Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kinh tế - Khái niệm: Trong xã hội hiện nay, sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sảnphẩm lao động và kể cả con người là một nhu cầu tất yế
Trang 1Các vấn đề cơ bản về vận tải hàng hóa đường hàng không
1 Khái quát về vận tải hàng hóa đường hàng không và vai trò của vận tải hàng hóa bằng đường hàng không
1.1 Tổng quan về vận tải hàng hóa trên toàn cầu hiện nay
1.1.1 Khái niệm và vai trò của vận tải trong nền kinh tế
- Khái niệm: Trong xã hội hiện nay, sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sảnphẩm lao động và kể cả con người là một nhu cầu tất yếu và chỉ có ngành sản xuất vậntải mới thỏa mãn được nhu cầu này, do đó xét về mặt kinh tế người ta có thể đưa rakhái niệm về vận tải như sau:
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trícủa hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vậntải
- Vai trò của vận tải:
Nhờ có vận tải mà con người chúng ta đã chinh phục được khoảng cách khônggian, tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hóa và thỏa mãn nhucầu đi lại của con người Do đó vận tải đóng vai trò quan trọng và có tác dụng hết sức
to lớn trong nền kinh tế Chúng ta có thể thấy được vai trò của vận tải qua các mặt sauđây
Vận tải là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế: nếu ta xét toàn bộnền kinh tế như một hệ thống thì hệ thống này chứa đựng hàng loạt các hệ thống connhư: nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng Các hệ thống con này quan hệ chặtchẽ với nhau trong một tổng thể thống nhất làm ra toàn bộ sản phẩm xã hội Và người
ta nói rằng “… Vận tải là một hệ thống con của nền kinh tế” Thật vậy, các ngành sảnxuất trong nền kinh tế sẽ không thể hoạt động được bình thường nếu như thiếu vận tải.Vận tải thỏa mãn nhu cầu chuyên chở của toàn xã hội, khi nói đến vận tải, nhấtthiết chúng ta phải đề cập đến hai vấn đề: khối lượng vận chuyển (tấn hàng hóa, sốlượng hành khách) và số sản phẩm vận tải (lượng luân chuyển hàng hóa hoặc hànhkhách) Trong hai chỉ tiêu này thì khối lượng vận chuyển có ý nghĩa quan trọng hơn vì
Trang 2nó thể hiện sự đáp ứng của vận tải đối với nhu cầu vận chuyển của ngành sản xuấttrong nền kinh tế và sự thỏa mãn nhu cầu đi lại của con người.
Trong đời sống kinh tế xã hội hiện đại, vai trò của vận tải không ngừng nângcao, đó là khuynh hướng phát triển chung của vận tải Nó được thể hiện qua sự khôngngừng tăng lên của vận chuyển và đi lại
Mối quan hệ giữa vận tải và các ngành sản xuất khác được dung để đánh giátrình độ phát triển kinh tế thông qua số tấn hàng vận chuyển bình quân cho người dânnước đó
Ví dụ: ở các nước công nghiệp có 40-60 tấn vận chuyển/người, ở các nước nôngnghiệp có 20-30 tấn vận chuyển/người, các nước lạc hậu con số này <10 tấn vậnchuyển/người
- Vận tải là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt: bên cạnh những đặc điểmchung giống các ngành sản xuất vật chất khác, vận tải còn có những đặc điểm riêngbiệt:
+ Quá trình sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian lênđối tượng chuyên chở chứ không phải là quá trình tác động về mặt kỹ thuật lên đốitượng lao động Ví dụ: một nhà máy chế tạo thiết bị từ sắt, thép, nguyên vật liệu quaquá trình sản xuất tạo thành các chi tiết, thiết bị máy móc Sản phẩm mới đã trải quaquá trình tác động về mặt kỹ thuật
+ Sản phẩm của ngành sản xuất vận tải cũng mang hai thuộc tính của hàng hóa làgiá trị và giá trị sử dụng nhưng bản chất của nó là sự thay đổi vị trí của đối tượngchuyên chở
+ Sản phẩm vận tải là vô hình: nó không có hình dáng, kích thước cụ thể, khôngtồn tại độc lập ngoài quá trình sản xuất mà nó được hình thành và tiêu thụ ngay trongquá trình sản xuất Khi quá trình vận tải kết thúc thì sản phẩm vận tải cũng được tiêudùng ngay (cho nên con người chỉ có thể quy nó vào những khái niệm tính toán nhưtấn, tân x km, hành khách, hành khách x km)
+ Vận tải không có khả năng dự trữ sản phẩm: các ngành sản xuất vật chất khác
có thể sản xuất ra một số sản phẩm để dự trữ nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên độtxuất, còn trong sản xuất vận tải để thõa mãn nhu cầu chuyên chở tăng lên đột xuấtngười ta chỉ có thể dự trữ năng lực chuyên chở của công cụ vận tải
Trang 3Dựa trên những những đặc điểm của vận tải thì vận tải không chỉ là một ngànhsản xuất vật chất độc lập mà còn là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt Cũng có thểnói, vận tải là một ngành cung cấp dịch vụ quan trọng.
