1. Đặt vấn đề Trong nhiều năm trở lại đây, cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội, nhiều làng nghề thủ công truyền thống cũng dần được khôi phục và phát triển, góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân địa phương. Tuy nhiên, song song với quá trình phát triển kinh tế, quản lý môi trường làng nghề cũng là một vấn đề cấp bách để hướng tới phát triển bền vững các làng nghề. Làng nghề tái chế nhựa tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũng được xem là một điểm nóng của địa phương về vấn đề quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường làng nghề nói riêng. Sản xuất nhựa tái chế là một công việc gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe, sinh hoạt của người dân, qua đó ảnh hưởng đến mục tiêu chung của sự phát triển bền vững, tuy nhiên các công tác về quản lý cũng như đánh giá thực trạng chất lượng môi trường ở địa phương còn nhiều khó khăn, hạn chế, ý thức của người dân về việc tự bảo vệ chất lượng môi trường nơi sinh sống cũng chưa cao. Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường tại làng nghề tái chế nhựa trên địa bàn thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo hướng phát triển bền vững. Thông qua việc đánh giá thực trạng tình hình sản xuất, chất lượng môi trường và vấn để quản lý môi trường làng nghề tại địa phương, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững làng nghề tái chế nhựa, góp phần nâng cao kinh tế, chất lượng đời sống người dân, hạn chế tối đã những tác động tiêu cực đến môi trường. 2. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng môi trường làng nghề sản xuất nhựa tái chế tại thôn Báo Đáp, xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế nhựa tại thôn Báo Đáp, xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo định hướng phát triển bền vững. 3. Nội dung nghiên cứu Thực trạng hoạt động sản xuất nhựa tái chế tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Thực trạng chất lượng môi trường làng nghề và quản lý môi trường làng nghề tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế nhựa tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo định hướng phát triển bền vững. 4. Đối tượng nghiên cứu Các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế nhựa tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 5. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Làng nghề sản xuất và tái chế nhựa Thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Phạm vi thời gian: + Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong tháng 22018 đến tháng 52018. + Thời gian thực địa: từ ngày 1642018 đến ngày 2542018 tại xã Hồng Quang, Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đối tượng khảo sát: 6. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu Nhằm phục vụ cho nghiên cứu, các tài liệu được thu thập bao gồm các Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội, các điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu; các văn bản, tài liệu có liên quan về vấn đề quản lý môi trường nói chung và môi trường làng nghề nói riêng tại UBND xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ngoài ra, còn có các tài liệu có liên quan về vấn đề quản lý môi trường làng nghề trên Thế giới và trong nước. Phương pháp điều tra xã hội học Phương pháp điều tra xã hội học là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một sự kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu … Điều tra xã hội học thực chất là trưng cầu ý kiến quần chúng, được tiến hành bằng cách khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu có định hướng. Khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi: Phương pháp này được sử dụng trong đợt khảo sát tại thôn Báo Đáp. Tác giả đã lựa chọn mẫu phiếu dưới sự hỗ trợ của chính quyền địa phương nhằm đảm bảo tính khách quan và đa dạng. Trong đó nhóm đối tượng được khảo sát là những hộ gia đình trên địa bàn xã đang sản xuất nhựa tái chế và các hộ gia đình xung quanh. Thời gian thực hiện khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi từ ngày 1642018 đến ngày 2542018. Cơ cấu phiếu khảo sát: Cuộc khảo sát lựa chọn các đối tượng là các hộ gia đình sản xuất nhựa tái chế trên địa bàn thôn Báo Đáp xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Do số hộ sản xuất nằm rải rác trên địa bàn toàn xã. Tổng số phiếu khảo sát là 50 phiếu. Trong đó, nhóm đối tượng được chọn để khảo sát là các hộ gia đình tham gia và không tham gia hoạt động sản xuất nhựa tái chế trên địa bàn thôn Báo Đáp Độ tuổi của những người tham gia điều tra là từ 20 đến 50 tuổi, đều đang trong độ tuổi lao động. Tất cả những người tham gia khảo sát đều là người dân bản địa hiểu rõ về điều kiện của địa phương cũng như hoạt động sản xuất nhựa tái chế tại địa phương. Phỏng vấn sâu có định hướng (phỏng vấn bán cấu trúc): Phương pháp này được áp dụng cho các nhà quản lý chuyên môn về vấn đề bảo vệ môi trường và quản lý môi trường làng nghề tại địa phương. Số cán bộ được phỏng vấn là 2 người (1 là trưởng ban quản lý môi trường xã Hồng Quang và hai là là phó hội trưởng Hội sản xuất và kinh doanh nhựa tái chế thôn Báo Đáp). Các cán bộ đã cung cấp thông tin cơ bản về hệ thống pháp lý, cơ chế chính sách, tổ chức quản lý trong lĩnh vực sản xuất nhựa tái chế và các thông tin liên quan đến tình hình sản xuất nhựa tái chế tại địa phương. Phương pháp chuyên gia Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của khoa họckỹ thuật hoặc sản xuất. Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia có thể chia thành ba giai đoạn lớn: Lựa chọn chuyên gia; Trưng cầu ý kiến chuyên gia; Thu thập và xử lý cá đánh giá dự báo. Chuyên gia giỏi là những người thấy rõ nhất những vấn đề tồn tại trong lĩnh vựa hoạt động của mình, đồng thời về mặt tâm lý họ luôn luôn hướng về tương lai để giải quyết những vẫn đề dựa trên những hiểu biết sâu sắc, kinh nghiệm sản xuất phong phú và linh cảm nghề nghiệp nhạy bén. Phương pháp xử lý số liệu bằng Excel Xử dụng phần mềm Excel để: Tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển làng nghề tái chế nhựa Phân tích tác động đến môi trường của làng nghề tái chế nhựa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
