tiên đánh dấu công tác triển khai QHSDĐ cấp xã trên phạm vi cả nước

Trang 22

1.3.3.2 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Điều 16, Điều 17 và Điều 18Luật Đất đai 1993 Trên cơ sở đó, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môitrường) đã ban hành một số văn bản về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, như: Quyếtđịnh số 657/QĐ-ĐC ngày 28 tháng 10 năm 1995 quy định về định mức lao động và giáđiều tra quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong đó quy định trình tự nội dung lập quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất; Công văn số 1814/CV-TCĐC ngày 12 tháng 10 năm 1998hướng dẫn chi tiết việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theolãnh thổ hành chính các cấp

Ngày 01 tháng 10 năm 2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

68/2001/NĐ-CP về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy định về lập, xét duyệt và quản lý quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất Trên cơ sở đó, ngày 01 tháng 11 năm 2001, Tổng cục Địachính ban hành Thông tư số 1842/2001/TT-TCĐC, Quyết định số 424a/2001/QĐ-TCĐC

và Quyết định số 424b/2001/QĐ-TCĐC quy định về nội dung và hệ thống biểu mẫu lậpquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Thực hiện Luật Đất đai 1993 và văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Chính phủ đãchỉ đạo lập Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010; đồng thời chỉ đạo các địaphương lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 các cấp (tỉnh, huyện và xã)

Nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010, Quy hoạch sử dụngđất cả nước đến năm 2010 đã xác định một số chỉ tiêu sử dụng đất sau:

(1) Nhóm đất nông nghiệp: 25.627,4 nghìn ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp: 9.363,1 nghìn ha (đất ruộng lúa: 3,5 - 3,8 triệu ha)

- Đất lâm nghiệp có rừng: 16.243,7 nghìn ha (tỷ lệ che phủ bằng rừng tập trung là43%)

(2) Nhóm đất phi nông nghiệp: 3.925,3 nghìn ha, trong đó:

- Đất ở: 1.035,4 nghìn ha (đất ở nông thôn: 936,1 nghìn ha; đất ở đô thị 99,3 nghìnha);

Trang 23

- Đất chuyên dùng: 2.145,4 nghìn ha.

(3) Nhóm đất chưa sử dụng: 3.371,4 nghìn ha

1.3.3.3 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 2003 đến Luật Đất đai năm 2013

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, trên

cơ sở đó Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản hướngdẫn thi hành Luật Đất đai có liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, như: Nghịđịnh số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành LuậtĐất đai; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 để hướng dẫnlập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2005 quy định về quy trình lập và điềuchỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 25tháng 10 năm 2005 quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất;

Như vậy, so với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 đã quy định khá

cụ thể về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm phục vụ kịp thời phát triểnkinh tế - xã hội trong tình hình mới Đặc biệt Luật đã quy định cụ thể trong nội dung quyhoạch sử dụng đất có việc “Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh” và “Xác định diện tích đất phải thu hồi đểthực hiện các công trình, dự án”; đồng thời Luật Đất đai năm 2003 cung quy định cụ thểtrong nội dung kế hoạch sử dụng đất có “Kế hoạch thu hồi diện tích các loại đất để phân

bổ cho nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển công nghiệp, dịch vụ; phát triển đôthị, khu dân cư nông thôn; quốc phòng, an ninh”; “Kế hoạch chuyển diện tích đất chuyêntrồng lúa nước và đất có rừng sang sử dụng vào mục đích khác, chuyển đổi cơ cấu sửdụng đất trong đất nông nghiệp” và “Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sửdụng vào các mục đích”

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng chocông tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nói riêng và

Trang 24

công tác quản lý đất đai trên địa bàn lãnh việc Ở giai đoạn này, công tác quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đã được triển khai khá đồng bộ theo 4 cấp, trong đó đã chú trọng đếnviệc phân định hệ thống chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo hướngquy hoạch cấp dưới cần chi tiết, cụ thể hơn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp trên.

