1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của tín dụng nhỏ do hội liên hiệp phụ nữ tỉnh sóc trăng cung cấp trong hỗ trợ hội viên khmer giảm nghèo

84 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 305,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam, “Basel: Các nguyên tắc cơ bản nhằm giám sát có hiệu quả hoạt động tàichính vi mô”, Ủy ban Basel đưa ra 10 đặc điểm cơ bản của TCVM như sau:  Đối tượng k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ XINH HƯỞNG

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG NHỎ

DO HỘI LHPN TỈNH SÓC TRĂNG CUNG CẤP TRONG HỖ TRỢ HỘI VIÊN KHMER GIẢM NGHÈO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ XINH HƯỞNG

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG NHỎ DO HỘI LHPN TỈNH SÓC TRĂNG CUNG CẤP TRONG

HỖ TRỢ HỘI VIÊN KHMER GIẢM NGHÈO

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS LÊ NGỌC UYỂN

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan lận văn “Nghiên cứu tác động của tín dụng nhỏ do Hội Liên HiệpPhụ nữ tỉnh Sóc Trăng cung cấp trong hỗ trợ hội viên Khmer giảm nghèo” là côngtrình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận vănnào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nàokhác trước đây

TP.HCM, ngày 19 tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Phan Thị Xinh Hưởng

Trang 4

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Kinh tế TP HCM đã dạy dỗ

và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luậnvăn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Lê Ngọc Uyển đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo

để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người giúp tôitrả lời bảng câu hỏi khảo sát làm nguồn dữ liệu cho việc phân tích và cho ra kết quảnghiên cứu của luận văn thạc sĩ này

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC BẢNG 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Kết cấu 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý thuyết 4

1.1.1 Các khái niệm 4

1.1.2 Các lý thuyết về tác động của tín dụng đối với việc giảm nghèo (hay tăng thu nhập) 22

1.2 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến đề tài 27

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VI MÔ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SÓC TRĂNG GIAI ĐOẠN 2012 – 2014 30

2.1 Mô tả địa điểm nghiên cứu 30

2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng cung cấp 34

2.2.1 Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm của những người trong tổ chức 34

2.2.2 Kết quả hoạt động nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnh cung cấp đến giảm nghèo của hội viên Khmer 36

2.2.3 Góp phần xây dựng tổ chức Hội 37

2.2.4 Điểm mạnh và hạn chế trong hoạt động nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN cung cấp 39

Trang 6

3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 41

3.2 Phương pháp chọn mẫu 41

3.3 Phương pháp thu thập số liệu 42

3.4 Phương pháp phân tích số liệu 43

3.5 Mô tả các biến số 44

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46

4.1 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SÓC TRĂNG 46

4.1.1 Chất lượng hoạt động của Hội theo đánh giá của các thành viên 46

4.1.2 Một số khó khăn/hạn chế khi hội viên tham gia chương trình 47

4.2 Những lợi ích của phụ nữ nghèo người Khmer khi tham gia vào các nhóm hỗ trợ phụ nữ 50

4.2.1 Lợi ích từ việc tiếp cận tín dụng 50

4.2.2 Lợi ích từ việc có thêm việc làm 53

4.2.3 Lợi ích từ việc tham gia các lớp tập huấn 55

4.2.4 Lợi ích khác 56

4.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 58

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 3

Trang 7

Dân tộc thiểu sốĐồng bằng sông Cửu Long

Hỗ trợ phụ nữ

Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tếLiên hiệp phụ nữ

Tài chính vi mô

Ủy ban nhân dân

Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

Nông thôn mớiQuản lý kinh tế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Dân số trung bình tỉnh Sóc Trăng năm –2012-2014 31

Bảng 2.2: Dân tộc Khmer phân theo huyện và thành phố 32

Bảng 2.3 Kế quả hoạt động tín dụng từ năm 2012-2014 37

Bảng 3.1: Ký hiệu và đơn vị các biến đưa vào mô hình 45

Bảng 4.1: Khó khăn, hạn chế khi tham gia chương trình 48

Bảng 4.2: Những đề xuất khắc phục khó khăn, hạn chế 49

Bảng 4.3: Mục đích sử dụng vốn vay 52

Bảng 4.4: Thu nhập tăng thêm khi được hỗ trợ việc làm 54

Bảng 4.5: Đánh giá mức độ áp dụng các khóa tập huấn của thành viên 55

Bảng 4.6: Mức độ tham gia vào các quyết định sau khi tham gia chương trình 57

Bảng 4.7: Kết quả xử lý các biến trong mô hình OLS 58

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 4.1: Chất lượng hoạt động của chương trình 46

Hình 4.2: Số đáp viên gặp khó khăn và không gặp khó khăn 47

Hình 4.3: Đồ thị đánh giá lãi suất cho vay của chương trình 51

Hình 4.4: Đồ thị những việc làm thành viên được hỗ trợ 54

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Sóc Trăng là một tổ chức chính trị - xã hội, cónhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chấtđạo đức, lối sống; vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hỗ trợ phụ nữ nângcao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vậtchất, tinh thần của phụ nữ v.v Với hệ thống tổ chức từ tỉnh đến cơ sở, Hội đã thuhút, tập hợp 137.825 hội viên, trong đó có 43.752 hội viên dân tộc Khmer (chiếm31,74%); 13.618/53.295 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ (8.544 hộ hội viên nghèolàm chủ hộ) vào tổ chức

Song song với thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, Hội LHPN tỉnh Sóc Trăngcòn thực hiện các dự án nâng cao năng lực, tín dụng tiết kiệm, bình đẳng giới,phòng, chống bạo lực gia đình do các tổ chức phi Chính phủ tài trợ

Nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững là nhiệm vụthen chốt, tạo điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác Trước yêu cầu công tácHội và nguyện vọng của đa số hội viên, công tác hỗ trợ phụ nữ nghèo được các cấpHội đẩy mạnh, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả, coi trọng phát huy nội lực

của phụ nữ để giảm nghèo bền vững Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”,“Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ”, v.v được duy trì trong suốt những năm qua, cùng các cuộc vận động lớn như “Mái ấm tình thương”,“Thực hành tiết kiệm theo gương Bác” với nhiều hình thức sáng tạo “Hũ gạo tiết kiệm”, “Nuôi heo đất”,

v.v được triển khai sâu rộng khắp cả tỉnh với tinh thần tương thân, tương ái, đã tạonên nguồn nội lực to lớn trị giá gần 50 tỷ đồng (2014), hỗ trợ hàng chục nghìn lượtphụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo; việc khai thác, quản lý các nguồn vốn tíndụng được đẩy mạnh, v.v Trong đó, có nguồn vốn tín dụng nhỏ do tổ chứcOXFAM, CIDSE tài trợ từ năm 1997 để hỗ trợ cho hội viên nghèo, phụ nữ Khmertrong tỉnh Gần 20 năm thực hiện dự án, Hội LHPN đã cung cấp tín dụng cho

Trang 12

38.299 lượt hội viên với số tiền hơn 57 tỷ đồng để chăn nuôi, trồng trọt, buôn bánnhỏ, góp phần tăng thu nhập cho gia đình, giúp hội viên có thói quen tiết kiệm, tăngcường khả năng làm việc theo nhóm, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuấtkinh doanh Qua đó, góp phần nâng cao vai trò phụ nữ trong gia đình, thu hút phụ

nữ vào tổ chức Hội, nâng cao năng lực cho hội viên và cán bộ Hội xây dựng nguồnvốn tiết kiệm tạo sự chủ động về vốn hỗ trợ sản xuất, xây dựng các mô hình pháttriển kinh tế phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương

Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của Hội LHPN vẫn còn bộc lộ những vấn đềnhất định cần được giải quyết như: phương thức quản lý, tổ chức thực hiện theokinh nghiệm và cách thức từ năm 1997 đến nay ít được đổi mới trong khi bối cảnh

đã có nhiều thay đổi; nợ xấu phát sinh, tan rã nhóm ngay cả ở những địa bàn mới;

có nhiều ý kiến trái chiều về định mức cho vay/hội viên, phương thức thanh toán

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của tín dụng nhỏ

do Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Sóc Trăng cung cấp trong hỗ trợ hội viên Khmer giảm nghèo” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, bởi đây là vấn đề cần được nghiên cứu

nhằm đề ra những giải pháp vừa giúp cho Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng quản lý tốtnguồn vốn tín dụng, vừa hỗ trợ hội viên nói chung, hội viên Khmer nói riêng giảmnghèo có hiệu quả

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng đang quản lý, tổ chức thực hiện nguồn vốn tíndụng nhỏ như thế nào?

