1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại việt nam

99 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 445,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Hiệu quả là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng,bởi vậy nâng cao hiệu quả cũng có nghĩa là

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Nguyễn Thị Hoài Thương

Sinh ngày 30 tháng 06 năm 1991

Là học viên cao học khóa 23 của Trường Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh

Tp Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 05 năm 2016

Tác giả

NGUYỄN THỊ HOÀI THƯƠNG

Trang 2

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp mới của đề tài 3

1.6 Kết cấu bài luận văn 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 4

2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4

2.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại 4

2.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7

2.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại 7

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại 7

2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại 11

2.2.3.1 Khung phân tích CAMEL và Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs) 11

2.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động của NHTM 16

2.3 Các nghiên cứu liên quan 21

2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm 21

2.3.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 21

2.3.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 26

Trang 3

2.3.2 Tóm lược kết quả nghiên cứu thực nghiệm 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 27

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÁC NHTMVN 28

3.1 Quá trình hình thành ngân hàng thương mại Việt Nam 28

3.2 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam 2007 – 2015 29

3.2.1 Mức độ an toàn vốn của NHTM 29

3.2.2 Tăng trưởng hằng năm của huy động vốn 32

3.2.3 Chất lượng hoạt động tín dụng 33

3.2.4 Khả năng sinh lời 39

3.2.5 Thu nhập của các NHTM Việt Nam 43

3.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam 44

3.3.1 Đa dạng hóa loại hình dịch vụ 44

3.3.2 Thương hiệu, uy tín ngân hàng 45

3.4 Đánh giá chung thực trạng hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam 2007 – 2015 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47

CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 48

4.1 Mô tả dữ liệu mẫu nghiên cứu 48

4.2 Mô tả biến nghiên cứu 48

4.3 Mô hình và phương pháp kiểm định 52

4.3.1 Mô hình nghiên cứu 52

4.3.2 Phương pháp ước lượng 53

4.3.2.1 Mô hình hồi quy Pooled – OLS 54

4.3.2.2 Mô hình tác động cố định (FEM) 54

4.3.2.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 55

4.3.2.4 Kiểm định Hausman 56

Trang 4

4.4 Nội dung và kết quả nghiên cứu 56

4.4.1 Kết quả kiểm định Hausman 56

4.4.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC GỢI Ý CHÍNH SÁCH NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 65

5.1 Kết luận chung 65

5.2 Gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 72

KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

XHCN

Trang 6

(Fixed Effects Model – FEM)

Hình vẽ

nước trong khu vực năm 2015

Hình 3.3

Hệ số an toàn vốn của một số nước Châu Á năm 2015

2007-2015

Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam và tốc

độ tăng trưởng GDP 2007-2015

Trang 7

Hình 3.8 Khả năng sinh lời so với khu vực 2015

2007-2015

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

là 6,04%; năm 2014 là 4,09%) nhưng chủ yếu là do tổng cầu suy giảm, sức mua củadoanh nghiệp và người dân đều ở mức rất thấp Do đó, để có thể đưa ra các quyếtđịnh phù hợp về chính sách và điều hành hệ thống NHTM tại Việt Nam trong thờigian tới thì việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động các

Trang 9

ngân hàng thương mại Việt Nam là cần thiết Những yếu tố nào tác động đến hiệuquả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam? Với một nền kinh tế đang pháttriển và chịu nhiều áp lực cạnh tranh về việc hội nhập quốc tế, các ngân hàng tạiViệt Nam cần rút ra bài gì để nâng cao hiệu quả, hạn chế những tác động xấu từnhững rủi ro Bài viết nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đếnhiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam Chính vì lý do đó tác giả chọn đề tài

“ Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhắm đến các mục tiêu sau:

- Nghiên cứu tình hình hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian gần đây

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương

- Gợi ý những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ViệtNam Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động là phạm trù rộng và phức tạp do đó bài nghiêncứu hiệu quả hoạt động ngân hàng theo quan điểm phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định

tính cụ thể như sau:

Trang 10

 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp với số liệu phân tích được tác giả tổng hợp

từ số liệu qua báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam

 Phương pháp phân tích, so sánh: Từ số liệu thu thập được, tác giả phân tíchqua số liệu báo cáo của các NH qua các năm trên cơ sơ phân tích thực trạng để đánhgiá hiệu quả hoạt động của các NHTMVN

Nghiên cứu định lượng

 Tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng gồm thu thập và lọc số liệu với Excel, phân tích hồi quy Eview

 Bài luận văn sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi quy theo mô hìnhnhững ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Model – FEM) để nghiên cứu sự ảnh

hưởng của từng nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

1.5 Đóng góp mới của đề tài

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và hệ thống hóa nhữngvấn đề mang tính lý luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng của NHTM làm tài liệutham khảo cho công tác nghiên cứu những đề tài tương tự

- Bên cạnh đó luận văn đã nêu lên được vai trò và tầm quan trọng của việc nângcao hiệu quả hoạt động của ngân hàng với những giải pháp và kiến nghị cụ thể phùhợp với tình hình thực tế Các giải pháp trình bày trong luận văn sẽ được áp dụngrộng rãi trong hoạt động của NHTM

1.6 Kết cấu bài luận văn

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Chương 3: Thực trạng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và các gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam.

Trang 11

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

Theo luật tổ chức tín dụng 1997, Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đượcthực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liênquan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàngthương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngânhàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động củaNHTM: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng vàcác hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định củaLuật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật

Theo Peter S Rose: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mụccác dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanhtoán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinhdoanh nào trong nền kinh tế

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tàichính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản

là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còncung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của

xã hội Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốntừ nơinhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu

- Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế muốn sảnxuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, phương

Trang 12

tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân luônluôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài Mặtkhác lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân,doanh nghiệp, tổ chức khác NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốntạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tếthông qua hoạt động tín dụng NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốncho nền kinh tế Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng cácdoanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăngnăng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

- NHTM là cầu nối doanh nghiệp và thị trường

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sựtác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu,quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoảmãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chấtlượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm Để có thể đápứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chấtlượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế màcòn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất,tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thíchhợp Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượtquá khả năng của doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệpđến ngân hàng để xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.Thông qua hoạtđộng cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thịtrường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai tròrất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản xuấtkinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứngvững chắc trong cạnh tranh

- NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 13

Khi nhà nước muốn phát triển một nghành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùngvới việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các Ngân hàng thương mạiluôn được sử dụng bằng cách Ngân hàng thương mại yêu cầu các Ngân hàng thươngmại thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất, kéodài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống Ngân hàng thương mạiNhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định Khi nền kinh tế tăng trưởngquá mức nhà nước thông qua Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệnhư: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấptín dụng cho nền kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc.

Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống Ngân hàng thương mạithường đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử dụng

- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càngđược mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giớingày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôngắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên

sự phát triển đó.Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nềntài chính quốc tế và Ngân hàng thương mại với các hoạt động của mình đã đóng gópvai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này Với các nghiệp vụ như thanhtoán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác Ngân hàng thương mại tạo điều kiện

Trang 14

thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển Thông qua hoạt động thanh toán, kinhdoanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng thương mại nước ngoài, Ngânhàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với

sự vận động của nền tài chính quốc tế

Ngân hàng thương mại ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuấtlưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần đến sự hoạtđộng của Ngân hàng thương mại Với vai trò quan trọng của mình Ngân hàngthương mại trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

2.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Theo ECB (European Central Bank) (9/2010) hiệu quả hoạt động là khả năng tạo

ra lợi nhuận bền vững Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản

lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tươnglai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại

Theo Adel Bino & Shorouq Tomar (2007) khi xét về mối quan hệ giữa quản trịdoanh nghiệp và hiệu quả hoạt động ngân hàng, hai ông định nghĩa đơn giản: hiệuquả hoạt động là kết quả cuối cùng của hoạt động đó

Trong cuốn “ Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” PGS.TSNguyễn Khắc Minh cho hiệu quả hoạt động được hiểu là mức độ thành công mà cácdoanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sửdụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước

Tóm lại, hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được hiểu: Khảnăng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay là khả năng sinh lời hoặc giảm thiểuchi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại

Hiệu quả là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng,bởi vậy nâng cao hiệu quả cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lựcđiều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh gópphần củng cố và nâng cao thương hiệu của các NHTM Tuy nhiên, để NHTM hoạt

Trang 15

động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệuquả hoạt động của các NHTM nhằm hạn chế các hoạt động mang tính chất rủi ro,bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh củaNHTM Các nhân tố này có thể được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan

và nhóm nhân tố chủ quan, tùy điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhómnhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của NHTM

 Môi trường vĩ mô:

- Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến khả năng tạo lợi nhuận, khả năng ổn định vàphát triển vững mạnh của các NHTM Bất cứ sự biến động nào của lạm phát, tăngtrưởng kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ…cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động kinh doanh của các NHTM, thậm chí còn tạo ra những khủng hoảng dotác động lây lan của kinh tế thị trường Ảnh hưởng rõ rệt nhất của tăng trưởng kinh

tế đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là ảnh hưởng đến khả nănghuy động vốn và hoạt động tín dụng của các NHTM Gắn với quá trình tăng trưởngcao là nhu cầu vốn cũng tăng cao, tăng trưởng kinh tế một cách ổn định và an toàn,hiêu quả chính là nền tảng cho hoạt động ngân hàng có hiệu quả

- Các yếu tố văn hóa xã hội: Các yếu tố như trình độ dân trí, tập quán sử dụng tiềnmặt và sự hiểu biết của người dân về hệ thống ngân hàng có tác động không nhỏđến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

- Các yếu tố chính sách pháp luật: Hệ thống chính sách pháp luật minh bạch rõràng, đồng bộ sẽ giúp các NH chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình

- Các yếu tố khoa học công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điềukiện cho việc nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quátrình cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất, nhanh chóng và kịp thời,

từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của NH Ngoài ra, với công nghệ ngân hàng hiệnđại sẽ góp phần vào hội nhập quốc tế và quốc tế hóa trong hoạt động giao dịch củaNHTM từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ không ngừng mở rộng và nâng cao

Trang 16

 Môi trường vi mô như là các đối thủ cạnh tranh hay khách hàng cũng là cácyếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NHTM

- Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện trước hết là khả năng

mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính củamột ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh củangân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính vàtrình độ trang bị công nghệ Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phảnánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của mộtđồng vốn kinh doanh Thứ ba là khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của mộtngân hàng cũng là nhân tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dựphòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính chophép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dựphòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tàichính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp

- Năng lực quản trị, điều hành là nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến hiệu quả hoạtđộng của các NH Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổchức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiện của cơ chế điều hành để cóthể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị,điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động,nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra một tập hợp đầu ra cực đại

- Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ: chính là phản ánh năng lực công nghệthông tin của một ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngânhàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các dịch vụtruyền thống Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị côngnghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng vàtính độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng

Trang 17

- Trình độ, chất lượng của người lao động: nhân tố con người là yếu tố quyết địnhquan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của các NHTM Xã hộicàng phát triển thì càng đòi hỏi các ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụmới và có chất lượng Chính điều này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũngphải được nâng cao để đáp ứng kịp thời đối với những thay đổi của thị trường, xãhội Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp các

NH tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro cóthể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các ngânhàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triểnnguồn nhân lực luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ

- Đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động củaNHTM: Thứ nhất, một NHTM kinh doanh đa dạng các nghiệp vụ, dịch vụ sẽ phântán, giảm nhiều rủi ro bởi vì theo nghiệp vụ truyền thống thì NHTM thu chủ yếu từhoạt động tín dụng nhưng tín dụng lại chứa nhiều rủi ro và bất trắc Thứ hai, đadạng hóa loại hình dịch vụ sẽ làm tăng lợi nhuận NHTM vì khi đa dạng hóa loạihình dịch vụ NHTM sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và độingũ cán bộ của mỗi ngân hàng, do vậy làm giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động,tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng Thứ ba, thúc đẩy các nghiệp vụ cùng phát triển

vì các DN càng đa dạng hóa kinh doanh và nhu cầu về các dịch vụ NH cũng phải đadạng theo do đó chỉ khi thực hiện đa dạng hóa loại hình dịch vụ NH mới cung cấpđược nhiều loại dịch vụ NH một cách nhanh chóng, linh hoạt Cuối cùng, đa dạnghóa dịch vụ làm tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường

