Bài viết giới thiệu về Mạng bayesian belief networks (BBNs), phần mềm áp dụng và các phạm vi ứng dụng của nó nhằm khuyến khích các nhà nghiên cứu Việt Nam trong quá trình áp dụng quản lý xây dựng.
Trang 1MẠNG BAYESIAN BELIEF NETWORKS (BBNs) VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRONG
QUẢN LÝ XÂY DỰNG
KS. NGUYỄN VĂN TUẤN, ThS. LƯU TRƯỜNG VĂN Trường Đại Học Bách Khoa Tp.HCM
GS. LÊ KIỀU Trường Đại Học Kiến Trúc Hà Nội
1. GIỚI THIỆU
Bayesian Belief Networks (BBNs) còn
gọi là Bayesian Networks (BNs) hay Belief
Networks (BNs) được phát triễn đầu tiên
vào cuối những năm 1970s ở Đại học
Stanford [1] BBNs là mô hình đồ thị
(graphical model) thể hiện mối quan hệ
nhân – quả (cause – effect) giữa các biến
BBNs chủ yếu dựa trên lý thuyết xác
suất có điều kiện hay còn gọi là lý
thuyết Bayes (Bayesian theory, hay Bayes’
theory) Chính vì thế, kỹ thuật này có
tên gọi là Bayesian Belief Networks
(BBNs) BBNs còn là một dạng của
biểu đồ ảnh hưởng (influence diagram),
kết hợp hài hòa giữa lý thuyết xác
suất và lý thuyết đồ thị để giải quyết
hai vấn đề quan trọng: tính không chắc
chắn và tính phức tạp, được ứng dụng
rộng rãi trong toán học và kỹ thuật [2]
Sơ đồ 1a, 1b trình bày mô hình minh
họa cho mạng BBNs
Sơ đồ 1a: Mô hình minh họa mạng BBNs [3]
Sơ đồ 1b: Mô hình minh họa mạng BBNs [3]
Cùng với các lý thuyết khác như
lôgic mờ (Fuzzy Logic), mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Networks ANNs), thuật toán gen (Genitic Algorithrs GAs)…,
BBNs là phương pháp chủ yếu dựa trên xác suất có điều kiện để dự báo
(prediction) hoặc chuẩn đoán (diagnosis)
một sự việc, một vấn đề đã, đang và sắp xảy Chẳng hạn, trong thiên nhiên, để dự báo nước lũ hay bão cho một khu vực nào đó, ta dựa vào dữ liệu của các lần xảy ra bão, lụt trước đó và
những bằng chứng (evidences) hiện tại
liên quan, xây dựng mô hình BBNs và từ đó ta có thể dự báo được có hay không việc xảy ra nước lũ hay bão và mức độ ảnh hưởng là như thế nào
Trong lĩnh vực xây dựng, BBNs dùng để dự báo, đánh giá rủi ro tiến
Trang 2độ, kinh phí, chất lượng, tai nạn lao
động Ngoài ra, BBNs còn được dùng
để chuẩn đoán trong y học; trong công
nghệ kỹ thuật, dự báo chất lượng của
các phần mềm máy tính, rủi ro tai nạn
đường sắt…[1], [8]
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Công thức Bayes
BBNs dựa trên lý thuyết xác suất
có điều kiện của Thomas Bayes, ông
này đã đưa ra qui luật cơ bản của xác
suất, do đó gọi là công thức Bayes [4]
Công thức đơn giản nhất như sau:
) (
) ( ) / ( ) / (
B P
A P x A B P B A P
Trong đó: A và B là hai sự kiện có
thể xảy ra và phụ thuộc với nhau P(A)
là xác suất của sự kiện A; P(B) là xác
suất của sự kiện B; P(B/A) là xác suất
có điều kiện của B khi biết trước A đã
xảy ra; và P(A/B) là xác suất có điều
kiện của A khi biết trước B đã xảy ra
2.2. Cấu trúc mạng BBNs
BBNs là mô hình trực tiếp mà mỗi
biến được đại diện bởi một nút (node),
mối quan hệ nhân quả giữa hai biến đó
được biểu thị bằng mũi tên được gọi
“edge” Mũi tên hướng từ nút nguyên
nhân “parent node” đến nút kết quả
“child node” Nút kết quả phụ thuộc có
điều kiện vào nút nguyên nhân Mỗi
nút (hay là biến) có một trạng thái
(state) tùy thuộc đặc trưng của biến đó
Cụ thể, theo sơ đồ 2, nút “tuyết rơi” là
nút nguyên nhân ảnh hưởng đến nút
kết quả “tình trạng con đường” và chúng
có những trạng thái tương ứng [3]
Trong quản lý dự án xây dựng,
cấu trúc BBNs trình bày ở sơ đồ 3 thể
hiện ảnh hưởng của “chủ đầu tư khó
khăn về tài chính” đến “sự chậm trễ
tiến độ công trình”
Sơ đồ 4, 5 thể hiện cấu trúc của mạng BBNs tổng quát hơn, phức tạp hơn
với nhiều nút (nodes) và nhiều cạnh liên kết (edges) [5], [4].