1.1.2 Vận tải quốc tế trong thương mại quốc tế
- Khái niệm:
Vận tải không những là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
mà nó còn đóng vai trò to lớn trong thương mại quốc tế, nó là phương tiện nối liềnquan hệ thương mại giữa các nước với nhau Việc chuyên chở hàng hóa giữa các nướctrong thương mại quốc tế được gọi là “Vận tải quốc tế” Người ta đưa ra khái niệm vềvận tải quốc tế như sau:
Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hóa giữa hai hay nhiều nước, tức làđiểm đầu và điểm cuối của quá trình vận tải nằm ở hai nước khác nhau
Như vậy, việc vận chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế đã vượt ra khỏi phạm
vi một nước, vị trí của hàng hóa được thay đổi từ nước người bán sang nước ngườimua
- Mối liên hệ giữa vận tải quốc tế và thương mại quốc tế
Trước đây khi vận tải quốc tế chưa được phát triển thì trong thương mại quốc tếvận tải là điều kiện quyết định hàng đầu bởi vì một hợp đồng mua bán ngoại thươngchỉ có thể thực hiện được khi có thể tiến hành chuyên chở hàng hóa từ nước người bánsang nước người mua Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đã được nối liền vớinhau bằng hệ thống tuyến đường vận tải quốc tế Nhu cầu chuyên chở hàng hóa trongthương mại quốc tế tăng nhanh đòi hỏi vận tải quốc tế phải phát triển một cách tươngứng, như vậy thương mại quốc tế đã thúc đẩy vận tải quốc tế tiến bộ và hoàn thiện Ta
có thể nhận thấy mối liên hệ này qua số liệu thống kê sự tăng trưởng không ngừng củakhối lượng hàng hóa mà vận tải quốc tế đã đảm nhận được và tốc độ tăng trưởng củalực lượng tàu buôn thế giới Hai số liệu này luôn luôn có sự biến động cùng chiều
- Tác dụng của vận tải quốc tế đối với thương mại quốc tế:
Ngày nay tất cả các phương thức vận tải hiện đại như đường biển, sắt, hàngkhông, ô tô và đường sông đều tham gia phục vụ chuyên chở hàng hóa ngoại thương.Tuy nhiên vai trò và tác dụng của mỗi phương thức vận tải không giống nhau Nó phụthuộc vào đặc điểm kinh tế kĩ thuật của mỗi phương thức vận tải và đặc điểm cụ thể
Trang 4của mối quan hệ thương mại quốc tế của mỗi quốc gia Cho nên trong công tác tổchức chuyên chở hàng hóa người ta phải nắm được phạm vi áp dụng của từng phươngthức, chẳng hạn: vận tải biển thích hợp với chuyên chở hầu hết các loại hàng hóa, cự
ly vận chuyển dài, khối lượng vận chuyển lớn, nhưng tốc độ chậm nên không thíchhợp với hàng hóa có nhu cầu vận chuyển nhanh Còn vận tải hàng không tuy là giácước vận chuyển rất cao nhưng tốc độ nhanh cho nên trong nhiều trường hợp nó vẫnđược sử dụng để chuyên chở hàng hóa, ví dụ: hàng hóa có giá trị cao (vàng, đá quý),hàng mau hỏng, hàng cấp cứu, hàng có yêu cầu vận chuyển nhanh nếu không sẽ bịgiảm giá thị trường (quần áo thời trang)…
Hay là phương thức vận tải đường sắt thích hợp với chuyên chở hàng hóa cókhối lượng lớn, cự ly vận chuyển trung bình và dài nên thường được sử dụng trongchuyên chở hàng hóa liên vận quốc tế Còn phương thức vận tải đường ống là phươngthức vận tải đặc biệt, năng suất cao, giá cước rẻ, đạt hiệu quả kinh tế rất cao khi cókhối lượng hàng hóa chuyên chở lớn và nguồn hàng ổn định Chi phí đầu tư xây dựngtuyến đường lớn nhưng mặt hàng chuyên chở bị hạn chế, chủ yếu là dầu mỏ, sản phẩmcủa dầu mỏ và hơi đốt tự nhiên Nói chung đối với thương mại quốc tế vận tải quốc tế
có tác dụng trên các mặt sau đây
+ Vận tải quốc tế thúc đẩy phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa: một trongnhững yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nước là khảnăng vận tải giữa các nước đó Sự phụ thuộc này được mô tả như sau: “Khối lượnghàng hóa lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ nghịch với khoảng cách vận tải”, khoảngcách vận tải ở đây được hiểu là khoảng cách kinh tế, tức là lượng lao động nhất địnhphải bỏ ra để thực hiện chính là cước phí Cước phí chuyên chở càng rẻ thì dunglượng hàng hóa trao đổi trên thị trường càng lớn, bởi vì cước phí vận tải chiếm một tỉtrọng lớn trong giá cả hàng hóa Chẳng hạn trong vận tải biển, người ta tính được cướcphí vận tải chiếm trung bình 10-15% giá FOB cảng gửi của hàng hóa, trong vận tảihàng không, con số này lên tới 30-40% có khi 50% Khi khoa học kĩ thuật ngày càngtiến bộ, năng suất lao động tăng, giá thành sản phẩm hạ, cước phí vận tải giảm xuống,
đó là yếu tố quan trọng góp phần tăng nhanh khối lượng hàng hóa lưu chuyển trongthương mại quốc tế
Trang 5+ Vận tải quốc tế phát triển làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trườngtrong thương mại quốc tế.