- Hoạt động marketing ngân hàng: Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm giúpcho NH nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng Từ đó, NH đưa ra được các hình thức huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng phù hợp

- Thâm niên và uy tín của ngân hàng: Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi ngân hàng đã,đang và sẽ tạo được hình ảnh riêng của mình trên thị trường Một NH lớn, có uy tín

sẽ có lợi thế hơn trong các hoạt động NH nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Thực tế đã chứng minh là, với một thương hiệu mạnh, người tiêu dùng sẽ có

Trang 18

niềm tin với sản phẩm của NH, sẽ yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm, trungthành với sản phẩm và vì vậy tính ổn định về lượng khách hàng hiện tại là rất cao.Hơn nữa, thương hiệu mạnh cũng có sức hút rất lớn với thị trường mới, tạo thuậnlợi cho NH trong việc mở rộng thị trường và thu hút khách hàng tiềm năng

theo chuẩn IMF (FSIs)

Hiện nay việc phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân hàng thườngđược thực hiện bằng khung phân tích CAMELS CAMELS đã được áp dụng từnhững năm 1970 – là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ(Nguyễn Đức Tú, 2011) Khung phân tích CAMELS bao gồm 6 yếu tố sau: Vốn củabản thân ngân hàng (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản có (Asset quality), Nănglực quản lý (Management ability), Khả năng sinh lời (Earnings), Khả năng thanhkhoản (Liquidity), Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to MarketRisk )

Vốn tự có của ngân hàng thương mại – Capital Adequacy (C)

Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh(thông thường từ 8% đến 10%) , tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng,quyết định đến quy mô và phạm vi kinh doanh, là cơ sở để hình thành các nguồnvốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng

Vốn tự có là căn cứ để xác định giới hạn cho vay đối với một ngân hàng Ở ViệtNam theo điều 7 và điều 8 của Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày19/04/2005, vốn căn cứ để xác định các giới hạn sau:

- Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không qua 50% vốn tự có

- Cho vay các đối tượng ưu đãi không quá 5% vốn tự có

- Cho vay tối đa một khách hàng không quá 15% vốn tự có

- Tổng mức cho vay và bảo lãnh cho một khách hàng của một tổ chức tín dụngkhông được vượt quá tỷ lệ 25% so với vốn tự có của tổ chức tín dụng đó

Trang 19

Với những ý nghĩa quan trọng đó, một ngân hàng có đủ vốn là yếu tố đầu tiênđảm bảo cho ngân hàng đó hoạt động an toàn Một ngân hàng thường xuyên duy trìđầy đủ vốn, số vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động ngày một cao hơn thì đó làbiểu hiện của một ngân hàng ổn định lành mạnh và hoạt động hiệu quả Những ngânhàng thiếu vốn với giá trị ròng thấp sẽ dễ đổ vỡ khi gặp phải những rủi ro hoặctrước những biến động của môi trường kinh doanh

Chất lượng tài sản có - Asset quality (A)

Tài sản Có là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năngthanh toán của một Ngân hàng Tài sản Có của một Ngân hàng bao gồm: Tài sảnngân quỹ, tài sản cho vay, tài sản đầu tư và tài sản cố định

Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năngthanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng Phần lớnrủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản của nó, nên cùng vớiviệc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quantrọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn

Chỉ số này tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản Có và quy mô hoạtđộng kinh doanh tại Ngân hàng Khi ngân hàng có tỷ lệ cho vay cao thì khả năngsinh lợi được cải thiện Tuy nhiên nếu tỷ lệ này quá cao gần bằng 100% thì rủi rohoạt động của ngân hàng tăng theo vì khi ấy ngân hàng hầu như không có tiền dựtrữ cho nhu cầu rút vốn của ngân hàng

Năng lực quản lý – Management ability (M)

Lý thuyết CAMEL cho rằng khả năng quản lý của một ngân hàng là yếu tố năngđộng nhất Nếu khả năng quản lý tốt có thể biến một ngân hàng yếu kém thành mộtngân hàng hoạt động tốt hơn và ngược lại

Nói đến khả năng quản lý là nói đến yếu tố con người, tổ chức và chính sách.Việc đánh giá vấn đề này được thực hiện theo những nội dung sau:

- Năng lực đề ra sách lược trong kinh doanh, có sức cạnh tranh và đứng vững trong thị trường

- Đưa ra kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng và có hiệu quả

Trang 20

Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động của một ngân hàng thì chất lượng quản lýcủa ban điều hành ngân hàng thể hiện các tiêu chuẩn sau đây:

- Hiệu quả trong kinh doanh: được biểu hiện ở mức độ và sự tăng trưởng của kếtquả kinh doanh Tiêu chuẩn này được đánh giá bằng việc giữ vững kết quả kinhdoanh trong tình trạng có những biến động ảnh hưởng đến thị trường

- Sự tuân thủ pháp luật, các quy chế về hoạt động ngân hàng, tính lành mạnh trong kinh doanh

- Độ tín nhiệm của ngân hàng trong môi trường hoạt động Sự tín nhiệm của kháchhàng, dân cư đối với ngân hàng trong việc gửi tiền, mở tài khoản, thực hiện giaodịch và công luận đánh giá là biểu hiện của tiêu chuẩn này

Khả năng sinh lời – Earnings (E)

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánhgiá sự phát triển bền vững của một ngân hàng Hiệu quả hoạt động và khả năng sinhlời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triểnvọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó Những ngân hàng hoạt độngkhông hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ và nắm giữ những tài sản không thanhkhoản, cuối cùng sẽ trở nên mất khả năng thanh toán Trong môi trường cạnh tranhquốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lời của mỗi ngânhàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển một cách bền vững.Tuy nhiên, với mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng thì khi đánhgiá kết quả kinh doanh hay lợi nhuận của ngân hàng cần có một quan điểm toàndiện Một ngân hàng có mức lợi nhuận cao chưa hẳn là tốt, để có mức lợi nhuận nhưvậy có thể ngân hàng này đã chấp nhận một cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao Khi xétđến chỉ tiêu lợi nhuận, cần phân tích lợi nhuận trong mối quan hệ với các chỉ tiêu

