CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toánkhông phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu của các công ty niê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÂM VŨ PHI
ẢNH HƯỞNG CỦA Ý KIẾN KIỂM TOÁN KHÔNG PHẢI DẠNG CHẤP NHẬN TOÀN PHẦN ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU-BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH
TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÂM VŨ PHI
ẢNH HƯỞNG CỦA Ý KIẾN KIỂM TOÁN KHÔNG PHẢI DẠNG CHẤP NHẬN TOÀN PHẦN ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU-BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN THỊ GIANG TÂN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán
không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu– Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả, với sự hỗ trợ từ
người hướng dẫn khoa học là PGS.TS.Trần Thị Giang Tân Nội dung, kết quảnghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và dựa theo số liệu thu thậpđược Các tài liệu, đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn
và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả
2016
Tác giả luận văn
Lâm Vũ Phi
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới của nghiên cứu 3
6 Bố cục của bài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN TÁC ĐỘNG CỦA Ý KIẾN KTV ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU 6
1.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững của lợi nhuận 6
1.2 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến việc ra quyết định của nhà đầu tư 7
1.3 Các nghiên cứu về phản ứng của thị trường thông qua thị giá cổ phiếu trước các loại ý kiến kiểm toán 10
1.4 Các nghiên cứu tại Việt Nam 15
1.5 Khoảng trống trong nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18
2.1 Tổng quan về thị giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường, 18
2.1.1 Thị giá cổ phiếu 18
2.1.2 Lợi nhuận bất thường 18
2.2 Tổng quan về báo cáo kiểm toán và ý kiến của KTV 22
Trang 52.2.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 22
2.2.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán 24
2.3 Lý thuyết nền cho nghiên cứu 29
2.3.1 Lý thuyết Ủy nhiệm 29
2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 30
2.3.3 Lý thuyết thị trường tài chính hiệu quả 32
2.4 Mô hình nghiên cứu lựa chọn 34
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 37
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 37
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 38
3.2 Mô hình nghiên cứu 40
3.3 Giả thiết nghiên cứu, lựa chọn mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu 44
3.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 44
3.3.2 Lựa chọn mẫu 44
3.3.3 Thu thập dữ liệu 45
3.4 Phương pháp kiểm định 46
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Khái quát thị trường chứng khoán Việt Nam 49
4.2 Kết quả thống kê mô tả 51
4.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và thị giá cổ phiếu 58
4.3.1 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh đối với thị giá cổ phiếu 59
4.3.2 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ đối với thị giá cổ phiếu 61
4.3.3 Ảnh hưởng ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu các công ty niêm yết tại Việt Nam 65
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 70
5.1 Kết luận và gợi ý chính sách 70
Trang 65.1.1 Kết luận 70
5.1.2 Gợi ý chính sách 72
5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 73
5.2.1 Hạn chế của bài nghiên cứu 73
5.2.2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế
Mô hình định giá tài sản vốnSàn giao dịch chứng khoán Hà NộiSàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí MinhChuẩn mực kiểm toán quốc tế
Kiểm toán viênPhương pháp bình thương bé nhất
Ý kiến kiểm toán ngoại trừThị trường chứng khoánChuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phận với đoạn nhấn mạnh
DANH MỤC CÁC HÌNH
TrangHình 3.1 Dòng thời gian sự kiện của nghiên cứu. 46Hình 4.1 Biểu đồ AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến ngoại trừ và chấp nhậntoàn phần với đoạn nhấn mạnh. 63Hình 4.2 Lợi nhuận bất thường trung bình trong cửa sổ sự kiện. 68
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu……… ……… 51Bảng 4.2 Số lượng ý kiến kiểm toán sử dụng trong nghiên cứu 52Bảng 4.3 Bảng tổng hợp sự kiện và ngày sự kiện trong giai đoạn nghiên cứu 53Bảng 4.4 Tổng hợp hệ số alpha, beta của từng cổ phiếu trong giai đoạn nghiên cứu58
Bảng 4.5 Bảng tổng hợp AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấpnhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 56Bảng 4.6 Kết quả T-test cho AAR từng ngày trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiếnkiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 59Bảng 4.7 CAAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phầnvới đoạn nhấn mạnh 60Bảng 4.8 Kết quả T-test cho CAAR của tất cả các công ty trong tổng cửa sổ sự kiệnđối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 60Bảng 4.9 Kết quả T-test cho CAAR từng cặp ngày đối xứng xung quanh ngày sựkiện đối với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh 61Bảng 4.10 Bảng tổng hợp giá trị (AAR) từng ngày trong cửa sổ sự kiện đối với ýkiến kiêm toán ngoại trừ 62Bảng 4.11 Kết quả T-test cho AAR từng ngày trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiếnkiêm toán ngoại trừ 63Bảng 4.12 CAAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 64Bảng 4.13 Kết quả T-test cho CAAR của tất cả các công ty trong tổng cửa sổ sựkiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 64Bảng 4.14 Kết quả T-test cho CAAR từng cặp ngày đối xứng xung quanh ngày sựkiện đối với ý kiến kiêm toán ngoại trừ 64Bảng 4.15 Bảng tổng hợp AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến không phải chấpnhận toàn phần 65Bảng 4.16 Kết quả T-test cho AAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến không phảichấp nhận toàn phần 66Bảng 4.17 CAAR trong cửa sổ sự kiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toànphần 67
Trang 9Bảng 4.18 Kết quả T-test cho CAAR của tất cả các công ty trong tổng cửa sổ sựkiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần 67Bảng 4.19 Kết quả T-test cho CAAR từng cặp ngày đối xứng xung quanh ngày sựkiện đối với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần 67
Trang 10sở cho việc ra quyết định kinh tế của các đối tượng liên quan.
Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập và trình bày theo chuẩnmực, chế độ kế toán hiện hành, phản ảnh thông tin tài chính, tình hình và kết quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên trên thực tế, có khoảng cáchgiữa mong đợi của nhà quản lý doanh nghiệp và những người sử dụng báo cáo tàichính về tính trung thực và độ tin cậy của báo cáo tài chính do luôn có xung đột lợiích giữa hai đối tượng này Đó chính là lý do ra đời của kiểm toán độc lập nhằmnâng cao độ tin cậy, tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.Kiểm toán trở thành cầu nối giữa các bên, giúp đem lại niềm tin cho người sử dụngbáo cáo tài chính, và giúp cho hoạt động kinh tế trở nên minh bạch hơn
Trong nền kinh tế hiện đại, cùng với sự phát triển của thị trường vốn, việccông bố các thông tin tài chính của các công ty niêm yết phải tuân thủ các quy địnhcủa luật pháp, điều này là do thông tin chỉ ảnh hưởng đến công ty đó mà còn ảnhhưởng đến các nhà đầu tư, chủ nợ và người sử dụng BCTC khác Chính vì thế, theoquy định hiện hành tại Việt Nam, các công ty niêm yết phải công bố thông tin tìnhhình tài chính hoạt động của đơn vị theo yêu cầu chuẩn mực, chế độ kế toán vàBCTC phải được kiểm toán nhằm nâng cao độ tin cậy, tính trung thực, hợp lý vềtình hình tài chính Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, ý kiến của kiểm toán viêntrên báo cáo kiểm toán ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu như nghiên cứu của Chow,C.W and Rice (1982), Dodd và cộng sự (1984), Chen và cộng sự (2000) , Ali và
Trang 11cộng sự (2008), Bahram Soltani (2000), Ittonen (2012), Ianniello & Galloppo(2015)… Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng nếu ý kiến của KTV khôngphải là ý kiến chấp nhận toàn phần, thị giá cổ phiếu sẽ bị sụt giảm Điều này, giúpthấy rõ tầm quan trọng của ý kiến KTV nói riêng, thông tin trên báo cáo kiểm toánnói chung và từ đó cũng có thể giúp các nhà phân tích, đầu tư dự báo sự thay đổi thịgiá cổ phiếu Đây là một chủ đề có tầm quan trọng trong nền kinh tế thị trường, tuynhiên cho đến nay, tại Việt Nam, có khá ít nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệgiữa ý kiển KTV trên báo cáo kiểm toán với thị giá cổ phiếu Chính vì vậy, việcxem xét tác động, ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu – một trongthước đo để đo lường giá trị doanh nghiệp là vấn đề cần thiết Vì thế, tác giả chọn
đề tài: “Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu- bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” nhằm xem
xét giá trị thông tin của báo cáo kiểm toán
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu cung cấp bằng chứng thựcnghiệm về tác động của ý kiến kiểm toán mà cụ thể là ý kiến kiểm toán không phảidạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu, một loại phản ứng liên quan đếnviệc ra quyết định kinh tế của nhà đầu tư tại Việt Nam Cụ thể, mục tiêu của nghiêncứu là đo lường phản ứng của nhà đầu tư đối với từng loại ý kiến kiểm toán (theoquy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành) thông qua thị giá cổ phiếu.Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, thị giá cổ phiếu thay đổi như thế nào trước ý kiến không phảidạng chấp nhận toàn phần
Thứ hai, thị giá cổ phiếu thay đổi như thế nào trước ý kiến chấp nhận toànphần có đoạn nhấn mạnh
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thị giá cổ phiếu các công ty niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam và ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán của cáccông ty này
Phạm vi nghiên cứu là các công ty niêm yết tại Việt Nam trên Sàn giao dịchchứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch chứng khoán HàNội (HNX) trong giai đoạn 2012 -2015
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứuđịnh lượng, trong đó sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study method)theo mô hình cơ sở thị trường (market based model) nhằm xem xét sự thay đổi thịgiá cổ phiếu, thông qua việc đo lường lợi nhuận bất thường của các công ty xungquanh ngày công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán bởi công ty kiểm toánđược chấp thuận Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu là dữ liệu sơ cấp, lànhững thông tin về báo cáo tài chính được kiểm toán của công ty niêm yết trên sàngiao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Và thị giá cổ phiếu củacác công ty được xác định trong một khoản thời gian nhất định xung quanh ngàycông bố báo cáo tài chính được kiểm toán Dữ liệu này sẽ được xử lý thủ côngthông qua sự trợ giúp của bảng tính excel Sau đó được phân tích và xử lý dưới sựtrợ giúp của phần mềm thống kê SPSS Giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm địnhbằng phương pháp kiểm định tham số T-test
5. Đóng góp mới của nghiên
cứu Về mặt lý luận:
Nghiên cứu góp phần giúp cho người đọc có tổng quan về ảnh hưởng của ýkiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường thông qua việc hệ thốnghóa và trình bày kết quả nghiên cứu trước đây về giá trị của báo cáo kiểm toán và
Trang 13Về mặt thực tiễn:
Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của ý kiến KTV đối vớithị giá cổ phiếu tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu giúp cho người sử dụng báo cáotài chính có nhận thức về giá trị của báo cáo kiểm toán như nguồn thông tin hữu íchtrong việc ra quyết định kinh tế của họ, cũng như giúp họ có được ước đoán hợp lý,đáng tin cậy về phản ứng của thị trường dựa trên thông tin trong báo cáo kiểm toán
Ngoài ra, đây cũng là một trong số ít những nghiên cứu đầu tiên tại ViệtNam xem xét mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu củacác công ty niêm yết tại Việt Nam thông qua đo lường lợi nhuận bất thường dựa trên
mô hình nghiên cứu sự kiện trên cơ sở thị trường với việc sử dụng dữ liệu thứ cấp,cập nhật giai đoạn mới nhất 2012-2015 vì vậy kết quả của nghiên cứu phản ánhđúng thực tế theo số liệu của các công ty chứ không dựa trên quan điểm đánh giácủa bất kỳ đối tượng nào
6 Bố cục của bài nghiên cứu
Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm 5 chương:
PHẦN MỞ ĐẦU
Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Nêu lý do chọn đề tài; mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứucũng như ý nghĩa của nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN
Trang 14Chương này tổng hợp các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của ý kiến trênbáo cáo kiểm toán đến phản ứng của thị trường chứng khoán, nghiên cứu về ảnhhưởng của ý kiến kiểm toán đến quyết định đầu tư; mối quan hệ giữa ý kiến kiểmtoán với lợi nhuận bất thường của cổ phiếu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Trình bày cơ sở lý thuyết về báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính, các dạng
ý kiến kiểm toán, các lý thuyết nền cho nghiên cứu Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn
mô hình nghiên cứu
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu gồm: quy trình nghiên cứu;giả thiết nghiên cứu, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệuđầu vào, cách xác định giá trị các biến và các phương pháp kiểm định được sử dụng
để phục vụ việc nghiên cứu
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toánkhông phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu của các công ty niêm yết,sau đó tiến hành so sánh và thảo luận về kết quả kỳ vọng lý thuyết với kết quả đạtđược từ mô hình
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được cùng với các hạn chếcủa nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN TÁC
ĐỘNG CỦA Ý KIẾN KTV ĐẾN THỊ GIÁ CỔ PHIẾU
Báo cáo kiểm toán là nguồn thông tin quan trọng đối với thị trường tàichính, giá trị báo cáo kiểm toán nói chung cũng như ảnh hưởng của ý kiến kiểmtoán đến thị giá cổ phiếu nói riêng là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khác nhau, tại nhữngthời điểm khác nhau còn nhiều sự khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn Có hai hướngnghiên cứu chính liên quan đến ảnh hưởng này: một là nghiên cứu theo hướng cơ sởthị trường (market based) và hướng nghiên cứu thực nghiệm (experimental study)(Craswell -1985) Nghiên cứu trên cơ sở thị trường tập trung vào ảnh hưởng của ýkiến kiểm toán đến thị giá cổ phiếu của các công ty khi báo cáo kiểm toán đượccông bố rộng rãi Trong khi đó, nghiên cứu thực nghiệm quan tâm đến việc xem xét
“ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến cácmức độ tín nhiệm và hiệu quả của việc quản lý ” (Hatherly và công sự, 1991).Trong loại nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu sẽ dựa trên xét đoán chủ quan vềnhững tình huống giả định, vì vậy, báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán trongnhững nghiên cứu này mang tính giả định hơn là thực tiễn Nhiều nhà nghiên cứunhư Estes and Reimer (1977, 1979); Estes (1982), Libby (1979a, b), Houghton(1983), Firth (1979, 1980), Gul (1987, 1990), Robertson (1988), Milleret al.(1993),Bessellet al.(2003), Guillamon (2003), Linet al.(2003) and Mong and Roebuck(2005) cũng thực hiện nhiều nghiên cứu dựa trên phương pháp thực nghiệm này.Các dòng nghiên cứu liên quan có thể kể ra bao gồm:
1.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tính bền vững của lợi
nhuận
Tính bền vững trong lợi nhuận có thể hiểu là khả năng duy trì lợi nhuậntrong tương lai của doanh nghiệp, đó chính là khả năng lợi nhuận hiện tại có thểgiúp dự đoán lợi nhuận trong năm tiếp theo (Barth và Hutton, 2004; Jonas vàBlanchet, 2000)
Trang 16Nghiên cứu gần đầy nhất về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán trong việc dựđoán, đánh giá tính bền vững trong lợi nhuận của doanh nghiệp là nghiên cứu củaVichitsarawong và Pornupatham (2015) thực hiện tại Italia Mục tiêu của nghiêncứu này xem xét vai trò của ý kiến kiểm toán trong việc truyền tín hiệu về thông tinlợi nhuận của doanh nghiệp (tức có chứa đựng thông tin gắn với chất lượng của lợinhuận hay không), cụ thể là xem xét liệu ý kiến kiểm toán có mối quan hệ với tínhbền vững trong lợi nhuận hay không, nếu có thì mối quan hệ đó như thế nào Với dữliệu là thông tin về ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoánItalia từ 2004-2008, bằng phương pháp phân tích hồi quy và thống kê mô tả, kết quảnghiên cứu chỉ ra rằng: những công ty nhận ý kiến kiểm toán dạng không phải dạngchấp nhận toàn phần thường có sự bền vững về lợi nhuận thấp hơn các công ty nhậnđược ý kiến chấp nhận toàn phần Cụ thể, công ty nhận ý kiến ngoại trừ hay ý kiến
từ chối có sự bền vững trong lợi nhuận thấp hơn công ty nhận ý kiến chấp nhận toànphần có đoạn nhấn mạnh Tuy nhiên, kết quả không cho thấy sự khác biệt trong mức
độ bền vững của lợi nhuận giữa hai loại ý kiến ngoại trừ và từ chối
1.2 Ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến việc ra quyết định của nhà đầu tư
Firth (1980) sử dụng bảng câu hỏi để xem xét liệu quyết định cho vay củangân hàng và phản ứng của nhà phân tích tín dụng có bị ảnh hưởng bởi ý kiến kiểmtoán dạng không phải là chấp nhận toàn phần hay không Bảng câu hỏi bao gồm báocáo tài chính của một công ty giả định kèm theo báo cáo kiểm toán với ý kiến chấpnhận toàn phần hoặc một trong các dạng ý kiến không phải chấp nhận toàn phần.Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, nếu ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần,đặc biệt liên quan đến khả năng hoạt động liên tục (do không chắc chắn trong việcđánh giá tài sản) có ảnh hưởng rõ rệt đến quyết định cho vay của ngân hàng và nhàphân tích tín dụng Ngoài ra, theo Firth, báo cáo kiểm toán cần cung cấp thông tinchi tiết liên quan đến những hạn chế này để người đọc đánh giá được những rủi rođáng kể khi ra quyết định có liên quan
Trang 17Với phương pháp, mục đích nghiên cứu tương tự, Robertson (1988) thựchiện nghiên cứu nhằm xác định xem liệu loại ý kiến không chấp nhận toàn phần cóảnh hưởng đến phản ứng của nhà phân tích tài chính hay không Các nhà phân tíchtài chính được gửi một bộ báo cáo tài chính của một công ty kèm theo báo cáo kiểmtoán dạng không phải chấp nhận toàn phần, và họ được yêu cầu đưa ra ý kiến của họ
về các câu hỏi: (1) Họ có thấy rằng báo cáo kiểm toán gia tăng độ tin cậy của báocáo tài chính hay không?; (2) Họ có dựa trên những thông tin này khi ra quyết địnhđầu tư tài chính hay không? (3) Họ có cảm thấy những thông tin này đáp ứng yêucầu của họ khi thực hiện phân tích hay không? Kết quả chỉ ra rằng, đối với các nhàphân tích tài chính không có sự khác biệt nào giữa các loại ý kiến không phải dạngchấp nhận toàn phần Tuy nhiên Robertson (1988) cũng chỉ ra rằng “ý kiến dạngngoại trừ được xếp hạng cao nhất về việc mang lại độ tin cậy, thỏa mãn và nó dễhiểu hơn những ý kiến khác”
Houghton (1983) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để xác định sự ảnhhưởng của ý kiến kiểm toán đối với quá trình ra quyết định, cũng như quyết địnhcho vay của các ngân hàng ở Úc Mục tiêu nghiên cứu là xem xét liệu có sự khácbiệt nào về nội dung thông tin giữa những loại báo cáo kiểm toán khác nhau haykhông, chấp nhận toàn phần và không phải dạng chấp nhận toàn phần, có sự khácbiệt giữa việc có và không có báo cáo kiểm toán hay không Tác giả thiết kế bộthông tin bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, lưu chuyển tiền tệ, bảnthuyết minh và bộ hồ sơ xin vay ngân hàng Bảng câu hỏi được gửi cho ba nhóm,nhóm thứ nhất kèm theo báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần, nhóm thứ haikèm theo báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần và nhóm thứ bakhông có báo cáo kiểm toán kèm theo Kết quả cho thấy không có ảnh hưởng đáng
kể nào của trường hợp này – báo cáo chấp nhận toàn phần, dạng không phải chấpnhận toàn phần và không có báo cáo- đối với quyết định có cho vay hay không cũngnhư số tiền cho vay là bao nhiêu Ông cho rằng kết quả này là do đối tượng phản hồikhông có nhận thức đầy đủ về vai trò của báo cáo kiểm toán, thông tin trong báo cáokiểm toán không quan trọng đối với ngân hàng, từ ngữ trong báo cáo
Trang 18ra giá trị thích hợp đối với thị giá cổ phiếu của công ty Tác giả sử dụng phươngpháp ANOVA để phân tích dữ liệu và kết quả chỉ ra rằng, báo cáo kiểm toán dạngngoại trừ có ảnh hưởng tiêu cực đến thị giá cổ phiếu.
Bessell et al (2003) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm để xem xét ý kiếnkiểm toán viên liên quan giả định hoạt động liên tục trong loại báo cáo kiểm toánđiều chỉnh (modified audit report) ở Úc Các tác giả tiến hành thu thập ý kiến của
500 đối tượng là thành viên Viện tài chính ngân hàng thông qua bảng câu hỏi kèmtheo các dạng báo cáo kiểm toán (chấp nhận toàn phần, không phải chấp nhận toànphần, chấp nhận toàn phần có đoạn mở rộng) Kết quả nghiên cứu cho thấy “vấn
đề nhấn mạnh” và “ ý kiến ngoại trừ” vẫn chứa đựng các thông tin ngay cả khi công
ty không có khó khăn tài chính Tuy nhiên, nếu một công ty ở trong tình trạng tàichính khó khăn, thì báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần cũngkhông làm gia tăng đáng kể nhận thức về rủi ro hoặc việc ra quyết định
Guillamon (2003) cũng tiến hành nghiên cứu thực nghiệm điều tra tầm quantrọng của báo cáo kiểm toán trong việc ra quyết định đầu tư của công ty môi giới vàquyết định cho vay của tổ chức tín dụng Hay nói cách khác, mục tiêu nghiên cứu làđiều tra ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đối với quyết định đầu tư và tài chính Nhànghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi gởi đến các đối tượng khảo sát để thu thập thôngtin về việc khi ra quyết định đầu tư họ sẽ xem xét những nguồn thông tin nào Kếtquả chỉ ra rằng báo cáo kiểm toán là nguồn thông tin hữu ích trong việc ra quyếtđịnh đầu tư và tài chính
Trang 19Lin et al.(2003), dùng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm điều tra phảnứng của người sử dụng đối với báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toànphần ở Trung Quốc Nhà đầu tư và nhân viên tín dụng được hỏi liệu quyết định có
bị ảnh hưởng bởi báo cáo tài chính kèm theo báo cáo kiểm toán dạng chấp nhậntoàn phần và dạng chấp nhận từng phần hay không, Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằngbáo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ảnh hưởng tiêu cực đếnquyết định của nhà đầu tư và nhân viên tín dụng, và không có sự khác biệt đáng kểnào giữa các loại ý kiến trong nhóm này
