NGUYỄN THỊ NGỌC HÀNGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ LÊN MỨC GIÁ CUA QUÔC GIA TRONG CÁC CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI KHÁC NHAU LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
Trang 1NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP TÀI CHÍNH
QUỐC TẾ LÊN MỨC GIÁ CUA QUÔC GIA
TRONG CÁC CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI KHÁC NHAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP TÀI CHÍNH
QUỐC TẾ LÊN MỨC GIÁ CUA QUÔC GIA
TRONG CÁC CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI KHÁC NHAU
Chuyên ngành: Tài Chính Ngân Hàng
Mã ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3mức giá của quốc gia trong các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau” là công trình nghiêncứu của riêng rôi và có sự hỗ trợ của Giáo viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn KhắcQuốc Bảo Các thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực; các nội dung tríchdẫn đều được ghi rõ nguồn gốc, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn nàychưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 31 tháng 10 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 4
1.1 Lý do chọn đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.3 Đối tượng nghiên cứu 7
1.4 Phương pháp nghiên cứu 7
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8
1.6 Cấu trúc của đề tài 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 11
2.1 Cơ sở lý thuyết 11
2.1.1 Tác động của chế độ tỷ giá lên mức giá quốc gia 11 2.1.2 Tác động của hội nhập tài chính quốc tế lên mức giá quốc gia 13 2.1.3 Sự tác động của hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá hối đoái lên mức giá quốc gia 16 2.2 Các bằng chứng thực nghiệm 19
Trang 63.1.3 Phân loaịchếđô p̣ti gia hối đoai (FLO)
3.2 Dữ liệu .
3.2.1 Mẫu 3.2.1.1 Mối quan hệ giữa mức giá quốc gia (NPL) và hội nhập tài chính (FIN) dưới chế độ tỷ giá cố định và thả nổi theo hai cách phân loại LYS và RR 34 3.2.1.2 Tương quan kỳ vọng giữa các biến: CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Phân tích thống kê miêu tả
4.2. Kiểm định
4.2.1 Kiểm định LM 4.2.2 Kiểm định Heteroskedasticity: Breusch-Pagan-Godfrey 4.2.3 Kiểm định Hausman 4.2.4 Kiểm định Wald 4.3. Phân tích kết quả hồi quy
4.3.1 Tất cả các nước gồm cả OECD và non OECD (42 nước) trong giai đoạn 2001-2014 4.3.2 Kết quả tại các nhóm nước 4.3.3 Mô hình cho Việt Nam giai đoạn từ 2001-2014 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
5.1. Kết quả nghiên cứu
5.2. Áp dụng thực tiễn của đề tài
5.3. Hướng nghiên cứu mở rộng
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.2.1 Phân loại nước OECD và nước đang phát triển 33
Bảng 3.2.1.2 Tóm tắt kỳ vọng dấu của các biến trong mô hình 40
Bảng 4.1.1 Thống kê miêu tả của 42 nước 41
Bảng 4.1.2 Thống kê miêu tả của 30 nước OECD 42
Bảng 4.1.3 Thống kê miêu tả của 12 nước không thuộc OECD 43
Bảng 4.2.1 Kết quả kiểm định LM 44
Bảng 4.2.2 Kết quả kiểm định Heteroskedasticity: Breusch-Pagan-Godfrey 45
Bảng 4.2.3 Kết quả kiểm định Hausman 45
Bảng 4.2.4.1 Kết quả kiểm định Wald cho 42 nước 46
Bảng 4.2.4.2 Kết quả kiểm định Wald cho 30 nước OECD 47
Bảng 4.2.4.3 Kết quả kiểm định Wald cho 12 đang phát triển 48
Bảng 4.3.1 Kết quả hồi quy cho 42 nước 49
Bảng 4.3.2.1 Kết quả hồi quy cho 30 nước OECD 52
Bảng 4.3.2.2 Kết quả hồi quy cho 12 nước không thuộc OECD 53
Bảng 4.3.3 Kết quả hồi quy cho Việt Nam 57
Trang 9Hình 3.2.4.2 Tương quan của các nước OECD 35 Hình 3.2.4.3 Tương quan của các nước không thuộc OECD 36
Trang 10TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu tác động của hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá hối đoái lên mức giáquốc gia Quá trình hội nhập tài chính quốc tế có ảnh hưởng khác nhau đến mức giácủa quốc gia trong các chế độ tỷ giá cố định và thả nổi Dưới chế độ tỷ giá hối đoái thảnổi, hội nhập tài chính sâu rộng hơn làm giảm mức giá của quốc gia Hội nhập tài chínhquốc tế se ̃làm giảm mức giá quốc gia ở những nước cho phép thả nổi tỷ giá hối đoái.Ngược lại, dưới chế độ tỷ giá hối đoái được quản lý, hội nhập tài chính làm tăng mứcgiá Và kết quả nghiên cứu được chính xác hơn, cần xem xét các yếu tố vĩ mô có thểlàm tương tác làm ảnh hưởng lên mức giá quốc gia như GDP, dân số, độ mở thươngmại, thời gian tồn tại của chế độ tỷ giá hối đoái và mức độ phát triển của tín dụng tưnhân tại các quốc gia đang xem xét Vậy hội nhập tài chính đang diễn ra đóng vai trò
gì, chế độ tỷ giá hối đoái ảnh hưởng gì đến mức giá quốc gia trong quá trình này?
Những bằng chứng thưcc̣ nghiêṃ của nhiều giả thuyết đưa ra nhằm làm rõcho vấnđềnày hiêṇ nay vẫn còn rất mơ hồ Chính vìthếmàviệc quyết đinḥ thưcc̣ hiêṇ bài nghiêncứu này dưạ trên môṭkết quả nghiên cứu thưcc̣ nghiêṃ ởcác nước OECD vàcác nướcđang phát triển Sử dungc̣ mô hinhh̀ hồi quy Panel OLS kết hợp với các phương phápkiểm đinḥ để đánh giá tác động của hôịnhâpc̣ tài chính lên mức của giácủa quốc giadưới những chếđộ tỷ giáhối đoái khác nhau
Từ những kết quả ước lương,c̣ đánh giáđươcc̣ mức đô c̣màmức giácủa môṭquốc gia bi c̣ tác động khi cóhôịnhâpc̣ tài chính, đồng thời xem xét vai tròcủa những chếđô c̣tỷ giá hối đoái khác nhau trong quá trinhh̀ tác đôngc̣ Hy vongc̣ kết quảtìm đươcc̣ cóthể giúp ichh́ cho những nhà hoacc̣h đinḥ chinhh́ sách cónhững chinhh́ sách vềtỷ giáhối đoái thichh́ hơpc̣ để đạt được một mức giámà quốc gia mong muốn trong bối cảnh hôịnhâpc̣ tài chính
Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa mức giá quốc gia, hội nhập tài chínhdưới một chế độ tỷ giá hối đoái Quá trình hội nhập tài chính quốc tế cóảnh hưởng khác
Trang 11nhau như thế nào đến mức giá của quốc gia trong các chế độ tỷ giá thực tế (có quản lý
và linh hoạt) như thế nào ở các quốc gia OECD, các quốc gia không thuộc OECD, cảhai nhóm nước trên cũng như ở Việt Nam như thế nào Từ việc xác định mối quan hệ
đó sẽ hướng ra các hướng đi cho các nhà hoạch định có thể sử dụng để đạt được cácmục tiêu phát triển kinh tế, hội nhập tài chính và ổn đinh mức giá quốc gia Và làm sao
để hài hòa các điều kiện này, xác định chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp để đáp ứng mụctiêu tăng trưởng kinh tế, giảm mức giá quốc gia đặc biệt là ở các nước hội nhập tàichính chưa cao
Đánh giá được hội nhập tài chính có ảnh hưởng đến mức giá quốc gia tại Việt Nam hay không, nếu ảnh hưởng thì ảnh hưởng đến mức độ nào?