Trang 21

quản lý khác, chẳng hạn như mức độ thanh khoản, mức chấp nhận rủi ro, cơ cấu tàisản cũng như triển vọng phát triển lâu dài của ngân hàng Trong phân tích đánh giákhả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau,như: Hệ số lợi nhuận trên tài sản có bình quân (ROA), hệ số lợi nhuận trên vốn tự

có (ROE), lợi nhuận trên tổng doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phần Dù đo lườngcách nào thì vẫn chủ yếu là xem xét mức lợi nhuận của ngân hàng sau một thời kỳhoạt động trong các mối tương quan với nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí

và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn và phát triển vốn Để có lãi,các ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng tăng cho mình, phải tiết kiệmchi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời phải hạn chế được những rủi ro, thấtthoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý và phải tạo ra cơ cấu nguồn vốn

và tài sản hợp lý

Khả năng thanh khoản – Liquidity (L)

Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự antoàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng Để đảm bảo khả năng thanhtoán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản cótính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ởNHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản khác Ngoài ra, các ngân hàng còn phảichú trọng nâng cao chất lượng các tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, cókhả năng chuyển hoá thành tiền nhanh chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứngyêu cầu chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết

Thực tế chỉ ra rằng, những ngân hàng thiếu hụt khả năng thanh toán là biểu hiệncủa tình trạng không lành mạnh, ngân hàng đang gặp khó khăn, rất dễ rơi vào nguy

cơ bị ồ ạt rút tiền của công chúng, nghiêm trọng hơn có thể làm sụp đổ ngân hàng

và tác động xấu đến cả hệ thống Chính vì vậy, khả năng thanh toán trở thành thước

đo quan trọng về tính hiệu quả, uy tín và mức độ an toàn của mỗi ngân hàng cũngnhư toàn hệ thống ngân hàng

Trang 22

Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường - Sensitivity to Market Risk (S)

Các tài sản mà các ngân hàng nắm giữ chủ yếu là các tài sản chính, chúng thườngrất nhạy cảm với những biến động thị trường và gây ra những rủi ro nhất định Hầuhết, các tài sản của NH đều có liên quan đến rủi ro thị trường ở các mức độ khácnhau, chủ yếu liên quan đến các tài sản có sự nhạy cảm trước biến động về lãi suất,

tỷ giá hoặc những thay đổi giá cả trên thị trường tài chính Nếu trong cơ cấu tài sảncủa ngân hàng có một tỷ lệ lớn những tài sản nhạy cảm với các yếu tố này, có thểbáo hiệu một khả năng dễ tổn thương của NH đó Hơn nữa, nếu một NH tham giavào hoạt động kinh doanh ngoại hối, chứng khoán ở nước ngoài thì mỗi biến độngtrên thị trường tài chính thế giới sẽ tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh củangân hàng đó Do vậy, khi đánh giá sự an toàn hoạt động của ngân hàng trong điềukiện hiện nay, cần tính đến cả những yếu tố nước ngoài trong cơ cấu tài sản củangân hàng

Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs)

Theo Ngân Hàng nhà nước Việt Nam (2011), Bộ chỉ số lành mạnh tài chính doIMF xây dựng và ban hành nhằm giúp lành mạnh hóa hệ thống tài chính, cũng nhưcảnh báo sớm những nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống tài chính của cácquốc gia thành viên Bộ chỉ số này bao gồm 40 chỉ số tài chính: 25 chỉ số phản ánhtình hình tài chính của khu vực tổ chức nhận tiền gửi (12 chỉ số cốt lõi và 13 chỉ sốkhuyến khích); 2 chỉ số phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức tài chínhkhác; 5 chỉ số phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức phi tài chính; 2 chỉ

số phản ánh tài chính của khu vực hộ gia đình; 2 chỉ số phản ánh tình hình thanhkhoản của thị trường; 4 chỉ số phản ánh tình hình của thị trường bất động sản

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ quan tâm đến nhóm 12 chỉ số cốt lõi chocác tổ chức nhận tiền gửi, vì đây là những chỉ số cơ bản và quan trọng nhất đối vớicác tổ chức nhận tiền gửi mà IMF đưa ra Nhóm chỉ số này là cơ sở để lựa chọn cácbiến đưa vào mô hình nghiên cứu

Trang 23

qua các chỉ tiêu sau: tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cậnbiên (NNIM), thu nhập hoạt động biên (TNHĐB), thu nhập ròng trên tổng tài sản(ROA) và thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE).

NIM =

Trang 24

Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho

Trang 25

vay khách hàng, chứng khoán đầu tư Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mứcchênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông quahoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phíthấp nhất Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánhgiá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất

NNIM =

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoàilãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàngphải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tíndụng) Đối với hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi thường là âm, chi phíngoài lãi nhìn chung vượt quá thu từ phí, mặc dù tỷ lệ thu từ phí trong tổng cácnguồn thu của ngân hàng đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây

TNHĐB =Trong đó: Thu nhập hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi vay từ hoạt độngkinh doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ

ROA =

Hệ số này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của NH, làthước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều là những khoảnđầu tư sinh lãi ngoại trừ tiền mặt và tài sản cố định Nói cách khác nó đo lường khảnăng của ban quản lý sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính của

NH để tạo ra lợi nhuận Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng baoquát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có ROA cao khẳng địnhhiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linhhoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước khi những biến động của nền kinh tế

Trang 26

ROE =

Trang 27

Đây là chỉ tiêu được xem xét là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tàichính của một NHTM Nếu ROE tương đối thấp so với những ngân hàng khác thì sẽlàm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thếcạnh tranh của ngân hàng trên thị trường ROE thấp có thể hạn chế sự tăng trưởngcủa ngân hàng vì khi đó ngân hàng không có cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu,trong khi hầu hết các quy định pháp lý để ràng buộc việc gia tăng tài sản của ngânhàng gắn chặt với việc tăng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụngmột đồng vốn chủ sở hữu, hay lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn chủ sở hữu

do đó cho biết khả năng lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng Tổng vốnchủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ của NH

