MỞ ĐẦUCông ty cổ phần là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn, được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lí. Công ty cổ phần ra đời đáp ứng được nhu cầu cần sự liên kết vốn,chia sẻ gánh nặng rủi do kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.Trong công ty cổ phần,vấn đề chuyển nhượng cổ phần là một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty, vấn đề này được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2014 và một số văn bản khác. Để tìm hiểu rõ vấn đề này em xin chọn đề bài số 03: “Phân tích quy định của pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần”NỘI DUNGI.Khái niệm chung1.Cổ phần1.1.Khái niệmTheo Điểm a Khoản 1 Điều 100 Luật DN 2014: “ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần” trong đó theo Khoản 29 Điều 4 Luật DN 2014 “vốn điều lệ là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã đăng kí mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần”.1.2.Phân loạiTheo Điều 113 Luật DN 2014 thì công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông và có thể có cổ phần ưu đãi.Cổ phần phổ thông có thể hiểu là cổ phần hưởng lãi và chịu lỗ dựa trên kết quả hoạt động của công ty. Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông.Cổ phần ưu đãi gồm các loại: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định (Khoản 1 Điều 116 LDN).Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức.(Khoản 1 Điều 117 LDN).Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại.(Khoản 1 Điều 118 LDN).2.Cổ phiếuCổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó (Khoản 1 Điều 120 LDN).3.Chuyển nhượng cổ phầnCổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.(Khoản 1 Điều 126 LDN).II.Quy định của pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần1.Điều kiện chuyển nhượng cổ phần1.1.Cổ phần phổ thôngTheo Điểm d Khoản 1 Điều 114 LDN 2014 thì Cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 119 và Khoản 1 Điều 126 của Luật này,các trường hợp loại trừ này cụ thể như sau:Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó. Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sở dĩ cần phải có hạn chế chuyển nhượng này là vì :Thứ nhất, trong thời gian 3 năm đầu mới thành lập công ty chưa có nền tảng vững chắc, nếu cổ đông sáng lập được quyền chuyển nhượng cổ phần phổ thông mà họ đã đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổ phần được quyền chào bán tại thời điểm đăng kí doanh nghiệp có thể khiến người được chuyển nhượng trở thành cổ đông sáng lập. Khi đó cổ đông sáng lập ban đầu có thể rủ bỏ trách nhiệm với công ty. Quy định này sẽ gắn chặt trách nhiệm của cổ đông sáng lập với công ty, giúp nhằm bảo vệ các nhà đầu tư, Đây chính là một quy định mang tính ràng buộc nghĩa vụ vật chất của cổ đông sáng lập với người mua nhằm tránh tình trạng tuyên truyền lừa đảo. Thứ hai, việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập liên quan đến quyền biểu quyết nên không thể tự do chuyển nhượng cho cổ đồng không phải cổ đông sáng lập mà cần thông qua Đại hội đồng cổ đông.Nếu Điều lệ công ty quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Đây là điểm mới mà LDN 2005 không có, quy định này giúp tăng quyền quyết định công ty của các thành viên sáng lập khi họ quy định Điều lệ công ty có quy định về hạn chế chuyển nhượng..