Trước đây khi khoa học kĩ thuật còn thấp kém, công cụ vận tải thô sơ, trọng tảinhỏ, cước phí vận tải cao đã hạn chế việc buôn bán nhiều mặt hàng , đặc biệt là hàngnguyên, nhiên vật liệu bởi vì cước phí chiếm tỉ trọng cao trong giá cả của những loạihàng này Cho nên thương mại quốc tế chỉ tập trung ở những mặt hàng thành phẩm vàbán thành phẩm Cho đến khi các công cụ vận tải hiện đại ra đời, trọng tải lớn, có cấutạo thuận tiện cho việc chuyên chở và cho phép hạ giá thành vận tải đã tạo điều kiện
mở rộng chủng loại mặt hàng
Sự thay đổi cơ cấu hàng hóa thể hiện rõ nét nhất là việc mở rộng buôn bán mặthàng lỏng Vào những năm 1937 tỷ trọng của nhóm hàng lỏng chỉ chiếm 24% tổngkhối lượng hàng hóa thương mại quốc tế, nhưng đến thời gian sau này tỷ trọng củanhóm hàng này phát triển nhanh và thường chiếm tương đương 50% tổng khối lượnghàng hóa thương mại
Mặt khác khi mà vận tải chưa phát triển, giá cước vận tải cao thì thị trường tiêuthụ thường ở gần nơi sản xuất Cho đến khi vận tải phát triển đã tạo điều kiện mở rộngthị trường buôn bán Tức là những nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ sản phẩm củamình ngay cả trên những thị trường xa xôi và các nước nhập khẩu có điều kiện lựachọn thị trường cung cấp rộng rãi hơn Điều này được thể hiện qua cự ly vận chuyểntrung bình tăng nhanh qua các năm Ngày nay cự ly vận chuyển trung bình của cácloại hàng hóa xuất nhập khẩu thường lớn hơn 5000km
+ Vận tải quốc tế có tác dụng bảo vệ hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tếViệc phát triển của vận tải đặc biệt là lực lượng tàu buôn dân tộc có tác dụngtăng nguồn thu ngoại tệ thông qua việc xuất khẩu sản phẩm vận tải hay tiết kiệm chingoại tệ thông qua việc chống nhập khẩu sản phẩm vận tải (tức là mua theo điều kiệnFOB, bán CIF và sử dụng công cụ vận tải trong nước)
Ngược lại, nếu vận tải quốc tế không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở hànghóa trong thương mại quốc tế thì bắt buộc một quốc gia phải chi ra một lượng ngoại tệlớn để nhập khẩu sản phẩm vận tải tức là thuê tàu nước ngoài để chuyên chở hàng hóahay mua hàng hóa theo điều kiện CIF và bán hàng theo FOB
Trang 6Tóm lại, qua các tác dụng trên đây, chúng ta nhận thấy rằng vận tải là yếu tốkhông thể tách rời thương mại quốc tế, nó là một công cụ quan trọng của thương mạiquốc tế.
“Nói đến thương mại phải nói đến vận tải, thương mại nghĩa là hàng hóa đượcthay đổi người sở hữu, còn vận tải làm cho hàng hóa thay đổi vị trí”
- Bên giành được quyền về vận tải sẽ chủ động trong việc tổ chức chuyên chở vàgiao nhận (nếu trong hợp đồng mua bán không quy định rõ thời gian giao hàng)
Ví dụ: khi bán hàng theo điều kiện CIF, người xuất khẩu có thể căn cứ vào tìnhhình chuẩn bị hàng và thuê tàu của mình để gửi hàng đi vào lúc nào thuận lợi chomình nhất Hay khi mua theo điều kiện FOB người nhập khẩu cũng chủ động trongviệc điều tàu đi nhận hàng vào thời điểm mình đã sẵn sang tiếp nhận
- Giành được quyền về vận tải có tác dụng tăng thu và giảm chi ngoại tệ, tức là
có điều kiện để xuất khẩu sản phẩm vận tải cho quốc gia mình
- Khi giành được quyền về vận tải, cho dù lực lượng công cụ vận tải không đápứng được nhu cầu chuyên chở (bán CIF hay nhập FOB) thì bên giành được quyền vềvận tải vẫn chủ động trong việc chọn người chuyên chở, tìm người để thuê tàu và lựachọn điều kiện chuyên chở có lợi cho mình hơn
Ví dụ: nếu không giành được quyền này người nhập khẩu phải mua hàng theođiều kiện CIF và người bán hàng tính cước vận tải trong giá cả hàng hóa cao hơn giácước trung bình trên thị trường và các điều kiện chuyên chở không chặt chẽ nhiều khigây thiệt hại cho người nhập khẩu
Trang 7- Giành được quyền về vận tải có nhiều thuận lợi như trên nên trong thương mạiquốc tế, các nhà kinh doanh ngoại thương luôn tìm cách để giành được quyền này, vàthông thường họ chỉ chuyển quyền này cho phía bên kia trong một số trường hợp sau:
Khi nhận định thấy giá cước vận tải trên thị trường có xu hướng tăng
Dự kiến sẽ có những khó khăn trong việc thuê công cụ vận tải để chuyên chởhàng hóa