Ngoài những chỉ tiêu trên còn có các chỉ tiêu khác như: thu nhập cận biên trướcnhững giao dịch đặc biệt (NRST), tỷ lệ tài sản sinh lời, tỷ lệ sinh lời hoạt động(NPM), tỷ lệ hiệu quả sư dụng tài sản (AU)… Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh,các nhà quản lý có thể vận dụng trong những trường hợp riêng cho phù hợp

Các NHTM thường nâng cao hiệu quả hoạt động của mình bằng cách tối đa hóalợi nhuận và giảm chi phí hoạt động vì vậy có các chỉ tiêu phản ánh thu nhập, chiphí như sau:

- Tổng doanh thu hoạt động/Tổng tài sản: phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản Nếu

hệ số này lớn phản ánh ngân hàng đã phân bổ tài sản (danh mục đầu tư) một cáchhợp lý nhằm nâng cao lợi nhuân ngân hàng

- Tổng chi phí hoạt động/Tổng doanh thu hoạt động: là một thước đo phản ánh mốiqua hệ giữa đầu vào và đầu ra hay nói cách khác nó phản ánh khả năng bù đắp chiphí trong hoạt động của ngân hàng

- Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ =

Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế

Trang 28

hoạch tín dụng của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ hoạt động của ngânhàng càng ổn định và có hiệu quả

- Tỷ lệ tăng trưởng DSCV =

Chỉ tiêu này tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ nhưng bao gồm toàn bộ dư

nợ cho vay trong năm đến thời điểm hiện tại và dư nợ cho vay trong năm đã thu hồi

- Tỷ lệ thu lãi =

Chỉ tiêu này đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của NH, đánh giákhả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của NH từviệc cho vay Chỉ tiêu này càng cao thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũngnhư tình hình tài chính của NH càng tốt, ngược lại NH đang gặp khó khăn trongviệc thu lãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngân hàng, chỉ tiêu nàycũng thể hiện tình hình bất ổn trong cho vay của ngân hàng, có thể nợ xấu trongngân hàng tăng cao nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồi lãi của NH, và có thể ảnhhưởng đến khả năng thu hồi nợ trong tương lai

- Tỷ lệ dư nợ/Tổng nguồn vốn: Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánhgiá mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng Chỉ tiêu càng cao thì đánh giá khảnăng sử dụng vốn càng cao hiệu quả trong việc sử dụng vốn để cho vay của NH,ngược lại thì ngân hàng đang bị trì trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí

- Tỷ lệ dư nợ/ Vốn huy động: Chỉ tiêu này phản ánh NH cho vay được bao nhiêu

so với nguồn vốn huy động, nó nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động, thể hiện NH

đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động hay chưa Tuynhiên, chỉ số này quá cao cũng dẫn đến rủi ro tín dụng khi khách hàng rút tiền bấtngờ hay khách hàng không có khả năng thanh toán khi đến hạn…

- Tỷ lệ thu nợ đến hạn =

Trang 29

Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của NH Nó thể hiệnchất lượng tín dụng của NH, đánh giá khả năng thu hồi của các khoản tín dụng đãcho vay.

Trang 30

do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng

và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường (1,5 lần).nếu một ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăntrong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm thunhập Ngân hàng thương mại nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chấtlượng tín dụng thấp Đây là chỉ tiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tíchđánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

- Tỷ lệ nợ xấu =

- Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản: Tỷ số này phản ánh khả năng thanh khoản củangân hàng Tức là trong tổng tài sản của ngân hàng thì tỷ trọng tài sản thanh khoản

là bao nhiêu Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt

- Tài sản thanh khoản/Nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu phản ánh việc ngân hàng có thể đáp ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hay không

- Khoản cho vay/Tổng tài sản: Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm khoảncho vay trên tổng tài sản của ngân hàng Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanhkhoản của ngân hàng yếu

 Tóm lại, có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động của NHTMnhưng thời gian hạn chế nên tác giả không thể tổng hợp số liệu của tất cả các chỉtiêu trên do đó phạm vi của bài nghiên cứu ở các chỉ tiêu sau: Mức độ an toàn vốn,Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Quy mô ngân hàng, Dư nợ trên tổng tài sản, Chovay khách hàng trên tiền gửi khách hàng, Nợ xấu trên tổng dư nợ, Thu nhập lãi cậnbiên, Đa dạng hóa thu nhập, Tốc độ tăng trưởng GDP Các chỉ tiêu này sẽ đượcchọn làm biến nghiên cứu cho mô hình và được đề cập cụ thể ở chương 4

Trang 31

2.3 Các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu của R Alton Gilbert, Andrew P Meyer và Mark D.Vaughan, nhómtác giả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu chuẩn

mô hình Camel Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cho thấy khả năng tài chính củacác ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L Từ đó tiền tiến hành hồi quytheo Probit để xác định nhân tố ảnh hưởng và kết quả cho thấy khả năng tài chínhcủa các tổ chức tín dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinhlời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản.Nghiên cứu của Husni Ali Khrawish (2011): Theo ông, hiệu quả hoạt động củacác ngân hàng có thể được đáng giá dưới góc độ khả năng sinh lời, và phương phápphù hợp được chọn để kiểm định các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng làphương pháp Bình phương bé nhất dạng bảng – Pooled OLS, nhằm xem xét nhữngảnh hưởng của yếu tố đó lên khả năng sinh lời của ngân hàng

Husni tiến hành kiểm định các yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động ngânhàng của nước Jordan, trên cơ sở phân tích 14 ngân hàng của quốc gia này tronggiai đoạn 2000-2010 bằng phương pháp hồi quy Pooled OLS Với mô hình hồi quynày, biến phụ thuộc là ROA và ROE đại diện cho tính hiệu quả của ngân hàng, cácbiến độc lập được chia thành hai nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài Nhân tố bêntrong bao gồm: Logarit tự nhiên của tổng tài sản (size), tổng nợ trên tổng tài sản(TL/TA), vốn trên tổng tài sản (TE/TA), dư nợ vay trên tổng tài sản (L/TA), hệ sốNIM Nhân tố bên ngoài là tăng trưởng GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái Kết quảphân tích cho thấy cả ROA và ROE đều tương quan thuận với quy mô, cấu trúc vốn,NIM, và tương quan nghịch với tăng trưởng GDP hằng năm, tỷ lệ lạm phát Bàinghiên cứu đánh giá rằng yếu tố lãi suất thực, lạm phát, chính sách tiền tệ, và chínhsách tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể lên hiệu quả lợi nhuận của các ngân hàng ởNigeria Sự phát triển của khu vực ngân hàng, thị trường chứng khoán và