- Ảnh hưởng tích cực, tiêu cực từ nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnhSóc Trăng cung cấp đến việc tăng thu nhậpcủa hội viên phụ nữ dân tộc Khmer ra sao?

- Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng cần làm gì để quản lý tốt nguồn vốn tín dụng và giúp hội viên Khmer tăng thu nhập khi tiếp cận nguồn vốn này?

Trang 13

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá cách thức quản lý, tổ chức thực hiện nguồn vốn tín dụng nhỏ của Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng

- Đánh giá tác động của nguồn vốn tín dụng nhỏ trong việc hỗ trợ cho hội viênphụ nữ dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng giảm nghèo

- Đề xuất giải pháp để Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng quản lý tốt nguồn vốn tíndụng và giúp hội viên phụ nữ dân tộc Khmer tăng thu nhập khi tiếp cận nguồn vốn này

4 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi địabàn đã và đang hưởng lợi nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng cung cấp và có đông đồng bào Khmer

- Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến tháng 2014

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý thuyết

Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP) thì “Tài chính vi

mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu cảu người nghèobao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm,…”

Từ khái niệm về TCVM ta có thể định nghĩa tín dụng vi mô như sau: Tín dụng

vi mô là một khoản vay nhỏ do ngân hàng hoặc một tổ chức nào đó cung cấp.Khoản vay nhỏ này thường dành cho cá nhân, không cần tài sản thế chấp hoặcthông qua việc cho vay theo nhóm

b) Đối tượng của tài chính vi mô

Những người nghèo chính là đối tượng của TCVM, tuy nhiên những ngườinày không phải là nghèo nhất xã hội Họ là những người có thu nhập thấp nhưng cóviệc làm Họ chỉ có nhu cầu về quy mô vốn vay nhỏ để mở rộng thêm hoạt độngsản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho gia đình

Bên cạnh đó, phụ nữ cũng là đối tượng chính của TCVM Có rất nhiềunguyên nhân để phụ nữ trở thành mục tiêu đầu tiên của dịch vụ TCVM Bởi vìkhoảng 70% người nghèo trên thế giới là phụ nữ Tỷ lệ thất nghiệp ở phụ nữ cũngcao hơn là nam giới Việc cấp vốn cho phụ nữ sẽ giúp nâng cao vị thế của họ trong

xã hội

Trang 15

c) Đặc điểm của tài chính vi mô

Theo quan điểm của các nhà chính sách, để thanh tra, giám sát một cách cóhiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính, cần hiểu đúng về tính chất và các đặcđiểm hoạt động của mỗi loại hình tổ chức tài chính đó Theo Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam, “Basel: Các nguyên tắc cơ bản nhằm giám sát có hiệu quả hoạt động tàichính vi mô”, Ủy ban Basel đưa ra 10 đặc điểm cơ bản của TCVM như sau:

Đối tượng khách hàng là những người có thu nhập thấp: Các tổ chức

TCVM thường xuyên cung cấp tín dụng cho những khách hàng có thu nhập thấp(như lao động bán thất nghiệp và các hộ kinh doanh không chính thức như ngườibán hàng rong, các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ và vừa,…) Các đốitượng khách hàng này có đặc điểm chung là sống tập trung trong một khu vực địa lý

và cùng nhóm xã hội (hội phụ nữ, nông dân, đồng hương,…) Vì đối tượng kháchhàng là người có thu nhập thấp nên các khoản cho vay thường có giá trị nhỏ, thờihạn ngắn và không có tài sản bảo đảm Tuy nhiên, chu kỳ trả nợ của khoản vay lạithường xuyên hơn với mức lãi suất áp dụng thường cao hơn so với các khoản vaythông thường Nhằm mục đích bù đắp chi phí hoạt động liên quan đến phương thứccho vay vi mô tập trung nhiều nhân lực, các khoản vay TCVM thường áp dụng mứclãi suất cao hơn so với cho vay thương mại

Phân tích rủi ro tín dụng: Hồ sơ vay vốn TCVM thường rất lớn bởi

cán bộ tín dụng phải thu thập rất nhiều thông tin về khách hàng thông qua những lầnthăm gia đình hoặc địa điểm kinh doanh của họ Người đi vay thường xuyên thiếucác báo cáo tài chính chính thức; do vậy cán bộ tín dụng phải giúp đỡ khách hàngchuẩn bị tài liệu để đánh giá các dòng tiền tương lai và giá trị ròng của các khoảntiền, qua đó xác định thời hạn và khối lượng của khoản vay Các đặc điểm củangười đi vay và sự sẵn sàng trả nợ của họ cần được cán bộ tín dụng đánh giá trongsuốt quá trình viếng thăm khách hàng và xét duyệt khoản vay Mặc dù trung tâmthông tin tín dụng thường không có sẵn các thông tin về các khách hàng có thu nhậpthấp hoặc về tất cả các tổ chức TCVM hiện tại Tuy nhiên, khi có các thông tin này

Trang 16

tại trung tâm, các thông tin được xem là rất hữu ích và được sử dụng làm tài liệuphục vụ quá trình xét duyệt khoản vay Đối với cho vay vi mô, xếp hạng tín dụng,nếu được sử dụng trong quá trình xét duyệt khoản vay, được coi là yếu tố bổ sung(điều kiện cần) hơn là yếu tố quyết định (điều kiện đủ).

Sử dụng tài sản ký quỹ: Khách hàng của TCVM thường không có tài

sản ký quỹ - vật được các ngân hàng thương mại sử dụng làm tài sản thế chấp chocác khoản vay Cũng có trường hợp khách hàng TCVM có tài sản ký quỹ, tuy nhiêngiá trị của tài sản đó rất thấp (như tivi, đồ nội thất…) Trong trường hợp này, tài sảnthế chấp được sử dụng như một phương pháp ràng buộc người đi vay phải trả nợhơn là sử dụng để bù đắp các khoản lỗ

Phê duyệt và kiểm soát tín dụng: Cho vay vi mô là một quá trình có

độ phân tán cao, nên phê duyệt tín dụng phải dựa vào kỹ năng và “độ thâm nhập”của cán bộ tín dụng và các nhà quản lý để tìm ra các thông tin chính xác và kịp thời

Kiểm soát các khoản nợ chậm trả: Kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ

chậm trả là cần thiết, vì các khoản cho vay TCVM có đặc điểm là không có tài sảnđảm bảo, chu kỳ thanh toán nhanh (thường là hàng tuần hoặc hai tuần một lần) và

có tác động lây lan Thông thường, kiểm soát tín dụng TCVM hoàn toàn phụ thuộccán bộ tín dụng, do họ là người nắm rõ nhất những thông tin về hoàn cảnh cá nhâncủa khách hàng - là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả công tác thu hồinợ

Cho vay lũy tiến: Những khách hàng TCVM thường bị hạn chế khả

năng tiếp cận đối với các nguồn tài chính khác (do không có tài sản đảm bảo, quy

mô sản xuất kinh doanh quá nhỏ bé…) nên họ phải phụ thuộc rất nhiều vào các tiếpcận tín dụng vi mô hiện tại Cho vay TCVM sử dụng rất nhiều các chương trìnhkhuyến khích nhằm động viên, khen thưởng những người đi vay tốt (như tạo điềukiện cho vay dễ dàng đối với khoản vay kế tiếp, cung cấp khoản vay có giá trị lớnhơn, mức lãi suất thấp hơn, thời hạn trả nợ kéo dài hơn) Các chương trình như vậy