2.3. Bảng xác suất có điều kiện(CPT)
Mỗi nút luôn được gắn với một
bảng xác suất có điều kiện (conditional probability table: CPT) dựa vào những
thông tin ban đầu hay dữ liệu, kinh nghiệm trong quá khứ Ví dụ, mạng BBNs trong sơ đồ 2, CPT của các biến như sau (Bảng 1) [3]:
Parent node Child node
Precipitation Road Conditions
Impassable Passable
Chủ đầu tư khó khăn về tài chính
Sự chậm trễ tiến
độ công trình
Nút nguyên nhân
(parent node)
Nút kết quả
(child node)
Mũi tên liên kết
(edge)
Sơ đồ 3: Cấu trúc đơn giản của mạng BBNs trong xây
dựng
Sơ đồ 4: Cấu trúc mạng BBNs tổng quát
Trang 3None 0.05 0.95
Bảng 1: CPT của các biến “Road Conditions” của mạng BBNs theo sơ đồ 2
Trang 4cao [4]
Tuyết rơi
(Precipitation)
Tình trạng con đường
(Road conditions)
Nút nguyên nhân
(Parent node)
Nút kết quả
(Child node)
Trạng thái (state) + Không (none) + Nhẹ (light) + Nặng (heavy)
Trạng thái (state) + Đi qua được (passable)
+ Không qua được
(impassable)
Sơ đồ 2:Cấu trúc đơn giản của BBNs trong tự
nhiên[3]
edge
Trang 5Theo bảng 1, ta thấy: “nếu tuyết rơi
(Precipitation) ở trạng thái nhẹ (Light) thì
khả năng (hay xác suất) để con đường
(Road Conditions) có thể đi qua được
(Passable) là 90%; và không thể đi qua
được (Impassable) là 10%” [3].
Trong BBNs, nút mà không có
nguyên nhân ( no parent) gây ra nó thì
gọi là nút gốc (root node) CPT của nút
này gọi là xác suất ban đầu (prior
probability) Theo sơ đồ 2, CPT của nút
Precipitation (Hình 2) [3]:
Precipitation
Bảng 2: CPT của các biến
“Precipitation”
trong mạng BBNs theo sơ đồ 2
2.4. Phần mềm tính toán BBNs
Có rất nhiều phần mềm để hổ trợ
trong tính toán mạng BBNs, như là
BNet.Builder, Hugin Explorer, MSBNx (của
hãng Microsoft)… Có thể download tại
www.research.microsoft.com/adapt/MSBNx/
www.kdnuggets.com/software/bayesian.html/
www.hugin.dk/
www.cs.cmu.edu/~javebayes/
Bài báo này giới thiệu về phần
mềm MSBNX [4]
2.5. Các bước xây dựng mô hình
BBN
Xác định các biến và trạng
thái của chúng để đưa vào mô hình
Xác định mối quan hệ “nhân–
quả” giữa các biến dựa vào suy luận
logic, dữ liệu quá khứ…
Lập bảng xác suất có điều
kiện (CPTs) ứng với mỗi sự kết hợp
của biến nguyên nhân và bảng xác
suất ban đầu của chúng CPTs có thể xác định từ kinh nghiệm của chuyên gia, hoặc từ kết quả của mô hình khác…
Sau khi đã lập CPTs, đưa vào phần mềm để tính toán
2.6. Ứng dụng phần mềm MSBNX Xét mô hình ở sơ đồ 1a:
Giả sử ta có các CPTs như sau: 1- CPT của nút “Cloudy”:
Cloudy
2- CPT của nút “Spinkler”:
Parent nodes Child node
True False
3- CPT của nút “Rain”:
Parent nodes Child node
True False
Trang 64- CPT của nút “Wet Grass”:
Parent nodes Child node
Sprinkler Rain Wet Grass
True False
Các bảng xác suất có điều kiện CPTs
được đưa vào phần mềm MSBNX như sau:
Kết quả được thể hiện bằng mô
hình và các xác suất tương ứng ở sơ đồ
6 Dựa vào đó, ta thấy rằng, xác suất
để cho biến “WetGrass” ở trạng thái
“True” là 0.6471 và ở trạng thái “Fasle”
là 0.3529
Sơ đồ 6: Kết quả sau khi dùng phần mềm MSBNX để giải mạng BBNs ở sơ
đồ 1a.