Sử dụng phương pháp mô hình Random effect đối với phương trình để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố lên mức giá quốc gia:
Log NPL it = c + β 0 x FIN it + β 1 {FLO it x FIN it } + β 2 FLO i t + Ґ’X it + ε it
Trong đó:
Vector Xit chứa một bô c̣biến kiểm soát:
X’it = (log GDPit, OPEN it, log SIZE it, OPENit x log GDP it, DUR it, CREDIT it)
Log GDPit: log của GDP binhh̀ quân đầu người
OPEN đo lường mức độ mở cửa thương maị, đươcc̣ tinhh́ bằng cách lấy xuất khẩu cộng nhâpc̣ khẩu chia cho GDP
SIZE đươcc̣ đo bằng dân sốquốc gia
DUR: đo lường cho số năm tồn tại của môṭchế đô c̣tỷ giáhối đoái
Trang 12CREDIT: đo lường mức độ phát triển của hê c̣thống tài chinhh́ nôịđia,c̣ được tính bằngcách lấy Log của tín dụng khu vực tư nhân chia cho GDP.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở tất cả các nước hay từng nhóm nước OECD và khôngthuộc OECD, trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế, mức giá quốc gia tăng lên chỉtrong trường hợp tỷ giá hối đoái được quản lý Ngược lại, dưới chế độ tỷ giá thả nổi thìquá trình hội nhập tài chính sẽ làm giảm mức giá quốc gia Kết quả này đặc biệt rõ nét
ởnhóm nước không thuộc OECD Tuy nhiên ở Việt Nam kết quả không thực sựthuyết phục Mức giá quốc gia Việt Nam ngoài hội nhập tài chính quốc tế còn phụthuộc vào rất nhiều yếu tố vĩ mô khác
Từ khóa: mức giá quốc gia, hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá hối đoái
Trang 13CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trước đây khi so sánh giá cả hàng hóa giữa các quốc gia người ta thường sử dụngkhái niệm Ngang giá sức mua (PPP) Tuy nhiên, khó so sánh được giá của cùng mộtgiỏ hàng hóa giữa các quốc gia khi quy về cùng loại tiền tệ khi tỷ giá biến động và giỏhàng hóa của các quốc gia không hoàn toàn như nhau Từ lâu đã có một nghi ngờ rằngngang giá sức mua tương đương (PPP) không tồn tại trong thực tế Balassa (1964) vàKravis và Lipsey (1983) cho rằng một độ lệch có hệ thống từ PPP đã được khẳng địnhbằng thực nghiệm Balassa cho rằng sự khác biệt thu nhập thực tế nắm bắt sự khácbiệt về năng suất giữa các quốc gia, trong khi Kravis và Lipsey dựa vào nguồn lực yếu
tố khác nhau để giải thích sự tương đối hệ thống Imbs et al (2005) và Crucini vàShintani (2004) bỏ qua quan điểm của các nghiên cứu PPP tương đối, một số cuộcđiều tra thực nghiệm đã xem xét mức độ sai lệch so với pháp luật của-một giá sử dụng
dữ liệu về hàng hóa cá nhân trên khắp các thành phố ở châu Âu và Mỹ Sau Balassa(1964) và Kravis và Lipsey (1983), mức giá quốc gia được sử dụng để đo lường độlệch tuyệt đối từ PPP Do đó khái niệm mức giá quốc gia ra đời Mức giá quốc giađược định nghĩa là tỷ lệ giữa giá tương đối giữa hai nước và tỷ giá hối đoái của họ.Đặc biệt, nó có liên hệ mật thiết với tỷ giá hối đoái thực
Các quốc gia thực hiện chính sách theo xu hướng hội nhập dẫn đến một sự đánh giá caotài sản tại các nước với chế độ tỷ giá hối đoái cố định Khi thay đổi chế độ tỷ giá hối đoáiđột ngột giải thích sự kết thực nghiệm giữa giá cả và chế độ tỷ giá hối đoái Các chế độ tỷgiá hối đoái đi kèm với một cuộc khủng hoảng tiền tệ ngụ ý rằng mức giá quốc gia thấpđược tạm thời kết hợp với chế độ linh hoạt (Frankel và Rose, 1996) Tương tự như vậy,các nước neo tỷ giá hối đoái ổn định lạm phát thường phải chịu tỷ lệ lạm phát (Cassel, vàKiguel và Liviatan, 1991 Ngụ ý rằng một quốc gia áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định
để ổn định lạm phát sẽ dẫn tới việc có một mức giá quốc gia cao
Trang 14Broda (2006) cho rằng: có khả năng xem xét tác động của chế độ tỷ giá hối đoái lênmức giá quốc gia: Các quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ có mức giá quốcgia cao hơn so với các quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi.
Việc hội nhập tài chính toàn cầu của các thị trường vốn đã là một trong những vấn đềđược quan tâm nhất trong nền kinh tế thế giới trong những thập kỷ gần đây Giao dịchtài sản quốc tế cung cấp một số lợi ích tiềm năng Các nước có thể chia sẻ rủi ro thôngqua đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế; việc phân bổ vốn hiệu quả đến các địa điểmhiệu quả nhất được phát huy; và tiêu thụ được cân bằng trên khoảng thời gian để đápứng với những thay đổi trong nền tảng kinh tế vĩ mô Hội nhập tài chính đo lườngmức độ mà quốc gia tiến hành kiểm soát vốn Việc đo lường mức độ kiểm soát vốncủa một quốc gia rất phức tạp vì rất khó đề nhận diện và đo lường tất cả các cách thứckiểm soát vốn trong thực tế Dorrucci, Meyer-Circel và Santabarbara (2009) đã đánhgiá mức độ hội nhập tài chính bằng việc phát triển cơ sở dữ liệu bằng bảng dữ liệu củacác khu vực tài chính Chỉ số độ mở tài khoản vốn KAOPEN do Chin và Ito đề xuấtdựa trên thông tin trong báo cáo AREAER hàng năm của IMF (Annual ReportExchange Arangements and Exchange Restrictions)
Lane và Milesi-Frretti (2006) đề xuất đó lường hội nhập tài chính bằng tỷ lệ tổng tàisản và tổng nợ nước ngoài trong cán cân thanh toán Dữ liệu được lấy từ công bốchính thức của IMF nên sẽ bớt việc phụ thuộc của hội nhập tài chính quốc tế theotuyên bố độ mở cửa của các quốc gia hay các biện pháp hạn chế của các quốc gia Hộinhập tài chính quốc tế sẽ được tính toán dựa trên dữ liệu của cán cân thanh toán nên sẽminh bạch và nhất quán hơn trong cách tính
Mathias Hoffmann và Peter Tillmann (2012) đã đưa ra thêm một lời giải thích hợp lý cho những khác biệt trên của Broda Kết quả tìm ra cho hội nhập tài chính quốc tế se ̃ làm giảm mức giá quốc gia ở những nước cho phép thả nổi tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, trong chế độ tỷ giá cố định hoặc trung gian thì hội nhập tài chính nhiều hơn sẽ làm tăng
Trang 15mức giá quốc gia Tuy nhiên ngoài hai biến chính là hội nhập tài chính quốc tế và chế
độ tỷ giá hối đoái thì các yếu tố kinh tế vĩ mô vẫn có gây ảnh hưởng lên mức giá quốcgia
Quan hệ giữa mức giá quốc gia, hội nhập tài chính dưới một chế độ tỷ giá hối đoáiluôn là vấn đề được quan tâm Do đó cần một nghiên cứu làm rõ mối tương quan, ảnhhưởng của hội nhập tài chính đến mức giá quốc gia trong chế độ tỷ giá hối đoái màquốc gia đang áp dụng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mối quan hệ giữa mức giá quốc gia, hội nhập tài chính dưới một chế độ tỷ giá hối đoái
là đề tài được nghiên cứu ở nhiều nước, nhóm nước trên thế giới Tuy nhiên chưa cónhiều nghiên cứu làm rõ tác động của hội nhập tài chính lên mức giá quốc gia trongchế độ tỷ giá hối đoái có quản lý ở Việt Nam Các nghiên cứu trước đây đã bàn luận vềtừng tác động riêng lẻ: mức giá quốc gia, hội nhập tài chính ở Việt Nam như thế nào.Nghiên cứu này nhằm giải thích tác động của hội nhập tài chính lên mức giá quốc giacủa Việt Nam như thế nào dưới ảnh hưởng của chế độ tỷ giá có quản lý Từ việc xácđịnh mối quan hệ đó sẽ hướng ra các hướng đi cho các nhà hoạch định có thể sử dụng
để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, hội nhập tài chính và ổn đinh mức giá quốcgia Và làm sao để hài hòa các điều kiện này, xác định chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp
để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm mức giá quốc gia đặc biệt là ở các nướchội nhập tài chính chưa cao Nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ các vấn đề này
Các câu hỏi cụ thể sẽ được giải đáp trong bài:
Mức giá quốc gia được xác định như thế nào?
Trang 16Quá trình hội nhập tài chính quốc tế cóảnh hưởng khác nhau như thế nào đến mức giácủa quốc gia trong các chế độ tỷ giá thực tế (có quản lý và linh hoạt) như thế nào ở cácquốc gia OECD, các quốc gia không thuộc OECD và cả hai nhóm nước trên.
Đánh giá được hội nhập tài chính có ảnh hưởng đến mức giá quốc gia tại Việt Nam haykhông, nếu ảnh hưởng thì ảnh hưởng đến mức độ nào?