Trang 17

rủi ro mắc nợ quá lớn, đặc biệt trong trường hợp hệ thống thông tin tín dụng vi môkhông có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ Đặc điểm này của TCVM cũng tạo

ra ảnh hưởng đối với công tác quản lý rủi ro lãi suất, nhất là khi các khách hàngTCVM mong muốn lãi suất tín dụng sẽ giảm cùng với những thành tích của kháchhàng ngày càng tăng mà không quan tâm gì đến mức lãi suất cho vay trung bìnhtrên thị trường

Cho vay theo nhóm: Một số tổ chức TCVM sử dụng phương thức cho

vay theo nhóm, theo đó các khoản cho vay sẽ được giải ngân cho những nhómkhách hàng nhỏ - các cá nhân trong nhóm có cam kết cùng bảo đảm thanh toán chonhau Phương thức cho vay này được xây dựng dựa trên giả thiết áp lực nhóm sẽnâng cao mức bảo đảm trả nợ, bởi vì sự chậm trả của một cá nhân trong nhóm sẽlàm ảnh hưởng đến khả năng nhận tín dụng của các thành viên khác trong nhóm

Hiệu ứng Domino: Thực tế đã chứng minh quản lý chặt chẽ các khoản

nợ chậm trả và áp lực nhóm đã đem lại tỷ lệ trả nợ cao hơn rất nhiều Tuy nhiên,chất lượng tín dụng của các khoản vay cá nhân có thể thay đổi rất nhanh bởi vì bảnchất của các khoản vay vi mô là không có tài sản bảo đảm và có hiệu ứng Domino.Hiệu ứng Domino xảy ra khi người đi vay có thể dừng việc trả nợ cho tổ chứcTCVM vì họ cho rằng tổ chức TCVM đang rơi vào tình trạng gia tăng nợ quá hạn

và như vậy thì tổ chức đó sẽ không có khả năng cung cấp các khoản cho vay vi môtiếp theo cho mình

Rủi ro tiền tệ: Thỉnh thoảng người đi vay sẽ vay loại tiền khác với loại

tiền mà mình sẽ thu về Trong trường hợp đó, sự thay đổi tỷ giá có thể ảnh hưởngđến khả năng trả nợ của người đi vay

Các ảnh hưởng chính trị: TCVM tại nhiều quốc gia được coi là một

công cụ chính trị Các chính trị gia có thể công bố xóa nợ hoặc cấm cung cấp tíndụng vi mô cho người nghèo khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn trì trệ

Trang 18

d) Vai trò của tài chính vi mô

Tạp chí tài chính “Vai trò của tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam” đăng ngày 17/9/2014, có viết:

- Giải pháp thoát nghèo: Đa số người nghèo sống chủ yếu dựa vào nông

nghiệp với năng suất lao động thấp và ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính vàkiến thức Tài chính vi mô có khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩmtài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triểnkinh tế và đóng góp cho xã hội Mặc dù vốn vay của TCVM không lớn như cácngân hàng thương mại hay ngân hàng chính sách nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quantrọng bởi những khoản vay này đến được với người nghèo và nghèo nhất vào đúngthời điểm cần thiết nhất, giúp họ khởi tạo sản xuất kinh doanh, tạo dựng tài sản, ổnđịnh chỉ tiêu và bảo vệ họ khỏi nghèo đói mặc dù việc này cần thời gian

- Tăng thu nhập cho hộ gia đình nghèo: Hiện nay, TCVM cung cấp các

dịch vụ tài chính đa dạng như cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, (giáo dục tài chính chokhách hàng lập ngân sách và tiết kiệm, hỗ trợ tài chính kịp thời cho khách hàng gặpkhó khăn…), giúp người nghèo tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạngcác khoản thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, có các khoản thu nhập khác từ tiểuthủ công nghiệp, thương mại, kinh doanh doanh nhỏ Đồng thời, góp phần giúpngười nghèo tránh, giảm rủi ro về kinh tế và cuộc sống, từ đó, tăng thu nhập hộ giađình Trong khi thu nhập không tự động tăng lên, nguồn vốn vay đáng tin cậykhông cần tài sản thế chấp ban đầu là cơ sở nền tảng cho việc lên kế hoạch khởiđộng sản xuất, mở rộng kinh doanh, cộng thêm tổ chức cung cấp vốn luôn tạo điềukiện thuận lợi cho khách hàng sử dụng đồng vốn vay hiệu quả, tiết kiệm và khôngphải bán hay cầm cố tài sản khi gặp rủi ro thất bại Hơn nữa, cán bộ tín dụng của tổchức luôn gần gũi với dân, có những sự giúp đỡ kịp thời để người dân nghèo luônphát huy được hết khả năng sản xuất kinh doanh nhằm cải thiện thu nhập và cuộcsống của chính họ

Trang 19

- Tạo dựng tài sản, cải thiện sức khỏe và đầu tư nhiều hơn cho giáo dục:

Nhờ tăng thu nhập, người nghèo có thể tích lũy tài sản, tiết kiệm và khả năng vayvốn, để tái đầu tư mở rộng sản xuất, nhà xưởng, thuê thêm nhân công tạo công ănviệc làm cho lao động tại địa phương; mua đất đai xây dựng hoặc cải tạo nhà ở, vậtnuôi Bên cạnh đó, nhờ tiết kiệm và tài sản được tích lũy, người nghèo thay vì phảichạy ăn từng bữa, tồn tại từ ngày này sang ngày khác, sẽ có những kế hoạch dài lâu

và định hướng cho tương lai Hộ gia đình có nhiều điều kiện để quan tâm đến dinhdưỡng, cải thiện điều kiện sống, chủ động tìm kiếm và chi trả cho dịch vụ y tế thay

vì đến các cơ sở y tế khi tình trạng sức khỏe trở nên tồi tệ Tăng thu nhập đồngnghĩa với việc hộ gia đình có thể cho các con của họ tiếp cận dịch vụ giáo dục vớithời gian dài hơn và đầu tư nhiều hơn vào giáo dục cho con cái

- Tăng quyền cho người phụ nữ: Trong rất nhiều chương trình TCVM,

phụ nữ nghèo là đối tượng khách hàng tuyệt vời, chủ yếu của các sản phẩm tàichính Bởi phụ nữ là những người tiết kiệm tích cực và có tỉ lệ hoàn trả các khoảnvay cao hơn đàn ông Đồng thời, phần lớn trong các hộ gia đình nghèo, họ là trụ cộtchính kiếm tiền nuôi cả gia đình Tuy nhiên, phụ nữ nghèo cũng chính là đối tượngchịu nhiều thiệt thòi và dễ bị tổn thương ngay tại gia đình mình Tham gia chươngtrình của tổ chức TCVM, phụ nữ sẽ được quản lý tiền, tiếp cận với tri thức dẫn tớinhiều lựa chọn hơn đã khiến họ có quyền nhiều hơn trong các vấn đề của gia đình

và xã hội, họ và chồng đã cùng nhau ra quyết định trong những khía cạnh quantrọng của đời sống Bằng cách này hay cách khác, họ đang đóng góp đáng kể vào tàichính gia đình và thực tế này giúp họ giành thêm sự tôn trọng từ phía chồng con, cóthể thương lượng với chồng giúp đỡ việc nhà, tránh các cãi vã về tiền bạc, và được

họ hàng, gia đình nhà chồng coi trọng hơn

e) Hình thức và hoạt động của tài chính vi mô

Khách hàng của TCVM là người nghèo tại thời điểm vay vốn, không cần tài sản thếchấp Tài chính vi mô cung cấp dịch vụ tín dụng ngay trên địa bàn mà người vay và

Trang 20

được nhiều người tham gia, giảm chi phí tín dụng, tăng tính tiết kiệm và tính cộngđồng.