BỘ MÔN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHỰA TRÊN ĐỊA BÀN THÔN BÁO ĐÁP, XÃ HỒNG QUANG, HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
BỘ MÔN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHỰA TRÊN ĐỊA BÀN THÔN BÁO ĐÁP, XÃ HỒNG QUANG, HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH THEO ĐỊNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
đã tạo điều kiện cho em có cơ hội được học tập
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy/ cô trong Bộ môn Biến đổi khí hậu vàPhát triển bền vững đã chỉ giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cho em.Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn Cô giáo Nguyễn NgọcÁnh là người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trìnhhọc tập nói chung và thực hiện khoá luận nói riêng
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ của UBND xã Hồng Quang – ông Vũ Tiến Đạt(Trưởng ban Văn hóa – Xã hội xã HQ) đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu liênquan
Em xin chân thành cảm ơn ông Đỗ Hữu Quang đã giúp đỡ trong việc tiếp cận vớingười dân để thực hiện khảo sát Xin cảm ơn toàn thể các hộ sản xuất nhựa tái chế vàcác hộ xung quanh trên địa bàn xã đã cung cấp thông tin giúp em hoàn thiện khoá luậnnày Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn thầy cô và tất cả mọi người đã giúp đỡ emtrong thời gian qua
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới gia đình vàbạn bè những người luôn động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan nghiên cứu này là của tác giả, trong đó tất cả các hoạt động do
em thực hiện; các số liệu là trung thực; không sử dụng số liệu của các tác giả chưađược công bố, các kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được công bố
Nếu sai, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 6
1.2.1 Các nghiên cứu trên Thế Giới 7
1.2.2 Nghiên cứu về làng nghề ở Việt Nam 8
CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI XÃ HỒNG QUANG, HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH 12
2.1 Điều kiện tự nhiên 12
2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 14
2.2.1 Nông nghiệp – phát triển nông thôn: 14
2.2.2 Lao động 14
2.2.3 Giao thông 15
2.3 Thông tin chung về tình hình sản xuất và thực trạng môi trường tại các làng nghề huyện Nam Trực 18
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
Trang 63.1 Thực trạng sản xuất tại làng nghề tái chế nhựa thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, Nam Định .20 3.2 Thực trạng môi trường tại làng nghề tái chế nhựa thôn
Báo Đáp 22
3.2.1 Các loại chất thải phát sinh từ quá trình tái chế nhựa 22
3.2.2 Tác động của môi trường làng nghề tái chế nhựa đến người dân 23
3.3 Thực trạng vấn đề quản lý môi trường làng nghề tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 26
3.3 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường tại làng nghề tái chế nhựa thông Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam định theo định hướng phát triển bền vững 27
3.3.1 Nâng cao vai trò và hiệu quả của QLMT tại làng nghề 28
3.3.2 Xây dựng các chính sách khuyến khích hỗ trợ 30
3.3.3 Quản lý môi trường thông qua hương ước 31
3.3.4 Quan trắc môi trường 31
3.3.5 Nâng cao vai trò và hiệu quả của công tác giáo dục, truyền thông về BVMT nói chung và môi trường làng nghề nói riêng 32
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả tự đánh giá môi trường của người dân tại làng nghề tái chế nhựa thôn Báo Đáp 24
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Thông tin về đối tượng tham gia khảo sát 20 Hình 3.2 Quy trình tái chế nhựa 21 Hình 3.3 Kết quả tự đánh giá chất lượng môi trường làng nghề tái chế nhựa thôn Báo Đáp 24 Hình 3.4 Tỷ lệ các bệnh liên quan đến công việc tái chế nhựa 25
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong nhiều năm trở lại đây, cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế xãhội, nhiều làng nghề thủ công truyền thống cũng dần được khôi phục và phát triển, gópphần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân địa phương Tuy nhiên, song song với quátrình phát triển kinh tế, quản lý môi trường làng nghề cũng là một vấn đề cấp bách đểhướng tới phát triển bền vững các làng nghề
Làng nghề tái chế nhựa tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnhNam Định cũng được xem là một điểm nóng của địa phương về vấn đề quản lý môitrường nói chung và quản lý môi trường làng nghề nói riêng Sản xuất nhựa tái chế làmột công việc gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe, sinh hoạt củangười dân, qua đó ảnh hưởng đến mục tiêu chung của sự phát triển bền vững, tuynhiên các công tác về quản lý cũng như đánh giá thực trạng chất lượng môi trường ởđịa phương còn nhiều khó khăn, hạn chế, ý thức của người dân về việc tự bảo vệ chấtlượng môi trường nơi sinh sống cũng chưa cao Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề
tài Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường tại làng nghề tái chế nhựa
trên địa bàn thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo hướng phát triển bền vững Thông qua việc đánh giá thực trạng tình hình sản xuất,
chất lượng môi trường và vấn để quản lý môi trường làng nghề tại địa phương, làm cơ
sở để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững làng nghề tái chế nhựa, góp phần nângcao kinh tế, chất lượng đời sống người dân, hạn chế tối đã những tác động tiêu cực đếnmôi trường
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng môi trường làng nghề sản xuất nhựa tái chế tại thôn Báo Đáp, xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế nhựa tại thôn BáoĐáp, xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo định hướng phát triển bềnvững