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá hối đoái lên mức giáquốc gia Mức giá của quốc gia làchỉ sốPPP của quốc gia đóchia cho tỉgiáhối đoái giữađồng tiền của quốc gia đóvàdollar Mỹ(theo đinḥ nghiã của hai tác giả MathiasHoffmann và Peter Tillmann (2012) Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hội nhập tàichính, chế độ tỷ giá hối đoái
Nghiên cứu áp dụng trên các nước OECD và các nước đang phát triển Xem xét, đánhgiá được hội nhập tài chính có hay không ảnh hưởng đến mức giá của tất cả, cácnhómquốc gia, nếu có thì mức độ ảnh hưởng như thế nào
Đề tài phân tích mối tương quan giữa biến mức giá quốc gia và các biến hội nhập tàichính, trong chế độ tỷ giá hối đoái như thế nào, và các biến vĩ mô (GDP, dân số, độ
mở của nền kinh tế, mức độ phát triển của tín dụng tư nhân và thời gian tồn tại củamột chế độ tỷ giá hối đoái)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng dữ liệu được thu thập từ World Development Indicators (WDI) dữliệu của World Bank từ năm 2001-2014, của 42 nước thuộc OECD và không thuộcOECD (nước đang phát triển)
Trang 17Dùng phương pháp chạy hồi quy Panel OLS để ước lượng tác động cũng như sựtương quan của hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá hối đoái và các yếu tố vĩ mô có ảnhhưởng đến mức giá quốc gia Nhưng trước hết tác giả dùng các kiểm định LM, kiểmđịnh Heteroskedasticity: Breusch-Pagan-Godfrey để xác định loại mô hình sẽ sử dụng
là Pool hay Fix Effect Model Sau đó dùng kiểm định Hausman để xác định sẽ dùng
mô hình Fix Effect hay là Random Effect Cuối cùng, kiểm định Wald sẽ xác định độvững của mô hình hồi quy
Giả thuyết nghiên cứu là: Trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế, mức giá quốc giatăng lên chỉ trong trường hợp tỷ giá hối đoái được quản lý Ngược lại, dưới chế độ tỷgiá thả nổi thì quá trình hội nhập tài chính sẽ làm giảm mức giá quốc gia
Hồi quy để tìm ra mối tương quan dựa trên mô hình hồi quy Panel OLS các biến hộinhập tài chính quốc tế và các chế độ tỷ giá hối đoái Các biến kinh tế vĩ mô khác (tăngtrưởng quốc nội, dân số, độ mở cửa của nền kinh tế, dân số, thời gian tồn tại của cácchế độ tỷ giá hối đoái trong một nước) cũng được đưa vào mô hình như là một bộ biếnkiểm soát để tăng cường thêm tính giải thích của mô hình
Sau đó dùng kiểm định Wald để tăng thêm sự tin tưởng vào kết quả chính xác củanghiên cứu Kiểm định Wald đánh giá giả thuyết H0:β0+β1=0 kết quả kiểm định Waldcho hai bộ dữ liệu WDI theo hai cách phân loại LYS và RR đều bác bỏ giả thuyết H0,cho thấy rằng hội nhập tài chinhh́ có môṭtác đôṇg khác nhau lên NPL dưới chếđô c̣tỷgiáhối đoái cốđịnh (hoặc trung gian)và chếđộ tỷ giáhối đoái thảnổi Mức ý nghĩa 10%hoặc nhỏ hơn thì càng có giá trị
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Từ những kết quảước lượng sẽ đánh giáđươcc̣ mức đô c̣màmức giácủa môṭquốc gia bi c̣ tác đôngc̣ khi cóhôịnhâpc̣ tài chinhh́ ởcác quốc gia OECD vàcác quốc gia đang phát triển,
Trang 18đồng thời xem xét vai tròcủa những chếđô c̣tỷ giáhối đoái khác nhau trong quátrinhh̀ tácđôngc̣.
Nghiên cứu này nhằm giải thích tác động của hội nhập tài chính lên mức giá quốc giacủa Việt Nam như thế nào dưới ảnh hưowrng của chế độ tỷ giá có quản lý Từ việc xácđịnh mối quan hệ đó sẽ hướng ra các hướng đi cho các nhà hoạch định có thể sử dụng
để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, hội nhập tài chính và ổn đinh mức giá quốcgia
Kết quảtìm đươcc̣ hy vọng cóthểgiúp ích cho những nhà hoacḥ định chinhh́ sách cónhững chinhh́ sách tỷ giáhối đoái, hội nhập tài chính thích hơpc̣ để đaṭđươcc̣ môṭmức giá
mà quốc gia mong muốn nhưng vẫn đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế Vàlàm sao để hài hòa các điều kiện này, xác định chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp để đápứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm mức giá quốc gia đặc biệt là ở các nước hộinhập tài chính chưa cao nhất là tại Việt Nam
1.6 Cấu trúc của đề tài
Bài nghiên cứu được sắp xếp như sau:
Phần một: mở đầu giới thiệu sự cần thiết của việc thực hiện bài nghiên cứu Bài viếtnghiên cứu đối tượng nào, dùng phương pháp ra sao để đạt được mục tiêu gì
Phần hai: tổng quan lý thuyết, trình bày các lý thuyết liên quan tới các nghiên cứutrước đây đã có những ưu điểm gì có thể áp dụng, các giả định được đưa ra dựa trên lýthuyết nào
Phần ba: phương pháp nghiên cứu bao gồm việc chọn lọc dữ liệu, mô ta các biến sửdụng trong nghiên cứu, đo lường tính toán các biến như thế nào
Trang 19Phần bốn: kết quả nghiên cứu, dựa vào kết quả kiểm định và kết quả hồi quy để đảnhgiá tương quan cũng như mối liên hệ của các biến Từ đó có thể áp dụng tính toán chotrường hợp Việt Nam hay không.
Phần năm: kết luận kết quả nghiên cứu, so với giả đinh ban đầu đặt ra có phù hợp haykhông, còn nhươc điểm nào cần khắc phục cũng như đưa ra hướng mở rộng trong thựctiễn
Trang 20CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Tác động của chế độ tỷ giá lên mức giá quốc gia
Trước đây khi so sánh giá cả hàng hóa giữa các quốc gia người ta thường sử dụngkhái niệm: Ngang giá sức mua là lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi GustavCassel Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằngsức mua của hai đồng tiền này Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luậtgiá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ
có một mức giá
P=SxP*
(P là giá cả hàng hóa trong nước
P là giá cả hàng hóa ở nước ngoài
S là tỷ giá giao ngay)
Tuy nhiên, có một câu hỏi cơ bản về kinh tế quốc tế làm như thế nào so sánh được giácủa cùng một giỏ hàng hóa giữa các quốc gia khi quy về cùng loại tiền tệ khi tỷ giábiến động và giỏ hàng hóa của các quốc gia không hoàn toàn như nhau Câu hỏi này
về sức mua đã sinh ra các lý thuyết có ảnh hưởng nhất định của tỷ giá hối đoái lên sứcmua Lý thuyết mua ngang giá sức khẳng định rằng tỷ giá giữa hai đồng tiền được xácđịnh bởi mức giá tương đối giữa hai nước, và do đó giá một đồng tiền chung phảigiống nhau trong nước Nhưng từ lâu đã có một nghi ngờ rằng ngang giá sức muatương đương (PPP) không tồn tại trong thực tế
Mặc dù các lý thuyết nghiên cứu sớm nhận ra trên độ chênh lệch của PPP, nhưng tới tậnkhi các nghiên cứu của Balassa (1964) và Kravis và Lipsey (1983) mới cho rằng một độlệch có hệ thống từ PPP đã được khẳng định bằng thực nghiệm Các tác giả thấy rằngmức thu nhập thực tế bình quân đầu người ảnh hưởng đến hệ thống giá tương đối giữacác nước Balassa cho rằng sự khác biệt thu nhập thực tế nắm bắt sự khác biệt về
Trang 21năng suất giữa các quốc gia, trong khi Kravis và Lipsey dựa vào nguồn lực yếu tố khácnhau để giải thích sự tương đối hệ thống Kể từ đó, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệmliên quan đến PPP đã tập trung vào PPP tương đối, tức là giá của cùng một giỏ hàng hóa
di chuyển cùng nhau theo thời gian giữa các quốc gia khi thể hiện một đồng tiền chung.Các thử nghiệm PPP tương đối thường dễ dàng hơn để thực hiện vì họ chỉ cần số liệu vềchỉ số tỷ giá thực tế chứ không phải là dữ liệu về giá giữa các nước thực tế
Imbs et al (2005) và Crucini và Shintani (2004) đã sử dụng dữ liệu vi mô để đánh giá
sự khác biệt về tính bền bỉ của hàng hóa cá nhân liên quan đến các chỉ số tổng hợp.Bất chấp sự quan điểm của các nghiên cứu PPP tương đối, một số cuộc điều tra thựcnghiệm đã xem xét mức độ sai lệch của quy luật một giá sử dụng dữ liệu về hàng hóa
cá nhân trên khắp các thành phố ở châu Âu và Mỹ (ví dụ như, Rogers, 2001; Goldberg
và Verboven, 2005 ) Các nghiên cứu tìm hiểu vai trò của các cơ chế tỷ giá hối đoáitrong việc giải thích sự khác biệt về giá tương đối của cùng một giỏ hàng hóa giữa cácnước Sau Balassa (1964) và Kravis và Lipsey (1983), mức giá quốc gia được sử dụng
để đo lường độ lệch tuyệt đối từ PPP Do đó khái niệm mức giá quốc gia ra đời
Mức giá quốc gia được định nghĩa là tỷ lệ giữa giá tương đối giữa hai nước và tỷ giá
hối đoái của họ Đặc biệt, nó có liên hệ mật thiết với tỷ giá hối đoái thực Nghiên cứuphát hiện ra một mối quan hệ thực nghiệm giữa hàm giá quốc gia và chế độ tỷ giá hốiđoái đã không được nghiên cứu trước đó Cụ thể, các nước đang phát triển với tỷ giáhối đoái cố định có các mức giá quốc gia cao hơn so với những người có mức linhhoạt Vậy mức giá quốc gia có liên quan tới chế độ tỷ giá hối đoái mà quốc gia đóđang áp dụng Công thức tính NPL:
NPLit : mức giá quốc gia i tại thời điểm t
j là tất cả hàng hóa
Trang 22si,us làtỷ giáhối đoái giữa đồng tiền của quốc gia i và dollar Mỹ
ω j là khối lượng của hàng hóa j
p i,j làgiáhàng hóa j ở quốc gia i.