1.3 Các nghiên cứu về phản ứng của thị trường thông qua thị giá cổ phiếu trước các loại ý kiến kiểm toán.
Baskin (1972) sử dụng mô hình thị trường để khảo sát ý kiến kiểm toándạng ngoại trừ nhằm tìm hiểu bản chất tác động của dạng ý kiến ngoại trừ đến quyếtđịnh của nhà đầu tư Ông kết luận có ít sự ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán ngoạitrừ đến quyết định của nhà đầu tư và báo cáo kiểm toán dạng ngoại trừ có giá trị vềthông tin thấp
Với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu tương tự, Firth (1978) điều traảnh hưởng của ý kiến trên báo cáo kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phầnđối với thị giá cổ phiếu (tại ngày phát hành báo cáo) và đối với quyết định đầu tư.Mẫu nghiên cứu gồm 247 công ty có báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toànphần tại Anh Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy thị giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởiloại ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần ngay khi chúng được công bố, vàbáo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần chứa đựng thông tin quan trọngảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Các nhà đầu tư phản ứng khác nhau đốivới mổi loại báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần
Dodd et al (1984) điều tra liệu báo cáo kiểm toán dạng tùy thuộc vào(subject to) và từ chối đưa ra ý kiến có ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu hay không.Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhiều công ty có lợi nhuận bất thường (abnormal returns)
âm thường sẽ có ý kiến kiểm toán dạng không phải chấp nhận toàn phần, mức độ lợinhuận bất thường khác nhau đối với từng loại ý kiến không phải dạng chấp nhận
Trang 20toàn phần Kết quả cung cấp ít bằng chứng về việc thị giá cổ phiếu bị ảnh hưởngnếu báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận toàn phần được công bố ra côngchúng Nói cách khác, báo cáo kiểm toán dạng tùy thuôc vào và từ chối đưa ra ýkiến ảnh hưởng thị giá cổ phiếu lá khá ít Kết quả nghiên cứu này không có nghĩa làbáo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phận không có ý nghĩa haykhông cần ý kiến của kiểm toán
Ameen et al (1994) dùng phương pháp nghiên cứu sự kiện để điều tra liệu
ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần có ảnh hưởng đến thị giá cổphiếu của các công ty quy mô nhỏ thuộc thị trường chứng khoán phi tập trung ở
Mỹ Nghiên cứu sử dụng 177 báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toànphần được phát hành trong giai đoạn 1974-1988 Ameen sử dụng mô hình thị trường
để tính toán lợi nhuận bất thường, sau đó tính lợi nhuận bất thường trung bình lũy
kế Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường phản ứng tiêu cực trong thời gian trướcngày công bố báo cáo không phải dạng chấp nhận toàn phần, nhưng thị trườngkhông phản ứng trong cửa sổ sự kiện
Chen et al (2000) tiến hành nghiên cứu phản ứng của thị trường đối với ýkiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần (modified audit opinion) tại thịtrường chứng khoán Thượng Hải Mục tiêu nghiên cứu là điều tra ảnh hưởng của ýkiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải chấp nhận toàn phần đối với thị giá
cổ phiếu trong giai đoạn 1995-1997 Mẫu nghiên cứu gồm 844 quan sát (748 ý kiếnchấp nhận toàn phần và 96 là ý kiến ngược lại) Kết quả nghiên cứu chỉ ra phản ứngcủa thị trường là tiêu cực, thị giá chứng khoán của những công ty nhận ý kiến kiểmtoán không phải chấp nhận toán phần thường bị giảm Kết quả cũng chỉ rằng không
có sự khác biệt đáng kể của phản ứng thị trường đối với ý kiến chấp nhận toàn phần
và ý kiển kiểm soát có đoạn giải thích mở rộng (đoạn nhấn mạnh)
Với mục tiêu nghiên cứu tương tự, xem xét mối quan hệ giữa ý kiến kiểmtoán và thị giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tại thị trường Pháp, Soltani (2000)
đã thực hiện nghiên cứu sự kiện với mẫu gồm 543 công ty trong giai đoạn từ năm1986-1995, thông qua đo lường lợi nhuận bất thường với cửa sổ sự kiện là 15 ngày
Trang 21trước và sau khi công bố báo cáo kiểm toán Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có lợinhuận bất thường âm đáng kể đối với những công ty nhận báo cáo kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần và báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phận cóđoạn nhấn mạnh, điều này cũng cho thấy rằng báo cáo kiểm toán có giá trị thông tinđối với nhà đầu tư
Martinez et al.(2004) nghiên cứu phản ứng của thị trường vốn Tây Ban Nhađối với báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần, thông qua phươngpháp nghiên cứu sự kiện họ xem xét mối quan hệ giữa ý kiến không phải dạng chấpnhận toàn phần với thị giá cổ phiếu trong giai đoạn 1992-1995 Kết quả nghiên cứucho thấy không có mối quan hệ nào giữa thị giá cổ phiếu và ý kiến kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần
Al-Fayoumi (2007) tiến hành nghiên cứu điều tra phản ứng của thị trườngđối với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ở thị trường Jordan
Cụ thể là thay đổi thị giá cổ phiếu và lợi nhuận của những 92 công ty nhận ý kiếnkiểm toán không phải chấp nhận toàn phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoántại Jordan giai đoạn 2000-2005 Bằng nghiên cứu sự kiện, Al-Fayoumi đo lườngphản ứng của thị trường thông qua việc tính toán lợi nhuận bất thường, lợi nhuậnbất thường trung bình và lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế với cửa sổ sự kiện
là khoản thời gian 7 ngày trước và sau khi công bố báo cáo tài chính trên Sở giaodịch chứng khoán Và giai đoạn 100 ngày trước khi bắt đầu ngày của cửa sổ sự kiệnđược xác định là cửa sổ ước lượng để tính lợi nhuận kỳ vọng Kết quả nghiên cứucho thấy rằng ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần không có ảnhhưởng đáng kể, và có ảnh hưởng không rõ ràng đối với thị giá cổ phiếu và lợi nhuậntại ngày công bố báo cáo tài chính và trong suốt giai đoạn sự kiện Ngoài ra, nghiêncứu còn cho thấy người sử dụng báo cáo kiểm toán không hiểu hết ý nghĩa và giá trịcủa báo cáo kiểm toán
Czernkowski và cộng sự (2010) cũng kiểm định phản ứng của thị trườngtrước những ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần của các công ty niêmyết trên sàn chứng khoán Thượng Hải, sau khi Trung Quốc đưa ra những thay đổi