Khi cần thiết phải xuất hay nhập một mặt hàng nào đó mà phía bên kia đòi hỏiquyền này
Do tập quán hay luật pháp của một số nước có quan hệ mua bán đã quy địnhtrước
1.1.4 Phân chia trách nhiệm vận tải
Việc phân chia trách nhiệm về vận tải giữa người bán mà người mua phụ thuộcvào điều kiện cơ sở giao hàng được lựa chọn trong hợp đồng mua bán ngoại thương.Trong thương mại quốc tế người ta áp dụng rất nhiều điều kiện cơ sở giao nhận hàng,tùy thuộc vào những điều kiện cơ sở giao hàng này mà trách nhiệm hai bên được phânchia rõ rang Đứng về góc độ vận tải, các điều kiện cơ sở giao hàng quy định trongthuật ngữ thương mại quốc tế “INCOTERMS 2000” được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm E: EXW (Ex works) người bán giao hàng cho người mua ngay tại nơisản xuất của mình
- Nhóm F: FCA (Free Carrier)
FAS (Free Along side Ship)
FOB (Free On Board)
Người bán giao hàng cho người vận tải do người mua quy định
- Nhóm C: CFR (Cost Freight)
CIF (Cost Insurance Freight)
CPT (Carriage Paid To)
CIP (Carriage Insurance Paid To)
Người bán phải ký hợp đồng vận tải nhưng không chịu rủi ro tổn thất về hànghóa hoặc những chi phí khác xảy ra sau khi hàng đã bốc lên tàu
- Nhóm D: DAF (Delivered At Frontier)
DES (Delivered Ex Ship)
Trang 8DEQ (Delivered Ex Quay)
DDP (Delivered Duty Paid)
DDU (Delivered Duty Unpaid)
Người bán phải chịu tất cả phí tổn, rủi ro cho đến khi hàng tới cảng đích
Việc phân chia trách nhiệm về vận tải hay nói cách khác việc phân chia quyền vềvận tải giữa người bán với người mua tùy thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng và cácđiều kiện quy định về vận tải trong hợp đồng mua bán ngoại thương Thông thườngngười nhập khẩu giành được quyền này khi mua hàng ở gần nơi sản xuất nhất Ngượclại người xuất khẩu giành quyền này khi bán hàng gần nơi tiêu thụ nhất Các điều kiện
cơ sở giao hàng thuộc nhóm C, quyền về vận tải được chia đều giữa người bán vàngười mua nên được sử dụng rộng rãi nhất, tức là theo các điều kiện cơ sở giao hàng ởnhóm này, người bán kí hợp đồng vận tải và thanh toán cước phí, còn người mua phảichịu trách nhiệm tổ chức chuyên chở hàng hóa về tới nước mình
Còn trong các điều kiện thuộc nhóm E và F: người bán giao hàng cho người muatại nơi mình sản xuất hoặc giao cho người vận tải do người mua chỉ định, còn ngườimua phải thanh toán cước phí và tổ chức chuyên chở hàng hóa từ nước người bán vềmình Do đó quyền về vận tải thuộc về người mua
Các điều kiện cơ sở giao hàng thuộc nhóm D: người bán phải chịu trách nhiệmchuyên chở hàng hóa và giao cho người mua tại cảng đích thuộc lãnh thổ nước ngườimua Do đó quyền về vận tải thuộc về người bán
1.1.5 Sơ lược các phương thức vận tải hàng hóa quốc tế
a Phương thức vận tải biển:
- Đặc điểm:
Vận tải biển là một trong những phương thức vận tải ra đời từ rất sớm, khi màkhoa học kỹ thuật chưa phát triển tới trình độ cao, khi mà con người chưa có khả năngchế tạo ra những chiếc tàu biển hiện đại có trọng tải lớn và tốc độ nhanh như tàu biểnđang được sử dụng để chuyên chở hàng hóa trong thương mại quốc tế ngày nay, thìnhững ưu thế của đại dương cũng đã được con người tận dụng để thực hiện việcchuyên chở hàng hóa và hành khách giữa các quốc gia trên thế giới với nhau bằng cáccông cụ vận tải thô sơ như tàu, thuyền buồm, tàu biển nhỏ chạy bằng động cơ hơinước sử dụng khí đốt là than, củi… Chỉ từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trang 9ra đời, quan hệ buôn bán quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới tăng lên, dung lượnghàng hóa lưu chuyển giữa các nước tăng lên và tất yếu, nhu cầu chuyên chở hàng hóa
và hành khách tăng lên thì phương thức vận tải biển mới phát triển một cách nhanhchóng
- Vị trí, vai trò vận tải biển:
Diện tích biển chiếm 2/3 tổng diện tích trái đất, một cách hoàn toàn tự nhiên, tạonên một hệ thống tuyến đường hàng hải quốc tế nối liền phần lớn các quốc gia trên thếgiới Đặc điểm này cùng với những ưu thế của phương thức vận tải biển đã đưaphương thức vận tải này lên vị trí số một trong hệ thống vận tải quốc tế Vận tải biểnđảm nhận đến gần 90% tổng khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nước có mốiquan hệ thương mại quốc tế Sự bùng nổ và mở cửa kinh tế của nhiều nước đang pháttriển trên thế giới, xu thế toàn cầu hóa đã dẫn đến nhu cầu chuyên chở hàng hóa bằngđường biển trong thương mại quốc tế tăng với tốc độ đáng kể
Tuy nhiên, tùy thuộc vào vị trí địa lý, chính sách và đặc điểm kinh tế của mỗinước khác nhau mà vai trò của phương thức vận tải vận tải biển có khác nhau Chẳnghạn đối với những quốc gia phát triển và quần đảo như Anh và Nhật, hầu như gần100% khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế của những quốc gia này là đượcđảm nhận bằng phương thức vận tải biển Hay là những nước công nghiệp mới (NICs)
về chính sách kinh tế cũng như vị trí địa lý thuận lợi như Singapore thì phần lớn khốilượng hàng hóa ngoại thương của nước này cũng được chuyên chở bằng phương thứcvận tải biển, hơn thế nữa, những ngành công nghiệp dịch vụ vận tải biển (môi trườnghàng hải, bảo hiểm…) cũng rất phát triển ở quốc gia này, đóng góp tích cực đối với sựthặng dư trong cán cân thương mại quốc tế của Singapore Những nước có bờ biểnnhư Việt Nam (trên 3200 km đường biển chạy dọc từ Bắc xuống Nam) cũng có rấtnhiều điều kiện thuận lợi để phát triển phương thức vận tải này Trong những năm gầnđây, nhờ chính sách đổi mới và tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với rất nhiều quốcgia trên thế giới, khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế của Việt Nam tăng lênrất nhanh và cũng đã khẳng định vị trí của phương thức vận tải biển trong hệ thốngvận tải quốc tế của Việt Nam
Và ngay cả những quốc gia mà vị trí địa lý không mấy thuận lợi cho việc pháttriển phương thức vận tải biển như Lào, Campuchia thì vận tải biển vẫn giữ vị trí chủ
Trang 10đạo trong việc chuyên chở hàng hóa thương mại quốc tế của những quốc gia này (Lào
và Campuchia vẫn phải thuê cảng biển của Việt Nam để thực hiện việc chuyên chởhàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển)
- Phạm vi áp dụng:
Với những đặc điểm trên, vận tải biển rất thích hợp với việc chuyên chở hànghóa có khối lượng lớn, cự ly vận chuyển trung bình và dài Vận tải biển thích hợp vớichuyên chở hàng hóa ngoại thương nhờ ưu thế tuyệt đối là cước phí vận tải thấp hơnnhiều so với các phương thức vận tải khác Tỷ trọng của cước phí vận tải trong giá cảhàng hóa ảnh hưởng mạnh đến thương mại quốc tế và vận tải biển đã đóng góp phầnlàm tăng nhanh chóng khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế
b Phương thức vận tải hàng không
Vận tải hàng không là một ngành vận tải non trẻ nhất Cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỉ XX, vận tải hàng không mới bắt đầu phát triển và nhờ các tiến bộ của khoa học kỹthuật mà ngành vận tải hàng không ngày càng được phát triển nhanh chóng Trướcđây, nó chủ yếu phục vụ chuyên chở hành khách, ngày nay vận tải hàng không đãđược sử dụng rộng rãi vào chuyên chở hàng hóa trong phạm vi nội địa cũng như quốctế
Các tổ chức quốc tế liên quan đến không vận:
- Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế: ICAO (International Civil AviationOrganization)
Là một cơ quan của Liên Hợp Quốc, thành lập tại Hội nghị quốc tế về hàngkhông dân dụng họp tại Chicago năm 1944 Nó là tổ chức liên chính phủ và thuộc hệthống các tổ chức quốc tế của Liên Hợp Quốc Mục tiêu hoạt động của ICAO lànghiên cứu các vấn đề hợp tác của các nước trong lĩnh vực hàng không dân dụng quốc
tế, thúc đẩy việc đưa vận tải hàng không theo kế hoạch phát triển nhằm:
Bảo đảm cho hàng không dân dụng quốc tế tăng trưởng an toàn và trật tự trêntoàn thế giới
Khuyến khích nghệ thuật thiết kế và điều khiển máy bay vì mục đích hòa bình
Khuyến khích phát triển đường bay, sân bay và các phương tiện không vận
Đáp ứng nhu cầu của quần chúng về vận tải hàng không an toàn, đều đặn, hiệuquả và tiết kiệm
Trang 11ICAO bao gồm các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc.