Quốc gia áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định để ổn định lạm phát sẽ dẫn tới việc cómột mức giá quốc gia cao Các quốc gia thực hiện chính sách theo xu hướng phát triểnkinh tế mở rộng dẫn đến một sự đánh giá cao tài sản tại các nước với chế độ tỷ giá hốiđoái cố định, nhưng không phải ở chế độ linh hoạt Xu hướng này được thể hiện đặcbiệt rõ rệt ở các nước đang phát triển Sự thay đổi chế độ tỷ giá hối đoái đột ngột giảithích sự kết thực nghiệm giữa giá cả và chế độ tỷ giá hối đoái Các chế độ tỷ giá hốiđoái đi kèm với một cuộc khủng hoảng tiền tệ ngụ ý rằng mức giá quốc gia thấp đượctạm thời kết hợp với chế độ linh hoạt (Frankel và Rose, 1996) Tương tự như vậy, cácnước neo tỷ giá hối đoái ổn định lạm phát thường phải chịu tỷ lệ lạm phát (Cassel, vàKiguel và Liviatan, 1991 Ngụ ý rằng một quốc gia áp dụng một tỷ giá hối đoái cốđịnh để ổn định lạm phát sẽ dẫn tới việc có một mức giá quốc gia cao
Broda (2006) cho rằng: có khả năng xem xét tác động của chế độ tỷ giá hối đoái lênmức giá quốc gia: Các quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ có mức giá quốcgia cao hơn so với các quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi
2.1.2 Tác động của hội nhập tài chính quốc tế lên mức giá quốc gia
Việc hội nhập tài chính toàn cầu của các thị trường vốn đã là một trong những vấn đềđược quan tâm nhất trong nền kinh tế thế giới trong những thập kỷ gần đây Giao dịchtài sản quốc tế cung cấp một số lợi ích tiềm năng Các nước có thể chia sẻ rủi ro thôngqua đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế; việc phân bổ vốn hiệu quả đến các địa điểmhiệu quả nhất được phát huy; và tiêu thụ được cân bằng trên khoảng thời gian để đápứng với những thay đổi trong nền tảng kinh tế vĩ mô Trong khi chia sẻ rủi ro có thểđược thực hiện chủ yếu thông qua thương mại quốc tế tài sản gộp, dòng vốn ròng
Trang 23Hội nhập tài chính đo lường mức độ mà quốc gia tiến hành kiểm soát vốn Việc đolường mức độ kiểm soát vốn của một quốc gia rất phức tạp vì rất khó đề nhận diện và
đo lường tất cả các cách thức kiểm soát vốn trong thực tế Nhiều quốc gia trên tinhthần là mở của hoàn hoàn nhưng lại kiểm soát vốn bằng nhiều biện pháp gián tiếpkèm theo Có nhiều cách đo lường hội nhập tài chính như:
Dorrucci, Meyer-Circel và Santabarbara (2009) đã đánh giá mức độ hội nhập tài chínhbằng việc phát triển cơ sở dữ liệu bằng bảng dữ liệu của các khu vực tài chính Do đókhông phản ảnh chính xác mức độ mở cửa và không đúng mức độ áp đặt các biệnpháp kiểm soát vốn của các quốc gia Vì vậy thước đó này không phản ánh hết mức
độ hội nhập tài chính trong thực tế
Chỉ số độ mở tài khoản vốn KAOPEN do Chin và Ito đề xuất dựa trên thông tin trongbáo cáo AREAER hàng năm của IMF (Annual Report Exchange Arangements andExchange Restrictions) KAOPEN chỉ cho thấy một quốc gia có tiến hành kiểm soátvốn hay không về mặt pháp lý KAOPEN đã đo lường số lượng và phạm vi các biệnphát kiểm soát vốn nhưng vẫn chưa đo lường được cường độ tác động của kiểm soátvốn
Lane và Milesi-Frretti (2006) đề xuất đó lường hội nhập tài chính bằng tỷ lệ tổng tài sản
và tổng nợ nước ngoài trong cán cân thanh toán Dữ liệu được lấy từ công bố chính thứccủa IMF nên sẽ bớt việc phụ thuộc của hội nhập tài chính quốc tế theo tuyên bố độ mởcửa của các quốc gia hay các biện pháp hạn chế của các quốc gia Hội nhập tài chínhquốc tế sẽ được tính toán dựa trên dữ liệu của cán cân thanh toán nên sẽ minh bạch vànhất quán hơn trong cách tính Hội nhập tài chính được tính toán theo công thức sau
(3)FINit : Hôịnhâpc̣ tài chính quốc tếcủa quốc gia i tại thời điểm t
Trang 24FAit: tổng của tài sản nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
FLi vànơ c̣nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
Cùng với cách thức mà các giao dịch được ghi nhận trong sự cân bằng của số liệuthống kê thanh toán, phân loại tài sản và nợ phải trả không thuộc sở hữu trong nướcthành ba loại chính: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn chủ sở hữu danh mục đầu
tư (EQ), và các công cụ nợ (DEBT) Dự trữ ngoại hối (FX) thuộc nhóm phân loại cuốicùng này Chữ cái A sẽ đại diện cho nhóm tài sản và L đại diện cho nhóm nghĩa vụ nợ.(Philip R Lane and Gian Maria Milesi-Ferretti,2001)
FAit: tổng của tài sản nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
FAit=FDIAit+EQAit+DEBTAit+FXAit
FLit: nơ c̣nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
FLi =FDILit+EQLit+DEBTLit+FXLit
Vậy
Tương đương
FINit= (FDIAit+EQAit+DEBTAit+FXAit+ FDILit+EQLit+DEBTLit+FXLit)/GDPitĐối với hầu hết các nước phát triển, ước lượng của các cổ phiếu của các tài sản và nợphải trả bên ngoài được công bố bởi cơ quan quốc gia và thu IMF và OECD Đối vớicác nước đang phát triển, tuy nhiên, dữ liệu chứng khoán toàn diện nói chung là chỉ có
nợ và ngoại hối dự trữ bên ngoài Ngoài ra, các phương pháp sử dụng để ước tính các
cổ phiếu khác nhau của phương trình (1) thường khác nhau giữa các quốc gia (ví dụ,
Trang 25giá trị sổ sách hoặc giá thị trường đối với cổ phần và FDI) làm so sánh giữa các nướckhó khăn hơn.