Phương pháp TCVM được xây dựng đáp ứng cho từng cá nhân hay nhómkhách hàng tham gia Các tổ chức TCVM thường cung cấp tín dụng theo ba hìnhthức: cho vay cá thể, cho vay theo nhóm tương hỗ và cho vay gián tiếp theo nhómtương hỗ qua trung gian thứ ba (các đoàn thể xã hội)

Những người nghèo, được tham gia mượn vốn, tiết kiệm, và các dịch vụ tàichính khác Bên cạnh các dịch vụ về tài chính, các tổ chức TCVM còn thực hiệnnhiều hoạt động phi tài chính vì mục đích phát triển khác Đồng thời, được tiếp cậnvới bảo hiểm vi mô, người nghèo có thể đương đầu với sự tăng giá đột ngột, hay tàisản, vật nuôi bị bệnh dịch, chết, hoặc bị mất Việc được mượn vốn cũng cho phépngười nghèo tận dụng được những cơ hội phát triển kinh tế Theo đó, khi vay vốnnhững người nghèo này phải có kế hoạch kinh doanh cụ thể để có khả năng trả nợtrong một kỳ hạn được yêu cầu Nếu không thì các khách hàng có thể sẽ khôngđược lợi từ số tiền mượn và có nguy cơ bị đẩy vào tình trạng nợ nần Từ đó ngườinghèo sẽ có nhưng thay đổi trong thói quen tiêu dùng biến đổi từ “kiếm sống hằngngày” sang “lập kế hoạch cho tương lai”, nhờ đó mà cải thiện dần dần đời sống giađình

1.1.1.2 Quá trình phát triển của tài chính vi mô ở Việt Nam

Trên thế giới

Lần đầu tiên, người ta biết đến TCVM là vào những năm đầu thế kỷ thứ 17, doJonathan Swift, một người Ailen, là cha đẻ của TCVM Đến thế kỷ thứ 19, các hìnhthức cung cấp TCVM dưới dạng bán chính thức mới ra đời do F.W.Raiffeisen, mộtngười Đức thiết kế và áp dụng từ những năm1860 cho lĩnh vực nông nghiệp

Theo phương pháp của F.W.Raiffeisen những nhóm tiết kiệm, vay vốn hoạt độngdựa trên nguyên tắc giúp đỡ nhau, bằng những nguồn lực về tài chính, kĩ thuật, tổ

Trang 21

giúp đỡ trước tiên cho các thành viên là những nông dân, những nhà sản xuất nhỏtrong khu vực nông nghiệp Qua đó, giúp cho các thành viên không phải đối diệnvới các nguồn lực bên ngoài, được tính theo các điều kiện thị trường, thường vớimức lãi suất rất cao, và kèm thêm các điều kiện thế chấp về tài sản Trong nhữngnguồn lực của nhóm, nguồn tài chính quan trọng nhất là sự tham gia đóng góp vốncủa các thành viên Những nguồn vốn đóng góp là cơ hội để cho các thành viênđược vay, đầu tư vào sản xuất, cho các nhu cầu chi tiêu khác, bên cạnh đó, từ sựđóng góp vốn cũng tạo ra thu nhập cho những người góp vốn Mô hình củaF.W.Raiffeisen được hình thành và phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp,

mà còn được nhân rộng trong cộng đồng của xã hội, ngay cả trong khu vực thànhthị Cách thức tổ chức thành các nhóm tiết kiệm, vay vốn giúp cho nhiều ngườinghèo, đối tượng kinh doanh nhỏ trong khu vực thành thị, được đáp ứng nhu cầu vềvốn và các nguồn lực thiếu hụt khác, nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, tạonguồn thu nhập ổn định

Năm 1872, Raiffeisen đã lập nên Hội Liên hiệp cấp quốc gia, kết hợp cấu trúctheo hàng ngang với cấu trúc theo chiều dọc Sau đó những nguyên tắc cơ bản củaRaiffeisen tiếp tục là bài học cho việc thành lập các tổ chức hợp tác tín dụng trêntoàn thế giới và được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từngnước Những kiến thức và kinh nghiệm đó đã được lan rộng và phổ biến khắp nơi ởchâu Âu, châu Á – Philippines, Trung Quốc, Bangladesh và Việt Nam, tạo ra nhiều

mô hình TCVM thích hợp với người nghèo hơn Hiện nay, có khoảng trên 100nghìn tổ chức cung cấp TCVM dưới nhiều dạng khác nhau Đặc biệt là mô hìnhngân hàng Grameen do Muhammad Yunus sáng lập ở Bangladesh, Ngân hàngGrameen cũng đi theo con đường tương tự là hoạt động TCVM theo mô hình truyềnthống của Raiffeisen, đã có tác động mạnh mẽ đến công cuộc xóa đói giảm nghèo ởBangladesh Grameen bây giờ là một ngân hàng chính quy, nó được coi như là một

mô hình phát triển lý tưởng cho mọi tổ chức TCVM học tập Mô hình này đã trởthành mẫu hình cho hơn 23 quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam

Trang 22

Ở Việt Nam

Năm 1986, Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chính sách quốc gia vềxóa đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất của ngườinghèo Cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các chương trình

hỗ trợ phát triển chính thức song phương và đa phương, các cơ quan đoàn thể xã hội

và chính quyền địa phương, các chương trình TCVM ở Việt Nam đã được hìnhthành và phát triển với mục đích chính là giảm nghèo cho phụ nữ, nam giới, trẻ emthông qua các việc đảm bảo các quyền và điều kiện sống công bằng và đảm bảocông lý Tuy nhiên, lúc đầu không có một khung pháp lý nào cho sự hoạt động củacác TCVM và đa số các tổ chức tài chính đều nhận hỗ trợ vốn và kỹ thuật từ các tổchức NGO nước ngoài Cho đến năm 1998, Ngân hàng Nhà nước mới cấp vốn chocác ngân hàng như Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn để thực hiện hoạt động TCVM Đến ngày 09/3/2005, Ngânhàng Nhà nước đã ban hành Nghị định số 28/2005/NĐ-CP của Chính phủ về tổchức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam Nghị địnhnày là nền tảng pháp lý quant trọng giúp những cơ sở tài chính và tín dụng vi môvững tâm triển khai những thành quả đã gặt hái được và tiếp tục nỗ lực giúp đỡngười nghèo tại Việt Nam

Có thể chia quá trình phát triển TCVM ở Việt Nam theo 3 giai đoạn: Khởiđầu, mở rộng và phát triển chiều sâu

a) Giai đoạn khởi đầu (trước 1980)

Cũng giống như các nước trên thế giới, tài chính vi mô tại Việt Nam, với địnhnghĩa truyền thống, nó được hiểu là cho vay các món nhỏ, không hoặc có đòi hỏivật bảo đảm, không lãi hoặc lãi cao Như vậy, có thể nói TCVM xuất hiện và tồn tại

ở Việt nam đã từ lâu đời, gắn với nền kinh tế tiểu nông và nếp sống làng xã thườngngày của người dân trên tất cả các vùng miền, đặc biệt là khu vực nông thôn Nó ít

ý nghĩa với việc phát triển kinh tế nhưng lại có vai trò to lớn trong việc cứu giúp

Trang 23

những người, những hộ gia đình gặp rủi ro, đe dọa cuộc sống và có thể đẩy họ rơi vào thảm cảnh.

b) Giai đoạn mở rộng (1990 – 2000)

Vào cuối những năm 80 các dự án cấp vốn không đòi hỏi thế chấp bắt đầuđược đưa vào thử nghiệm Đánh dấu bằng thành công của dự án VIE/91/P01 doQuỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA), Tổ chức nông lương liên hợp quốc (FAO), HộiLHPN trung ương và Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam thực hiện từ năm 1990 đến

1993 Vào những năm 1990 hàng loạt các cơ quan phát triển quốc tế khác cũng tiếnhành các dự án tiết kiệm – tín dụng tại Việt Nam

Các tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò to lớn trong việc đặtnền móng cho sự phát triển TCVM tại Việt Nam, họ đã cung cấp một nguồn lựcđáng kể và tạo đà cho các tổ chức địa phương tiếp tục phát triển và trưởng thành.Các nhà tài trợ và các tổ chức TCVM bên ngoài cũng có nhiều đóng góp quan trọngtrong việc hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kĩ thuật và đào tạo cán bộ cho Việt Nam

c) Giai đoạn phát triển theo chiều sâu (sau năm 2000 tới nay)