Trang 1MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn, được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lí Công ty cổ phần
ra đời đáp ứng được nhu cầu cần sự liên kết vốn,chia sẻ gánh nặng rủi do kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.Trong công ty cổ phần,vấn đề chuyển nhượng cổ phần là một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty, vấn đề này được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2014 và một số văn bản khác Để
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN MÔN:
PHÁP LUẬT CHỦ THỂ KINH DOANH
Đềtàisố 03
“Phân tích quy định của pháp luật về chuyển nhượng cổ phần
trong công ty cổ phần”
Họvàtên: LÊ ĐĂNG VINH
Ngày, tháng, nămsinh:10/02/2000 Lớp:LKTK23B
MSV:18A51010100
Ngành: Luật Kinh Tế
HàNội- 2020
Trang 2tìm hiểu rõ vấn đề này em xin chọn đề bài số 03: “Phân tích quy định của pháp luật về
chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần”
NỘI DUNG
I Khái niệm chung
1 Cổ phần
1.1 Khái niệm
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 100 Luật DN 2014: “ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần” trong đó theo Khoản 29 Điều 4 Luật DN 2014 “vốn điều
lệ là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã đăng kí mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần”
1.2 Phân loại
Theo Điều 113 Luật DN 2014 thì công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông và có thể
có cổ phần ưu đãi
Cổ phần phổ thông có thể hiểu là cổ phần hưởng lãi và chịu lỗ dựa trên kết quả hoạt động của công ty Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông
Cổ phần ưu đãi gồm các loại: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định (Khoản 1 Điều 116 LDN)
- Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của
cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức
cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên
cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức.(Khoản 1 Điều 117 LDN)
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người
sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại.(Khoản
1 Điều 118 LDN)
2 Cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện
tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó (Khoản 1 Điều 120 LDN)
3 Chuyển nhượng cổ phần
Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.(Khoản 1 Điều 126 LDN)
II Quy định của pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần
1 Điều kiện chuyển nhượng cổ phần
1.1 Cổ phần phổ thông
Trang 3Theo Điểm d Khoản 1 Điều 114 LDN 2014 thì Cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 119 và Khoản 1 Điều 126 của Luật này,các trường hợp loại trừ này cụ thể như sau: Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sở dĩ cần phải có hạn chế chuyển nhượng này là vì :Thứ nhất, trong thời gian 3 năm đầu mới thành lập công ty chưa có nền tảng vững chắc, nếu cổ đông sáng lập được quyền chuyển nhượng cổ phần phổ thông mà họ đã đăng kí mua ít nhất 20% tổng số
cổ phần được quyền chào bán tại thời điểm đăng kí doanh nghiệp có thể khiến người được chuyển nhượng trở thành cổ đông sáng lập Khi đó cổ đông sáng lập ban đầu có thể rủ bỏ trách nhiệm với công ty Quy định này sẽ gắn chặt trách nhiệm của cổ đông sáng lập với công ty, giúp nhằm bảo vệ các nhà đầu tư, Đây chính là một quy định mang tính ràng buộc nghĩa vụ vật chất của cổ đông sáng lập với người mua nhằm tránh tình trạng tuyên truyền lừa đảo Thứ hai, việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập liên quan đến quyền biểu quyết nên không thể tự do chuyển nhượng cho cổ đồng không phải cổ đông sáng lập mà cần thông qua Đại hội đồng cổ đông
Nếu Điều lệ công ty quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng Đây là điểm mới
mà LDN 2005 không có, quy định này giúp tăng quyền quyết định công ty của các thành viên sáng lập khi họ quy định Điều lệ công ty có quy định về hạn chế chuyển nhượng
1.2 Cổ phần ưu đãi
1.2.1 Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Theo Khoản 3 Điều 116 LDN 2014 thì cổ đông sở hữu cổ phần này sẽ không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác Đối tượng sở hữu cổ phần này chỉ có thể là tổ chức được Chính phủ ủy quyền hoặc cổ đông sáng lập trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp, hết thời hạn này thì cổ phần ưu đãi biêu quyết của cổ đông sáng lập lại trở thành cổ phần phổ thông Quy định này phù hợp với đặc điểm của cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn số phiếu biểu quyết của cổ phần phổ thông Quy định không được chuyển nhượng cổ phần này giúp cho công ty có thể hoạt động ổn định, hạn chế tình trạng sự thay đổi cơ cấu thành phần và phương hướng hoạt động của công ty
1.2.2 Cổ phần ưu đãi cổ tức
Theo Điểm c Khoản 2 Điều 117 LDN 2014 thì việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức cũng giống như cổ phần phổ thông, nghĩa là cổ phần ưu đãi cổ tức được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác về việc hạn chế chuyển nhượng