Trang 22quan trọng mang tính pháp lý nhằm củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào chức năngcủa kiểm toán Mẫu nghiên cứu gồm 3,218 quan sát từ năm 1999 đến năm 2003.Nghiên cứu sử dụng và điều chỉnh mô hình phản ứng thị trường được dùng trongnghiên cứu trước đó của Chen và cộng sự (2000) bằng cách thêm các biến giải thíchcho đặc thù tổ chức ở Trung Quốc và kiểm soát thông tin gây nhiễu đến thị trường.Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng chứng minh ý kiến kiểm toán có giá trịthông tin ở Trung Quốc vì không thấy được bức tranh tổng thể về phản ứng thịtrường trước ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần
Giuseppe Ianniello Giuseppe Galloppo (2015) điều tra phản ứng của nhàđầu tư ở Italia đối với loại ý kiến kiểm tóan dạng không phải chấp nhận toàn phần
và ý kiến dạng chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh liên quan đến khả nănghoạt động liên tục và tình hình tài chính kém lành mạnh Galloppo (2015) sử dụngphương pháp nghiên cứu sự kiện, tập trung vào cửa sổ sự kiện ngắn (1 ngày trước
và sau sự kiện, 3, 5 ngày sau sự kiện), để xác định xem thị trường chứng khoán cóphản ứng ngay khi báo cáo kiểm toán được công bố hay không thông qua việc tínhtoán lợi nhuận bất thường của cổ phiếu Nghiên cứu này dựa trên giả định về thịtrường hiệu quả của Fama (1996) với ngày sự kiện là ngày mà kiểm toán viên kýbáo cáo kiểm toán, cửa sổ sự kiện là 20 ngày trước và sau ngày sự kiện, cửa sổ ướclượng là 252 ngày Với mẫu quan sát là 97 công ty từ mẫu quan sát ban đầu gồm1,125 công ty Galloppo (2015) thu thập dữ liệu về ý kiến kiểm toán và thị giá cổphiếu của 97 công ty này từ năm 2007-2010 tính toán lợi nhuận bất thường, lợinhuận bất thường trung bình của mẫu quan sát, và dùng kiểm định Z để kiểm địnhgiả thuyết Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, báo cáo kiểm toán chứa đựng thôngtin có giá trị cho nhà đầu tư Cụ thể, ý kiến kiểm dạng không phải chấp nhận toànphần có tác động tiêu cực đến thị giá cổ phiếu, ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạnnhấn mạnh có ảnh hưởng tích cực đến thị giá cổ phiếu
Với mục tiêu nghiên cứu tượng tự là xem xét tác động của ý kiến kiểm toánkhông phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu, nghiên cứu của Anulasiri
và cộng sự (2015) thực hiện tại thị trường Colombo, SriLanka Bằng
Trang 23phương pháp nghiên cứu sự kiện trên cơ sở thị trường với cửa sổ sự kiện là 4 ngàytrước và sau khi công bố báo cáo kiểm toán, với mẫu cuối cùng là 26 quan sát từ 87báo cáo kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần ban đầu trong giai đoạn từnăm 2010-2014, kết quả T-test cho thấy rằng báo cáo kiểm toán không phải dạngchấp nhận toàn phần có tác động tiêu cực đến thị giá cổ phiếu, tuy nhiên ảnh hưởngnày là không đáng kể Vì vậy cũng có thể kết luận rằng báo cáo kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần không mang giá trị thông tin
Cũng bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện với cửa sổ sự kiện là 5 ngàytrước và sau khi công bố báo cáo kiểm toán, Moradi và công sự (2011) thực hiệnnghiên cứu điều tra tác động của ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toànphần đến thị giá cổ phiếu tại Iran với mẫu quan sát là 103 báo cáo kiểm toán tronggiai đoạn từ 2005-2009 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng báo cáo kiểm toán khôngphải dạng chấp nhận toàn phần không có ảnh hưởng đáng kể đến thị giá cổ phiếu.Hay nói cách khác, không có giá trị thông tin trong báo cáo kiểm toán không chấpnhận toàn phần tại Iran, người sử dụng báo cáo kiểm toán không hiểu hết giá trị và ýnghĩa của báo cáo kiểm toán
Từ các kết quả của những nghiên cứu trên cho thấy, có sự khác biệt về ảnhhưởng ý kiến kiểm toán đến các quyết định kinh tế thông qua sự thay đổi của thị giá
cổ phiếu Một số nghiên cứu đưa ra kết quả là ý kiến kiểm toán không ảnh hưởngđến quyết định của các nhóm lợi ích, trong khi đó rất nhiều nghiên cứu khác chứngminh rằng ý kiến của kiểm toán ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu, từ đó tác động đếnquyết định của nhà đầu tư, một số nghiên cứu còn chỉ ra sự khác biệt trong nhậnthức của người sử dụng và mức độ tin tưởng của họ đối với báo cáo kiểm toán
Nguyên nhân của vấn đề này được cho là do: (i) một số nghiên cứu thựcnghiệm không xuất phát từ thực tiễn mà chủ yếu dựa trên lý thuyết, hoặc bỏ qua cácyếu tố như thời gian, hoàn cảnh cụ thể và những tác động khác đến nhận thức củangười sử dụng BCTC; (ii) đối với các nghiên cứu dựa trên cơ sở thị trường thìkhông thể tách biệt được thông tin về yếu tố không chắc chắn trong báo cáo tàichính so với thông tin tương tự trong báo cáo kiểm toán Ngoài ra còn có nguyên
Trang 24nhân là những tác động gây nhiễu của các thông tin khác được công bố cùng thờiđiểm với báo cáo kiểm toán và do sự khó khăn trong việc xác định thời điểm mà thịtrường nhận được báo cáo kiểm toán
Tuy nhiên, theo Firth (1978) , việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trên cơ
sở thị trường trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đến phản ứngcủa thị trường chứng khoán là hữu ích, ông cho rằng lợi nhuận và cổ tức được công
bố trước khi phát hành báo cáo thường niên vài tuần, vì vậy những thông tin này đãtác động đến thị giá cổ phiếu trước giai đoạn thực hiện nghiên cứu
Có thể nói rằng, đóng góp cơ bản của nghiên cứu này là việc áp dụng môhình nghiên cứu sự kiện xem xét tác động của ý kiến kiểm toán không phải dạngchấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu tại thị trường Việt Nam Cung cấp thêmbằng chứng thực nghiệm về giá trị của báo cáo kiểm toán từ một nước đang pháttriển ở Châu Á-Việt Nam
1.4 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các chủ đề liên quan đến vai trò, giá trị thông tin của báo cáokiểm toán đối với người sử dụng báo cáo tài chính cũng được một số nhà nghiêncứu quan tâm, một số công trình nghiên cứu có thể kể đến như sau:
Nguyễn Văn Hương (2010), Trần Khánh Lâm (2011), Nguyễn Thiên Tú(2012), Hà Xuân Thạch (2013), Tạ Duy Khánh (2015), Dương Quốc Quang (2015),Huỳnh Thị Thiên Thảo (2015)
Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu cácchủ đề liên quan đến báo cáo kiểm toán nói chung nhằm tìm ra giải pháp nâng caochất lượng của báo cáo kiểm toán (Nguyễn Văn Hương (2010), Trần Khánh Lâm(2011)); nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo kiểm toán (Hà Xuân Thạch(2013), Dương Quốc Quang (2015)) Xem xét mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán vàtình bền vững của thu nhập (Huỳnh Thị Thiên Thảo, 2015)