1.3.3.4 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 2013 đến nay

Những nội dung đổi mới trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trongpháp luật đất đai 2013 được nghiên cứu thể hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Banchấp hành Trung ương Đảng tạiNghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chínhsách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nềntảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

đã chỉ đạo: “Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực khác có sử dụng đất theo hướngquy hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đaicho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính Quy hoạch xây dựng vàquy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụngđất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” và “Đổi mới kế hoạch sử dụngđất hằng năm theo hướng phải thể hiện được nhu cầu sử dụng đất của các dự án đầu tư,của các ngành, lĩnh vực, làm căn cứ để Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất,chuyển mục đích sử dụng đất và xây dựng chính sách tài chính về đất đai” Theo tinhthần đó, các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong pháp luật đấtđai 2013 đã được nghiên cứu thể hiện đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất từ trước tới nay

Thực hiện Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Quốchội về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 -2015) cấp quốc gia, Chính phủ đã tổ chức xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtcủa 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời chỉ đạo các Bộ, ngành và Ủy

Trang 25

ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện cácchỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 -2015

Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất trong 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 đạtbình quân khoảng 94,53% so với các chỉ tiêu mà Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số17/2011/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2011, trong đó: nhóm đất nông nghiệp vượt0,91%, nhóm đất phi nông nghiệp đạt 91,03%, nhóm đất chưa sử dụng còn lại đạt91,66% Về chi tiết, có 04 chỉ tiêu vư t chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội (nhóm đấtnông nghiệp; đất cơ sở văn hóa; đất cơ sở y tế; đất di tích danh th ng), có 10 chỉ tiêu đạt

từ 90% đến dưới 100% so với chỉ tiêu theo 7 Nghị quyết của Quốc hội (đất trồng lúa; đấtchuyên trồng lúa nước; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất rừng sản xuất; đấtnuôi trồng thủy sản; nhóm đất phi nông nghiệp; đất phát triển hạ tầng; đất ở tại đô thị;nhóm đất chưa sử dụng còn lại), có 07 chỉ tiêu đạt từ 70% đến dưới 90% so với chỉ tiêutheo Nghị quyết của Quốc hội (đất làm muối; đất an ninh; đất khu công nghiệp; đất cơ sởgiáo dục - đào tạo; đất cơ sở thể dục thể thao; đất bãi thải xử lý chất thải, diện tích đấtchưa sử dụng đưa vào sử dụng), có 01 chỉ tiêu đạt dưới 70% so với chỉ tiêu theo Nghịquyết của Quốc hội

Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta hiện nay đã góp phần tạo lập quỹ đất, thu hútđầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xó hội đáp ứng yêu cầu phát triển cỏc ngànhgiao thông, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ; khoa học kỹ thuật, giáo dục, y

tế, văn hóa, thể dục thể thao thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Côngtác quy hoạch sử dụng đất của các cấp, các ngành đã bước đầu đi vào nề nếp, trở thành

cơ sở quan trọng để định hướng cho phát triển thống nhất và đồng bộ, trở thành công cụ

để quản lý, và cũng trở thành phương tiện để đảm bảo sự đồng thụân xã hội Về kỹ thuật,

đã hình thành được một hệ thống quy trình và định mức về hoạt động quy hoạch sử dụngđất, đảm bảo cho công tác này triển khai được thống nhất liên thông, với chi phí hợp lý,phù hợp với những điều kiện về cơ sở hạ tầng và nhân lực hiện có

Trang 26

Quy hoạch sử dụng đất đã tích cực hỗ trợ cho phát triển kinh tế được cân đối nhất

là trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư mới khu đô thị mới trênphạm vi cả nước Quy hoạch sử dụng đất đã có tác động tích cực trong việc điều tiết thịtrường, góp phần ổn định giá đất và tạo cơ sở thực tế cho các cuộc giao dịch về đất đai

và nhất là các cuộc đấu giá quyền sử dụng đất Quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch sửdụng đất cũng là dịp tổ chức sinh hoạt dân chủ ở cơ sở, nhờ đó mà công dân tham giavào sự nghiệp chung có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cụ thể của mình, trật tự xã hộiđược đảm bảo, củng cố lòng tin của nhân dân vào chính quyền

Bên cạnh đó, công tác quy hoạch sử dụng đất cũng bộc lộ những yếu kém như:

- Hệ thống quy hoạch cồng kềnh, chồng chéo, trùng lặp gây tốn kém nguồn lực vàgiảm hiệu lực của các quy hoạch;

- Chất lượng quy hoạch thấp, tầm nhìn ngắn hạn, thiếu tính khả thi;

- Bất cập trong quy trình xây dựng, thẩm định quy hoạch, công tác kế hoạch hóa

về quy hoạch;

- Bất cập trong triển khai, giám sát, đánh giá quy hoạch;