Để khắc phục những hạn chế trong dữ liệu hiện có, Lane và MilesiFerretti đã xâydựng dữ liệu về tài sản và các khoản nợ bên ngoài cho các quốc gia phát triển và đangphát triển Dựa trên dữ liệu chứng khoán, ngay khi sẵn sàng, bổ sung bởi các luồng dữliệu đã được tích lũy, với sự điều chỉnh giá phù hợp Cái sau này được đặc biệt quantrọng cho vai trò tăng do vốn chủ sở hữu danh mục đầu tư và dòng vốn FDI trong suốtthập kỷ qua
2.1.3 Sự tác động của hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá hối đoái lên mức giá quốc gia
Có thể xem xét tác động của chế độ tỷ giá hối đoái lên mức giá quốc gia: Các quốc gia
áp dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ có mức giá quốc gia cao hơn so với các quốc gia ápdụng tỷ giá hối đoái thả nổi
Mathias Hoffmann và Peter Tillmann (2012) đã đưa ra thêm một lời giải thích hợp lýcho những khác biệt trên của Broda Kết quả tìm ra cho thấy rằng quá trình hội nhậptài chính quốc tế cóảnh hưởng khác nhau đến mức giá của quốc gia trong các chế độ
tỷ giá cố định và linh hoạt
Bằng chứng thực nghiệm này cũng giống với Lee (2007), người đã chỉ ra rằng tài sảnnước ngoài ròng là một yếu tố quyết định mạnh mẽ đối với các mức giá quốc gia hơn
là sự khác biệt về năng suất
Sư c̣dicḥ chuyển từ thị trường phân khúc sang thi trượh̀ng tài sản quốc tếhoàn chỉnh đượcxem như là hội nhập thị trường tài chính quốc tế (Thị trường phân khúc là nơi mà chỉ cómột lượng nhỏ các đại diện tham gia mua bán trên thị trường tài sản Thi c̣trường tài sảnquốc tếhoàn chỉnh là thị trường có đầy đủ những công cụ phòng ngừa cho mỗi tình huống
có thể xảy ra trong tương lai, nhằm đối phó với các loại rủi ro khác nhau, chúng
Trang 26được thanh toán phụ thuộc vào tình huống sẽ xảy ra trong tương lai như thế nào Nhữngcông cụ này có thể được mua bán dễ dàng giữa các đại diện trong và ngoài nước.)
Những tác động này được thể hiện rõ rệt nhất đối với các nước OECD và ít rõ ràngcho các nước đang phát triển Khi một quốc gia hội nhập thị trường tài chính, các đơn
vị kinh doanh trong nước được hưởng lợi từ hội nhập thị trường tài chính quốc tế bằngcách gia tăng tiêu dùng của họ trong thị trường hội nhập chứ không phải là thị trườngtài chính được phân khúc do khả năng phòng ngừa của các tài sản được giao dịchquốc tế Việc sử dụng phòng ngừa gây nên những điều chỉnh giá tương đối và nhữngthay đổi của mức giá của quốc gia Tuy nhiên, hướng của những điều chỉnh giá tươngđối phụ thuộc vào mức độ mà phòng ngừa được sử dụng dưới những chế độ tỷ giákhác nhau Dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, hội nhập tài chính sâu rộng hơn làmgiảm mức giá của quốc gia Ngược lại, dưới chế độ tỷ giá hối đoái được quản lý, hộinhập tài chính làm tăng mức giá
Ảnh hưởng chế độ tỷ giá hối đoái trong sư c̣tác đôngc̣ của hội nhập tài chính lên mức giáquốc gia là kết quả của môṭphần bùrủi ro theo yêu cầu của những nhà sản xuất hànghoá cógiá cố định cùng vớisư c̣tương tác của nó với mức giá quốc gia và tiêu dùng.Nhà sản xuất hàng hoá có giá cố định muốn điều chỉnh giá của họ bất cứ khi nào nềnkinh tế bị ảnh hưởng bởi một sự xáo trộn kinh tế Tuy nhiên, dưới chế độ tỷ giá cốđịnh họ không thể làm như vậy và do đó họ đòi hỏi môṭphần bù rủi ro như làmột sự bù
đắp Phần bù rủi ro càng cao thih̀giá hàng hóa càng cao và tiêu dùng càng giảm Khi thịtrường tài sản hội nhập quốc tế, đơn vị kinh doanh cá thể có thể bảo đảm cho chính họchống lại rủi ro tiêu dùng bằng cách sử dụng đầu cơ trên thị trường tài chính quốc tế
Để sử dụng đầu cơ trên thị trường tài chính và có được tiêu dùng tương đối cao hơntrong thị trường tài chính hoàn chỉnh, quốc gia nội địa phải “bồi thường cho nướcbạn” để có được sự phòng ngừa Mức bồi thường này được phản ánh qua mức giáquốc gia tương đối cao hơn trong thị trường tài chính hoàn chỉnh
Trang 27Theo đó, mức giá quốc gia sẽ thấp hơn trong thị trường tài chính hoàn chỉnh so với thịtrường tài chính được phân khúc.
Với cơ chế tỷ giá thả nổi, giá cả trong nước được ổn định, các nhà sản xuất hàng hóa
bị ngăn chặn cố định giá, đòi hỏi phần bù rủi ro Do đó, điều này có thể làm gia tăngtiêu dùng tại các thị trường tài chính hoàn chỉnh mà không cần sử dụng đầu cơ trên thịtrường tài chính để được bù đắp cho phần bù rủi ro Sự thay đổi của tỷ giá hối đoáidanh nghĩa sẽ mang lại sự thay đổi giá cả tương đối cần thiết để đảm bảo mức tiêudùng tương đối cao hơn trong những thị trường tài chính hội nhập quốc tế
Hội nhập tài chính quốc tế sẽ làm giảm mức giá quốc gia ở những nước cho phép thảnổi tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, trong chế độ tỷ giá cố định hoặc trung gian thì hội nhậptài chính nhiều hơn sẽ làm tăng mức giá quốc gia Mức độ hội nhập tài chính quốc tếđược đo bằng số lượng công cụ tài chính có sẵn được phản ánh bởi vị thế của tổng tàisản và nợ nước ngoài của quốc gia
Mathias Hoffmann và Peter Tillmann (2012) đã chứng minh được rằng
(Seg là thị trường tài sản quốc tế phân khúc
Comp thị trường tài sản quốc tế hoàn chỉnh)
Thứ nhất, kỳ vọng về mức giá quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định ở thịtrường tài sản quốc tế hoàn chỉnh sẽ cao hơn so với ở thị tài sản quốc tế phân khúc
Thứ hai, kỳ vọng về mức giá quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi ở thị trường
tài sản quốc tế hoàn chỉnh sẽ thấp hơn so với ở thị trường tài sản quốc tế phân khúc Cóthể suy ra rằng càng hội nhập tài chính (thị trường tài sản quốc tế càng hoàn chỉnh) thì
mức giá quốc gia sẽ giảm khi quốc gia đó áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi Ngược
Trang 28lại càng hội nhập tài chính (thị trường tài sản quốc tế càng hoàn chỉnh) thì mức giáquốc gia sẽ tăng khi quốc gia đó áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Kết quả này đã chứng minh được giả thuyết ban đầu của nghiên cứu bằng toán học
Vì vậy, cần chứng minh giả thuyết trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế, mức giáquốc gia tăng lên chỉ trong trường hợp tỷ giá hối đoái được quản lý Ngược lại, dướichế độ tỷ giá thả nổi thì quá trình hội nhập tài chính sẽ làm giảm mức giá quốc gia Cóthể nói bài nghiên cứu này đã cho thấy một quan điểm mới về đô c̣lêcḥ có hê c̣thống củasức mua tương đương
sẽ khiến mức giá quốc gia phản ảnh thực tế hơn Các lựa chọn chế độ tỷ giá dẫn đến sailệch trong mức giá quốc gia (Broda 2006) Tuy nhiên, Broda chỉ hướng tới những khókhăn trong việc tìm những quan sát khác biệt khi nhìn lại các yếu tố tiềm ẩn của nềnkinh tế Broda thấy rằng các quốc gia đang phát triển (quốc gia có thu nhập trung bình
và thấp) với chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì có mức giá quốc gia cao hơn 20% so vớinhững quốc giacó chế độ tỷ giá linh hoạt Đối với các nước công nghiệp, mối quan hệgiữa chế độ tỷ giá và mức giá là tương tự như trên nhưng yếu hơn Có thể nhận thấycách chọn lựa tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng nhiều đến mức giá quốc gia
Trang 292.2.2 Yếu tố lạm phát
Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy ảnh hưởng của tác động của toàn cầu hóa, đạidiện bởi hội nhập thương mại lên lạm phát, từ đó ảnh hưởng tới giá cả của quốc gia.Việc gia tăng hội nhập thương mại quốc tế sẽ làm suy giảm lạm phát, bởi vì cạnh tranhquốc tế sẽ gia tăng hiệu quả sản xuất, phân bổ nguồn lực và giúp cho hoạch định chínhsách kinh tế hiệu quá hơn (Bernanke (2007); Borio và Filardo (2007))
Gia tăng hội nhập sẽ dẫn tới nhập khẩu lạm phát từ quốc tế Lí do của việc này là: Hộinhập khiến thị trường mở cửa, làm cho hàng hóa, dịch vụ, nhân công di chuyển dễdàng hơn giữa các thị trường Sự lưu thông này sẽ khiến cho cung cầu và giá cả hànghóa, dịch vụ trở nên linh hoạt hơn, sự cạnh tranh này sẽ giảm đi lợi thế độc quyềnnhóm của các nhà sản xuất nội địa thị Giá cả, tiền lương phụ thuộc lúc này còn phụthuộc vào cả vào kinh tế quốc tế chứ không chỉ yếu tố trong nước
Trong ngắn hạn toàn cầu hóa và thương mại quốc tế có thể ảnh hưởng lên lạm phát trongnước Đối với các nước phát triển, hội nhập sâu, mở rộng thương mại không chỉ hàng hóatrong giỏ hàng tiêu dùng thành phấm mà cả nguyên liệu sản xuất hàng hóa trong giỏ hàngcũng có thể đươc nhập khẩu và phải cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu nên hạn chế quyềnđịnh giá của nhà sản xuất nội địa Khiến lạm phát càng phụ thuộc nhiều vào giá cả hànghóa nước ngoài Thương mại quốc tế khiến cạnh tranh trở nên khốc liệt Nếu nhà sản xuấtnội địa hay nước ngoài muốn bán được hàng hóa thì phải đẩy mạnh phải tăng cường pháttriển kỹ thuật, tăng năng suất để giá cả hàng hóa rẻ đi tương đối thì mới cạnh tranh được.Giá hàng hóa tăng chậm hơn so với giá cả của các hàng hóa tiêu dùng khác, do đó làmchậm tốc độ lạm phát Với các nước đang phát triển, hội nhập là một trong những nguyênnhân gia tăng hàng hóa đồng thời gia tăng cầu hàng hóa nước ngoài khiến giá tăng Chính
nền kinh tế mới nổi giúp kiềm chế lạm phát ở các nước công
Trang 30nghiệp không phải vì giá cả hàng hóa của họ đang giảm mà vì hàng hóa của họ rẻ hơn một cách tương đối.