Trang 251.5 Khoảng trống trong nghiên cứu
Thông qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới, có thểthấy rằng, giá trị thông tin trên báo cáo kiểm toán thông qua việc xem xét mối quan
hệ giữa ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần và thị giá cố phiếu là mộttrong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Vì vậy, có khá nhiềucông trình nghiên cứu về chủ đề này, trong đó phương pháp nghiên cứu sự kiện làmột trong cách thức tiếp cận được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu trước
Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm
và có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến báo cáo kiểm toán Kết quả nghiêncứu cho thấy tính hữu ích của báo cáo kiểm toán, các nhân tố nâng cao chất lượnghoạt động kiểm toán nói chung, chất lượng thông tin trên báo cáo kiểm toán nóiriêng Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán vàtính bền vững của thu nhập Tuy nhiên, chủ đề liên quan đến mối quan hệ giữa ýkiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần đến thị giá cổ phiếu- chủ đề
mà từ lâu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới như tácgiả đã trình bày trên, chưa có một công trình nghiên cứu trước đây được thực hiệntại Việt Nam
Chính vì vậy, tác giả nhận thấy cần có một nghiên cứu về mối quan hệ giữa
ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phận và thị giá cổ phiếu thôngqua việc đo lường lợi nhuận bất thường của cổ phiếu của các công ty niêm yết trênTTCK Việt Nam hiện nay Nghiên cứu này góp phần kiểm định vai trò, giá trị củabáo cáo kiểm toán tại Việt Nam, nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các đốitượng sử dụng báo cáo tài chính trong việc dự đoán về thị giá cổ phiếu
Kết luận chương 1
Các nghiên cứu về vai trò của báo cáo kiểm toán trên thới giới được chialàm hai hướng Nghiên cứu thực nghiệm thông qua kiểm tra vai trò của ý kiến kiểmtoán như nguồn thông tin trong quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng báocáo tài chính Và hướng nghiên cứu thị trường thông qua việc xem xét mối quan hệ
Trang 26giữa ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần và thị giá cổ phiếuthông qua đo lường lợi nhuận bất thường và đây là mục tiêu nghiên cứu mà tác giảhướng đến Kết quả nghiên cứu có nhiều khác biệt, đa số nghiên cứu cho thấy báocáo kiểm toán có giá trị thông tin, một số ít nghiên cứu chỉ ra báo cáo kiểm toánkhông có giá trị thông tin vì nhà đầu tư chưa quan tâm và chưa hiểu hết giá trị của
nó Thông qua việc trình bày tổng quan về các nghiên cứu có liên quan trên thế giới
và tại Việt Nam, phân tích những mặt đạt được và những hạn chế của những nghiêncứu này, tác giả thấy cần có nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toánkhông phải dạng chấp nhận toàn phận và thị giá cổ phiếu thông qua việc đo lườnglợi nhuận bất thường của cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Namhiện nay
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về thị giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường,
2.1.1 Thị giá cổ phiếu
Thị giá cổ phiếu hay còn gọi là giá trị thị trường của cổ phiếu được hiểu làmức giá mà người mua và người bán xác lập khi thực hiện giao dịch cổ phiếu đó.Thị giá cổ phiếu cũng chính là thước đo giá trị thị trường của doanh nghiệp Thôngthường giá trị thị trường của một doanh nghiệp được quyết định bởi sự kỳ vọng củanhà đầu tư đối với doanh nghiệp đó Về nguyên tắc, nếu doanh nghiệp hoạt độnghiệu quả, và tiềm năng tăng trưởng cao thì giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ tăng,tức giá trị thị trường của doanh nghiệp tăng và ngược lại Vì vậy, thị giá cổ phiếu làmột trong những thước đo giá trị doanh nghiệp
Giá trị thị trường của doanh nghiệp bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó
có sự ảnh hưởng của những thông tin mà doanh nghiệp công bố ra ngoài thị trường
Để có thể lượng hóa ảnh hưởng của những thông tin này đến giá trị doanh nghiệp đã
có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện như nghiên cứu về ảnh hưởng củathông tin trả cổ tức đến giá chứng khoán của James Dolly (1993), thông tin thâutóm, sáp nhập doanh nghiệp đến giá chứng khoán của Có thể thấy rằng, việc đolường ảnh hưởng của một thông tin công bố đến giá trị doanh nghiệp được đo lườngthông qua thị giá cổ phiếu Để đánh giá phản ứng của thị giá cổ phiếu đối với nhữngthông tin này, các yếu tố có liên quan đến thị giá cổ phiếu sẽ được tính toán và đolường Đó là những vấn đề liên quan đến thị giá cổ phiếu như sau:
2.1.2 Lợi nhuận bất thường
Đối với dạng nghiên cứu sự kiện nói chung, nghiên cứu này nói riêng, xemxét ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán đối với thị giá cổ phiếu, cần phải tính được lợinhuận bất thường
Theo Fama và cộng sự (1970), lợi nhuận bất thường (Abnormal return) là
sự chênh lệch của thị giá cổ phiếu so với mức giá thông thường do ảnh hưởng bởi
Trang 28những thông tin trên BCTC và thông tin không được công bố Nói cách khác, lợinhuận bất thường là sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng Cónhiều kỹ thuật tính lợi nhuận bất thường do sự đa dạng trong việc sử dụng các môhình để dự báo khoản lợi nhuận thông thường quanh ngày xảy ra sự kiện Lợi nhuậnbất thường có thể được ước tính dựa trên: Mô hình lợi nhuận bình quân (Meanreturn model), mô hình lợi nhuận điều chỉnh theo thị trường (Market return adjustedmodel), mô hình định giá tài sản (CAPM), mô hình thị trường (Market model).Trong đó mô hình thị trường được sử dụng phổ biến để ước tính lợi nhuận bấtthường, được xây dựng dựa trên lợi nhuận thực tế của các chỉ số thị trường và sựtương quan giữa chỉ số thị giá cổ phiếu với chỉ số thị trường Công thức tính lợinhuận bất thường của một cổ phiếu là:
Lợi nhuận bất thường = Lợi nhuận thực tế - Lợi nhuận kỳ vọng
, = , − ,
Lợi nhuận thực tế (Actual return):
Lợi nhuận thực tế của một loại cổ phiếu chính là số tiền lãi hoặc lổ mà nhàđầu tư sẽ nhận được so với giá trị đầu tư ban đầu mà họ bỏ ra, khi họ bán cổ phiếuđang nắm giữ Lợi nhuận thực tế được tính bằng công thức:
=
,
Trong đó: , lợi nhuận thực tế cổ phiếu i vào ngày t, , – giá đóng cửa cổ phiếu I vào ngày t, , – cổ tức cổ phiếu I vào ngày t, , −1 – giá đóng cửa cổ phiếu I và ngày t-1 Tuy nhiên do sự khác nhau về thời gian công bố cổ tức, nên cổ tức giả định bằng không khi tính lợi nhuận thực tế của cổ phiếu.