Vào đầu thế kỷ 20, TCVM không còn là xu hướng của thế giới Tại Việt Nam,các dự án, các chương trình có hợp phần TCVM lần lượt đóng cửa hay lần lượt bàngiao cho địa phương tự quản lí trong lúc mô hình còn chưa hoàn chỉnh, chưa rõ ràng

về mặt tổ chức, về tính pháp lí và quyền sở hữu, v.v Có thể nói đây là giai đoạn cực

kì khó khăn với các tổ chức có hoạt độngTCVM Về phía người thực hiện lại chưaphải là pháp nhân độc lập để trực tiếp nhận bàn giao Cơ quan nhận bàn giao lạikhông hiểu biết về TCVM Trong khi đó, cơ sở pháp lí để tiếp nhận chương trìnhcòn nhiều bất cập, không rõ ràng về quyền sở hữu Cơ chế kiểm tra giám sát hànhchính không phù hợp với giám sát hoạt động TCVM Tất cả những khó khăn đó đãdẫn tới hàng loạt chương trình bị thu hẹp hoặc tàn lụi (UNICEF, UNFPA, CIDSE,Oxfam GB, Oxfam Hongkong,…)

Trang 24

Trong bối cảnh như vậy một số tổ chức đã nỗ lực tìm mọi cách để tồn tại,chuyển đổi cơ cấu tổ chức và tài chính, tăng cường năng lực và chuyên nghiệp hóa,sẵn sàng hòa vào dòng tài chính chính thức khi luật pháp cho phép Hàng loạt cácquỹ xã hội được thành lập dựa trên cơ sở pháp lí là Nghị định 177-1999/NĐ-CP về

tổ chức và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện nhân đạo Năm 2005 Chínhphủ mới ban hành Nghị định 28-2005/NĐ-CP, và sau đó là Nghị định 165 về tổchức và hoạt động của Tổ chức tài chính qui mô nhỏ

1.1.1.3 Một số mô hình tài chính vi mô trên thế giới

Ngân hàng Grameen:

Mô hình này do ngân hàng Grameen tại Bangladesh phát triển, được thành lậpvào năm 1976, và đến năm 1983 thì chuyển đổi thành một ngân hàng chính thốngtheo một đạo luật đặc biệt của Chính phủ dành cho ngân hàng này Đây là một môhình đặc biệt bởi 94% vốn của nó là của chính những khách hàng và khách hàngchủ yếu là phụ nữ Phần còn lại, 6% cổ phần, thuộc sở hữu của Nhà nước Với mụcđích chính là nhằm phục vụ những người phụ nữ nông thôn, không có ruộng đất,mong muốn tài trợ cho các hoạt động thu nhập của họ

Bắt đầu bằng thử nghiệm nhỏ (bỏ 27 USD tiền túi cho 42 hộ gia đình nghèovay) thành công, Yunus đã thành lập ngân hàng Grameen

Phương pháp thực hiện: Sẽ không cho vay theo cá nhân mà vay theo nhóm: Các

nhóm thành viên không có quan hệ huyết thống hay hôn nhân được tự thành lập và tậptrung thành các “trung tâm” gồm khoảng 8 nhóm Các thành viên bắt buộc phải tham

dự các buổi sinh hoạt hàng tuần và đóng góp tiền tiết kiệm, đóng góp vào quỹ nhóm vàđóng tiền bảo hiểm Đóng góp tiền tiết kiệm được thực hiện từ bốn đến năm tuần trướckhi nhận được món vay và phải tiếp tục trong thời gian vay vốn Quỹ nhóm được nhóm

tự quản lý và có thể được sử dụng để cho vay đến các thành viên trong nhóm Cácthành viên trong nhóm cùng bảo lãnh những món vay của nhau và chịu trách nhiệmliên đới về pháp luật về việc hoàn trả nợ của các thành

Trang 25

viên khác trong cùng nhóm Bất kỳ thành viên nào cũng không được vay thêm nếucác thành viên khác trong nhóm không trả hết nợ Không cần tài sản thế chấp.

Sản phẩm: là các món vay có kỳ hạn từ 6 tháng đến 1 năm và việc hoàn trả

được thực hiện hàng tuần Số tiền vay thường dao động từ 100 USD đến 300 USDvới lãi suất khoảng 20% /năm Tiết kiệm là hoàn toàn bắt buộc

Mô hình nhóm đoàn kết (Accion International):

Tổ chức tiên phong được thành lập bởi một sinh viên luật, Joseph Blatchford,

để giải quyết vấn đề đói nghèo ở các thành phố của châu Mỹ La-tinh Khởi đầu mọithứ là nỗ lực của các sinh viên tình nguyện trong khu ổ chuột Caravas, phát triểncùng khoản tiền 90.000 USD từ các công ty tư nhân, Accion ngày hôm nay là mộttrong các tổ chức tài chính vi mô hàng đầu trên thế giới, với mạng lưới đối tác chovay trải rộng khắp châu Mỹ La-tinh, Hoa Kỳ và châu Phi

Phương pháp thực hiện: Vốn vay được cung cấp cho các nhóm từ 4 - 7 thành

viên hơn là cho cá nhân, tự các thành viên sẽ chia đều vốn cho nhau Khách hàngthường là những doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính thức, chẳng hạn nhữngnhà buôn hoặc người kinh doanh cần một lượng vốn hoạt động nhỏ Các thành viêntrong nhóm cùng bảo đảm việc hoàn trả món vay, và việc tiếp cận các món vay tiếptheo phụ thuộc vào sự hoàn trả thành công của tất cả các thành viên trong nhóm.Các khoản thanh toán được thực hiện hoàn toàn tại trụ sở của chương trình Mô hìnhcũng kết hợp sự hỗ trợ kỹ thuật tối thiểu tới người vay, chẳng hạn huấn luyện và xâydựng tổ chức Các khoản tiết kiệm thường được đòi hỏi nhưng nhiều khi được khấutrừ số tiền vay vào thời điểm giải ngân món vay chứ không nhất thiết đòi hỏi kháchhàng phải tiết kiệm trước khi nhận được món vay Số tiện tiết kiệm về cơ bản phục

vụ nhu một số dư bù đắp, bảo đảm cho một phần của số tiền vay

Sản phẩm: Số tiền vay ban đầu thường nằm trong khoản 100 USD đến 200

USD Những món vay sau đó không có giới hạn trên Lãi suất thường khá cao vàdịch vụ cũng được tính gộp Các khoản tiết kiệm thường được yêu cầu như một

Trang 26

phần của món vay Một vài tổ chức khuyến khích việc thiết lập các quỹ cứu trợkhẩn cấp trong nội bộ nhóm để hoạt động như một phương tiện bảo đảm an toàn.

Có rất ít sản phẩm tiết kiệm tự nguyện được cung cấp

Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI):

Bank Rakyat Indonesia (BRI) là ngân hàng thương mại nhà nước ở IndonesiaTrong 30 năm hình thành và phát triển BRI là ngân hàng của khu vực nông thôn vàhoạt động nông nghiệp Hệ thống ngân hàng đơn vị đã thiết lập trần cho vayKupedes, xem đây là công vụ để tập trung dịch vụ tài chính cho bộ phận doanhnghiệp nhỏ Ban đầu khoản vay có giá trị tối đa cố định là 1.000 USD và liên tụcđược nâng lên thành 5.000 USD Những khoản vay nhỏ không tập trung vào kháchhàng lớn, có quyền lực chính trị, vậy nên giảm được sự can thiệp, ảnh hưởng củakhách hàng đến quá trình vận hành

Mô hình này được Tổ chức trợ giúp cộng đồng quốc tế (FINCA) phát triểnvào giữa những năm 80