cổ phần Quy định này có thay đổi so với LDN 2005 khi trước kia việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức không được LDN điều chỉnh mà hoàn toàn phụ thuộc vào Điều lệ công
ty Dù quy định này có thay đổi, Nhà nước đưa yếu tố pháp lí vào quy định trong chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức nhưng về mặt bản chất thì gần như không có sự thay đổi
Trang 4nhiều Mặc dù,quy định cổ phần ưu đãi cổ tức có thể được tự do chuyển nhượng những vẫn cần áp dụng quy định về chuyển nhượng theo Điều lệ công ty trước
Ví dụ: Khoản 3 Điều 8 Điều lệ công ty cổ phần Kinh đô quy định: “ Cổ phần chưa thanh toán đầy đủ không được chuyển nhượng và hưởng các quyền lợi liên đến quyền nhân cổ tức, quyền nhận cổ phiếu phát hành để tăng cốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, quyền mua cổ phiếu mới chào bán”.Như vậy vì Điều lệ công ty có quy định về chuyển nhượng cổ phần, trong đó có cả cổ phầnưu đãi cổ tức nên khi chuyển nhượng vẫn
áp dụng theo quy định của Điều lệ công ty
Sở dĩ cổ phần ưu đãi cổ tức được tự do chuyển nhượng trong khi cổ phần ưu đãi biểu quyết thì không được chuyển nhượng là do bản chất của từng loại cổ phần Cổ phần ưu đãi cổ tức mang lại lợi ích vật chất, tức là mang lại nhiều cổ tức hơn so với cổ phần khác,
cổ phần này không mang tính ảnh hưởng đến hoạt động của công ty bởi vì họ không có quyền biểu quyết, dự Đại hội cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Trong khi cổ phần ưu dãi biểu quyết giúp người có cổ phần này được nắm giữ quyền quyết định cao hơn, quyền này ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, đặc biệt ảnh hưởng lớn nhất khi công ty trong 3 năm đầu hoạt động
1.2.3 Cổ phần ưu đãi hoàn lại
Theo Khoản 2 Điều 118 cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng được chuyển nhượng tự do trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác về hạn chế chuyển nhượng cổ phần Tương
tự như cổ phần ưu đãi cổ tức,quy định này có thay đổi so với LDN 2005 khi trước kia việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức không được LDN điều chỉnh mà hoàn toàn phụ thuộc vào Điều lệ công ty Người sở hữu cổ phần này ngoài việc có quyền yêu cầu hoàn lại vốn góp hoặc việc hoàn lại sẽ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại thì họ cũng không có quyền liên quan ảnh hưởng hoạt động của công ty, tức là, họ cũng không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
1.3 Một số trường hợp khác
1.3.1 Đối với cổ phần phát hành riêng lẻ:
Theo nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán quy định: Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ đối với công ty chưa đại chứng , công ty đại chúng hay để chuyển đổi từ công ty TNHH sang công ty cổ phần dựa vào 4 điều kiện (Điều 4):
“a) Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chào bán và sử dụng vốn Phương án này phải xác định rõ mục đích, nhà đầu tư được chào bán hoặc tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chào bán, số lượng nhà đầu tư và quy mô dự kiến chào bán b) Tuân thủ về thời gian hạn chế chuyển nhượng và khoảng cách giữa các đợt chào bán theo quy định tại Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán;
c) Đáp ứng các điều kiện khác theo quy định pháp luật có liên quan trong trường hợp
tổ chức phát hành là doanh nghiệp thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;
Trang 5d) Tổ chức phát hành không phải là công ty mẹ của tổ chức được chào bán cổ phiếu; hoặc cả hai tổ chức này không phải là các công ty con của cùng một công ty mẹ.”
Khác với quy định trước đó trong Nghị định số 01/2010/NĐ-CP: công ty cổ phần khi phát hành riêng lẻ không được chuyển nhượng trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành Nhờ thế mà quyd dịnh này tháo gỡ được những khó khăn cho doanh nghiệp khi phát hành cổ phiếu riêng lẻ khi không hạn chế thời gian chuyển nhượng Thêm vào đó, cũng ngăn chặn được sự liên kết của những nhà đầu tư và những cổ đông lớn của doanh nghiệp cũng chính là những người có quyền quyết định chào bán riêng lẻ nhằm cố ý chấp nhận giảm giá trị vốn góp ở công ty để phát hành cổ phiếu với giá rẻ hơn giá trị nội tại của công ty nhằm chia lợi ích Như vậy vừa khắc phục được những hạn chế của nghị định
số 01/2010/NĐ-CP vừa đảm bảo được những kẽ hở trong nghị định số 58/2012/NĐ-CP
1.3.2 Đối với ngân hàng thương mại cổ phần:
Giống như công ty cổ phần nói chung: đối với cổ đông không phải thành viên sáng lập của ngân hàng, trong thời gian 3 năm kể từ ngày cấp giấy phép thành lập, chỉ được phép chuyển nhượng số cổ phần vốn góp của mình khi ngân hàng thành lập cho cổ đông khác của ngân hàng
Theo khoản 3, điều 36, nghị định 59/2009/ NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại thì các trường hợp chuyển nhượng cổ phần sau đây phải được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi chuyển nhượng:
“a) Các giao dịch mua bán mức cổ phần trọng yếu;
b) Các giao dịch mua bán cổ phần dẫn đến cổ đông đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu trở thành không sở hữu cổ phần trọng yếu và ngược lại.”