Trang 32

Aremu Mukaita Ayanda, Imoh Christopher, Mustapha Adeniyi Mudashiru (2013),Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại các nước đang pháttriển: bằng chứng thực nghiệm từ Nigeira Tác giả nghiên cứu hiệu quả hoạt độngcủa ngân hàng First Bank tại Nigeira trong giai đoạn 1980-2010, thông qua các biếnnghiên cứu: Các biến nội sinh: tổng tài sản, số lượng kênh phân phối, tỷ lệ chi phítrên thu nhập, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, lợi nhuận trên đầu tư cho nhânviên, tỷ lệ trích lập dự phòng, tỷ lệ tổng lương trên trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vaytrên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi, lợi nhuận trên tổng tài sản, lợinhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập lãi cận biên; các biến ngoại sinh: tỷ lệ lạmphát, tốc độ tăng trưởng GDP, tăng trưởng cung tiền M2 Bằng kỹ thuật đồng liênkết (Cointergration) và cơ chế hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM)bài nghiên cứu này cho thấy các biến tác động cùng chiều và ngược chiều đến hiệuquả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Nigeira trong các giai đoạn nghiên cứunhư sau: các biến có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của

Trang 33

ngân hàng thương mại taị Nigeira: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ chovay trên tổng tài sản, tỷ lệ trích lập dự phòng Điều đó cho thấy rằng các ngân hàngđối mặt với hiệu suất giảm dần theo quy mô, tỷ lệ nợ xấu đang tăng làm giảm hiệuquả hoạt động Các biến có tác động cùng chiều: tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi, lợinhuân trên chi phí đầu tư nhân viên, tỷ lệ tổng lương trên tổng tài sản cho thấy cácngân hàng đang sử dụng tốt nguồn vốn huy động và đặc biệt bài nghiên cứu này chothấy chi phí đầu tư nhân viên và tỷ lệ tổng lương trên tài sản cao sẽ làm tăng hiệuquả hoạt động ngân hàng, đây là yếu tố mới trong các bài nghiên cứu trước đâychưa đề cập

Vincent Okoth Ongore, Gemechu Berhanu Kusa(2013) Hiệu quả hoạt động tàichính của các ngân hàng thương mại tại Kenya.Tác giả nghiên cứu hiệu quả hoạtđộng của các ngân hàng thương mại tại Kenya thông qua các biến về cấu trúc bêntrong của ngân hàng và các biến vĩ mô bên ngoài tác động.Bằng phương pháp GLStác giả nghiên cứu trên dữ liệu bảng của 37 ngân hàng thương mại tại Kenya tronggiai đoạn 2001-2010 thông qua các biến: Các biến bên trong ngân hàng: lợi nhuậntrên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập lãi cận biên,tỷ lệ vốn chủ

sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ phítrên tổng lợi nhuận, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng; Các biến vĩ mô: Tốc độtăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát Kết quả cho thấy các biến có tác động cùng chiều:

tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ phí trên tổng lợinhuận Các biến có tác động ngược chiều: tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tốc độ tăngtrưởng GDP Biến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi không có ý nghĩa thống kê Hiệuquả từ hoạt động tài chính của các ngân hàng tại Kenya bị chi phối chủ yếu bởi cấutrúc bên trong được quyết định bởi các chính sách từ hội đồng quản trị của ngânhàng, các biến vĩ mô có tác dụng không đáng kể

Nghiên cứu của Asli Demirguc và Harr Huizinga, nghiên cứu về các yếu tố ảnhhưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, tác giả sử dụng dữ liệu của 80 quốcgia trong giai đoạn 1988-1995, nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của ngânhàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, điều

Trang 34

kiện kinh tế vĩ mô, quy mô tài sản của ngân hàng, đặc biệt quy mô vốn chủ sở hữucàng lớn sẽ cho thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng thời đa dạng hóa được hoạtđộng của các ngân hàng và có điều kiện để làm tăng lợi nhuận cho các ngân hàng.Nghiên cứu của Michelle L Barnesa và Jose A Lopez , nhóm tác giả nghiên cứu

về chi phí vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, hệ thống thanh toán

có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Pháp giai đoạn 1990-2003,kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí vốn càng lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năngtài chính của các ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao cho thấyngân hàng kinh doanh hiệu quả, đồng thời làm cho khả năng tài chính của ngânhàng đó sẽ tốt hơn, hệ thống thanh toán của một ngân hàng mà tốt sẽ thu hút đượcnhiều người thực hiện dịch vụ và từ đó làm tăng lợi nhuận ngoài cận biên

Nghiên cứu của Wolf Wagner nghiên cứu về tính thanh khoản của tài sản ngânhàng, nghiên cứu được thực hiện tại các ngân hàng Anh giai đoạn 1999-2004, kếtquả nghiên cứu cho thấy tài sản ngân hàng có tính thanh khoản cao thì ngân hàng đóphát triển ổn định mà như thế sẽ thu hút được tiền gửi nhiều hơn làm gia tăng lợinhuận cho ngân hàng làm tăng khả năng tài chính cho các ngân hàng Tác giả cũngđưa ra giải pháp cho các ngân hàng có thể tăng tính thanh khoản bằng cách bán rủi

ro cho các công ty mua nợ

Bài nghiên cứu của Basel Accord 1988 về hiệp ước quốc về vốn ngân hàng Basel

1 đã xây dựng lại hiệu quả của quy định nguồn vốn ngân hàng Một làn sóng mớicủa những bài nghiên cứu (hầu hết là các ngân hàng hợp chúng quốc Hoa Kỳ) nhắmtới quy định nguồn vốn bắt buộc Kết quả của ứng dụng và thay đổi của Basel 1 là

sự quan tâm quy định an toàn vốn đối với rủi ro ngân hàng Ví dụ, Ediz (1998) đãtìm thấy quy định về nguồn vốn thì làm hiệu quả trong việc tăng tỷ lệ vốn mà khônglàm thay đổi căn bản danh mục đầu tư và bảng cân đối kế toán (OBS) ở Mỹ và Anh.Cũng theo hướng này, Salas và Saurina (2003) đã tìm thấy rằng các ngân hàng vớinguồn vốn thấp có khuynh hướng hoạt động với rủi ro tín dụng cao hơn theo giảthuyết rủi ro đạo đức