Từ khi hoạt động đến nay, ICAO đã góp phần quan trọng vào việc phát triển vậntải hàng không quốc tế, hoàn thiện kỹ thuật chế tạo máy bay, xây dựng sân bay quốc
tế, cải tiến các chỉ tiêu khai thác máy bay… Ngoài ra ICAO đã soạn thảo hàng loạt cáccông ước quốc tế như “Công ước Geneva 1948 về thừa nhận quốc tế về mặt pháp lýcủa máy bay”, “Công ước Rome về tổn thất trên lãnh thổ các nước do máy bay nướcngoài gây ra”
- Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế IATA (International Air TransportAssociation)
Là một tổ chức nghề nghiệp tự nguyện phi chính phủ của các hãng hàng không,thành lập năm 1945 Thành viên của nó là các hãng hàng không có danh sách đăng ký
ở những nước thành viên của ICAO Hoạt động của IATA bao gồm: phối hợp hoạtđộng thương mại của các công ty hàng không, quy định cước phí chuyên chở hànhkhách và hàng hóa, quy định các quy tắc chuyên chở hàng không, quy định lịch trìnhcủa các tuyến hàng không, lập giấy gửi hàng hàng không tiêu chuẩn
- Hiệp hội quốc tế những người giao nhận FIATA
Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và phát huy lợi ích của những người giaonhận ở mức độ quốc tế và cải tiến chất lượng dịch vụ Để đạt được mục tiêu này, chủyếu là thông qua ban lãnh đạo các viện, ủy ban kĩ thuật cùng nhau giải quyết tất cả cáclĩnh vực về nghiệp vụ giao nhận
Việc vận chuyển hàng không của FIATA giải quyết những vấn đề cước hàngkhông nhằm bảo vệ lợi ích chung của các đại lý hàng không Tổ chức nàybanf bạc vớiIATA và những tổ chức quốc tế khác có liên quan đến công nghệ chuyên chở hàngkhông
Việc thành lập cơ quan tư vấn là Hội đồng tư vấn liên kết IATA/FIATA đã làmcho FIATA và IATA có thể tổ chức những cuộc thảo luận theo định kỳ về những vấn
đề quan tâm chung như đào tạo, vận chuyển hàng nguy hiểm, những yêu cầu cần thiết
để trở thành đại lý hàng hóa hàng không
Hai tổ chức này đã cùng nhau phát triển “Chương trình đào tạo nghiệp vụ chođại lý hàng không” Chương trình này đề ra cho những người muốn có kiến thức cơ
Trang 12bản về những nguyên tắc và tập quán về thực hiện và xử lý việc vận chuyển hàngkhông quốc tế.
Sau khi tốt nghiệp lớp học nhập môn, học viên sẽ được cấp bằng củaIATA/FIATA
Sau khi tốt nghiệp lớp nâng cao 1, học viên sẽ thông thạo tình hình giá cướcphức tạp và có thể chào giá hay lập giá phí chính xác đối với tất cả các loại vậnchuyển và hàng hóa theo dịch vụ của các hãng hội viên IATA Học viên được nhậnbằng IATA nâng cao
Lớp nâng cao 2 dạy cho học viên giải quyết những vấn đề hàng không đặc biệtphù hợp với những quy định về vận chuyển của ICAO và IATA về hàng nguy hiểm.Lớp nâng cao 3 đề cập đến vấn đề quản lý, pháp lý, khái niệm về phân phối hàngtổng thể…
c Phương thức vận tải đường sắt
Vận tải đường sắt là một phương tiện vận tải tương đối hiện đại và rất phổ biến ởtất cả các nước trên thế giới
- Phạm vi áp dụng của vận tải đường sắt:
Vận tải đường sắt thích hợp với chuyên chở hàng hóa trong phạm vi một nước
và giữa các nước có chung biên giới đường bộ, có thể thực hiện trực tiếp giữa cácnước láng giềng hoặc quá cảnh qua một nước thứ ba
Vận tải đường sắt thích hợp với chuyên chở hàng hóa có khoảng cách trungbình và dài vì vận tải đường sắt tỷ lệ nghịch với khoảng cách chuyên chở
Thích hợp với việc vận chuyển hàng hóa có khối lượng lớn và nhiều loại mặthàng
- Tình hình vận tải đường sắt ở nước ta:
Chiều dài đường sắt nước ta là không dài: khoảng 2000 km nhưng trong đóđường vận chuyển chính chỉ là 1800km với các tuyến đường Bắc Nam hơn 1700km
và 2 tuyến liên vận: Hà Nội- Đồng Đăng: 166km, Hà Nội- Lào Cai: 296 km
Tuy trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp nhưng vận tải đường sắt nước ta đảmnhiệm chuyên chở một khối lượng hàng hóa khá lớn trong nền kinh tế (khoảng 5%tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển) Đối với ngoại thương, vận tải đường sắt có tácdụng trên cả hai mặt: phục vụ điều hành vận hành hàng hóa xuất nhập khẩu trong
Trang 13phạm vi nội địa và phục vụ chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu đối với một số nướctrong Liên Xô cũ trước đây.