Trang 113 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động sản xuất nhựa tái chế tại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang,huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
- Thực trạng chất lượng môi trường làng nghề và quản lý môi trường làng nghềtại thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế nhựa tại thôn BáoĐáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo định hướng phát triểnbền vững
4 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế nhựa tại thôn Báo Đáp, xãHồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Làng nghề sản xuất và tái chế nhựa Thôn Báo Đáp, xã
Hồng Quang, Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Nhằm phục vụ cho nghiên cứu, các tài liệu được thu thập bao gồm các Báo cáo
về tình hình phát triển kinh tế xã hội, các điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu;các văn bản, tài liệu có liên quan về vấn đề quản lý môi trường nói chung và môitrường làng nghề nói riêng tại UBND xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh NamĐịnh Ngoài ra, còn có các tài liệu có liên quan về vấn đề quản lý môi trường làngnghề trên Thế giới và trong nước
Trang 12Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng vềmột sự kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu …
Điều tra xã hội học thực chất là trưng cầu ý kiến quần chúng, được tiến hànhbằng cách khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu có định hướng
Khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi:
Phương pháp này được sử dụng trong đợt khảo sát tại thôn Báo Đáp Tác giả đãlựa chọn mẫu phiếu dưới sự hỗ trợ của chính quyền địa phương nhằm đảm bảo tínhkhách quan và đa dạng Trong đó nhóm đối tượng được khảo sát là những hộ gia đìnhtrên địa bàn xã đang sản xuất nhựa tái chế và các hộ gia đình xung quanh Thời gianthực hiện khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi từ ngày 16/4/2018 đến ngày 25/4/2018
Cơ cấu phiếu khảo sát:
Cuộc khảo sát lựa chọn các đối tượng là các hộ gia đình sản xuất nhựa tái chế trên địa bàn thôn Báo Đáp xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Do số
hộ sản xuất nằm rải rác trên địa bàn toàn xã Tổng số phiếu khảo sát là 50 phiếu Trong
đó, nhóm đối tượng được chọn để khảo sát là các hộ gia đình tham gia và không tham gia hoạt động sản xuất nhựa tái chế trên địa bàn thôn Báo Đáp
Độ tuổi của những người tham gia điều tra là từ 20 đến 50 tuổi, đều đang trong
độ tuổi lao động
Tất cả những người tham gia khảo sát đều là người dân bản địa hiểu rõ về điều kiện của địa phương cũng như hoạt động sản xuất nhựa tái chế tại địa phương
Phỏng vấn sâu có định hướng (phỏng vấn bán cấu trúc):
Phương pháp này được áp dụng cho các nhà quản lý chuyên môn về vấn đề bảo
vệ môi trường và quản lý môi trường làng nghề tại địa phương
Số cán bộ được phỏng vấn là 2 người (1 là trưởng ban quản lý môi trường xãHồng Quang và hai là là phó hội trưởng Hội sản xuất và kinh doanh nhựa tái chế thônBáo Đáp) Các cán bộ đã cung cấp thông tin cơ bản về hệ thống pháp lý, cơ chế chính
Trang 13sách, tổ chức quản lý trong lĩnh vực sản xuất nhựa tái chế và các thông tin liên quanđến tình hình sản xuất nhựa tái chế tại địa phương.
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của khoa học-kỹ thuật hoặc sản xuất Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia có thể chia thành ba giai đoạn lớn:
- Lựa chọn chuyên gia;
- Trưng cầu ý kiến chuyên gia;
- Thu thập và xử lý cá đánh giá dự báo
Chuyên gia giỏi là những người thấy rõ nhất những vấn đề tồn tại trong lĩnh vựahoạt động của mình, đồng thời về mặt tâm lý họ luôn luôn hướng về tương lai để giảiquyết những vẫn đề dựa trên những hiểu biết sâu sắc, kinh nghiệm sản xuất phong phú
và linh cảm nghề nghiệp nhạy bén
Phương pháp xử lý số liệu bằng Excel
Xử dụng phần mềm Excel để:
- Tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển làng nghề tái chếnhựa
- Phân tích tác động đến môi trường của làng nghề tái chế nhựa
CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trang 14Khái niệm môi trường
Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài củamột hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xácđịnh xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong
đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con
Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên
và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạtđộng sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người vàcác thể chế
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàncảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể nàyhay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng
Bảo vệ môi trường: Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường,ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môitrường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạngsinh học [3]
Phát triển bền vững: Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ
phát triển Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể ngừng tiếnhoá và ngừng sự phát triển của mình Đó là qui luật của sự sống, của tạo hoá mà vạnvật đều phải tuân theo một cách tự giác hay không tự giác Con đường để giải quyếtmâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ saocho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường Phát triển đươngnhiên sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn làm đầy đủ các chứcnăng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con người, cung cấp cho conngười các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các phế thải của hoạt động của con người,giảm nhẹ tác động bất lợi của thiên tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hoá, khoa học củaloài người Hay nói một cách khác đó là: phát triển bền vững (PTBV)
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của conngười nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai Phát triển
Trang 15bền vững là một phương hướng phát triển được các quốc gia trên thế giới ngày nayhướng tới, đó là niềm hy vọng lớn của toàn thể loài người [4].