Trang 35

Một nghiên cứu lớn từ Hughes và Mester (1998) những người tranh cãi về việccân nhắc hiệu quả ngân hàng khi phân tích mối quan hệ giữa nguồn vồn và rủi ro.Theo như những tác giả này, cả nguồn vốn và rủi ro đều quyết định đến mức độ hiệuquả ngân hàng Ví dụ, các nhà quản lý giảm sát có thể cho các ngân hàng đạt hiệuquả (với sự quản lý chất lượng cao) một sự linh hoạt hơn trong điều kiện tỷ lệ vốnvay hay toàn bộ danh mục rủi ro so với nguồn vốn Mặt khác, một hiệu quả ngânhàng kém với nguồn vốn thấp có thể bị thu hút việc chấp nhận rủi ro cao để đền bùnhững khoản thu nhập bị mất vì sự cân nhắc rủi ro đạo đức

Berger và De Young (1997) và Kwan và Eisenbeis (1997) cũng tranh cãi rằngkhái niệm hiệu quả ngân hàng cần được xác định rõ ràng trong mô hình thựcnghiệm phân tích những yếu tố quyết định đến rủi ro ngân hàng Berger và DeYoung (1997) sử dụng phương pháp nhân quả Granger để đánh giá liên đới giữanhững khoản cho vay có vấn đề, hiệu quả chi phí và nguồn vốn cho một mẫu cácngân hàng của Mỹ từ 1985 đến 1994 và tìm thấy rằng sự suy giảm trong hiệu quảchi phí khi xảy ra có sự tăng lên những khoản vay có vấn đề (thường là với nhữngngân hàng vốn ít), và cho rằng những khoản vay có vấn đề là kết quả dẫn đến sựgiảm trong hiệu quả chi phí Kwan và Eisenbeis (1997) sử dụng “simultaneousequation framework” để kiểm tra giả thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro, nguồn vốn

và chi phí hoạt động ngân hàng Tất cả những tài liệu đó cung cấp bằng chứng chothấy rằng hiệu quả và nguồn vốn thì quyết định đến rủi ro ngân hàng

William (2004) và Altunbas đã nghiên cứu lại những tài liệu đó ở môi trườngngân hàng Châu Âu William (2004) sử dụng phương pháp nhân quả Granger đểđánh giá mối quan hệ liên đới giữa những khoản vay có vấn đề, hiệu quả chi phí vànguồn vốn tài chính trong một mẫu các ngân hàng Châu Âu suốt giai đoạn 1990-

1998 và tìm thấy rằng những ngân hàng quản lý yếu kém có khuynh hướng tạo ranhững khoản vay kém chất lượng Altunbas (2007) sử dụng “static simultaneousequation framework” để nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn vốn, những khoản chovay và hiệu quả chi phí cho một mẫu các ngân hàng ở Châu Âu giai đoạn 1992-

2000 và ngược lại, Williams (2004) cho thấy một mối quan hệ đồng biến giữa

Trang 36

không việc hiệu quả và hằng vi chấp nhận rủi ro, với những ngân hàng không hiệuquả ở Châu Âu sẽ giữ nguồn vốn nhiều hơn và chấp nhận rủi ro thấp hơn Nóichung, mâu thuẫn từ các bài nghiên cứu Châu Âu sẽ tìm thấy mối quan hệ giữa hiệuquả hoạt động, nguồn vốn và rủi ro ngân hàng

Nguyễn Việt Hùng đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mạiViệt Nam giai đoạn 2000-2005, trong nghiên cứu tác giả đã xác định được các nhân

tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng bằng các tiêu chí theo mô hìnhCamel, sau đó hồi quy với Tobit, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: tàisản của ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tỷ lệ tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ lệ

nợ xấu,… có ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại tronggiai đoạn đó

Nghiên cứu của Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang nghiên cứu các yếu tốảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động các các ngân hàng thương mại Việt Nam Bàiviết sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên số liệu 39 ngân hàng thương mại(NHTM) Việt Nam giai đọa 2005-2012 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả hoạt động các NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu ROA và ROE Nghiêncứu đề cập đến các yếu tố tổng chi phí hoạt động trên doanh thu, tỷ lệ vốn chủ sởhữu trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, loại hình ngânhàng

Nghiên cứu của Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà đã nghiên cứu hiệu quảhoạt động của các ngân hàng tại các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm choViệt Nam Với kỹ thuật phân tích hồi quy bảng và áp dụng ảnh hưởng cố định (FixEffects), nghiên cứu đã tìm thấy 2 yếu tố (mức độ an toàn vốn và lãi suất thị trường)tác động ngược chiều hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong khi đó, chất lượngtài sản, chất lượng quản trị chi phí, và thanh khoản có tác động cùng chiều lên hiệuquả hoạt động ngân hàng

Nghiên cứu “Lợi nhuận và rủi ro từ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng thươngmại Việt Nam” của Võ Xuân Vinh & Trần Thị Phương Mai xem xét vấn đề đa dạng

Trang 37

hóa thu nhập thông qua phân tích lợi nhuận và rủi ro của các NHTM Việt Nam Tácgiả sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy cho dữ liệu bảng với mẫu bao gồm 37NHTM 2006-2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng càng đa dạng hóacác hoạt động thì lợi nhuận càng cao Tuy nhiên, phân tích yếu tố rủi ro cho thấy cácngân hàng có mức độ đa dạng hóa thu nhập càng cao thì lợi nhuận điều chỉnh rủi rogiảm Bằng chứng thực nghiệm chỉ ra đa dạng hóa thu nhập không có lợi cho cácNHTM ở Việt Nam