- Đường sắt liên vận quốc tế:
Từ năm 1890 trên thế giới đã có những tuyến đường sắt quốc tế đầu tiên, việcchuyên chở hàng hóa bằng liên vận đường sắt quốc tế là việc vận chuyển hàng hóabằng đường sắt qua hai hay nhiều nước có liền biên giới và dùng một giấy gửi hàngthống nhất trong quá trình chuyên chở
Quá trình chuyên chở này làm nảy sinh các mối liên hệ quốc tế, chúng đòi hỏiphải được điều chỉnh bằng các quy định quốc tế Vì vậy luật chuyên chở đường sắtquốc tế ra đời, nó được thể hiện bằng công ước hoặc hiệp định ký kết giữa các nướchoặc các tổ chức đường sắt với nhau Hiện nay trên thế giới có các công ước, hiệpđịnh về luật chuyên chở đường sắt như sau:
Công ước CTM: là công ước quốc tế chuyên chở hàng hóa bằng đường sắt còngọi là công ước Becnơ được ký kết giữa chính phủ nhiểu nước châu Âu ngày14/3/1893 tại Becnơ và có hiệu lực từ 1/1/1894
Công ước này điều chỉnh mối quan hệ trong chuyên chở hàng hóa bằng đườngsắt giữa các nước tham gia Nội dung của nó bao gồm những quy định về hợp đồngchuyên chở, trách nhiệm các bên, khiếu nại bồi thường
Đến nay đã có 38 nước tham gia với tổng chiều dài hơn 400000 km
Các nước TBCN không quy định cước quá cảnh, khi chở hàng quá cảnh quanước nào thì phải theo quy định của nước đó
Thông thường người mua phải trả cước quá cảnh, còn nếu hợp đồng giao hàng ởbiên giới nước người mua thì người bán phải trả
d Phương thức vận tải ô tô
Vận tải ô tô là một bộ phận quan trọng của hệ thống vận tải thống nhất của nước
ta Vận tải ô tô có nhiệm vụ chuyên chở hàng hóa giữa các trung tâm kinh tế, giữa các
xĩ nghiệp sản xuất với nơi tiêu dùng Ngoài ra nó còn có nhiệm vụ chuyên chở hỗ trợcho các phương tiện vận tải khác như vận tải biển, vận tải đường sắt, vận tải hàngkhông
Vận tải ô tô chỉ thích hợp với chuyên chở hàng hóa trong trường hợp hàng hóa
có khối lượng nhỏ, cự ly vận chuyển ngắn, hàng mau hỏng và hàng hóa có nhu cầu tốc
Trang 14độ đưa hàng nhanh Như vậy, vận tải ô tô chủ yếu phục vụ chuyên chở nội địa, còn đốivới chuyên chở hàng hóa quốc tế vận tải ô tô bị hạn chế rất nhiều Phạm vi áp dụngtrong chuyên chở hàng hóa quốc tế được thể hiện ở các mặt sau:
- Chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu
- Chuyên chở hàng hóa quá cảnh quốc tế
- Chuyên chở hàng hóa từ các cơ sở sản xuất ra ga, cảng, sân bay để xuất khẩu.Chuyên chở hàng hóa nhập khẩu từ các ga, cảng tới các cơ quan giao nhận
Ở các ngoài nhiệm vụ phục vụ chuyên chở hàng hóa, vận tải ô tô chủ yếu được
sử dụng để hỗ trợ cho các phương thức vận tải khác trong việc chuyên chở hàng xuấtnhập khẩu từ các nơi đến ga, cảng, sân bay và ngược lại Nó chiếm vị trí quan trọngnhất trong việc chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu từ đất liền đến cảng biển, thựchiện chuyển tiếp bằng tàu biển, khi đó các công ty xuất nhập khẩu sẽ phải đi thuê ô tôcủa các xí nghiệp vận tải ô tô để điều vận hàng hóa xuất nhập khẩu ra cảng biển dựatrên căn cứ “Điều lệ vận chuyển hàng hóa bằng ô tô”
e Phương thức vận tải đường sông
Vận tải đường sông là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải thống nhấtcủa nước ta Với đặc điểm đất nước có nhiều sông, các dòng sông quanh năm không
bị đóng băng, chạy từ lục địa ra biển và nối liền với nhau nên thuận lợi cho việcchuyên chở hàng hóa và hành khách Hàng hóa vận chuyển bằng đường sông củanước ta rất nhiều: than, xăng dầu, vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm…
Vận tải đường sông xuất hiện sớm nhưng phát triển chậm Nó chỉ thích hợp vớichuyên chở nội địa Ngoài ra nó có thể thích hợp với chuyên chở hàng hóa xuất nhậpkhẩu qua hình thức liên hợp vận tải sông biển- còn gọi là điều vận hàng hóa xuất nhậpkhẩu, tức là hàng hóa xuất nhập khẩu được chuyên chở bằng đường sông từ các cơ sởsản xuất, chế biến, thu mua trong nội địa đến cảng biển (Ví dụ: các mặt hàng chè, càphê, tiêu, điều, gỗ, gạo…) Tuy nhiên, trong khi vận tải đường sông đóng vai trò chủyếu trong việc phục vụ một số cảng biển châu Âu thì ở nước ta vận tải đường sôngđược sử dụng trong công tác điều vận hàng hóa xuất nhập khẩu còn rất hạn chế Mặtkhác giữa nước ta và các nước láng giềng có một số dòng sông chảy qua biên giới nhưsông Hồng, sông Mê Kông… nhưng các tuyến đường này chưa được khai thác mạnhnhằm mục đích chuyên chở hàng hóa Do đó việc chuyên chở hàng hóa giữa nước ta
Trang 15và các nước láng giềng bằng đường sông hiện nay chưa được phát triển Trong tươnglai, khi các khuyến khích đầu tư được áp dụng rộng rãi, quan hệ buôn bán giữa nước ta
và các nước khác được mở rộng, các dòng sông ở biên giới được khai thác thì vận tảiđường sông sẽ góp phần đáng kể vào việc chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu vàhàng hóa quá cảnh