Các nghiên cứu này chỉ xem xét tới tác động của lạm phát và hiệu quả của hội nhập thịtrường hàng hóa ảnh hưởng tới mức giá quốc gia Trong khi mức giá quốc gia còn chịuảnh hưởng của nhiều yếu tố khác
2.2.3 Yếu tố hội nhập tài chính
Sự ảnh hưởng của hội nhập tài chính quốc tế tỷ giá cỏ ảnh hưởng khác nhau đến mứcgiá quốc gia trong từng trường hợp tỷ giá có quản lý và các chế độ tỷ giá hối đoái linhhoạt Đối với các quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hội nhập tài chính quốc tế sẽlàm tăng mức giá quốc gia Ngược lại mức giá quốc gia sẽ giảm nếu áp dụng chế độ tỷgiá có quản lý
Dựa trên lập luận của Kravis và Lipsey (1988), Broda đưa biến mở cửa thương mại làbiến kiểm soát khi cho rằng khuynh hướng thương mại cao sẽ kéo mức giá của mộtquốc gia lên bằng với giá trung bình thế giới và sẽ làm tăng giá hàng hóa phi thươngmại với một mức thu nhập nhất định Họ lập luận rằng thương mại có xu hướng làmtăng mức giá tương đối Nếu các nước nghèo có nhiều lao động, và nếu hàng hóa phithương mại có xu hướng thâm dụng lao động thì mở cửa sẽ dẫn đến mức giá cao hơnkhi thu nhập bị kiểm soát Kết quả hồi quy cho thấy các biến mở cửa thương mại mặc
dù có ý nghĩa thống kê cao nhưng dấu của chúng ngược lại những gì được tìm ra bởiKravis và Lipsey (1988), tức là mở cửa làm giảm mức giá của một quốc gia Broda(2006) nhận thấy rằng khi hội nhập mức giá quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái cố địnhcao hơn trong trường hợp áp dụng chế độ thả nổi Tuy nhiên, ông chỉ hướng tới nhữngkhó khăn trong việc tìm những quan sát khác biệt khi nhìn lại các yếu tố tiềm ẩn củanền kinh tế Tác giả sẽ mở rộng phân tích này và đưa ra một cách phân tích/phân tíchnguồn gốc cho quan sát Broda dựa trên vai trò của hội nhập tài chính
Hội nhập tài chính cũng được đo lường bằng quy mô tài sản nước ngoài ròng Quy môtài sản nước ngoài ròng càng lớn càng ảnh hưởng mạnh mẽ tới mức giá tại các quốc gia
Trang 31đó Các bằng chứng thực nghiệm có liên quan của Lee (2007), cho thấy tài sản nướcngoài ròng là một yếu tố quyết định mạnh mẽ lên mức giá quốc gia hơn so với sự khácbiệt về năng suất Lưu ý, tuy nhiên, tập trung vào các tài sản nước ngoài cộng với nợnhư một biện pháp hội nhập tài chính thay vì các hiệu ứng chuyển kết hợp với vị trínước ngoài ròng Lee đã đưa ra một cách xác định hội nhập tài chính tốt hơn.
Cách đo lường mức độ hội nhập thị trường tài chính quốc tế dựa trên công cụ tài chínhthực có là cách đo lường tốt nhất trong hiện nay cho mức độ hội nhập của một quốc giatrong các thị trường tài chính quốc tế Biện pháp số lượng của Kose et al (2006a) nàydựa trên hội nhập thị trường tài chính quốc tế, dựa trên cổ phiếu thực tế, cung cấp cácbiện pháp tốt nhất hiện có của hội nhập của một quốc gia trong thị trường tài chínhquốc tế Kose cùng côngc̣ sư c̣(2006) cho rằng nhiều quốc gia có kiểm soát vốn khánghiêm ngặt về mặt pháp lý nhưng lỏng lẻo trong thực tế, vì vậy mà mức độ hội nhậpthực tế của họ được đo bằng dòng vốn hoặc chứng khoán của tài sản và nợ nước ngoài
là khá cao, tự nó như một công cụ kỷ luật đối với chính phủ và các công ty Ngược lại,nhiều quốc gia khác thì khá hội nhập với các thị trường vốn toàn cầu về mặt pháp lýnhưng trong thực tế dòng vốn lại bị giới hạn Lập luận này cho rằng biện pháp số lượngnày dựa trên hội nhập thị trường tài chính quốc tế, dựa trên cổ phiếu thực tế, cung cấpcác biện pháp tốt nhất hiện có của hội nhập của một quốc gia trong thị trường tài chínhquốc tế Kose et al (2006a) đã làm rõ thêm các yếu tố cần có để xác định, đo lườngmức độ hội nhập tài chính Hội nhập tài chính có thể đo lường dựa trên các số liệu vềdanh mục đầu tư, vốn đầu tư, nợ nước ngoài
Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng chuyển dịch từ thị trường phân khúc sang thịtrường tài sản quốc tế hoàn chỉnh có thể xem như là hội nhập tài chính Thị trường phânkhúc là nơi mà chỉ có một lượng nhỏ các đại diện tham gia mua bán trên thị trường tài sản,thị trường phân khúc thường phản ứng một cách đúng theo dự đoán, quản lý Thi trượh̀ngtài sản quốc tếhoàn chỉnh là thị trường có đầy đủ những công cụ phòng ngừa cho mỗi tìnhhuống có thể xảy ra trong tương lai, nhằm đối phó với các loại rủi ro khác
Trang 32nhau, chúng được thanh toán phụ thuộc vào tình huống sẽ xảy ra trong tương lai nhưthế nào ví dụ: di chuyển đến hội nhập tài chính quốc tế, làm giảm mức giá quốc giađối với các nước áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi Tuy nhiên, trong cơ chế tỷ giá cố địnhhoặc trung gian, hội nhập tài chính làm tăng mức độ giá quốc gia Các hiệu ứng nàyđược thể hiện rõ nhất cho các nước OECD và ít rõ ràng cho các nước đang phát triển.Trong nghiên cứu này, mức độ hội nhập tài chính quốc tế được đo bằng số lượng củacác công cụ tài chính có sẵn, và vị trí của tài sản nước ngoài gộp.
