1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT CẠNH TRANH Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh

20 155 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 48,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Phần mở đầuCHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh _________1.1 Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh________________1.1.1 Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnh______________1.1.2 Đặc điểm Cạnh Tranh không lành mạnh___________________________1.2 Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh__________________________CHƯƠNG II .Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh và Kiện nghị hoàn thiện_________________________________________2.1 Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam________2.2 Xử lí Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh_________________________2.2.1 Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh__2.2.2 Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh___________________2.2.3 Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh______________2.3 Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật Cạnh tranh 2018____________________________________________________2.4 Kiến nghị hoàn thiện______________________________________________Kết luận___________________________________________________________Danh mục tài liệu tham_______________________________________________THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Phần mở đầuCạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động này thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội. Tuy nhiên, hoạt động cạnh tranh bao giờ cũng gây rất nhiều áp lực đối với các doanh nghiệp trên thương trường. Với mục đích duy trì sự tồn tại, mở rộng thị phần cũng như đạt lợi nhuận tối đa thì hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên khốc liệt hơn. Do đó, không ít doanh nghiệp đã dùng những thủ đoạn để cạnh tranh một cách không lành mạnh. Từ đó, yêu cầu có quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành là tất yếu, nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cho doanh nghiệp, đồng thời, xử phạt nghiêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vậy hiện nay, pháp luật Cạnh tranh quy định về hành vi cạnh trạnh không lành mạnh như thế nào? Sự thay đổi của Luật Cạnh tranh 2018 so với Luật Cạnh trạnh 2004 đã đủ để hoàn thiện các quy định còn thiếu sót hay chưa? Bài tiểu luận sau đây sẽ đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên nhằm làm rõ “Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Cạnh tranh cũng như giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trong nhóm hành vi “Cạnh tranh không lành mạnh”.CHƯƠNG I . KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.1Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh 1.1.1 Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnhCạnh tranh Theo từ điển tiếng Việt, “Cạnh tranh là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau”1. Đây là khái niệm chung cho “Cạnh tranh” trong nhiều mặt của đời sống xã hội. Cạnh tranh là một hoạt động thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội. Theo đó có thể hiểu Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh Cạnh tranh không lành mạnhtế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Về bản chất cạnh tranh kinh tế là sự chạy đua giữa các “doanh nghiệp” trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm thu hút, lôi kéo khách hàng về phía mình, cùng với mục định tối ưu hóa lợi nhuận có thể đạt được của doanh nghiệp. Vì thế nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh theo nhiều hình thái khác nhau, và một trong số đó là hình thái “Cạnh tranh không lành mạnh”. Vậy hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được hiểu như thế nào? Và nó sẽ có tác động như thế nào đến nền kinh tế thị trường?

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TIỂU LUẬN MÔN

LUẬT CẠNH TRANH

ĐỀ TÀI SỐ 17

Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Họ Tên :LÊ ĐĂNG VINH

Ngày tháng năm sinh : 10/02/2000

Lớp : LKTK23B

Ngành : Luật Kinh Tế

Mã sinh viên : 18A51010100

Hà Nội- 2020

Trang 2

MỤC LỤC

Phần mở đầu

CHƯƠNG I Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh _ 1.1 Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh 1.1.1 Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnh 1.1.2 Đặc điểm Cạnh Tranh không lành mạnh _ 1.2 Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh CHƯƠNG II Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh và Kiện nghị hoàn thiện _ 2.1 Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam 2.2 Xử lí Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh _ 2.2.1 Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2.2.2 Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh _ 2.2.3 Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2.3 Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật Cạnh tranh 2018 2.4 Kiến nghị hoàn thiện Kết luận _ Danh mục tài liệu tham _

Trang 3

THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH

VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

Phần mở đầu

Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế thị trường Hoạt động này thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội Tuy nhiên, hoạt động cạnh tranh bao giờ cũng gây rất nhiều áp lực đối với các doanh nghiệp trên thương

trường Với mục đích duy trì sự tồn tại, mở rộng thị phần cũng như đạt lợi nhuận tối đa thì hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên khốc liệt hơn Do đó, không