Chất thải rắn: chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt
động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữudụng hay khi không muốn dùng nữa
Chất thải rắn sinh hoạt thông thường: chất thải rắn thông thường là một dạng vật
chất ở thể rắn, không phải là thể lỏng, thể khí, không phải là chất thải nguy hại và được thải
ra từ các hoạt động khác nhau của con người
Chất thải rắn sinh hoạt nguy hại: thuật ngữ chất thải nguy hại lần đầu tiên xuất hiện
vào thập niên 70 Sau một thời gian nghiên cứu và phát triển, tùy thuộc vào sự phát triểnkhoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới cónhiều định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại [6], [8]
Tại Việt Nam: chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất cómột trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn,
dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với chất khác gây nguyhại đến môi trường và sức khỏe con người
Làng nghề: Làng nghề là khu vực tập trung dân cư để sản xuất một hay nhiều
nghề chủ yếu nào đó, có tính chuyên sâu cao và là nguồn thu chính của người dântrong làng:
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50%
so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trựctiếp hoặc gián tiếp đối với nghề nông nghiệp ở làng ít nhất từ 50% so với tổng số hộ vàlao động ở làng nghề
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng nghề sản xuất mang tính đặc thù của làng và
do người dân trong làng tham gia
1.2 Cơ sở thực tiễn
Phát triển kinh tế làng nghề đã góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sốngcho người dân, tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động trên cả nước, bảo tồn giá trị văn
Trang 16hóa truyền thống dân tộc Tuy nhiên, hệ lụy phát triển làng nghề trong nhiều năm qua
đã để lại hậu quả nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường làng nghề đã tác động trực tiếp đến môi trường nước, khôngkhí và đất trong khu vực dân sinh Trong đó, việc chế biến lương thực, thực phẩm,chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, ươm tơ, dệt nhuộm là những ngành sản xuất cónhu cầu về nước và cũng phát sinh khối lượng nước thải với độ ô nhiễm hữu cơ rấtcao Còn với một số ngành tái chế phế liệu, chế tác nhựa, đúc đồng nhôm…, nhu cầunước không lớn nhưng nước thải lại có thành phần phức tạp, chứa nhiều nhựa, hóachất độc hại Trong nhóm ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ, sơn mài và mây tre đannước thải có chứa bụi mài và hóa chất nước nhuộm…[1], [2]
Mô hình phát huy vai trò của cộng đồng, đóng góp tự nguyện nhân lực, tài lực,cần được quan tâm hơn nữa để duy trì và nhân rộng ra trên nhiều địa bàn làng nghề.Nguồn gốc của ô nhiễm không khí làng nghề chủ yếu từ việc sử dụng than làmnhiên liệu (than chất lượng kém), sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong dâychuyền công nghệ sản xuất Khí thải có chứa các thành phần là bụi, khí độc và chấthữu cơ bay hơi Làng nghề có lượng thải ô nhiễm lớn nhất là tái chế nhựa, sản xuất vậtliệu xây dựng và gốm sứ Hàm lượng bụi khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tại một
số địa phương vượt QCVN từ 3 - 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần
Bên cạnh đó, môi trường đất chịu tác động trực tiếp của các loại hóa chất độc hại
từ các nguồn thải rắn, lỏng đổ bừa bãi và nước mưa tràn trên bề mặt đã cuốn theo dầu
mỡ, nhựa nặng, ảnh hưởng đến đất canh tác xung quanh các hộ sản xuất Ngoài ra, cácchất thải rắn của hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để, nhiều làng
xả thải bừa bãi, gây tác động xấu đến cảnh quan môi trường, sức khỏe cộng đồng Tạicác làng sản xuất tái chế nhựa, tỷ lệ người mắc bệnh liên quan đến thần kinh hô hấp,ngoài da, điếc và ung thư chiếm 60% Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm,người mắc bệnh phụ khoa (13-38%), tiêu hóa (8-30%), viêm da (4,5-23%), hô hấp (6-18%), đau mắt (9-15%)…
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trườnglàng nghề, nhiều mô hình bảo vệ môi trường có sự tham gia của cộng đồng tại các làngnghề như xử lý khí thải, nước thải ngăn ngừa ô nhiễm ra môi trường xung quanh đã và
Trang 17đang được thực hiện Một trong những mô hình nổi bật và phát huy hiệu quả về bảo vệmôi trường gắn với phát triển làng nghề chính là các mô hình thu gom và xử lý rácthải Ưu điểm của các mô hình này là gắn chặt với đời sống, sinh hoạt của người dân,huy động sự tham gia của đông đảo cộng đồng Một số địa phương đã huy động hệthống các tổ chức chính trị, xã hội, cộng đồng dân cư cũng như nhiều cá nhân tích cựcxây dựng, triển khai và duy trì nhiều mô hình thu gom và xử lý rác rất hiệu quả, gópphần không nhỏ trong việc xử lý rác thải tại các làng nghề và khu vực nông thôn, ven
đô [1]
1.2.1 Các nghiên cứu trên Thế Giới
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng đặt ra những yêucầu mới trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và BVMT Theo dự báo của nhàkinh tế học người Anh Nicholar Stern, nếu nhiệt độ tăng lên 5-6oC, điều có thể xảy ravào thế kỷ tới, sẽ làm thiệt hại 5-10% GDP toàn cầu, với các nước nghèo là trên 10%GDP Thỏa thuận Pari về biến đổi khí hậu mở ra một kỷ nguyên phát triển phát thảicác-bon thấp với các mô hình sản xuất và tiêu dùng xanh, hạn chế sử dụng và tiến tớixóa bỏ nhiên liệu hóa thạch, tăng cường đầu tư phát triển và sử dụng năng lượng táitạo, thay đổi thế hệ công nghệ lạc hậu hiện tại, góp phần thực hiện các mục tiêu pháttriển bền vững Các khái niệm về “dấu chân sinh thái”, “dấu vết các bon” đang ngàycàng được các quốc gia coi trọng, sử dụng như hàng rào kỹ thuật trong thương mạiquốc tế
- Phát triển bền vững tiếp tục được coi mục tiêu phát triển trọng tâm của thế giớitrong những thập niên tới với việc Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc được tổ chứctại New York năm 2015 vừa qua đã thông qua Chương trình nghị sự 2030 về Pháttriển bền vững, trong đó xác định 17 mục tiêu và 169 chỉ tiêu phát triển bền vững [4].Trên thế giới, từ những năm đầu thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiêncứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Môhình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928) Năm
1964, tổ chức WCCI ( Worl crafts council International – Hội đồng Quốc tế về nghềthủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của cácquốc gia có nghề thủ công truyền thống [9]
Trang 18Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giảipháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trongkhu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là TrungQuốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm
1978, việc thành lập và duy trì xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30%
đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn [9]
Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyềnthống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyềnthống dựa theo “ Luật nghề truyền thống” (Trần Minh Yến, 2003) [9]
Đặc biệt, “việc sử dụng cộng đồng như những nhà quản lý môi trường khôngchính thức và tính cộng đồng là công cụ bảo vệ môi trường đã được thực hiện thànhcông ở một số nước trong khu vực và thế giới bằng các hình thức khác nhau Cũngtheo Đặng Đình Long, các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới đã chứng minh rằng,dựa trên sức ép của cộng đồng, có thể cải thiện được lượng phát thải tại các cơ sở gây
ô nhiễm
Một số quốc gia đã thực hiện thành công cách quản lý này như: Colombia, TrungQuốc, Hàn Quốc, Philippin, Banglades, Malaysia, Indonesia
Ở Indonesia, dưới áp lực của cộng đồng địa phương bằng việc phát đơn kiện các
cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, qua đó chính phủ và các cơ quan kiểm soát ô nhiễm làmtrung gian đứng ra giải quyết, buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải đền bù cho cộng đồng
và có những giảm thiểu ô nhiễm
Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước, Xã hội dân sự và cộng đồngtrong quản lý môi trường cũng như giải quyết xung đột môi trường Đây là các giảipháp mang tính bền vững cho sự phát triển của xã hội
1.2.2 Nghiên cứu về làng nghề ở Việt Nam
Môi trường nước ta đang chịu nhiều áp lực lớn từ các hoạt động phát triển kinh tế
- xã hội trong nước, sức ép cạnh tranh của quá trình hội nhập quốc tế cùng các tácđộng xuyên biên giới Hàng năm, có hơn 2.000 dự án đầu tư thuộc đối tượng phải lậpbáo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nếu không được đánh giá một cách đầy
đủ, toàn diện và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát hiệu quả thì sẽ là
Trang 19những nguy cơ rất lớn đến môi trường Các vấn đề môi trường theo dòng chảy sông
Mê Công, sông Hồng, các sông xuyên biên giới ngày càng phức tạp Việc xây dựngcác dự án thủy điện của một số quốc gia trên dòng chính sông Mê Công đã và đang cónhững tác động, ảnh hưởng lớn đến vùng đồng bằng sông Cửu Long
Bên cạnh đó, trên cả nước hiện có:
- 283 khu công nghiệp (KCN) với hơn 550.000m3 nước thải/ngày, đêm; 615 cụmcông nghiệp (CCN) trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung;các CCN còn lại, hoặc các cơ sở sản xuất tự xử lý nước thải hoặc xả trực tiếp ra môitrường
- Hơn 500.000 cơ sở sản xuất trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môitrường, công nghệ sản xuất lạc hậu;
- Hơn 13.500 cơ sở y tế hàng ngày phát sinh hơn 47 tấn chất thải nguy hại và125.000 m3 nước thải y tế;
- Có 787 đô thị với 3.000.000 m3 nước thải ngày/đêm nhưng hầu hết chưa được
xử lý; lưu hành gần 43 triệu mô tô và trên 2 triệu ô tô tạo ra nguồn phát thải lớn đếnmôi trường không khí
- Hàng năm, có 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng Trong đó,khoảng 80% lượng thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng không đúng quy định;hiệu suất sử dụng chỉ đạt 25-60%; công tác thu gom, lưu giữ và xử lý bao bì chưa đượcquan tâm, nhiều nơi thải bỏ ngay tại đồng ruộng gây phát sinh mùi, khí thải
- Hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn
630 nghìn tấn chất thải nguy hại; hiện có 458 bãi chôn lấp rác thải, trong đó có 337 bãichôn lấp không hợp vệ sinh; có hơn 100 lò đốt rác sinh hoạt công suất nhỏ, có nguy cơphát sinh khí dioxin, furan
Đó là những nguồn tác động rất to lớn đến môi trường ở nước ta
Nhận thức rõ những thách thức, áp lực rất lớn nêu trên, Đảng và Nhà nước đã rấtquan tâm chỉ đạo công tác BVMT Chính sách, pháp luật về BVMT từng bước được
bổ sung và hoàn thiện Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên
và BVMT Quốc hội đã thông qua Luật BVMT năm 2014, Luật Đa dạng sinh học năm
Trang 202018 Việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật, các công cụ, biện pháp quản
lý nhà nước về BVMT được đẩy mạnh Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường.Tính từ năm 2016 đến nay đã phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính đối với 2.229
tổ chức, đồng thời buộc các đối tượng vi phạm thực hiện các biện pháp khắc phục hậuquả và bồi thường thiệt hại Qua đó, nhiều vấn đề môi trường đã được xử lý, mức độgia tăng ô nhiễm môi trường chậm lại
Các nghiên cứu về quản lý môi trường làng nghề
Trần Thị Minh Nguyệt (2008) “Quản lý nhà nước với phát triển nghề và làng nghề
Hà Tây giai đoạn hiện nay” đã nghiên cứu các lý thuyết tổng quan về nghề truyền thống,
làng nghề, vai trò của làng nghề với kinh tế, văn hoá, xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến
nó Thông qua các phương pháp thu thập dữ liệu từ các báo cáo khoa học, Internet, tạp chíkết hợp với khảo sát thực tế, luận văn đã chỉ ra được những mặt thành công và hạn chếtrong việc phát triển nghề và làng nghề Hà Tây trong giai đoạn hiện nay và những vấn đềđặt ra cần giải quyết trong thời gian tới [9]
Phan Văn Tú (2011) “Các giải pháp để phát triểnlàng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như thu thập thực
tế tại làng nghề, thống kê, tổng hợp kết hợp với chi tiết hóa, đối chiếu và so sánh nhằmnghiên cứu các lý thuyết về làng nghề, phân loại và các nhân tố ảnh hưởng đến pháttriển làng nghề cũng như kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương trên
cả nước, từ đó nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghề ở thành phố Hội An và
đề xuất các giải pháp để phát triển các làng nghề này Từ đó thấy thực trạng phát triểnlàng nghề ở Hội An hiện nay còn thiếu tính bền vững, hiệu quả kinh tế xã hội còn thấp,cần thiết phải có sự quan tâm, đầu tư của cơ quan nhà nước và các tổ chức doanhnghiệp
Ngô Thành Trung (2014) “Quản lý nhà nước đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, đã nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các làng nghề trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh bao gồm thực trạng hoạch định và thực thi đường lối, mục tiêuphát triển làng nghề, công tác quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Việcban hành, triển khai các quy định pháp lý làm cơ sở cho QLNN đối với làng nghề, cácchính sách hỗ trợ và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các làng
Trang 21nghề trên địa bàn tỉnh Tác giả đã đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao năng lựcQLNN đối với các làng nghề thuộc tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 – 2020 [10].