tỷ giá và sự ảnh hưởng của các biến vĩ mô liên quan khác
Lane vàMilesi-Ferretti (2001,2003, 2007) xây dưng các biến giải thích quan trọng đolường mức độ hội nhập tài chính quốc tế được phản ánh bởi các tổng tài sản nướcngoài Lane và Milesi-Ferretti (2001b, 2004) và phân chia các mẫu vào OECD và cácnước ngoài OECD, vì kích thước của các vị trí tài sản nước ngoài cũng như của nóthành phần có thể có một sự phụ thuộc phi tuyến tính vào mức độ phát triển kinh tế và
nợ nước ngoài so với GDP
Các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm cho thấy mối lên quan giữa mức giá quốc gia
và hội nhập tài chính quốc tế dưới các chế độ phân loại tỷ giá Mức giá quốc gia sẽtăng trong trường hợp hội nhập tài chính kèm theo chế độ tỷ giá cố định, còn trườnghợp chế độ tỷ giá thả nổi, hội nhập tài chính sẽ làm giảm mức giá quốc gia
Trang 33CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu
Các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm trước đây cho thấy mối lên quan giữa mứcgiá quốc gia và hội nhập tài chính quốc tế dưới các chế độ phân loại tỷ giá Mức giáquốc gia sẽ tăng trong trường hợp hội nhập tài chính kèm theo chế độ tỷ giá cố định,còn trường hợp chế độ tỷ giá thả nổi, hội nhập tài chính sẽ làm giảm mức giá quốcgia Tuy nhiên ngoài hai biến chính là hội nhập tài chính quốc tế và chế độ tỷ giá hốiđoái thì các yếu tố kinh tễ vĩ mô vẫn có gây ảnh hưởng lên mức giá quốc gia
Balassa và Samuelson (1964) cho rằng mức thu nhập thực bình quân đầu người chỉ ra sựkhác biệt trong năng suất hàng hóa có thể và không thể giao dịch Kravis và Lipsey(1983) nhận thấy mức thu nhập có ảnh hưởng đến nguồn lực và nhân tố sản xuất Do đó,
sẽ đưa thêm biến GDP và quy mô dân số vào mô hình như hai biến vĩ mô kiểm soát mứcgiá quốc gia Vì vậy, kỳ vọng GDP để vào phương trình với một dấu dương Mức độ mởcửa thương mại (OPEN), được đo bằng tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP.Như đã đề cập trước đó, nó thường được lập luận rằng các nước có tiếp xúc nhiều hơn đểkinh doanh nên hiện mức giá thấp hơn Vì vậy kỳ vọng dấu của OPEN để có một dấudương Bao gồm một thước đo về mức độ phát triển của hệ thống tài chính trong nước(CREDIT) Biện pháp này được đưa ra bởi các log của tỷ lệ tín dụng tư nhân so với GDP( Beck et al (2000)) Kiểm soát cho một thực tế rằng trong nhiều nước đang phát triểntuyên bố ra các cơ chế tỷ giá hối đoái áp dụng nhưng thực tế lại áp dụng không ổn định.Levy-Yeyati và Sturzenegger (2001) cho rằng chế độ tỷ giá hối đoái tồn tại càng lâu thìcàng gây ảnh hưởng lên lạm phát, lạm phát tăng thì làm tăng giá cả chung của quốc gia.Xây dựng một thước đo của thời gian (DUR) của một chế độ tỷ giá xác
Trang 34định (tính theo năm) Nó tương ứng với một xu hướng thời gian của tồn tjai của mộtchế độ tỷ giá biến này kỳ vọng mang dấu cùng chiều
Cuối cùng, để đánh giá sự tương tác của độ mở của nền kinh tế và thu nhập quốc gialên mức giá tại quốc gia đó biến OPEN×(GDP) được đưa vào (Broda (2006))
Sử dụng phương pháp hồi quy Panel OLS đối với phương trình:
Log NPL it = c + β 0 x FIN it + β 1 {FLO it x FIN it } + β 2 FLO i t + Ґ’X it + ε it
Trong đó:
Vector Xit chứa một bô c̣biến kiểm soát:
X’it = (log GDPit, OPEN it, log SIZE it, OPENit x log GDP it, DUR it, CREDIT it)
Log GDPit: log của GDP binhh̀ quân đầu người
OPEN đo lường mức độ mở cửa thương maị, đươcc̣ tinhh́ bằng cách lấy xuất khẩu cộngnhâpc̣ khẩu chia cho GDP
SIZE đươcc̣ đo bằng dân sốquốc gia
DUR: đo lường cho số năm tồn tại của một chế đô c̣tỷ giáhối đoái Nótương ứng với xuhướng thời gian của môṭmức giátrải qua môṭsư c̣phávỡkhi chếđộ tỷ giáhối đoái thayđổi Dựa trên cách phân loại RR để tính toán DUR Năm đầu tiên của một chế độ tỷgiá hối đoái DUR=1, năm thứ 2 DUR=2 năm thứ n DUR=n Khi quốc gia đó thayđổi sang một chế độ tỷ giá khác thì DUR=1 ở năm đó, các năm sau sẽ cộng dồn thêmmột ở mỗi năm nếu quốc gia đó vẫn duy trì chế độ tỷ giá mới này
CREDIT: đo lường mức độ phát triển của hê c̣thống tài chinhh́ nôịđia,c̣ được tính bằngcách lấy Log của tín dụng khu vực tư nhân chia cho GDP
Trang 353.1.1 NPL- Mức giá quốc gia
Nghiên cứu sử dụng chung môṭđinḥ nghiã về mức giá quốc gia như Broda (2006) Dữliệu được lấy từ dữliêụ Các chỉsốphát triểnkinh tế(WDI) của World Bank, sử dụng khảosát về giá được cung cấp bởi Chương trình So sánh Quốc tế (ICP, Liên Hiệp Quốc)d.Dữliêụ đươcc̣ tinhh́ toán bằng cùng môṭphương pháp ởtất cảcác quốc gia nên NPL trongbài nghiên cứu này là có thể so sánh đươcc̣ giữa các quốc gia (theo như Summer vàHestor, 1991) Trong cuộc khảo sát này, giá hàng hóa và dịch vụ được thu thập ở một
số quốc gia được chọn Dựa trên mức giá cả này, xây dựng chỉ số sức mua tươngđương (PPP) cho mỗi quốc gia liên quan đến Hoa Kỳ, sau đó xác định nên mức giáquốc gia bằng cách lấy chỉ số PPP của quốc gia đó chia cho tỷ giá hối đoái NPL đượctính toán cho quốc gia i như sau:
NPLit : mức giá quốc gia i tại thời điểm t
j là tất cả hàng hóa
si,us la tỷ gia hối đoái giưa đồng tiền của quốc gia i va dollar My
ωj là khối lượng cua hang hoa j
p i,j la gia hang hoa j ở quốc gia i.