ít doanh nghiệp đã dùng những thủ đoạn để cạnh tranh một cách không lành mạnh Từ đó, yêu cầu có quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành là tất yếu, nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế cho doanh nghiệp, đồng thời, xử phạt nghiêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Vậy hiện nay, pháp luật Cạnh tranh quy định về hành vi cạnh trạnh không lành mạnh như thế nào? Sự thay đổi của Luật Cạnh tranh 2018 so với Luật Cạnh trạnh

2004 đã đủ để hoàn thiện các quy định còn thiếu sót hay chưa? Bài tiểu luận sau đây sẽ đi

tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên nhằm làm rõ “Quy định của pháp luật Việt Nam về

xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh” Qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm

hoàn thiện hệ thống pháp luật Cạnh tranh cũng như giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp

luật cạnh tranh trong nhóm hành vi “Cạnh tranh không lành mạnh”.

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.1Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

Trang 4

1.1.1 Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnh

Cạnh tranh Theo từ điển tiếng Việt, “Cạnh tranh là sự cố gắng giành phần hơn, phần

thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau”1 Đây

là khái niệm chung cho “Cạnh tranh” trong nhiều mặt của đời sống xã hội Cạnh tranh là một hoạt động thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội Theo đó có thể hiểu Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh Cạnh tranh không lành mạnhtế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Về bản chất cạnh tranh kinh tế là sự chạy đua giữa các “doanh nghiệp” trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm thu hút, lôi kéo khách hàng về phía mình, cùng với mục định tối ưu hóa lợi nhuận có thể đạt được của doanh nghiệp Vì thế nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi

cạnh tranh theo nhiều hình thái khác nhau, và một trong số đó là hình thái “Cạnh tranh không lành mạnh” Vậy hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được hiểu như thế nào?

Và nó sẽ có tác động như thế nào đến nền kinh tế thị trường?

Cạnh tranh không lành mạnh

Dựa trên tính chất của các hành vi cạnh tranh, có thể chia cạnh tranh thành hai hình thái là: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh lành mạnh là các hành vi cạnh tranh thực hiện tuân theo các nguyên tắc của pháp luật, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác của kinh doanh Cạnh tranh không lành mạnh là một hình thái đối lập với cạnh tranh lành mạnh về tính chất của hành vi Khi các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh mà trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác trong kinh doanh dẫn đến việc gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho quyền, lợi của các doanh nghiệp khác, thì đây được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Một hành vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh phụ thuộc vào các nguyên tắc cũng như tập quán thương mại hay các chuẩn mực khác trong kinh doanh Mặc khác sự vận động của xã hội và nhận thức của các quốc gia sẽ thay đổi

về các nguyên tắc, tập quán hay các chuẩn mực đó Vì vậy, khái niệm cạnh tranh không lành mạnh chỉ có tính chất tương đối

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm Cạnh Tranh không lành mạnh

Dựa trên khái niệm đã trình bày có thể thấy rõ ba đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Thứ nhất, Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh

Đặc điểm này thể hiện quy định về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh chỉ bao gồm các doanh nghiệp theo nghĩa rộng, thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề Những đối tượng còn lại như các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế… không là đối tượng áp dụng các quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh Nhưng trên thực tế vẫn có những trường hợp một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền thông, … thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp, Ví dụ: việc đưa tin sai sự thật về doanh nghiệp, về hàng hóa, dịch vụ… của các đơn vị truyền thông Với quy định trên, chủ thể thực hiện hành vi bị hạn chế nên pháp luật cạnh tranh không áp dụng để xử lý những tình huống trên Mặt khác, đặc điểm này cũng khẳng định hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế Nói cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực hoặc hoạt động kinh doanh nào của kinh tế quốc dân

Thứ hai, hành vi cạnh tranh trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại

và các chuẩn mực khác trong kinh doanh

Đây là căn cứ để xác định tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, phân biệt giữa cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Khi một hành vi cạnh tranh đi ngược với nguyên tắc thiện chí, trung thực hay tập quán tương mại hay các chuẩn mực khác trong kinh doanh thì đó được xem là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh Theo

sự phát triển của nên kinh tế thị trường thì các nguyên tắc cũng như chuẩn mực này sẽ thay đổi phụ thuộc theo sự phát triển đó Do đó, dựa trên căn cứ này thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ biến đổi cũng như thay đổi không ngừng trên thực tế mà khó có