Những công trình nghiên cứu trên đây tập trung về các khía cạnh phát triển làngnghề, nghề truyền thống, phát triển du lịch làng nghề, xây dựng khu du lịch sinh tháigắn với nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương khác nhau trên cả nước trongkhoảng thời gian 2008 – 2013 Thông qua các phương pháp chính là thu thập và xử lý
dữ liệu, các nghiên cứu trên đã chỉ ra được những mặt thành công và những khó khăntrong công tác phát triển sản phẩm truyền thống, phát triển làng nghề và quy hoạch dulịch làng nghề đồng thời đề xuất các hướng giải pháp trong thời gian tới
Trang 22CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI XÃ HỒNG QUANG,
HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Xã Hồng Quang nằm ở phía bắc huyện Nam Trực, cách trung tâm huyện lỵ 5km
và có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp xã Tân Thịnh
- Phía Tây giáp xã Nam Cường, xã Nam Vân,TP Nam Định
- Phía Nam giáp xã Nam Cường, Nam Hùng,Nam Hoa
- Phía Bắc giáp xã Nam Toàn, Điền Xá
Hình 2.1 Bản đồ hành chính xã Hồng Quang [14]
Đặc điểm địa hình, tài nguyên đất
- Địa hình xã Hồng Quang tương đối bằng phẳng thoải dần từ bắc xuống namchia thành 3 cấp: Vàn cao, Vàn, Vàn trũng; đất đai màu mỡ phù hợp với phát triển
Trang 23kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất, các công trình phúc lợi như điện, đường, trường,trạm tạm cơ bản được đầu tư xây dựng.
* Đất đai của xã Hồng Quang thuộc loại phù sa trẻ được bồi đắp bởi hệ thốngsông Hồng, có lượng phù xa tương đối lớn
Tầng đất nông nghiệp khá dày (từ 40-75cm) tầng canh tác từ 10-15 cm
Thành phần cơ giới cơ bản là thịt trung bình đến thịt lạc, đất thường chua tớichua nhiều, các yếu tố dinh dưỡng khác đều ở mức trung bình khác
Diện tích đất tự nhiên la 1055.28 ha trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp : 754,20 ha
Đất phi nông nghiệp: 299,71 ha
Điều kiện thời tiết khí hậu
-Là xã chịu ảnh hưởng chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưanhiều, hàng năm chia thành bốn mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông)
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 độ C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6
có ngày lên tới 39 độ C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (âm lịch)
có ngày xuống tới 5 độ C
*Lượng mưa phân bố không đều trong năm:
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1,700mm
- Lượng mưa năm lớn nhất: 1,800mm
Trong năm, mưa phân bố không đều, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếmkhoảng 75% lượng mưa cả năm, đặc biệt là vào tháng 7,8,9 Do lượng mưa không đềunên vào mùa mưa thường có úng lụt gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này lượng mưa chiến khoảng 25% lượng mưa
cả năm
Hướng gió hàng năm hình thành là gió Nam và gió Đông Nam nhưng thay đổitheo mùa Mùa Đông phần lớn là gió Đông Bắc sau chuyển dần sang hướng Đông.Mùa Hạ thường chịu ảnh hưởng của gió Lào (gió Tây) kết hợp nắng nóng gây tác độngxấu đến cây trồng và vật nuôi
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình trong năm từ 75-85%, có tháng cao
Trang 24nước triều cường [14]
2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
2.2.1 Nông nghiệp – phát triển nông thôn:
a Về trồng trọt:
Theo báo cáo tổng kết năm 2017 của UBND Xã Hồng Quang, tổng diện tích gieotrồng là 691,9 ha; Trong đó: cấy lúa 631,2 ha, năng suất lúa bình quân cả năm đạt 90tạ/ha, bằng 75% kế hoạch (Vụ xuân đạt 65 tạ/ha, lúa mùa đạt 25 tạ/ha); sản lượnglương thực cả năm ước đạt 5.751 tấn, bằng 77% kế hoạch năm; giá trị thu nhập từ sảnxuất nông nghiệp bình quân trên một ha đất canh tác đạt 90 triệu đồng/năm, bằng 86%
kế hoạch năm
b Chăn nuôi:
UBND xã đã chỉ đạo tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên đàngia súc, gia cầm Tiêm phòng vụ xuân, vụ thu đạt và vượt kế hoạch đề ra, không đểdịch bệnh phát sinh trên địa bàn Sản lượng thịt hơi ước đạt 1.000 tấn
c Xây dựng nông thôn mới:
Hoàn thành các hạng mục công trình: Xây dựng 4 phòng học tầng 2 trường Mầmnon Nam Chấn, 6 phòng học 2 tầng trường Tiểu học Nam Chấn, cải tạo nâng cấptrường Mầm non Nam Quang và nhiều hạng mục công trình khác đã nghiệm thu đưavào sử dụng
2.2.2 Lao động
Cũng như các vùng nông thôn khác trên cả nước, lực lượng lao động nông thôn