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Kết quả thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất so với phương ánquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Thái Bình đến năm 2020 đã được phê duyệt.Các tác động của phương án quy hoạch lên đời sống kinh tế - xã hội – môi trường trênđịa bàn nghiên cứu

2.2 NỘI DUNG NGHÊN CỨU

- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Thái Bình, tỉnh TháiBình

- Đánh giá tình hình thực hiện phưong án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thànhphố Thái Bình giai đoạn 2011 – 2017;

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa về tình hình sử dụng và phân bố đất đai phục vụ nhu cầu củacon người Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của công tác điều tra nội nghiệp, đồng thừi

xử lý những sai lệch nhằm nâng cao độ chính xác của các số liệu thu được

2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tài liệu, số liệu

Thu thập các tài liệu, số liệu, sự kiện, thong tin cần thiết cho mục đích nghiên cứunhư: các tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các tư liệu về kinh tế xãhội; các tài liệu, số liệu về mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới; cácloại bản đồ và đồ án quy hoạch trước đây của thành phố

Trang 28

2.3.3 Phương pháp phân tích, thống kê, xử lý số liệu

Phương pháp này có sử dụng phần mềm Excel để đánh giá tình hình phát triểndân số, số hộ của toàn xã thong qua hệ thống bảng biểu tổng hợp tình hình sử dụng cácloại đất, chỉ tiêu bình quân đất các loại trong những năm của giai đoạn quy hoạch

2.3.4 Phương pháp so sánh, đánh giá

Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất được đánh giá thông qua việc so sánh giữa kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất với kế hoạch đề ra khi xây dựng phương án Các tiêu chí đánh giá gồm:

- Chỉ tiêu sử dụng đất: tỷ lệ diện tích thực hiện so với kế hoạch đề ra (tính theo đơn vị %), tỷ lệ chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp

- Vị trí quy hoạch các công trinhg dự án (theo không gian)

- Sự phát sinh các công trình mới

- Tiến độ thực hiện các công trình, dự án theo quy hoạch (các dự án đã hoànthành theo kế hoạch đề ra, các dự án chậm tiến độ hoàn thành, các dự án chưa triển khaithực hiện)

Trang 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH.

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

a) Vị trí địa lý

Thành phố Thái Bình là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học,quốc phòng, của tỉnh Thái Bình và cũng là 1 trong 6 đô thị trung tâm của vùng duyênhải Bắc Bộ Được thành lập ngày 29/4/2004 theo Nghị định 117/NĐ-CP của Chính phủtrên cơ sở diện tích tự nhiên và dân số của Thị xã Thái Bình, có diện tích tự nhiên là6.770,85 ha, chiếm 4,39% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

- Phía Bắc giáp huyện Đông Hưng;

- Phía Đông giáp huyện Kiến Xương, huyện Đông Hưng;

- Phía Nam và phía Tây giáp huyện Vũ Thư;

Thành phố Thái Bình có 19 đơn vị hành chính, bao gồm 10 phường và 9 xã Nằmcách thủ đô Hà Nội 110 km theo Quốc lộ 10 và Quốc lộ 1 về phía Tây Bắc, cách TP HảiPhòng 70 km theo Quốc lộ 10 về phía Đông Bắc, cách TP Nam Định 20 km về phía Tây,cách thành phố Hưng Yên 40 km theo Quốc lộ 39 về phía Tây Bắc, cách cảng biển DiêmĐiền 30 km theo Quốc lộ 39 về phía Đông Nam, đồng thời là đầu mối giao thông củatỉnh; thuận lợi giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng qua quốc lộ

10, đặc biệt đối với vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội Hải Phòng Quảng Ninh

-3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Thành phố Thái Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang nét đặctrưng của vùng khí hậu duyên hải, đặc điểm mùa đông thường ấm hơn, mùa hè thường

Trang 30

mát hơn so với khu vực sâu trong nội địa Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu củathành phố thành hai mùa chính.

- Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng, ẩm,mưa nhiều Lượng mưa từ 1.100 - 1.500 mm, chiếm 80% lượng mưa cả năm Mưa mùa

hè có cường độ rất lớn từ 200 - 300 mm/ngày

- Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô có khí hậu lạnh, ít mưa, đạt

15 - 20 % lượng mưa cả năm

- Các đặc trưng khí hậu của thành phố bao gồm:

+ Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 260C, nhiệt độ trung bình cao nhất là39,20C; nhiệt độ trung bình thấp nhất là 150C Lượng bức xạ mặt trời trung bình nămkhoảng 100 kcal/cm2

+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 2.000 mm

+ Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm dao động từ 85đến 95% + Bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng trung bình từ 1.600 - 2.700 giờ/năm,

Nhìn chung, thời tiết khí hậu của Thành phố là khí hậu nóng, ẩm, lượng bức xạcao, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, vào thời gian chuyển tiếp giữa cácmùa có sự biến động mạnh về thời tiết với các hiện tượng xấu đã ảnh hưởng đến sảnxuất

3.1.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Thành phố Thái Bình thuộc vùng Châu thổ đồng bằng sông Hồng, cấu trúc địahình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%, cao độ nền phổ biến từ 1-2 m so vớimặt nước biển, địa hình có hướng cao dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây

Địa mạo của thành phố có cấu trúc bở rời được tạo bởi phù sa sông Hồng và phù

sa biển nên khá bền vững, ít có sự rửa trôi bào mòn

3.1.1.4 Chế độ thủy văn

Thành phố Thái Bình có nhiều con sông lớn như Sông Trà Lý, sôn Vĩnh Trà, sôngKiên Giang, sông Bạch, sông Bồ Xuyên, sông 3/2 Bên cạnh đó thành phố có nhiều ao

Trang 31

hồ, đây là nguồn dự trữ nước quan trọng khi mực nước các sông xuống thấp vào mùakhô hạn.

Mật độ sông ngòi của thành phố khá dày đặc, chảy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Về mùa mưa, cường độ mưa lớn và tập trung đã gây ra úng ngập cục bộ cho cácvùng thấp, trũng Đặc biệt sông Trà Lý vào mùa lũ, tốc độ dòng chảy rất lớn, mực nướcsông dâng cao dễ gây ngập úng Vì vậy, hệ thống thủy lợi của thành phố cần phải đượcchú trọng củng cố và nạo vét

3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

a) Tài nguyên đất

Với diện tích đất tự nhiên là 6.809,9 ha (tính đến thời điểm năm 2017) được chiathành 3 nhóm đất chính: Đất cát, đất phù sa, đất phèn

b) Tài nguyên nước

Đảm bảo chất lượng cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong thành phố:

- Nguồn nước mặt: Trữ lượng nước mặt của thành phố khá dồi dào chủ yếu đượckhai thác, sử dụng từ các sông, hồ trên địa bàn cung cấp có nguồn gốc từ nước sôngHồng và nước mưa, có khả năng đáp ứng đầy đủ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.Chất lượng nước nhìn chung còn tốt, chưa bị ô nhiễm

- Nguồn nước ngầm: Thành phố nằm trong trầm tích bở rời hệ thứ tư có nguồnnước biển hỗn hợp nên khả năng tàng trữ nước ngầm tốt, đặc biệt là tầng chứa nước cát,cuội, sỏi ở độ sâu 90-120 m, nước áp lực nên mực nước ngầm cách mặt đất 0,5 - 10 mrất thuận lợi cho quá trình khai thácTrong thời gian tới nguồn nước này sẽ được khaithác nhiều hơn để phục vụ cho nhu cầu của nhân dân

c) Tài nguyên nhân văn

Thành phố Thái Bình có tiền thân là vùng “ Kỳ Bố Hải Khẩu” (tên đất cổ từ thờiNgô, nay thuộc phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình) Năm 1890 khi thành lập tỉnh TháiBình, nơi đây được chọn làm tỉnh lị của tỉnh, lấy tên là Thái Bình cho đến bây giờ Trảiqua thời gian dài phát triển thành phố Thái Bình đã có diện mạo như ngày nay

Trang 32

Trên địa bàn thành phố có các di tích với kiến trúc hoa văn cổ xưa mang đậm dấu

ấn lịch sử - văn hóa của nền văn minh lúa nước vùng châu thổ sông Hồng như: chùa ĐoanTúc (phường Tiền Phong), chùa Bồ (phường Bồ Xuyên), đền Quan (phường HoàngDiệu), đền Cả (phường Trần Lãm), miếu vua Lẫm, đình Hiệp Trung (xã Đông Hòa), đìnhĐại Lai, đình Thắng Cựu (xã Phú Xuân)…

Thái Bình có Nhà hát Chèo Thái Bình, đoàn cải lương Thái Bình, Đoàn ca múakịch, Bảo tàng tỉnh Thái Bình, nhà triển lãm thông tin, Thư viện khoa học tổng hợptỉnh