3.1.2 Hôịnhâpp̣ tài chính quốc tế(FIN)
Hội nhập thị trường tài chính quốc tế được xem như làmôṭsư c̣dicḥ chuyển từ thị trường tàisản được phân khúc (thị trường nơi mà chỉ có một lượng nhỏ các tài sản tài chính thamgia mua bán trên thị trường) sang các thị trường tài sản hoàn chỉnh, nơi mà toàn bô c̣các tàisản tài chính được giao dịch hoàn toàn Thị trường tài chính quốc tế càng hội
Trang 36nhập sâu hơn thih̀số lượng của các công cụ tài chính sẵn có mang tính quốc tế càngnhiều hơn nhằm đối phó với các loại rủi ro khác nhau Thị trường tài sản hoàn chỉnh(complete asset markets) sẽ có đủ các công cụ phòng ngừa cho mỗi tình huống Mặc
dù giả định thị trường tài sản hoàn chỉnh là quá mức, nhưng nó phản ánh tốt khái niệm
về đo lường hội nhập thị trường tài chính bởi mức độ thực tế các tài sản tài chính đượcgiao dịch để đầu cơ chống lại các loại rủi ro khác nhau
Mức độ hội nhập tài chính quốc tế được đo bằng số lượng công cụ tài chính sẵn có,tính toán dựa trên vị thế của tổng tài sản nước ngoài của quốc gia Kose cùng cộng sự(2006) cho rằng nhiều quốc gia có kiểm soát vốn khá nghiêm ngặt về mặt pháp lýnhưng lỏng lẻo trong thực tế, vì vậy mà mức độ hội nhập thực tế của họ được đo bằngdòng vốn hoặc chứng khoán của tài sản và nợ nước ngoài là khá cao, tự nó như mộtcông cụ kỷ luật đối với chính phủ và các công ty Ngược lại, nhiều quốc gia khác thìkhá hội nhập với các thị trường vốn toàn cầu về mặt pháp lý nhưng trong thực tế dòngvốn lại bị giới hạn Do đó cách đo lường mức độ hội nhập thị trường tài chính quốc tếdựa trên công cụ tài chính thực có là cách đo lường tốt nhất trong hiện nay cho mức độhội nhập của một quốc gia trong các thị trường tài chính quốc tế
Biến giải thích chính (FIN) đo lường mức độ hôịnhâpc̣ tài chính quốc tếđươcc̣ sử dụnggiống như công thức đươcc̣ dựng nên bởi Lane vàMilesi-Ferretti (2001,2003, 2007) và
= +
FINit : Hôịnhập tài chính quốc tế của quốc gia i tại thời điểm t
FAit: tổng của tài sản nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
FLi vànơ c̣nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
Trang 37Cùng với cách thức mà các giao dịch được ghi nhận trong sự cân bằng của số liệuthống kê thanh toán, phân loại tài sản và nợ phải trả không thuộc sở hữu trong nướcthành ba loại chính: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn chủ sở hữu danh mục đầu
tư (EQ), và các công cụ nợ (DEBT) Dự trữ ngoại hối (FX) thuộc nhóm phân loại cuốicùng này Chữ cái A sẽ đại diện cho nhóm tài sản và L đại diện cho nhóm nghĩa vụ nợ.(Philip R Lane and Gian Maria Milesi-Ferretti,2001)
FAit: tổng của tài sản nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
FAit=FDIAit+EQAit+DEBTAit+FXAit
FLit: nơ c̣nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t
FLi =FDILit+EQLit+DEBTLit+FXLit
Vậy
Tương đương
FINit= (FDIAit+EQAit+DEBTAit+FXAit+ FDILit+EQLit+DEBTLit+FXLit)/GDPit
Đối với hầu hết các nước phát triển, ước lượng của các cổ phiếu của các tài sản và nợphải trả bên ngoài được công bố bởi cơ quan quốc gia và thu IMF và OECD Đối với cácnước đang phát triển, tuy nhiên, dữ liệu chứng khoán toàn diện nói chung là chỉ có nợ vàngoại hối dự trữ bên ngoài Ngoài ra, các phương pháp sử dụng để ước tính các cổ phiếukhác nhau của phương trình thường khác nhau giữa các quốc gia (ví dụ, giá trị
Trang 38sổ sách hoặc giá thị trường đối với cổ phần và FDI) làm so sánh giữa các nước khó khăn hơn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đề cập đến nguồn vốn đầu tư dài hạn, chẳng hạn nhưviệc mua hoặc xây dựng các máy móc thiết bị, nhà xưởng, hoặc các nhà máy sản xuấttoàn bộ Nếu người nước ngoài đang đầu tư vào một quốc gia, đại diện cho một dòngchảy vào và được tính là một mục thặng dư trên tài khoản vốn Nếu công dân của mộtquốc gia đang đầu tư ở nước ngoài, đại diện cho một dòng chảy ra bên ngoài và đượctính là một thâm hụt Sau khi đầu tư ban đầu, bất kỳ lợi nhuận hàng năm mà khôngđược tái đầu tư sẽ chảy theo hướng ngược lại nhưng sẽ được ghi vào tài khoản hiện tạichứ không phải là vốn
Đầu tư gián tiếp đề cập đến việc mua cổ phiếu và trái phiếu Nó đôi khi được nhóm lạivới nhau với đầu tư "khác" như ngắn hạn Như với FDI, thu nhập từ các tài sản nàyđược ghi lại trong các tài khoản hiện hành; mục nhập tài khoản vốn sẽ chỉ được cho bất
kỳ mua hoặc bán các tài sản danh mục đầu tư trên thị trường vốn quốc tế
Đầu tư khác bao gồm dòng vốn vào các tài khoản ngân hàng hoặc cung cấp các khoảnvay Dòng tiền lớn ngắn hạn giữa các tài khoản ở các quốc gia khác nhau thường xảy rakhi thị trường có thể tận dụng lợi thế của sự biến động lãi suất và / hoặc tỷ giá hối đoáigiữa tiền tệ Đôi khi thể loại này có thể bao gồm các tài khoản dự trữ
Các tài khoản dự trữ ngoại hối được điều hành bởi ngân hàng trung ương của một quốc gia
để mua và bán ngoại tệ; nó có thể là một nguồn của các dòng vốn lớn để chống lại nhữngngười có nguồn gốc từ thị trường dòng vốn trong nước (số bán ngoại tệ của quốc gia), đặcbiệt là khi kết hợp với một thặng dư tài khoản vãng lai, có thể gây ra một sự gia tăng tronggiá trị (tăng giá) của tiền tệ của một quốc gia, trong đó dòng outbound có thể gây ra sự sụtgiảm trong giá trị (khấu hao) Nếu một chính phủ (hoặc, nếu được phép hoạt động độc lậptrong lĩnh vực này, các ngân hàng trung ương của chính nó) không
Trang 39xem xét việc thay đổi thị trường theo định hướng giá trị đồng tiền của mình được lợi ích cao nhất của quốc gia, nó có thể can thiệp.
Để khắc phục những hạn chế trong dữ liệu hiện có, Lane và MilesiFerretti đã xâydựng dữ liệu về tài sản và các khoản nợ bên ngoài cho các quốc gia phát triển và đangphát triển Dựa trên dữ liệu chứng khoán, ngay khi sẵn sàng, bổ sung bởi các luồng dữliệu đã được tích lũy, với sự điều chỉnh giá phù hợp Cái sau này được đặc biệt quantrọng cho vai trò tăng do vốn chủ sở hữu danh mục đầu tư và dòng vốn FDI trong suốtthập kỷ qua
Đối với quốc gia i taịngày t, FINit bằng tổng của tài sản nước ngoài (FAit) vànơ c̣nướcngoài (FLit) trên GDPit Dữ liệu về FA và FL được lấy từ bộ dữ liệu “External Wealth
of Nations” của giáo sư Philip R Lane thuộc trường Trinity College Dublin(http://www.philiplane.org/) Các phương pháp đo lường khác, chẳng hạn nhưKAOPEN của Chinn và Ito (2008) hoăcc̣ của Schindler (2009) là mức độ pháp lý,không phải là mức độ thực tế của hội nhập tài chính trong khi đây laịlàđiều rất quantrọng đối với bài nghiên cứu
3.1.3 Phân loaịchếđô p̣tỉgiáhối đoái (FLO)
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chế độ tỷ giá hối đoái của ngân hàng trung ươngcông bố chính thức không nhất thiết phải phù hợp với chính sách thực tế Ngay cả khituyên bố chính thức áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi tự do, ngân hàng trung ương vẫnthường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối Vì lý do này, không dựa vào cáchphân loại tỷ giá “de jure” và không dựa trên kết quả của báo cáo AREAER hàng nămcủa IMF (Annual Report Exchange Arangements and Exchange Restrictions) về việcphân loại tỷ giá hối đoái Và cách thức phân loại chế độ tỷ giá thực tế được cung cấpbởi Levy-Yeyati và Sturzenegger (2003, 2005) và Reinhart và Rogoff (2004) Đối với
Trang 40mỗi phân loại, cần phân biệt giữa một cái chốt (peg), tỷ giá hối đoái thả nổi và trunggian.
Với mục đích của bài viết này, việc phân loại của Reinhart và Rogoff, được ký hiệu là
RR, là phù hợp hơn, vì nó đặt trọng lượng hơn về biến động tỷ giá hối đoái thực tế Phânloại RR sử dụng thông tin về sự tồn tại của thị trường song hành kết hợp với các hành
vi tỷ giá thực tế trong những thị trường này Bao gồm sáu loại (1-6), trong đó 6 là chế
độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Theo Levy-Yeyati và Sturzenegger, được ký hiệu là LYS, cũng bao gồm những thay
đổi trong cổ phần dự trữ, trong đó chủ yếu quy mô đi xuống của biến động tỷ giá hốiđoái Sự phân loại theo ba cách của LYS bao gồm chế độ tỷ giá thả nổi, trung gian và
cố định được quy đổi sang số học từ 1-3 trong đó 1 là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn.dựa trên ba biến liên quan chặt chẽ:
Biến động tỷ giá (σe), được đo bằng mức trung bình của thay đổi tỷ lệ phần trăm hàngtháng tuyệt đối trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong năm
Biến động của thay đổi tỷ giá hối đoái (σΔe), đo là độ lệch chuẩn của tỷ lệ phần trămthay đổi hàng tháng trong tỷ giá hối đoái
Biến động của các quỹ (σr), được đo bằng mức trung bình của sự thay đổi hàng thángtuyệt đối trong dự trữ quốc tế liên quan đến các cơ sở tiền tệ trong tháng
Ý tưởng phân loại LYS chi rằng, theo hành vi của ba biến, sẽ có thể xác định các chế
độ tỷ giá một quốc gia đang thực sự Nếu một quốc gia linh hoạt chế độ tỷ giá hối đoáiđược đặc trưng bởi sự can thiệp nhỏ trong thị trường ngoại hối cùng với biến động caocủa tỷ giá hối đoái Ngược lại, một chế độ tỷ giá hối đoái cố định nên hiển thị ít biếnđộng trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong khi dự trữ dao động đáng kể Cuối cùng,