Phương pháp thực hiện: Khách hàng lập thành các nhóm tối thiểu từ 15 – 20

thành viên, đa số là phụ nữ, vốn vay được chia đều cho các thành viên, và mỗi thànhviên đều sở hữu một “cổ phần” của ngân hàng Tất cả các thành viên đều phải ký mộtthảo ước vay vốn nhằm đưa ra sự bảo đảm chung Số tiền cho ngân hàng làng xã vaythường dựa trên tổng tất cả các yêu cầu vay của các thành viên Các món vay với ngânhàng làng xã thường được cung ứng theo chu kỳ cố định, thường từ 10 đến 12 tháng,với việc thanh toán toàn bộ số tiền vào cuối kỳ Số tiền vay tiếp sau có liên hệ với sốtiền tổng cộng được tiết kiệm bởi các thành viên ngân hàng Các ngân hàng lãng xã cómức độ kiểm soát dân chủ cao và độc lập Các cuộc họp hàng tháng nhằm thu cáckhoản tiền tiết kiệm, giải ngân các món vay, tham dự các vấn đề về quản lý vầ nếu cóthể, tiếp tục các khoá đào tạo với cán bộ tổ chức tài chính vi mô

Trang 27

Sản phẩm: Các món vay có lãi suất thương mại (1 – 3%/tháng) và lãi suất sẽ

cao hơn nếu nguồn cho vay xuất phát từ một khoản tài trợ nội bộ Một vài ngânhàng đã mở rộng cung cấp dịch vụ bao gồm cả giáo dục về đổi mới nông nghiệp,dinh dưỡng và y tế Tiết kiệm của các thành viên gắn liền với số tiền vay và được sửdụng để tài trợ cho những món vay mới hoặc cho những hoạt động tạo thu nhập

1.1.1.4 Bài học kinh nghiệm cho sự phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam

- Nâng cao nhận thức đối với các hoạt động TCVM

Tài chính vi mô bao gồm nhiều hoạt động, không chỉ cung cấp dịch vụ tíndụng mà còn các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, các dịch vụ xã hội… nhưng cho đếnnay, rất nhiều người còn nhầm lẫn TCVM với tín dụng vi mô Mặt khác, việc cungcấp các dịch vụ tài chính và dịch vụ xã hội không phải là một hoạt động từ thiện.Hoạt động TCVM cần áp dụng các nguyên tắc kinh doanh lành mạnh, hoạt độngtheo hướng bù đắp đủ chi phí và có lãi

- Các tổ chức TCVM cần có sự trợ giúp ban đầu của các nhà tài trợ, Chính phủ

Ban đầu khi các tổ chức TCVM chưa có khả năng huy động tiết kiệm, có thể

do quy định của luật pháp hoặc chưa huy động được số tiền tiết kiệm lớn Lúc này,các nguồn trợ giúp ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển của các tổ chức TCVM

Hệ thống tín dụng của các nước như Ailen vào thế kỷ thứ 17, Đức và các nước châu

Âu khác vào thế kỉ 19 đã chỉ rõ điều này, có thể ở từng quốc gia sự hỗ trợ là rấtkhác nhau nhưng có vai trò quan trọng Một số nước thông qua cách thức hỗ trợ trựctiếp, nhưng đa phần đều có sự hỗ trợ gián tiếp như chính sách lãi suất ưu đãi, cáckhoản vốn góp từ thiện của cộng đồng

- Xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô thuận lợi cho TCVM phát triển

Một trong những chính sách kinh tế vĩ mô đầu tiên phải kể đến là chính sách lãisuất, lãi suất phải đủ bù đắp được chi phí hoạt động, tình trạng mất vốn, tình trạng

Trang 28

thay đổi theo hướng thị trường, các tổ chức TCVM được quyền quyết định lãi suấtcho vay theo đối tượng khách hàng Những khoản vay nhỏ, rủi ro lớn thường đượctính lãi suất cao hơn còn những khoản vay lớn, rủi ro thấp được tính lãi suất thấphơn.

Bên cạnh đó, cũng phải đưa ra chính sách thuế hợp lý, tại Argentina, hoạtđộng của các tổ chức TCVM không thành công được như những khu vực khác trênthế giới là do chính sách thuế giá trị gia tăng của nước này quá cao, lên tới 21%, đãlàm tăng chi phí cho các khoản vốn vay, người nghèo khó có khả năng tiếp cận.Trong khi ở những nước khác, mức thuế giá trị gia tăng thường thấp hơn rất nhiều,thậm chí còn được miễn thêm các khoản thuế như thu nhập, đối với các tổ chứcTCVM trong những thời gian đầu thành lập Còn trong quá trình hoạt động, khi màcác tổ chức TCVM theo đuổi các mục tiêu xã hội, hoặc đưa ra thêm các dịch vụkhông tính lãi hay mức lãi suất thấp sẽ được một số Chính phủ xem xét miễn thuếgiá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp

- Cần phải minh bạch, công khai về tài chính

Một trong những nguyê nhân dẫn đến tình trạng người nghèo bị tính lãi suấtquá cao khi vay vốn, là do các tổ chức TCVM đã không minh bạch Một mặt, họcông bố trên các phương tiện thông tin đại chúng một tỷ lệ lãi suất thấp hơn, nhưngthực tế, đằng sau các khoản vay vốn là các khoản phí được tính thêm làm cho lãisuất các khoản vay rất cao Trường hợp của Banco Compartamos ở Mỹ La-tinh làmột điển hình, bên cạnh đó, họ còn mập mờ trong cách tính thời gian để tính lãi,làm cho các khoản vay tính theo năm đã phải tính dư thêm một tháng

- Hoạt động TCVM thực sự là lĩnh vực đem lại lợi nhuận

Qua mô hình thành công của nhiều tổ chức TCVM cho thấy TCVM có khảnăng sinh lời cao, không thua kém bất kỳ một ngành kinh doanh trong các lĩnh vựckhác Điều này, có cơ sở để tin tưởng rằng TCVM có khả năng phát triển bền vững.Hoạt động sinh lời của TCVM góp phần tăng trưởng nguồn vốn, tăng số lượng

Trang 29

khách hàng được tiếp cận các dịch vụ TCVM, qua đó góp phần xoá đói, giảmnghèo, tăng thu nhập, nâng cao phúc lợi xã hội cho những người nghèo nhất Đồngthời, khi mà hoạt động của các tổ chức TCVM theo đúng tôn chỉ hoạt động là vìngười nghèo, thì các khoản lợi nhuận được phân chia cũng sẽ lại được chuyển đếnvới người nghèo.

1.1.1.5 Nghèo đói (hay Thu nhập)

Khái niệm nghèo

Nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo khôngchỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận các dịch vụcủa xã hội như: giáo dục, văn hóa, y tế; không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điềukiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong

đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế Nhà nước đượccải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạchcũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi Tình trạng nghèo còn đe dọa làmcon người bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng

Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chốngđói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như sau: Nghèo là tình trạng một bộphận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mànhững nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xãhội và phong tục tập quán của địa phương Nghèo được chia thành nghèo tuyệt đối

và nghèo tương đối

- Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạnchế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khókhăn và dể bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình raquyết định

- Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (9/1993): Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư

Trang 30

không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu của con người, mà những nhu cầu này

đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tậpquán của địa phương

Nghèo tuyệt đối

Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Nhữngngười nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếuthốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượngmang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta Hay nói cách khác,nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừanhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương

Nghèo tương đối

Trong xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàncảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấpkhông đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một sốtầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó

Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộcvào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủquan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác địnhkhách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốntài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hoá– xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng

Nói một cách dễ hiểu hơn là nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân

cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng

Để đo lường mức độ nghèo của một quốc gia người ta dùng mức chuẩn nghèo

Trang 31

cứ cho các hỗ trợ về chính sách cho hộ đó Chuẩn nghèo ở mỗi quốc gia là khácnhau và sẽ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Ngân hàng Thếgiới (WB) xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địaphương (so với đô la thế giới) Đối với Việt Nam, hộ nghèo là những hộ có mức thunhập dưới một mức tối thiểu nào đó, tuỳ theo từng giai đoạn mà mức chuẩn nghèonày sẽ thay đổi Cụ thể như sau:

- Mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2007 - 2010: Ở khu vực nông thônnhững hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Ở khu vực thành thị những hộ có thu nhậpbình quân từ 260.000đ/người/tháng (dưới 3.120.000đ/người/năm) trở xuống là hộnghèo (Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg)

- Mức chuẩn nghèo và cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011–2015: Chỉ thị

số 1752/CT-TTg ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo như sau:

+ Chuẩn nghèo: Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quânđầu người từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng /người/năm) trở xuống vànhững hộ ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000

đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

+ Chuẩn cận nghèo: Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bìnhquân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng (4.812.000 đồng/người/năm đến 6.240.000 đồng/người/năm) và khu vực thành thị có mức thu nhậpbình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng

(6.012.000 đồng/người/năm đến 7.800.000 đồng/người/năm)

Ngoài những định nghĩa về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối còn có ranhgiới nghèo tương đối Nắm rõ các định nghĩa này giúp ta phân biệt được nghèo vàcác chuẩn mực để xác định tỷ lệ nghèo

Trang 32

Ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không thể xác định đượcnếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước Việc chọn lựa một con số phần trămnhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng hoá để tínhsức mua tương đương đều không thể giải thích bằng các giá trị tự do (những giá trịđược đưa ra mang tính chủ quan) Vì vậy, một số trường hợp chúng được quyếtđịnh qua những quá trình chính trị.

1.1.1.6 Định nghĩa nghèo theo tình trạng sống

Cái gọi là định nghĩa tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoàithu nhập khi định nghĩa "nghèo con người" Tình trạng sống bao gồm những yếu tốnhư: cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năngảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác Chương trìnhPhát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người(Human Development Index – HDI) Các chỉ tiêu để đo lường HDI bao gồm tuổithọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầungười và nhiều chỉ tiêu khác

1.1.2 Các lý thuyết về tác động của tín dụng đối với việc giảm nghèo (hay tăng thu nhập)

1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng

Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước thì cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tíndụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thờigian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Như vậy, tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hayhiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi theo đúngthời gian đã thỏa thuận Phần lãi hay còn gọi là lãi suất tín dụng là phần giá trị lớnhơn giá trị mà người đi vay đã nhận phải trả cho người cho vay Quan hệ tín dụng ởbất cứ nơi nào cũng thể hiện ở 3 mặt cơ bản:

Trang 33

- Có sự chuyển giao quyền sở hữu từ người này sang người khác

- Sự chuyển giao này chỉ mang tính chất tạm thời

- Khi đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả lại chongười cho vay một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, phần giá trị tăng thêm này gọi làphần lời hay lãi suất

1.1.2.2 Tín dụng dành cho hộ nghèo

a) Tín dụng dành cho hộ nghèo theo quan điểm cũ

Tín dụng cho người nghèo là một hoạt động mang tính từ thiện do Chính phủhay các tổ chức xã hội tài trợ, loại hình dịch vụ này đã xuất hiện ở châu Âu từ thế

kỷ 19 Số người hưởng thụ dịch vụ tài chính này trong thời kỳ Chiến tranh thế giớithứ nhất ở Đức là 1,4 triệu người; năm 1946 tại Ấn Độ số người được hưởng dịch

vụ là 9 triệu người

Qua thực tiễn thực hiện của các dịch vụ này tại các nước cho thấy Chính phủ

đã phải bỏ rất nhiều tiền vào các dịch vụ này do các lý do:

+ Chi phí quản lý cao do địa bàn cho vay quá rộng

+ Phải quản lý nhiều khoản vay nhỏ

+ Hiện tượng xin cho (đút lót cho cán bộ tín dụng để có được khoản vay)+ Tỷ lệ thu hồi nợ cực thấp

Đằng sau dịch vụ tài chính cho người nghèo như trên là các quan niệm lạchậu:

+ Kinh doanh tài chính: Tín dụng cho người nghèo không có khả năng sinh lời, do người nghèo không biết làm ăn và hay gặp rủi ro trong cuộc sống

+ Phương pháp giải quyết vấn đề: Xem người nghèo là vấn đề mà Chính phủ phải giải quyết

Trang 34

+ Chi phí quản lý cao: Trước đây do trình độ lạc hậu và phương tiện thôngtin liên lạc còn kém phát triển nên phát sinh nhiều chi phí trong hoạt động và quảnlý.

b) Tín dụng cho người nghèo theo quan điểm mới

Việc ngân hàng Grameen của Yunus chính thức ra đời vào năm 1983 ởBangladesh đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm tín dụng cho người nghèo Về mặtbản chất, tín dụng cho người nghèo theo quan điểm mới là:

+ Người nghèo quá nhiều (hàng tỷ) Họ vừa là vấn đề phải giải quyết, họ cũng chính là phương tiện giải quyết vấn đề Hay nói cách khác, họ phải tự giúp họ

+ Người nghèo, nếu có cơ hội làm ra tiền, sẽ thanh toán nợ (tất nhiên tâm lý

xù nợ ở người nghèo là có, nhưng sẽ có cách kiểm soát)

+ Tài chính vi mô (microfinance) sẽ là trung gian tài chính để đưa vốn đếnngười nghèo

Và với vai trò trung gian này, tín dụng vi mô phải là dịch vụ tài chính có sinhlời, chứ không phải là làm từ thiện Ngoài ra tín dụng vi mô nên là tư nhân, tránh sửdụng trợ giá của nhà nước để không sa vào họat động kém hiệu quả do tham nhũng,cho vay nhầm đối tượng để hưởng chênh lệch lãi suất

1.1.2.3 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo

- Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói: Người nghèo do nhiều

nguyên nhân như thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh (SXKD), điều kiện tựnhiên bất lợi, không được đầu tư, thiếu vốn, v.v Trong đó, vốn là điều kiện tiênquyết đối với họ, là động lực để họ vượt qua khó khăn để thoát nghèo Khi có vốn,với bản chất cần cù cùng với sức lao động họ sẽ có điều kiện mua sắm các nguyênliệu đầu vào phục vụ cho SXKD, từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống

- Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, hiệu quả hoạt động kinh tế được nâng cao hơn: Những người nghèo do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để sản

Trang 35

xuất hoặc duy trì cuộc sống, họ phải vay tiền với lãi suất rất cao từ những người chovay nặng lãi Nếu nguồn vốn tín dụng đến được tận tay người nghèo thì các chủ chovay nặng lãi sẽ không có thị trường để hoạt động.

- Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường: Cung ứng vốn cho người nghèo theo

chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN, thông qua kênh tín dụngthu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải có kế hoạch rõ ràng như trồng cây

gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao Để làmđược như vậy, họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật, biện pháp quản lý; từ đó tạo cho

họ tính năng động sáng tạo trong SXKD, tích lũy được kinh nghiệm Mặt khác, khiphần lớn người nghèo tạo ra được sản phẩm hàng hóa thông qua việc trao đổi trênthị trường giúp họ tiếp cận được nền kinh tế thị trường một cách trực tiếp

- Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới: Tín dụng

cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể của nó như việcbình xét công khai những người được vay vốn, việc thực hiện các tổ vay vốn, tạo ra

sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp ủy, chínhquyền đã có tác dụng:

+ Tăng cường hiệu lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế ở địa phương

+ Tạo sự gắn bó giữa các hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thểcủa mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản

lý kinh tế gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn

+ Thông qua các tổ vay vốn tạo điều kiện để những người vay có cùng hoàncảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau

Trang 36

1.1.2.4 Lý thuyết thu nhập

a) Khái niệm thu nhập

Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đóhay là các khoản thu nhập được trong một khoản thời gian nhất định thường tínhtheo tháng, năm… (trang 95, Từ điển Tiếng Việt năm 1994)

Mức thu nhập là các khoản thu nhập được định mức quy đổi ra tiền tệ hoặc sảnphẩm nhằm so sánh lẫn nhau, mức thu nhập thường được đánh giá là cao hoặc thấp

b) Cơ cấu thu nhập

Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnhthể Như vậy có thể hiểu cơ cấu thu nhập trên bình diện theo các loại tổ chức thànhphần Tuy nhiên ở đây xét theo chủ thể của thu nhập là các hộ gia đình, các nhóm

xã hội tạo nên thu nhập Vậy cơ cấu của nhóm xã hội đó là các yếu tố xã hội nhưnghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, học vấn,…