Ngày nay, trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là thời kỳ đổimới, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, HĐND và UBND thành phố, toàn Đảng, toàn quân

và toàn dân của thành phố đã phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, khắcphục mọi khó khăn để đạt được nhiều thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa và giữvững trật tự an toàn xã hội Tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với truyền thốngkiên cường sáng tạo, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế sẵn có, thành phố Thái Bìnhvững vàng đi vào thế kỷ mới thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đạihóa Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổimới, phát triển và hội nhập

3.1.1.6 Thực trạng môi trường

Trang 33

Những năm qua Thực hiện Nghị quyết 41, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị, vàChỉ thị 21, ngày 02/6/2005 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình về “bảo vệ môi trườngtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá”, nhiệm vụ bảo vệ môi trườngluôn được Đảng bộ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể Thành phố quan tâm, lãnh đạo,chỉ đạo tổ chức thực hiện

Các giải pháp bảo vệ môi trường được đẩy mạnh Thành phố xây dựng và triểnkhai thực hiện có hiệu quả Đề án 157 về phân cấp công tác vệ sinh môi trường; đưa quychế quản lý đô thị vào thực hiện; thực hiện xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường; xâydựng phương án di chuyển dân ra khỏi khu vực ô nhiễm ở tổ 16, 17 phường Bồ Xuyên;tập trung giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường và thoát nước ở các khu dân cư…Bên cạn đó, UBND thành phố thường xuyên tổ chức tuyên truyền nâng cao kiến thức vànhận thức trong nhân dân về bảo vê môi trường, phối hợp với UBND các huyện kháctrong việc giải quyết những vấn đề môi trường liên quan như thẩm định cam kết bảo vệmôi trường (nay là kế hoạch bảo vệ môi trường) và giải quyết khiếu nại tố cáo và kiếnnghị của nhân dân

3.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế

Bảng 3.1 Kết quả tốc độ tăng trưởng nền kinh tế

Trang 34

Bình quân thu nhập đầu người (triệu/người) 93,6 95,3 101,2

Nguồn: Chi cục tống kê thành phố Thái Bình (2017)Qua bảng 3.1, cho ta thấy trong những năm qua, kinh tế thành phố Thái Bình cómức tăng trưởng có xu hướng tăng lên Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 10,52%(so với năm 2015 tăng 1,65%, so với năm 2016 tăng 0,4%) Trong đó, năm 2017, tốc độtăng trưởng khu vực nông nghiệp tăng trưởng mức 2,64% có xu hướng tăng (so với năm

2015 giảm 2,39%, so với năm 2016 giảm 1,03%); công nghiệp – TTCN với 18,06% (sovới năm 2015 tăng 4,63%, so với năm 2016 tăng 2,3%) và khu vực vực thương mại -dịch vụ với 16,01% (so với năm 2015 tăng 0,92%, so với năm 2016 tăg 1,78%) Mứctăng trưởng kinh tế đã phản ánh đúng thực trạng phát triển kinh tế xã hội của thành phố.Thu nhập bình quân theo đầu người năm 2017 tăng gấp 1,08 lần so với năm 2015

b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế các ngành của thành phố Thái Bình

Nguồn: Chi cục tống kê thành phố Thái Bình (2017)Qua bảng 3.2 nhận thấy: Cơ cấu kinh tế kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng tăng

tỷ trọng công nghiệp -TTCN; còn thương mại dịch vụ và ngành nông nghiệp có xuhướng giảm tỷ trọng Cụ thể, năm 2017, nông nghiệp với tỷ trọng 3,2%; công nghiệp –TTCN chiếm tỷ trọng cao nhất với 68,7%; thương mại - dịch vụ đứng thứ hai với tỷtrọng 28,1%

3.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

a) Công nghiệp - xậy dựng

Giá trị sản xuất năm 2017 ngành Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 15.707,4 tỷđồng, tăng 18,06% so với năm 2016 So sánh với giá trị sản xuất ngành công nghiệp xây

Trang 35

dựng năm 2017 đều tăng so với năm 2016, trong đó: Kinh tế Nhà nước tăng 7.22 %, kinh

tế ngoài Nhà nước tăng 17,86%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,47%