Một hạn chế chuyển nhượng khác quy định tại Khoản 4 Điều 36 nghị định 59/2009/NĐ-CP : Cổ đông cá nhân, cổ đông pháp nhân có người đại diện vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc trong thời gian đảm nhiệm chức danh và trong thời gian 01 năm, kể từ thời điểm không đảm nhiệm chức danh, được chuyển nhượng cổ phần nhưng phải giữ lại tối thiểu 50% tổng số cổ phần mà mình sở hữu vào thời điểm được Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc được Hội đồng quản trị
bổ nhiệm và phải có văn bản báo cáo Ngân hàng Nhà nước trước khi thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần tối thiểu 15 ngày làm việc đối với số cổ phần được phép chuyển nhượng VàKhoản 5 Điều 36 nghị định này quy định trong thời gian đang xử lý các hậu quả theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông do trách nhiệm cá nhân, các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc không được chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp các thành viên này:
- Là đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức bị sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản theo quy định pháp luật;
- Bị bắt buộc chuyển nhượng cổ phần theo quyết định của Tòa án Đồng thời, phải
có sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước nếu có sự chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ
1.3.3 Đối với nhà đầu tư nước ngoài
Theo khoản 5, điều 14, nghị định 01/2014/ NĐ-CP quy định về nhà dầu tư nước ngoài mua cổ phần tín dụng Việt Nam thì nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép chuyển nhượng
Trang 6cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 5 năm kể từ khi trở thành là nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam ghi trong văn bản chấp thuận tại Ngân hàng Nhà nước
Đồng thời tại khoản 6, điều 14, nghị định 01/2014/ NĐ-CP cũng có quy định nhà đầu
tư nước ngoài là tổ chức sở hữu 10% vốn điều lệ tại một ngân hàng Việt Nam chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 3 năm kể từ khi sở hữu 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam
2 Cách thức chuyển nhượng cổ phần
Theo khoản 2 Điều 126 quy định: “Việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng
hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán ”
2.1 Chuyển nhượng bằng hợp đồng theo cách thông thường
Đây hình thức chuyển nhượng mà các cổ đông chuyển nhượng cổ phần cho nhau hoặc chuyển nhượng cho người ngoài công ty thông qua trao đổi trực tiếp Tức là người bán và người mua tự gặp gỡ, thỏa thuận về giá cả, chất lượng cổ phần chào bán Thủ tục giao dịch do hai bên thỏa thuận theo quy định giao dịch dân sự mà đối tượng của hợp đồng này
là giấy tờ có giá.Trường hợp này, giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng
và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ kí Các hành vi khác như tặng cho, thừa kế cũng thuộc hình thức chuyển nhượng này
Thủ tục chuyển nhượng như sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ
Công ty cổ phần tiếp nhận hồ sơ và yêu cầu chuyển nhượng cổ phần của cổ đông
Bước 2: Kiểm tra hồ sơ chuyển nhượng cổ phần.