Trang 6

thể định hình rõ ràng và đầy đủ về những hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Thứ ba, hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của

doanh nghiệp khác

Một hành vi cạnh tranh khi thực hiện gây ra thiệt hại thực tế hoặc có khả năng gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác Theo Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa liên bang của Đức, cấm “các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác” Luật Cạnh tranh thương mại của Vương quốc Thái Lan cũng có quy định tương tự: “Thương nhân không được tiến hành các hoạt động cạnh tranh không tự do và không bình đẳng, không được tiến hành các hoạt động gây thiệt hại, cản trở hoặc hạn chế đối với những hoạt động của những thương nhân khác…”2 Có thể thấy đây là đặc điểm để phân biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh so với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Trong khi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động của nhóm doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, hạn chế khả năng hành động độc lập của đối thủ cạnh tranh, làm thay đổi tình trạng và quy luật cạnh tranh trên thị trường Thoả thuận hạn chế cạnh tranh, không cần phải xác định chính xác đối tượng và mức độ thiệt hại vật chất cụ thể, chỉ cần phân tích bản chất và diễn biến của hành vi để kết luận về những tác động của

nó đến tình hình cạnh tranh trên thị trường liên quan Còn ở hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải xác định được mức độ gây thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại của hành

vi mà các chủ thể thực hiện

1.2 Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

Dưới góc độ kinh tế, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành

vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.3 Dựa trên bản chất đó có thể phân nhóm cho các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành ba nhóm:

Nhóm 1: Nhóm các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệo khác

Trang 7

Nhóm này được coi là nhóm các hành vi cạnh tranh điển hình nhất Nó được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt sử ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp Dạng hành vi này được coi là phổ biến, điển hình của cạnh tranh không lành mạnh Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam ghi nhận nhóm này có thể bao gồm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn hay hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh “Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn” thường xâm phạm đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý được in trên sản phẩm hàng hóa, hay dịch vụ của đối thủ cạnh tranh Mục đích của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là tạo nên sự nhầm lẫn của khách hàng về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng hóa, dịch vụ của chính doanh nghiệp mình “Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh” là tiếp nhận, thu thập, sử dụng, tiết lộ hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật, có hành vi lừa gạt hay lợi dụng người có nghĩa vụ bảo mật để có được thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu Hành vi này nhằm chiếm đoạt, sử dụng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp khác

Nhóm 2: Nhóm các hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác

Nhóm hành vi này có chung bản chất là công kích vào các đối thủ cạnh tranh Có thể là hành vi để triệt tiêu, hành vi làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh Hành vi nhóm này thường được thực hiện dưới các hình thức rất đa dạng, nó phụ thuộc vào mục đích công kích Hành vi này có thể là đưa thông tin sai sự thật nhằm là giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hay lôi kéo, ép buộc khác hàng hay các đối tác của đối thủ cạnh tranh Hành vi ép buộc trong kinh doanh; hành vi gièm pha doanh nghiệp khác; hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác đây là các hành vi được ghi nhận trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam được ghi nhận nằm trong nhóm hành vi này

“Hành vi ép buộc trong kinh doanh” phương thức thực hiện hành vi này là dùng áp lực để

đe dọa

Nhóm 3: Nhóm các hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo

Trang 8

Bản chất của nhóm hành vi này là tạo ra lợi thế cạnh tranh giả tạo nhằm lối kéo khác hàng Khác hàng là đối tượng bị tác động trực tiếp trong nhóm hành vi này, về phía các doanh nghiệp khác chịu tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp khi bị mất đi nguồn khách hàng Pháp luật hiện hành của Việt Nam ghi nhận các hành vi thuộc nhóm này là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh và bán hàng đa cấp bất chính “Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể hiểu hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi quảng cáo trái pháp luật, trái với hiện thực, thực chất của hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bằng cách quảng cáo theo kiểu so sánh hàng hóa, dịch vụ, bắt chước sản phẩm quảng cáo khác, đưa thông tin gian dối cho khách hàng Đây là hành vi cạnh tranh xâm hại trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng

“Hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể thấy biểu hiện của hành

vi này là các hoạt động khuyến mại bất chính, không trung thực nhằm lừa dối để thu hút khác hàng về phía mình Cụ thể như hành vi tổ chức khuyến mại gian dối về giả thưởng, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ, … Các hành vi này có thể do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc được tiến hành thông qua thương nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ khuyến mại của mình “Hành vi bán hàng đa cấp bất chính” những quy định của pháp luật về hành vi này mục đích là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của những người tham gia mạng lướithực hiện cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với chính đối thủ cạnh tranh của mình Mục đích thực hiện hành vi là nhằm lôi kéo khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để họ ngừng giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch với doanh nghiệp

đó, làm giảm lượng khách hàng cũng như đối tác làm ăn của đối thủ cạnh tranh với mình

“Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác” đây là hành vi đưa thông tin sai sự thật về đối thủ cạnh tranh nhằm là suy giảm uy tín của đối thủ Hành vi này có thể hình thành dưới các dạng hình thức như nói xấu, bôi nhọ chất lượng hàng hóa, dịch vụ, cách thức bán hàng, hay tiềm lực tài chính của đối thủ cạnh tranh Hành vi này có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp không nhất thiết doanh nghiệp này phải có hành vi trực tiếp thực hiện hành

vi gièm pha “Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác” xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh, cụ thể là quấy phá, gây rối với các hoạt động kinh doanh

Trang 9

của đối thủ cạnh tranh Mục đích của hành vi này là cản trở, gián đoạn hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh Hành vi này có thể được doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc thông qua một chủ thể khác thực hiện, hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh,bán hàng đa cấp, cũng như hạn chế việc tổn hại

về kinh tế cho những người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bất chính

CHƯƠNG II Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh và Kiện nghị hoàn thiện

2.1 Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, thì các hoạt động cạnh tranh đang diễn ra một cách khốc liệt, mang lại sự phát triển cả về mặt kinh tế lẫn các mặt khác của đời sống

xã hội Nhưng một số doanh nghiệp vì muốn chiếm ưu thế cạnh tranh để tăng lợi nhuận

đã không thực hiện các hoạt động cạnh tranh một cách lành mạnh mà sử dụng những phương thức thủ đoạn khác nhau thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà pháp luật quy định cấm thực hiện

Hơn thế nữa, hiện nay những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã có những tác động không hề nhỏ đến tình hình chung của mọi mặt đời sống xã hội mà còn tác động đến hoạt động cạnh tranh Một số doanh nghiệp đã lợi dụng những thành tựu đó, đặc biệt là các thành tựu trong công nghệ thông tin và Internet để thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hiện nay khi thương mại điện tử phát triển một cách cực thịnh, người tiêu dùng có thể mua bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào ở bất cứ thời gian, bất cứ nơi nào chỉ với một cú “Click” thông qua các trang bán hàng hay mạng xã hội Nhưng họ lại không thể xác định rõ các xuất xứ, công dụng, mẫu mã, chất lượng, … nhưng thông tin chỉ được biết theo một chiều từ doanh nghiệp cung cấp mà khách hàng khó có thể kiểm chứng Không ít các doanh nghiệp đã lợi dụng điểm này nhằm thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: quảng cáo không trung thực về hàng hóa, chỉ dẫn gây nhầm lẫn,… Không những thế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cũng tăng cao khi mà việc sản xuất một mặt hàng là không thể đơn giản hơn với các thành tựu của công nghệ hiện nay Vậy trong những năm gần đây đã có bao nhiều vụ vi phạm quy định

về Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều tra, xử lí?

Trang 10

Thông qua báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh4, dưới đây là bảng thống kê điều tra vụ việc cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2015

Bảng thống kê điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh

Tình hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh có diễn biến phức tạp trong những năm qua Hành vi vi phạm chiếm đa số là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Các loại hành vi

cạnh tranh không

lành mạnh

20 09

201 0

201 1

201 2

201 3

201 4

20 15

Quảng cáo nhằm

cạnh tranh không

lành mạnh

Khuyến mại nhằm

cạnh tranh không

lành mạnh

Gièm pha doanh

nghiệp khác

Chỉ dẫn gây nhầm

lẫn

Bán hàng đa cấp

bất chính

Gây rối hoạt động

kinh doanh của

doanh nghiệp khác

1

Ngày đăng: 26/09/2020, 15:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh có diễn biến phức tạp trong những năm qua - TIỂU LUẬN MÔN LUẬT CẠNH TRANH  Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
nh hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh có diễn biến phức tạp trong những năm qua (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w