Bảng 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo loại hình kinh tế

Đơn vị: tỷ đồng

Năm2013

Năm2014

Năm2015

Năm2016

Năm2017

ổn định sản xuất kinh doanh

- Giá trị sản xuất năm 2017 ngành xây dựng ước đạt 4.149,3 tỷ đồng, tăng 17,28%

so với năm 2016 Công tác quản lý Nhà nước về hoạt động xây dựng được tăng cường;các công trình được triển khai thi công đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo chất lượng, tiến độ

Bảng 3.4 Giá trị sản xuất ngành xây dựng phân theo loại hình kinh tế

Đơn vị: triệu đồng

Trang 37

Nguồn: Chi cục tống kê thành phố Thái Bình (2017)

b)Thương mại, dịch vụ

Tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Doanh số bán

lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 10.183,13 đồng vào năm 2017 tăng 13% so với năm 2016.Kim ngạch xuất khẩu đạt 958 triệu USD, nhập khẩu đạt 595 triệu USD

Tổ chức triển khai đề án phát triển thương mại dịch vụ thành phố giai đoạn

2016-2020 Hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư lĩnh vực thương mại, dịch vụ được đẩymạnh; Hoạt động thu hút đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ phát triển mạnh với 28

dự án vốn đăng ký 950 tỷ đồng, 17 dự án đề nghị nghiên cứu, khảo sát Một số dự ándịch vụ thương mại lớn hoàn thành và đi vào hoạt động như: Trung tâm thương mạiVincom, siêu thị điện máy Trần Anh tạo thêm động lực mới thúc đẩy sản xuất, lưuthông phân phối hàng hóa; các dự án: Trung tâm tài chính - thương mại 61, phố Lê Lợi;khu công viên và các công trình thể thao dưới nước; dự án đại lý ô tô công ty KườngNgân tại khu dịch vụ phường Hoàng Diệu được khởi công và triển khai thực hiện đảmbảo tiến độ Phối hợp tổ chức 03 hội chợ thương mại trên địa bàn thu hút trên 1.000doanh nghiệp tham gia Công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu và gian lận thươngmại được duy trì tốt; kiểm tra 490 cơ sở sản xuất kinh doanh, kịp thời xử lý nghiêm cáchành vi vi phạm (đã xử lý 152 trường hợp, nộp vào ngân sách nhà nước 340 triệu đồng)

Trang 38

Công tác tài chính ngân sách được chỉ đạo thực hiện tốt, đáp ứng yêu cầu phục vụcác nhiệm vụ chính trị, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốcphòng Tiến hành phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các phường, xã; tạo điều kiệnthuận lợi cho các địa phương chủ động trong điều hành ngân sách, công tác kiểm trachống thất thu, trốn lậu thuế, thu hồi nợ đọng được triển khai tích cực Chi ngân sách ởcác cấp đảm bảo đúng luật, tiết kiệm Tăng cường khai thác, huy động các nguồn vốnnhư vốn ODA, vốn vay Kho bạc Nhà nước, nguồn thu từ quỹ đất, huy động các doanhnghiệp tự nguyện đóng góp xây dựng hạ tầng, huy động vốn trong dân theo phương thứcNhà nước và nhân dân cùng làm Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2017 đạt2.020,60 tỷ đồng, tăng bình quân 17% so với năm 2016.

c) Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Tổng giá trị sản xuất ngành nông- lâm - thủy sản năm 2017 đạt 952,93 tỷ đồng,giảm 2,95% so với năm 2016 Trong đó: Giá trị nông nghiệp đạt 869,31 tỷ đồng, giảm3,64%; giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 235 triệu đồng, giảm 17,25%; Giá trị sản xuấtthủy sản đạt 83,39 tỷ đồng, tăng 4,9% so với năm 2016

Bảng 3.5 Giá trị sản xuất nông – lâm - thủy sản

Trang 39

Nguồn: Chi cục tống kê thành phố Thái Bình (2017)Tổng diện tích gieo trồng cả năm năm 2017 đạt 5,241 ha, giảm 0,7% so với năm2016; (trong đó: Diện tích cấy lúa đạt 4.929,05 ha, năng suất đạt 56,3 tạ/ha; diện tích câymàu đạt 491 ha, năng suất đạt 223,32 tạ/ha); diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tếcao được mở rộng Chăn nuôi phát triển ổn định, không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra

Trang 40

Bảng 3.6 Năng xuất một số cây hàng năm

Năm2012

Năm2013

Năm2014

Năm2015

Năm2016

Năm2017

Ngày đăng: 26/09/2020, 21:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w