Nhân viên quản lý sổ cổ đông cho công ty tiến hành kiểm tra
Kiểm tra tính hợp lệ, tính pháp lý của chứng từ chuyển nhượng và thông tin liên quan đến chứng từ chuyển nhượng; đối chiếu số lượng cổ phần chuyển nhượng
Phân loại hồ sơ chuyển nhượng, những trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo luật doanh nghiệp 2014 và điều lệ công ty thì phải có phê duyệt của Hội Đồng Quản trị
Bước 3: Thu phí và cấp giấy xác nhận
Nếu hồ sơ chuyển nhượng đầy đủ và hợp lệ nhân viên tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng kí xác nhận trên giấy đề nghị chuyển nhượng
Tiến hành thu phí chuyển nhượng theo mức phí thỏa thuận
Bước 4: Lập phiếu hẹn cấp/ trả sổ cổ đông
Tùy theo mỗi công ty mà thời gian hẹn cấp/trả sổ cổ đông sẻ khác nhau
Bước 5: In sổ cổ đông
Bộ phận quản lý sổ cổ đông của công ty căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng để thực hiện bút toán chuyển nhượng: ghi tăng/gảm cổ phần trên Sổ cổ đông
Bước 6: Cấp/trả Sổ cổ đông
Trang 7Bộ phận quản lý sổ cổ đông cấp/ trả Sổ cổ đông cho bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng sau khi đã hoàn tất các thủ tục trên
2.2 Chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán
Theo Khoản 2, điều 126 LDN 2014 quy định: “ Trường hợp chuyển nhượng thông qua
giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.”
Các công ty cổ phần được bán cổ phần trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt về tính minh bạch tài chính, về khả năng sinh lời, phải được ủy ban chứng khoán thẩm định và phải tuân thủ các quy tắc kiểm toán theo pháp luật về chứng khoán
Thủ tục mua bán, chuyển nhượng chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán:
Bước 1:Nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch và thực hiện ký quỹ
Nhà đầu tư bắt đầu việc giao dịch của mình bằng cách liên hệ với công ty chứng khoán là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán để kí hợp đồng giao dịch Công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch cho khách hàng.Nhà đầu tư chứng khoán cần điền đầy đủ thông tin vào giấy yêu cầu mở tài khoản
Bước 2:Nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch
Nhà đầu tư muốn mua hay bán chứng khoán sẽ đến gặp công ty chứng khoán Sau
đó khách hàng kí hợp đồng ủy thác mua hoặc bán chứng khoán với công ty chứng khoán.Khách hàng đặt lệnh mua, bán chứng khoán với phòng tiếp thị bằng phiếu lệnh
Bước 3: Sở giao dịch thực hiện khớp lệnh:
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện khớp lệnh mua và lệnh bán và thông báo kết quả.Giá khớp được thông báo công khai và là giá thống nhất của bên mua và bên bán
Bước 4: Thông báo kết quả giao dịch:
Sở giao dịch chứng khoán sau mỗi đợt khớp lệnh sẽ thông báo kết quả cho lệnh được khớp đến công ty chứng khoán.Công ty chứng khoán xác nhận với đại diện giao dịch về kết quả giao dịch sau khớp lệnh
Bước 5: Hoàn thành quá trình chuyển nhượng:
Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán
Những quy định chặt chẽ này nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người mua, vì khi các công ty niêm yết bán cổ phần trên thị trường thì người mua không có điều kiện trực tiếp kiểm tra, đánh giá chất lượng hàng hóa Sự can thiệp của nhà nước trong việc phẩm định các công ty cổ phần đăng kí bán cổ phần là một chứng thực tin cậy để người mua trả giá mua hàng Người mua thực hiện việc mua cổ phần chỉ thông qua các thông tin được Nhà nước kiểm định Điều này cho thấy pháp luật về chứng khoán cần phải hết sức cụ thể, phải được thực hiện đầy đủ để bảo vệ lợi ích cộng đồng người mua
KẾT LUẬN
“Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh
Trang 8doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”1.Luật Doanh nghiệp
2014 đã khắc phục được phần nào những sai sót của Luật doanh nghiệp năm 2005 về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phầnVấn đề chuyển nhượng cổ phần trong công
ty cổ phần là một vấn đề không hề đơn giản, các nhà đầu tư và công ty cần phải tìm hiểu quy định của pháp luật cũng như năm bắt thông tin đầy đủ để tránh trường hợp hiểu nhầm, hiểu sai dẫn đến gây thiệt hại cho bản thân và nhà đầu tư
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật doanh nghiệp 2014
2 Nghị định 01/2014/ NĐ-CP
1
Nguyễn Ngọc Bích.Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong CTCP, Nxb Trẻ, 2003, tr.18
Trang 93 Các văn bản pháp luật và tài liệu khác