1.2 So sánh vận tải đường hàng không với các hình thức vận tải khác
Tuyến đường hoàn toàn tự nhiên:
khoảng cách vận chuyển giữa hai điểm
gần như một đường thẳng, không phải
đầu tư xây dựng tuyến đường (trừ việc
xây dựng sân bay), khả năng thông qua
trên một tuyến đường gần như không
hạn chế
Vận tải hàng không có tính cơ động
cao, nó có thể đáp ứng nhanh chóng
nhu cầu chuyên chở hàng hóa về mặt
thời gian giao hàng, khối lượng chuyên
chở và số lượt bay trên một tuyến
đường
Giá cước rất đắt: giá thành của vận tải hàng không cao hơn rất nhiều so với các ngành vận tải khác (gấp 5-6 lần vận tải biển) Nguyên nhân dẫn đến giá cước đắt: do giá máy bay cao, chi phí khấu hao lớn, lượng tiêu hao nhiên liệu lớn, trọng tải nhỏ (ví dụ: một chiếc Boeing 747 giá 100 triệu USD chỉ chở được 400 người, tương đương với 80-
100 T
Vận tải hàng không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu thời tiết cho nên ảnh hưởng đến lịch trình và tính chất đều đặn của vận tải hàng không Ví dụ: máy bay từ Tân Sơn Nhất ra Nội Bài gặp thời tiết xấu không hạ cánh được phải bay trở vào vừa tốn kém chi phí vừa không đảm bảo lịch trình ngày hômđó
Sức chở hạn chế lại hay gặp rủi ro tai nạn và khi tai nạn xảy ra thường thiệt hại rất lớn
Đòi hỏi công nhân, phi công, kĩ sư, hoa tiêu… có trình độ kĩ thuật cao và giàu kinh nghiệm
Trang 16Phương
thức vận
tải biển
Thứ nhất, trong phương thức vận tải
biển các tuyến đường hàng hải được
hình thành một cách hoàn toàn tự nhiên
Cho nên, trừ việc đầu tư xây dựng các
cảng và một số kênh đào quốc tế, đối
với phương thức vận tải này người ta
không phải tốn nhiều chi phí để xây
dựng và bảo quản các tuyến đường
Đây là một ưu thế đáng kể của phương
thức vận tải biển so với nhiều phương
thức vận tải so với nhiều phương thức
vận tải khác, ví dụ đối với vận tải sắt,
muốn thực hiện việc chuyên chở hàng
hóa từ điểm A tới điểm B nào đó, người
ta bắt buộc phải xây dựng một tuyến
đường sắt nối liền 2 điểm vận tải này,
và chỉ có thể thực hiện được việc
chuyên chở hàng hóa trên cả 2 chiều,
người ta phải xây dựng giữa hai điểm
này một tuyến đường sắt đôi và như vậy
chi phí sẽ tăng lên rất nhiều Ưu thế này
là một trong những yếu tố làm cho giá
thành sản xuất vận tải biển thấp nhất so
với nhiều phương thức vận tải khác
Thứ hai, năng lực chuyên chở của
phương thức vận tải biển lớn hơn nhiều
so với các phương thức vận tải khác
nhờ vào hai yếu tố Yếu tố thứ nhất là
trọng tải của tàu biển rất lớn, trọng tải
trung bình của tàu biển hiện nay từ
15000 đến 20000 Dwt (Deadweight
Tonnage) đối với tàu kinh doanh theo
hình thức tàu chợ, đối với tàu chở hàng
khô và tàu chở dầu, trọng tải còn lớn
hơn rất nhiều: 30000- 40000 Dwt đối
với tàu chở dầu khô, 50000- 70000 Dwt
đối với tàu chở dầu Đặc biệt trên thế
giới hiện nay đã xuất hiện nhiều tàu chở
dầu cực lớn trọng tải trên 500000 Dwt
Yếu tố thứ hai là việc tổ chức chuyên
chở không bị hạn chế: trên cùng một
tuyến đường hàng hải, người ta có thể
tổ chức chuyên chở nhiều chuyến trong
cùng một lúc cho cả lượt đi lẫn lượt về,
chính nhờ ưu thế này mà trong sản xuất
vận tải biển, năng suất lao động cao đã
góp phần làm cho giá thành vận tải
thấp
Thứ ba, ưu thế nổi bật nhất là giá cước
vận tải thấp, giá cước vận tải biển thấp
Tốc độ của tàu biển chậm, chậm hơn rấtnhiều so với xe lửa và đương nhiên không thể so sánh được với máy bay
Vì vậy trong nhiều trường hợp vận tải biển không thể đáp ứng khi hàng hóa cónhu cầu vận chuyển nhanh
Vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết Điều này có thể rất dễ nhận biết vì môi trường hoạt động của tàu biển là lênh đênh ngoài khơi, xa đất liền cho nên mỗi biến động
dù rất nhỏ của thiên nhiên cũng đều ảnhhưởng trực tiếp đến hành trình đi biển Chính vì vậy trong quá trình chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, các rủi
ro và tai nạn thường rất hay xảy ra Người ta đã thống kê được rằng trên thếgiới cứ 90 phút thì xảy ra một tai nạn đường biển, trong đó tai nạn đâm va chiếm tới 50%, và khi tai nạn xảy ra thì thiệt hại thường rất lớn vì bản thân tàu biển và hàng hóa chuyên chở trên tàu lànhững tài sản có giá trị lớn Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự ra đời của những chiếc tàu biển hiện đại có khả năng chinh phục thiên nhiên… cũng phần nào hạn chế được các tai nạn đường biển, nhưng không thể là tuyệt đối Bởi vậy trong thương mại quốc tế, nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh, đi đôi với nghiệp vụ thuê tàu biển để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, còn có một nghiệp vụ đặc biệt và đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là mua bảo hiểm cho tàu biển và hàng hóa trên tàu