Lợi nhuận kỳ vọng (Expected return):
Lợi nhuận kỳ vọng được định nghĩa là lợi nhuận mà nhà đầu tư ước tínhnhận được trong điều kiện không có sự kiện nào xảy ra (MacKinlay, 1997), trongnghiên cứu này lợi nhuận kỳ vọng được hiểu là trong điều kiện chưa công bố báocáo tài chính được kiểm toán
Trang 29Theo MacKinlay (1997), có rất nhiều hướng tiếp cận để tính lợi nhuận kỳvọng của từng loại chứng khoán Các phương pháp này có thể phân loại đơn giảnthành hai nhóm: thống kê và kinh tế Các mô hình tính lợi nhuận kỳ vọng thuộcnhóm thống kê xuất phát từ giả định thống kê liên quan đến sự thay đổi của suấtsinh lợi tài sản không phụ thuộc vào bất kỳ lý luận kinh tế nào Ngược lại, các môhình tính lợi nhuận kỳ vọng thuộc nhóm kinh tế dựa trên giả định liên quan đếnhành vi của nhà đầu tư và không dựa trên giả định thống kê Tuy nhiên, việc sửdụng mô hình kinh tế trong thực tế phải gắn liền với giả định về thống kê Lợi íchtiềm tàng của mô hình kinh tế không phải là không cần giả thuyết thống kê, mà làviệc tính toán chính xác hơn suất sinh lợi của tài sản Đối với những mô hình thuộcnhóm thống kê học, giả thuyết đưa ra là suất sinh lợi tài sản có phân phối chuẩn, độclập và xác định được theo thời gian
Có hai mô hình xác định suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản trên cơ sở giảđịnh thống kê (Mackinlay, 1997) Thứ nhất: mô hình suất sinh lợi trung bình hằng
số - mô hình được xem là đơn giản nhất, Brown and Warner (1980, 1985) chỉ rarằng mô hình này cho kết quả tương tự với nhưng mô hình phức tạp hơn Giống nhưtên gọi của nó, mô hình suất sinh lợi trung bình hằng số với giả định là suất sinh lợitrung bình của các loại cổ phiếu là không thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, hạnchế của mô hình này trong kiểm định thống kê là nó làm cho phương sai của suấtsinh lợi cao hơn ảnh hưởng đến việc đưa ra kết luận Mô hình thứ hai xác định suấtsinh lợi kỳ vọng đó là mô hình thị trường, đây là mô hình thống kê về mối tươngquan giữa suất sinh lợi của bất kỳ chứng khoán nào với danh mục đầu tư thị trường
Mô hình này cải thiện được hạn chế của mô hình suất sinh lợi trung bình hằng sốbằng cách lọai bỏ phần suất sinh lợi liên quan đến sự thay đổi của suất sinh lợi thịtrường từ đó phương sai của lợi nhuận bất thường giảm xuống Lợi ích của mô hìnhthị trường phụ thuộc vào R2 hồi quy mô hình thị trường, R2 càng lớn phương sai lợinhuận bất thường càng giảm
Với mô hình thị trường, định lợi nhuận kỳ vọng của từng loại cổ phiếu đượcxác định bằng công thức sau:
Trang 3021 , = + ( , ) Trong đó: , – Lợi nhuận kỳ vọng cổ phiếu i tại ngày t; và là các hệ số ước lượng bằng phương pháp hồi quy OLS
với khoản thời gian 3 tháng (100 ngày giao dịch) với lợi nhuận tính hàng ngày theo khung thời gian ước tính (cửa sổ ước tính –
estimation window); , – lợi nhuận của thị trường vào ngày t được tính bằng cách lấy logarit tự nhiện của chỉ số VNINDEX
hoặc HNXINDEX ngày t chia
cho ngày t-1 Hay được tính bằng công thức sau:
Lợi nhuận bất thường trung bình (Average abnormal return):
Lợi nhuận bất thường trung bình được tính nhằm loại bỏ ảnh hưởng của
các yếu tố gây nhiễu ảnh hưởng đến sự thay đổi thị giá cổ phiếu ngoài ảnh hưởng
của báo cáo kiểm toán Và được tính như sau:
1
cổ phiếu i vào ngày t, , −1 của cổ phiếu i vào ngày t-1.
Trang 31Trong đó: N là tổng các quan sát.
Trang 32kỳ vọng và lợi nhuận bất thường của cổ phiếu.
2.2 Tổng quan về báo cáo kiểm toán và ý kiến của KTV
2.2.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.
Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), “Kiểm toán là việc kiểm toán viênđộc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các báo cáo tài chính”
Trang 33“Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thô tin nhằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin cnàytiêuvớichuẩncá
được thiết lậpQuá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ
năng lực và độc lập.” (Arens & cộng sự, 2013)
Như vậy có thể thấy rằng, kết thúc quá trình kiểm toán là việc kiểm toán
viên phải trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán cũng như
báo cáo về những việc mà kiểm toán viên đã thực hiện và những vấn đề này cần
được trình bày trên một văn bản để cho các đối tượng có liên quan sử dụng Nó
dùng để xác nhận liệu báo cáo tài chính có được lập dựa trên khuôn khổ, chuẩn mực
được thiết lập hay không
Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh
nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm
tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo
cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán
(Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)
Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là làm tăng độ tin cậy của báo cáo
tài chính cho người sử dụng báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra
ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù
hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không
Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích
chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập
và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn
khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không Một cuộc kiểm
toán được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy
định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến
kiểm toán đó
Ý kiến kiểm toán đó của kiểm toán viên sẽ được thể hiện trên một văn bản
được gọi là báo cáo kiểm toán “Báo cáo kiểm toán là văn bản do kiểm toán viên lập
Trang 34và công bố để thể hiện ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn
vị đã được kiểm toán” Như vậy, báo cáo kiểm toán là sản phẩm của một cuộc kiểmtoán, là tài liệu trình bày các kết luận sau cùng về báo cáo tài chính được kiểm toán,nên nó phải đúc kết toàn bộ công việc mà họ tiến hành Hơn nữa, báo cáo kiểm toáncòn được cung cấp do xã hội và những đối tượng có liên quan, nó là nguồn thông tinđáng tin cậy cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính trong việc đưa ra cácquyết định kinh tế
Ngoài ra, báo cáo kiểm toán là bộ báo cáo không thể thiếu kèm theo báocáo tài chính năm đối với các công ty niêm yết khi công bố thông tin tài chính lên
Sở Giao dịch chứng khoán
2.2.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán.
Với mục tiêu hợp tác và hội nhập quốc tế, việc giao thương quốc tế làm đadạng hoạt động kinh tế tài chính ở nước ta, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhậpWTO và các tổ chức khác trên thế giới và khu vực Chúng ta tiếp thu chọn lọc vàhọc hỏi kinh nghiệm từ quốc tế trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kiểm toán và kếtoán Hướng đến mục tiêu hòa hợp và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực này, Bộ tàichính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam dựa trên chuẩn mực kiểm toánquốc tế vào ngày 06/12/2012 có hiệu lực ngày 01/01/2014 Vì vậy, tác giả sẽ trìnhbày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai giai đoạn của sự thay đổi hệthống chuẩn mực kiểm toán:
Theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành theo Quyết định số120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính (hết liệulực từ ngày 01/01/2014):
Theo đoạn 34 VSA 700 trước đây, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ramột trong các loại ý kiến về báo cáo tài chính, như sau:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần;
- Ý kiến chấp nhận từng phần;
- Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến);
Trang 35- Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược);
Theo đó, ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra khi kiểm toán viên vàcông ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trên cáckhía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp vớichuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành (hoặc được chấp nhận) Ý kiếnchấp nhận toàn phần cũng có hàm ý rằng tất cả các thay đổi về nguyên tắc kế toán
và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và đã đượcđơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
Trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chínhchỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chínhcủa đơn vị, nếu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuỳ thuộc (hoặc ngoại trừ) mà kiểmtoán viên đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán Và trong trường hợp kiểm toán viêncho rằng không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, và những phần không chấpnhận do không đồng ý với Giám đốc hay do công việc kiểm toán bị giới hạn, làquan trọng nhưng không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có
thể dẫn đến “ý kiến từ chối, hoặc ý kiến không chấp nhận” Ý kiến chấp nhận
từng phần còn được thể hiện bởi thuật ngữ “ngoại trừ” ảnh hưởng của các vấn đềkhông được chấp nhận Ngoài ra trường hợp phát sinh yếu tố trọng yếu nhưngkhông chắc chắn, như các vấn đề liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, hoặc một khoản doanh thu có thể không được công nhận làm ảnhhưởng đến kết quả kinh doanh của công ty, và những sự kiện này ảnh hưởng trọng
yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần
dạng tùy thuộc vào.
Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến) được đưa ra trongtrường hợp hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếuthông tin liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viênkhông thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ýkiến về báo cáo tài chính
Trang 36Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược) được đưa ra trong trườnghợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đếnmột số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ý kiếnchấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếucủa báo cáo tài chính
Như vậy, có thể thấy rằng kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhậntoàn phần trong trường hợp có thể xảy ra một trong các tình huống có thể trọng yếu
đế báo cáo tài chính như:
Phạm vi công việc kiểm toán bị hạn chế;
Không nhất trí với đơn vị được kiểm toán về việc lựa chọn và ápdụng chuẩn mực và chế độ kế toán, hoặc sự không phù hợp của các thôngtin ghi trong báo cáo tài chính và thuyết minh báo cáo tài chính
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)
Theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, quy định về ý kiến của báocáo kiểm toán được trình bày trong 3 chuẩn mực, đó là:
- VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về báo cáo tàichính
- VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
- VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáokiểm toán về báo cáo tài chính
Đoạn 17 chuẩn mực VSA 700, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phầnkhi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọngyếu, phụ hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng
Kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toànphần trong báo cáo kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 trong cáctrường hợp:
Trang 37- Dựa trên bằng chứng kiểm toán thu thập được, kiểm toán viên kết luận rằngbáo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, vẫn còn sai sót trọng yếu;hoặc
- Kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
để đưa ra kết luận rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, không còn sai sót trọng yếu
Cụ thể:
Trường hợp, dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ thích hợp đã thuthập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại có ảnhhưởng trọng yếu nhưng:
- Không lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên trình bày ý kiến
kiểm toán ngoại trừ;
- Lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên trình bày ý kiến kiểm
toán trái ngược;
Kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thíchhợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằngnhững ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể làtrọng yếu nhưng:
- Không lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên trình bày ý kiến
kiểm toán ngoại trừ;
- Lan tỏa đối với báo cáo tài chính thì kiểm toán viên từ chối đưa ra ý kiến;
Trong một số rất ít trường hợp liên quan đến nhiều yếu tố không chắc chắn,kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi mặc dù đã thu thập được đầy đủ bằngchứng kiểm toán thích hợp liên quan đến từng yếu tố không chắc chắn riêng biệtnhưng kiểm toán viên vẫn kết luận rằng không thể đưa ra ý kiến kiểm toán về báo
Trang 38để người sử dụng hiểu được báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải trình bày thêmđoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán, để thể hiện là kiểm toánviên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn đề đó không
bị sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Vấn đề nhấn mạnh này không làm thayđổi ý kiến kiểm toán và nó có thể có trong tất cả các loại ý kiến kiểm toán Nhữngvấn đề này có thể là:
- Sự không chắc chắn liên quan tới kết quả trong tương lai của các vụ kiện tụng hoặc các quyết định của cơ quan quản lý;
- Việc áp dụng một chuẩn mực kế toán mới trước ngày có hiệu lực (nếu được phép) mà việc áp dụng đó có ảnh hưởng lan tỏa đối với báo cáo tài chính;
- Một biến cố lớn đã ảnh hưởng hoặc tiếp tục có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của đơn vị
Nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn
đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, mà theo xét đoán củakiểm toán viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộckiểm toán, về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thờipháp luật và các quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trìnhbày về vấn đề đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn
đề khác” Cụ thể:
- Có điểm không nhất quán trọng yếu giữa các thông tin khác trong tài liệu cóbáo cáo tài chính được kiểm toán, khi việc sửa đổi thông tin khác là cần thiếtnhưng Ban giám đốc không đồng ý sửa đổi
Trang 39- Báo cáo tài chính có thông tin so sánh là dữ liệu tương ứng hoặc báo cáo tàichính so sánh và kiểm toám viên muốn tham chiếu đén ý kiến kiểm toán củakiểm toán viên tiền nhiệm
- Những thủ tục của kiểm toán viên đối với sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc
kỳ kế toán chỉ giới hạn trong phần sửa đổi của báo cáo tài chính như mô tảtrong thuyết minh báo cáo tài chính có liên quan
2.3 Lý thuyết nền cho nghiên cứu
2.3.1 Lý thuyết Ủy nhiệm
Lý thuyết ủy nhiệm nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chủ sở hữu và nhàquản lý do Jensen và Meckling (1976); Jensen (1986) khởi xướng Lý thuyết ủynhiệm cho rằng khi lợi ích của nhà quản lý và chủ sở hữu công ty là khác nhau, cácnhà quản lý có thể vì mục tiêu lợi ích của mình mà đưa ra các quyết định có lợi chobản thân họ chứ không phải vì lợi ích của công ty, chủ sở hữu
Lý thuyết ủy nhiệm quan tâm giải quyết hai vấn đề chính có thể phát sinhtrong mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người đại diện Vấn đề thứ nhất là sự mâuthuẫn về mục tiêu của chủ sở hữu và người đại diện và chủ sở hữu gặp khó khăn hayphải tốn kém trong việc kiểm tra giám sát hành động của người đại diện Vấn đề ởđây là chủ sở hữu không thể biết được những hành vi của người đại diện có phù hợphay không Vấn đề thứ hai là việc chia sẽ rủi ro khi chử sở hữu và người đại diện cóquan điểm khác nhàu về rủi ro Và vì vậy, họ sẽ có những ứng xử và hành độngkhác nhau đối với rủi ro đó
Do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nên về mặt lý thuyết
và thực tiễn xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, thì
về bản chất người đại diện luôn có xu hướng tư lợi hơn là hành động vì lợi ích củangười chủ sở hữu và cổ đông,
Nguyên nhân chính của vấn đề trên là do sự tách biệt giữa quyền sở hữu vàđiều hành tạo ra thông tin bất cân xứng, người đại diện có ưu thế hơn chủ sở hữu vềthông tin nên dễ dàng thực hiện hành vi tư lợi, hơn nữa, việc giám sát hành động
Trang 40của người đại diện sẽ tốn kém, khó khăn và phức tạp Vì vậy, để hạn chế vấn đề này,phát sinh một khoản chi phí đại diện để giám sát, hướng người đại diện hành độngtheo những nhiệm vụ được giao, vì lợi ích của chủ sở hữu và cổ đông như động lực
về vật chất tinh thần Đặt biệt, giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề này chính làthuê bên thứ ba độc lập giám sát và đánh giá hoạt động của người đại diện, đó là sửdụng kết quả của kiểm toán độc lập
Chính vì vậy, kiểm toán nói chung, báo cáo kiểm toán nói riêng không chỉ
là nguồn thông tin quan trọng đối với thị trường tài chính, nó còn có ý nghĩa tronghoạt động quản lý, giám sát; cũng như giảm chi phí đại diện và cung cấp thông tintài chính cho các nhà đầu tư, người dùng với sự đảm bảo không có sai sót nào liênquan đến những thông tin đó (Wallace, 2004)
Đối với những công ty niêm yết, vấn đề giữa người sở hữu-các cổ đông vàngười đại diện càng thể hiện rõ nét hơn Chính vì vậy, báo cáo tài chính của công tyniêm yết bắt buộc phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập được chấpthuận trước khi công bố và trình lên Sở giao dịch chứng khoán Vì thế, báo cáokiểm toán trở thành một phần không thể thiếu kèm theo báo cáo tài chính khi công
bố cho cổ đông, nhà đầu tư và các bên có liên quan
2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng xuất hiện lần đầu tiên trong nghiên cứucủa Akerlof (1970) Theo đó, vấn đề bất cân xứng thông tin sẽ phát sinh khi các đốitượng trong thị trường nắm giữ lượng thông tin khác nhau Điều này sẽ dẫn đến một
số đối tượng tham gia giao dịch sẽ có lợi thế hơn nếu nắm giữ nhiều thông tin
Theo các nhà kinh tế học, bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bêntham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xácthực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa Hậuquả là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướngcung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường Sau cùng, bất cân xứng thôngtin thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng trên thị trường chỉ còn lại những