Trang 25của xã tương đối dồi dào, với số dân trông độ tuổi lao động năm 2012 là 8000 ngườichiếm 55,67% dân số, qua 3 năm dân số trong độ tuổi lao động ngày càng tăng cụ thểđến năm 2014 số người trong độ tuổi lao động là 8672 người Khi đó vấn đề đặt ra làlàm thế nào, đào tạo nghề ra sao để giải quyết được việc làm cho số lao động tăng lênhằng năm Trong những năm gần đây cùng với những chính sách phát triển kinh tế xãhội của tỉnh cũng như của xã đã tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệtphải kể đến là chính sách khôi phục phát triển các nghề truyền thống mà địa phương
có thế mạnh Các ngành nghề được mở rộng và phát triển đã tạo công ăn việc làm chomột bộ phận lao động nông nghiệp tận dụng được thời gian nhàn rỗi để nâng cao thunhập cuộc sống
Từ đây cho thấy, sự gia tăng dân số cũng như sự biến đổi về cơ cấu lao động trên địabàn toàn xã đang theo hướng tích cực phù hợp với quy luật chung của đất nước Tuy nhiên,
để tạo ra những chuyển biến vượt bậc về mọi mặt của đời sống nhân dân thì chính quyền xãcần có những phương hướng, giải pháp cụ thể để nâng cao nhận thức và tay nghề cho ngườilao động tại địa phương
2.2.3 Giao thông
Mạng lưới giao thông là yếu tố quan trọng hàng đầu, tạo điều kiện cho việc giaolưu và phát triển kinh tế xã hội Hiện trạng diện tích đất giao thông của toàn xã là68,16 ha, tiêu biểu các tuyến giao thông chính sau:
+ Đường Quốc lộ 21 với tổng chiều dài 1,7 Km, nền đường rộng trung bình 12
m, mặt đường trải nhựa Đây chính là đầu mối quan trọng cho việc giao lưu buốn bánhàng hoá, phát triển ngành kinh doanh, dịch vụ vv
+ Tuyển Tỉnh: trên địa bàn xã có đường Tỉnh lộ 488( đường Châu Thành) chạyqua với tổng chiều dài 4,2 Km, nền đường rộng trung bình 8 m, mặt đường trải nhựa + Tuyến huyện: Đường An Thắng với tổng chiều dài 0,7 Km, nền đường rộngtrung bình 5 m, mặt đường trải nhựa, do quá trình lưu thông, vận chuyển, quá trình bàomòn của thời gian hiện trạng đường An Thắng đang xuống cấp nhiều đoạn xuống cấptrầm trọng gây nguy hiểm cho sự vận chuyển, lưu thông trên đường
+Tuyến xã như đường CT 14 và mạng lưới giao thông liên xã, liên thôn trongnhững năm qua đã được cải tạo và làm mới, nhiều tuyến đường đã được rải nhựa, rải
Trang 26đá, bê tông hoá…vv, tuy nhiên trước nhu cầu về phát triển kinh tế, xã hội, mạng lướigiao thông đường bộ hiện tại vẫn chưa thực sự đáp ứng nhu cầu đi lại và phát triển sảnxuất cho nhân dân trong xã một cách hữu hiệu Dự kiến trong thời gian tới cần nângcấp, tu sửa và mở rộng một số tuyến đường đảm bảo phục vụ nhu cầu đi lại của nhândân trong xã được tốt hơn.
+ Tuyến nội đồng: Mạng lưới giao thông nội đồng cũng rất quan trọng trong quátrình thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Để đẩy nhanh tiến độ CNH-HĐH trong sản xuấtnông nghiệp thì mạng lưới giao thông nội đồng phải được nâng cấp, kết nối với cáctrục đường chính để đảm bảo cho việc vận chuyển được lưu thông Hiện trạng cáctuyến đường nội đồng còn nhỏ, hẹp chưa có quy mô nên trong giai đoạn tới cần được
mở rộng và cải tạo một số tuyến chính để phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp đượctốt hơn
2.2.4 Thuỷ lợi
Hiện trạng diện tích đất thủy lợi của xã là 93,07 ha, hệ thống thủy lợi của xãHồng Quang cũng tương đối hoàn chỉnh, ngoài hệ thống các con sông chính như sôngChâu Thành, sông An Lá còn kết hợp với hệ thống kênh mương cấp I, II, III như kênh
CT 11 đến CT 17 là nơi cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng, đáp ứng toàn bộdiện tích đất canh tác trên địa bàn xã
Hệ thống sông ngòi, kênh mương được bố trí từ rất sớm và khá hoàn chỉnh đủđáp ứng cho nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Để duy trì và tiếp tụchoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi phải đặt trọng tâm vào củng cố các bờ kênh mương, khơithông dòng chảy Do vậy trong thời gian tới định hướng của xã sẽ mở rộng, làm mới,
tu sửa, nạo vét, kết hợp với kiên cố hoá một số tuyến mương, xây dựng một số trạmbơm mới để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
2.2.5 Giáo dục và đào tạo
Công tác giáo dục đào tạo luôn được Đảng bộ quan tâm lãnh đạo, các nhàtrường đã có nhiều cố gắng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học 5 năm qua đã thuđược nhiều kết quả tốt Hệ thống giáo dục, đào tạo trên địa bàn xã tương đối đồng đềugồm:
- Khối Mần Non gồm 02 trường ( Trường MN Nam Quang): Tổng diện tích: 0,65
Trang 27ha; Số phòng học: 23 phòng; Số trẻ đến trường: 150 cháu.