3. CÁC ỨNG DỤNG CỦA BBNs
- William Marsh đã ứng dụng mạng BBNs (Bayesian Network) để mô hình hóa
kết quả rủi ro tai nạn trong công nghiệp đường sắt ở Vương quốc Anh [6]
- Martin Neil & Norman Fenton, Northampton Square đã ứng dựng BBNs
để dự báo chất lượng của phần mềm trong hội nghị hàng năm lần thứ 21 vào tháng 12, năm 1996 [7]
- Long D. Nguyen đã ứng BBNs để đánh giá rủi ro về tai nạn lao động khi làm việc trên cao ở công trường xây dựng Tác giả đã kiểm chứng tính hợp lý của mô hình bằng những công trình cụ thể ở San Francisco, California [4]
- Brian S G E Sahely; David M. Bagley đã chẩn đoán sự xáo trộn trong việc xử lý nước thải bị ô nhiễm bằng cách áp dụng mô hình BBNs [1]
- Isabel Milho, Ana Fred, Jorge Albano, Nuno Baptista, Poulo Sena đã ứng dụng
BBNs để chuẩn đoán bệnh trong y học [8]
Trang 7BBNs được ứng dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, cho nhiều
ngành khác nhau Tuy nhiên, trong quản
lý xây dựng, việc ứng dụng BBNs vẫn
còn nhiều hạn chế đối với cả thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng
BBNs có thể được sử dụng trong
quản lý dự án để dự báo, đánh giá
rủi ro về tiến độ, kinh phí, chất lượng, tai
nạn lao động… trong xây dựng Bản thân
nhóm tác giả cũng đang thực hiện một
đề tài với tựa đề “Nghiên cứu định
lượng rủi ro tiến độ xây dựng bằng
mô hình Bayesian Belief Networks” Hiện
đề tài nói trên đang trong giai đọan kết
thúc, kết quả nghiên cứu sẽ được công
bố trong vài tháng tới
Qua bài báo, nhóm tác giả mong
muốn giới thiệu về mạng BBNs, phần
mềm áp dụng và các phạm vi ứng
dụng của nó nhằm khuyến khích các
nhà nghiên cứu Việt Nam đi theo một
hướng nghiên cứu tuy “cũ người” nhưng
“mới ta” trong quản lý xây dựng Hy
vọng rằng, với sự phát triễn mạnh mẽ
và ưu điểm vượt trội, trong tương lai
không xa BBNs sẽ được đưa vào ứng
dụng trong quản lý xây dựng tại Việt
Nam như là một “vũ khí” lợi hại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Brian S G E Sahely; David M
Bagley (2001): “Diagnosing upsets in
anaerobic wastewater treatment using
Bayesian Belief Networks.” Journal of
Environmental Engineering 127(4)(2001)
[2] Murphy, K (2001): “ A brief
introduction to graphical models and Bayesian
Networks”
<www.cs.berkeley.edu/~murphyk/Bayes/bayes
.html/> October 14, 2001
[3] Charles River Analytics, Inc (2004):
“About Bayesian Belief Networks”.
[4] Long D Nguyen (2005): “Accident risks of working at heights in building construction: An Assessment Framework.”
Term project report, May 5, 2005
[5] Kevin P Murphy (2001): “An introdution to graphical models.”, 10 May
2001
[6] William Marsh, RADAR Group Queen Mary, University of London, Mile End Road, E1 4NS, London, UK
william@dcs.qmul.ac.uk: “Using Bayesian Networks to Model Accident Causation in the
UK Railway Industry”.
[7] Neil, M and Fenton, N (1996):
“Predicting software quality using Bayesian Belief Networks” Proceeding of 21st Annual
NASA/Goddard Space Flight Center, December 4-5, 1996
[8] Isabel Milho, Ana Fred, Jorge Albano, Nuno Baptista, Poulo Sena: “An Auxiliary System for Medical Diagnosis Based
on Bayesian Belief Networks”.