Như vậy, qua phần tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên có thể rút

ra cho luận văn một số gợi ý trong việc lựa chọn các biến liên quan đến hiệu quảhoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam như: quy mô tài sản, khả năng thanhkhoản, chất lượng tài sản, đa dạng hóa thu nhập, chất lượng quản lý tạo cơ sở choviệc xây dựng mô hình nghiên cứu hiệu quả hoạt động của NHTM

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nền kinh tế ngày càng gay gắt, cạnhtranh giữa các NH với các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàngnước ngoài Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh sẽ tác động đến ngân hàng nhưthế nào còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi, năng lực tài chính và hiệu quả hoạtđộng của chính các ngân hàng Các NH không có khả năng cạnh tranh sẽ được thaythế bằng các NH có hiệu quả hơn, điều đó cho thấy chỉ có các ngân hàng có nănglực tài chính tốt, hoạt động hiệu quả mới có lợi thế cạnh tranh và tồn tại bền vững

Có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng bao gồm yếu tốbên ngoài: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chính sách pháp luật, khoa học công nghệ…

và yếu tố bên trong như năng lực tài chính, uy tín thương hiệu NH, mạng lưới kênhphân phối, sự đa dạng sản phẩm…

Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động ngân hàng liên quan đến mức độ

an toàn vốn, chất lượng tín dụng, thu nhập, chi phí và khả năng thanh khoản để từ

đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NH là cần thiết

Trang 38

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

3.1 Quá trình hình thành ngân hàng thương mại Việt Nam

Việt Nam ngày 06/05/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thànhlập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, với tổng giám đốc đầu tiên là cố phó chủ tịchNguyễn Lương Bằng, chính thức khai sinh một ngành kinh tế rất trọng yếu của Nhànước – ngành Ngân hàng Ngân hàng quốc gia Việt Nam ban đầu có những nhiệm

vụ chủ yếu là: quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lýkho bạc nhà nước, huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hànghóa, quản lý các hoạt động tín dụng bằng biện pháp hành chính, quản lý ngoại hối

và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền tệ với địch Ngày 21/01/1960Ngân hàng quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,đến năm 1975 các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế cũng như hệ thống Tiền tệ -Ngân hàng theo mô hình ở miền Bắc đã áp dụng thống nhất trong cả nước Song donhiều nguyên nhân mà trong nhiều năm liên tục, cán cân thanh toán quốc tế bội chirất lớn, kinh tế vĩ mô mất cân đối nghiêm trọng, tình hình tài chính tiền tệ căngthẳng, lạm phát phi mã tới 3 con số, sản xuất đình trệ… Đại hội Đảng lần thứ 6 đã

đề ra đường lối đổi mới cho đất nước, 2 pháp lệnh ngân hàng được công bố ngày24/05/1990 là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định sự thay đổi mạnh mẽ của ngânhàng: Từ Ngân hàng một cấp thành Ngân hàng hai cấp Ngân hàng nhà nước ViệtNam là cơ quan quản lý nhà nước về Tiền tệ tín dụng và là Ngân hàng Trung ương,

hệ thống Ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh Hoạt động kinh doanhtrên lĩnh vực tiền tệ, qua thực tiễn đã yêu cầu đưa hoạt động Ngân hàng vào khuônkhổ pháp luật cao hơn, hai pháp lệnh Ngân hàng đã được tổng kết, nâng lên thành 2luật được thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/10/1998 Từ đây, ngành Ngânhàng đã đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc và pháttriển ngày càng lớn với 4 ngân hàng thương mại quốc doanh, 31 chi nhánh của 26

Trang 39

Ngân hàng nước ngoài, 4 Ngân hàng liên doanh, 35 Ngân hàng thương mại cổ phần,

959 quỹ tín dụng nhân dân và một số công ty tài chính khác Các nghiệp vụ Ngânhàng đã trở nên sâu rộng, đa dạng, phong phú và tăng lên nhanh chóng, huy độngvốn tăng gấp 1000 lần so với 1986 và gấp 21 lần so với năm 1990, cho vay nền kinh

tế gấp 28 lần so với 1990

Cho đến ngày hôm nay, hệ thống ngân hàng đã lớn mạnh cả về số lượng cũngnhư quy mô và mở rộng các sản phẩm dịch vụ đáp ứng cơ bản các yêu cầu pháttriển của nền kinh tế, ngành ngân hàng là nhân tố nòng cốt, tích cực trong công cuộcđổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,vận hành bằng cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theođịnh hướng Xã hội chủ nghĩa Nền văn minh tiền tệ Việt Nam đã từng bước đượckhẳng định thông qua tính ổn định giá trị, tính đa dạng về phương tiện thanh toánthay tiền mặt và không ngừng hoàn thiện các công nghệ điều hành cũng như côngnghệ kinh doanh hiện đại hướng về các nhu cầu tiện ích đa dạng của mọi tầng lớpnhân dân Sự lớn mạnh và thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng ngày càng hiệnđại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Ngân hàng trở thành trong chiến lược phát triểnkinh tế xã hội của đất nước trước những thách thức và thời cơ của xu thế hội nhập

và toàn cầu hoá trong giai đoạn phát triển mới

3.2 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2007-2015

Trong những năm trở lại đây, sự tăng trưởng nhanh về quy mô vốn đã giúp cácngân hàng cải thiện đáng kể năng lực tài chính Tuy nhiên, quy mô hệ thống ngânhàng Việt Nam còn rất nhỏ so với khu vực

Trang 40

(Nguồn: Ủy ban giám sát tài chính quốc gia)

Hình 3.1: So sánh quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước trong

khu vực năm 2015

Từ 2006 việc quy định vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng đến 2010 của cácNHTM cũng giúp cải thiện tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Việc quy định vốn điều lệ tốithiểu 3.000 tỷ đồng và thậm chí còn cao hơn nữa sẽ có hai tác dụng Thứ nhất, tránhtình trạng bị chi phối bởi một hay một vài cá nhân, điều đã gây ra những hậu quảnghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối thập niên 1990 Thứ hai

Ngày đăng: 26/09/2020, 09:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w