Trong thời gian tới phấn đấu xây dựng thêm trường Mầm non tập trung với cơ sở
hạ tầng kỹ thuật tiến tiến chuẩn hóa giai đoạn 2 đáp ứng được nhu cầu nuôi dậy trẻtrong tương lai
- Khối Tiểu Học gồm 02 trường ( Trường Tiểu học Nam Chấn, Nam Quang):Tổng diện tích: 1,46 ha ; Số phòng học: 45 phòng; Số học sinh: 1249 người; Tỷ lệhọc sinh tốt nghiệp: 100%
Trong nhiều năm trường đạt danh hiệu tiên tiến, trong thời gian tới trường phấnđấu đạt chuẩn giai đoạn 1
- Khối Trung học cơ sở gồm 02 trường ( Trường THCS Nam Quang, Nam Chấn):Tổng diện tích: 1.65 ha; Số phòng học: 66 phòng; Số học sinh: 1336 người; Tỷ lệ họcsinh tốt nghiệp: 100%
Trường THCS Nam Quang nhiều năm liền đạt danh hiệu tập thể lao động tiêntiến, Trường THCS Nam Chấn đã từng được UBND tỉnh Nam Định cấp bằng côngnhận trường trung học đạt chuẩn Quốc Gia và một số các thành tích khác, trong thờigian tới trường phấn đấu duy trì những thành tích đã đạt được và từng bước nâng caogiáo dục toàn diện
2.2.6 Y tế
Y tế xã đã làm tốt công tác tuyên truyền, thực hiện tốt các mục tiêu chương trình
y tế Quốc gia, khám chữa bệnh cho nhân dân và tiêm chủng mở rộng (100% trẻ emdưới 6 tuổi được tiêm chủng) Thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh ở các cơ sở,công tác khám chữa bệnh thông thường, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dântrong xã đã được kịp thời, vệ sing môi trường và an toàn thực phẩm được thườngxuyên quan tâm
Toàn xã có 1 trạm y tế với diện tích đất 0,45 ha, gồm 07 phòng khám và chữabệnh Đội ngũ cán bộ y tế xã gồm 7 người trong đó có 1 bác sỹ, 4 y sỹ và 2 nữ hộ sinh
đã được tăng cường có chuyên môn và trách nhiệm cao, cơ sở vật chất gồm 6 giườngbệnh, trang thiết bị được đầu tư, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sứckhoẻ của nhân dân
Trang 28Mục tiêu sắp tới là tăng cường hơn nữa việc giám sát phát hiện bệnh dịch vàphòng ngừa, ngăn chặn kịp thời không để dịch bệnh xảy ra trên địa bàn Thường xuyêntuyên truyền, mở rộng vệ sinh ATTP, khám và chữa bệnh cho nhân dân giảm tải chotuyến trên, thực hiện các chương trình mục tiêu về đảm bảo sức khoẻ cho nhân dântrong xã [5].
2.3 Thông tin chung về tình hình sản xuất và thực trạng môi trường tại các làng nghề huyện Nam Trực.
Huyện Nam Trực có tổng diện tích tự nhiên là 16.170,9 ha; bao gồm 19 xã và 1thị trấn (thị trấn Nam Giang) Thị trấn Nam Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, vănhóa của huyện và cách thành phố Nam Định khoảng 9 km Vị trí địa lý khá thuận lợicủa huyện Nam Trực tạo tiềm năng và là điều kiện quan trọng để huyện Nam Trựcphát triển kinh tế năng động, đa dạng; đặc biệt là ngành tiểu thủ công nghiệp
Tại Quyết định số 1470/QĐ-UBND ngày 01/10/2012 của UBND tỉnh Nam Định
đã công nhận đợt 1 năm 2012 cho huyện Nam Trực có 03 nghề truyền thống, 07 làngnghề và 03 làng nghề truyền thống Ngoài ra còn khoảng 08 làng nghề chưa được côngnhận Làng nghề của huyện tập trung vào các ngành nghề sản xuất cơ khí, dệt may,trồng cây cảnh, tái chế nhựa, chế biến lương thực thực phẩm và trồng dâu nuôi tằm.Trong những năm qua, số lượng, quy mô các làng nghề có nhiều thay đổi để phùhợp với sự phát triển của thị trường thay đổi Một số làng nghề, ngành nghề đã bị maimột do nhu cầu thị trường giảm sút; nhiều ngành nghề không phải nghề truyền thốngnay được du nhập tạo thành ngành nghề mới Tỷ lệ các hộ gia đình chuyển đổi thànhcác doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần có chiều hướng gia tăng,đặc biệt tại các làng nghề được quy hoạch đã triển khai mô hình sản xuất tập trung táchrời khỏi khu dân cư Nhưng do tác động của suy thoái kinh tế thế giới và trong nước,hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình và các thành phần kinh tế kháctrong làng nghề gặp rất nhiều khó khăn Đơn đặt hàng ngày một giảm, sản xuất ngưngtrệ, tình trạng thiếu việc làm diễn ra ở nhiều làng nghề
Làng nghề có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của địaphương cũng như sự phát triển chung của đất nước; góp phần giải quyết việc làm, tăngthu nhập, ổn định đời sống của nhân dân, tăng thu ngân sách cho địa phương Tuy
Trang 29nhiên hoạt động sản xuất làng nghề mang tính tự phát, nhỏ lẻ; thiết bị thủ công, đơngiản; công nghệ lạc hậu; mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp; ý thức người dân làng nghề trongviệc bảo vệ môi trường còn thấp dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra phổbiến tại các làng nghề và đang có tác động tiêu cực tới đời sống, sức khỏe của ngườidân.
Trong số các làng nghề đã được công nhận và chưa được công nhận trên địabàn huyện Nam Trực có các làng nghề giúp cải thiện môi trường như làng nghề trồnghoa cây cảnh ở xã Nam Mỹ và xã Điền Xá; nhưng bên cạnh đó có làng nghề trong quátrình sản xuất phát sinh chất thải có tác động tiêu cực tới môi trường xung quanh đặcbiệt là làng nghề tái chế nhựa, tái chế nhôm và cơ khí Cụ thể làng nghề tái chế nhựatại xã Nam Mỹ, tái chế nhựa thôn Báo Đáp xã Hồng Quang, làng nghề cơ khí BìnhYên – xã Nam Thanh, làng nghề Vân Chàng, Đồng Côi, thôn Tư của TT Nam Giang[11]