1.1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2010), các nhân

tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo người dân tộc thiểu số bao gồm: trình độhọc vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của người lao động, nhân khẩu, số hoạt độngtạo thu nhập, độ tuổi lao động, tham gia hội đoàn thể, tình trạng vay vốn của hộ.Theo nghiên cứu của Lê Văn Toàn, Những yếu tố tác động đến phân tầng mứcsống ở Việt Nam, các nhân tố như quy mô hộ gia đình, dân tộc, giới tính, độ tuổi,trình độ học vấn, nghề nghiệp có ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân cũng như củahộ

Bên cạnh những nghiên cứu còn có những lý thuyết kinh tế giúp giải thích thunhập được tạo ra từ đâu và nhân tố nào có ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân haycủa hộ Lý thuyết sản xuất của trường phái Kinh tế học cổ điển cho rằng có 3 nhân

tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập là đất đai, lao động và vốn vật chất Tuy

Trang 37

nhiên các nhà kinh tế học Tân cổ điển cho rằng những yếu tố này chỉ là điểm đầucủa câu chuyện, họ đã đưa ra Lý thuyết vốn nhân lực, lý thuyết thu nhập và sự phânbiệt đối xử, lý thuyết phát tín hiệu,… để giải thích cho nguồn gốc sâu xa của sựkhác biệt về thu nhập giữa các cá nhân.

1.2 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến đề tài

Nghiên cứu của Conner Brannen (2010)

- Nghiên cứu này thực hiện một cuộc khảo sát thông qua phỏng vấn cá nhân

và nhóm tại Tanzania, Zanzibar vào năm 2006 nhằm đánh giá tác động của Hiệp hộitiết kiệm và cho vay (VSLA) tạo điều kiện tiết kiệm và vay vốn tự tài trợ cho cácnhóm từ 15 đến 30 người tiết kiệm mỗi tuần, và một khi các khoản tiết kiệm trở nên

đủ lớn để các thành viên có thể vay các khoản vay ngắn hạn (khoảng một tháng) tạimức lãi suất 5 % một tháng

- Mẫu: Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được sử dụng để chọn 120 khách hàng

và 50 thành viên chưa tham gia vào tiết kiệm hoặc cho vay

- Phương pháp phân tích: Hồi quy OLS

- Kết quả: Các thành viên của VSLA được gia tăng các hoạt động tạo thunhập Đối với phụ nữ thì điều này tăng thêm cho mỗi năm trong chương trình

TCVM Có tác động tích cực đối với các thành viên VSLA trong việc chi tiêu vào tài sản hộ gia đình

Nghiên cứu của Chen và Snodgrass D (2001)

- Nghiên cứu này thực hiện hai cuộc điều tra hai năm để xem sự thay đổi theothời gian (1998 và 2000) tại thành phố Ahmedabad, Ấn Độ để đánh giá các tác độngcủa việc cung cấp tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô cho phụ nữ sử dụng mô hìnhdịch vụ của ngân hàng SEWA Thành viên tham gia tiết kiệm 6 tháng trước khi họ

có các tùy chọn để vay Các khoản vay sau đó có thể lên đến 538 USD cho ba nămvới lãi suất 17%, hoàn trả trong 20 tháng góp

Trang 38

- Phương pháp phân tích: ANOVA, ANCOVA, phân tích điểm số đạt được.

- Kết quả: Các thành viên tham gia TCVM (gửi tiết kiệm và cho vay) có mứcthu nhập và chi tiêu vào nhà ở cao hơn so với nhóm không phải là thành viên.Không có bằng chứng cho thấy là thành viên TCVM liên quan đến đa dạng hóa thunhập

Nghiên cứu Nguyễn Việt Cường (2008)

- Nghiên cứu về đánh giá tác động chương trình tín dụng vi mô của Ngân hàng Chính sách xã hội đến giảm nghèo và giảm bất bình đẳng

- Quốc gia: Việt Nam

- Thiết kế nghiên cứu: Phân tích hồi quy sử dụng dữ liệu bảng Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) trong hai năm 2002 và 2004

- Thời gian thu thập số liệu: 2002 và 2004

- Mẫu: 2.776 hộ gia đình đã được lựa chọn bao gồm cả những người có và không có các khoản vay sử dụng phân tầng mẫu cụm ngẫu nhiên

- Phương pháp phân tích: Mô hình hiệu quả cố định kết hợp với biến công

cụ, hồi quy hai giai đoạn bình phương nhỏ nhất (2SLS)

- Kết quả: Việc tham gia chương trình TCVM giúp cải thiện thu nhập và chitiêu bình quân đầu người hộ gia đình Tuy nhiên chỉ có 1/3 số hộ thực sự nghèo tiếpcận được chương trình, ước tính của tác giả chương trình chỉ giúp giảm khoảng 4%

số hộ nghèo Trong nghiên cứu này tác giả nhận thấy hạn chế về số liệu nên khôngthể đánh giá tác động trong một mối quan hệ dài hạn hơn Các yếu tố liên quan đếnchủ hộ, tình trạng phụ thuộc, tình trạng việc làm, trình độ giáo dục có tác động đếnthu nhập hộ gia đình trong nghiên cứu

Như vậy, các nghiên cứu tác động có kết luận không đồng nhất về tác độngcủa chương trình TCVM Điểm qua các nghiên cứu có thể thấy rằng việc đánh giátác động TCVM về giảm nghèo cần xem xét mối quan hệ này trong trong dài hạn

Trang 39

Khandker et al (2010) đánh giá cao việc sử dụng dữ liệu bảng để phân tích, điềunày có thể mang lại một kết quả toàn diện hơn về vai trò của TCVM đối với giảmnghèo.

Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực tế có liên quan

Conner Đánh giá tác động của Hồi quy OLS Các thành viên

Brannen(2010) Hiệp hội tiết kiệm và của VSLA được

cho vay tạo điều kiện gia tăng các hoạttiết kiệm và vay vốn tự động tạo thu nhậptài trợ, và một khi các

khoản tiết kiệm trở nênlớn đủ để các thànhviên cũng có thể vaycác khoản vay ngắnhạn tại mức lãi suất5%/ tháng

Chen và Đánh giá các tác động ANOVA, Các thành viên

Snodgrass D của việc cung cấp tín ANCOVA, tham gia TCVM

(2001) dụng vi mô và tiết phân tích điểm (gửi tiết kiệm và

kiệm vi mô cho phụ nữ số đạt được cho vay) có mức

không phải làthành viên

Trang 40

Erulkar và Đánh giá tác động của Biến công cụ Giai đoạn đầu,

Chong(2005) tiết kiệm và tín dụng vi tiết kiệm nhóm

hơn, thu nhậpbằng nhauGiai đoạn sau, tiếtkiệm nhóm canthiệp gấp đôi, thunhập nhóm canthiệp cao hơn20%/

Nguyễn Việt Đánh giá tác động Mô hình hiệu Việc tham gia

Cường (2008) chương trình tín dụng quả cố định kết chương trình

vi mô của NHCSXH hợp với biến TCVM giúp cảiđến giảm nghèo và công cụ, hồi thiện thu nhập vàgiảm bất bình đẳng quy hai giai chi tiêu bình quân

đoạn bình đầu người hộ giaphương nhỏ đình

nhất

ĐỘNG TÍN DỤNG VI MÔ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SÓC

TRĂNG GIAI ĐOẠN 2012 – 2014

2.1 Mô tả địa điểm nghiên cứu

Tỉnh Sóc Trăng có 8 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố Sóc Trăng Ba huyện

được chọn làm địa bàn nghiên cứu khảo sát là xã Phú Tâm - huyện Châu Thành,

xã Thạnh Phú - huyện Mỹ Xuyên, xã Long Phú - huyện Long Phú

Ngày đăng: 26/09/2020, 09:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w