Thị trường trong nước Công ty Cafatex đi đầu trong việc xuất khẩu thủy sản ở nước ta, tuy nhiên nói về tình hình tiêu thụ trong nước thì Công ty đang chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so vớicác
Trang 1PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN CAFATEX
I PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY CAFATEX
1 Tình hình thị trường tiêu thụ thủy sản ở công ty Cafatex
1.1 Thị trường trong nước
Công ty Cafatex đi đầu trong việc xuất khẩu thủy sản ở nước ta, tuy nhiên nói
về tình hình tiêu thụ trong nước thì Công ty đang chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so vớicác doanh nghiệp cùng kinh doanh mặt hàng thủy sản Công ty không chú trọngnhiều đến thị trường trong nước, mà hiện nay thị trường tiêu thụ thủy sản ở nước talại rất có tiềm năng
Qua nghiên cứu thì thấy rằng mức tiêu dùng của người Việt Nam hiện tại đốivới các loại thủy sản ước tính chiếm khoảng 50% về tiêu dùng thực phẩm chứaprôtêin và các trung tâm đô thị lớn như là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Huế, Đà Nẵng,… là những thành phố tiêu thụ lượng thủy sản tương đối cao,chủ yếu tại các hệ thống nhà hàng, siêu thị Do đó, Công ty cần phải quan tâm nhiềuhơn thị trường trong nước, vì có thể nói thị trường nội địa hiện nay đang bắt đầu trởthành một tiềm năng lớn của ngành thủy sản Cùng với sự giàu lên, hiện đại lênnhanh chóng của đời sống kinh tế, dẫn đến xu hướng ở mỗi người dân bắt đầu đềcao cái ngon và cái sang trong bữa ăn của mỗi gia đình và mức tiêu dùng thực phẩm
sẽ ngày một tăng cao, đặc biệt là ngày nay nhân dân đã có xu thế thiên về sử dụngthực phẩm ít béo nên sản phẩm cá, tôm, mực và sản phẩm gốc là thủy sản trở thànhloại thực phẩm chiếm phần quan trọng
Chính vì vậy, thời gian qua Công ty đã bỏ phí mất phần nào doanh thu và lợinhuận của mình khi không chú trọng và đẩy mạnh việc mở rộng thị trường nội địa.Nhưng hiện nay, Công ty đã và đang có nhiều kế hoạch nhằm quảng bá, giới thiệu
để đưa sản phẩm thủy sản của Công ty đến tay người tiêu dùng trong nước một cáchnhanh nhất Đồng thời, Công ty đã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị chất lượng cao,bao bì mẫu mã đẹp, cung cấp nguyên liệu tươi đóng gói nhỏ hoặc hộp cho các bếp
ăn nhà hàng, siêu thị nhằm cung cấp cho hộ gia đình ở các nước ta Thị trường trong
Trang 2nước vào thời điểm này đang là một thị trường đầy tiềm năng và rất lớn của ngànhthủy sản.
1.2 Thị trường xuất khẩu của công ty Cafatex
Từ khi hình thành và phát triển, công ty đã hoạt động thành công ở các lĩnhvực: chế biến, xuất khẩu (xuất khẩu trực tiếp và xuất uỷ thác) và nhập khẩu Nhưnghoạt động chính của công ty là chế biến và xuất khẩu các mặt hàng thủy sản Nhữngnăm gần đây, công ty đã đầu tư kinh doanh ở nhiều lĩnh vực và hiện nay, công tycũng đang cố gắng để tiếp tục thực hiện và phát triển hơn nữa các lĩnh vực này ởnhững năm tiếp theo Đây là một số lĩnh vực chủ yếu:
- Chế biến cá tra, cá ba sa xuất khẩu là mặt hàng hiện nay rất được ưa chuộngtại thị trường Mỹ (thị trường nhập khẩu thủy hải sản lớn nhất thế giới)
- Chế biến đóng gói nhỏ các loại thủy hải sản cao cấp đông lạnh tiêu thụ trựctiếp ở hệ thống các nhà hàng, siêu thị trong và ngoài nước
- Hợp tác chế biến các loại rau, cũ, đậu đông lạnh xuất khẩu
- Hợp tác chế biến các loại nấm, củ, quả đóng hộp xuất khẩu
- Hợp tác chế biến các mặt hàng hải sản tươi sống ăn liền xuất khẩu
Trong đó, sản phẩm xuất khẩu chủ lực của công ty: tôm đông, cá đông blocktruyền thống và sản phẩm cao cấp (tôm đông, cá đông và các loại thủy sản đông lạnhkhác)
Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty là Mỹ, Nhật Bản, EU, Úc, Bắc
Mỹ, Hồng Kông, Singgapore, Thái Lan, Hàn Quốc… đây là những thị trường tươngđối khó tính yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn Riêng mặt hàng cá tra, cá ba safillet đông lạnh thị trường Mỹ có nhu cầu hàng năm rất lớn và ngày càng gia tăng,chiếm tỷ trọng lớn trong các mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ Sản phẩm chủ yếu của thịtrường này là cá đông, tôm đông, cá tôm cao cấp các loại Bên cạnh đó, thị trường
EU cũng là thị trường tiềm năng và nếu như sản phẩm của Công ty được thâm nhậpthị trường này nhiều hơn sẽ tạo nhiều khả năng xuất khẩu thủy sản của công ty ngàycàng cao và mang lại giá trị rất lớn
Trang 3Nhìn chung, qua 3 năm (2003-2005) thì sản phẩm của công ty Cafatex đều cómặt ở hầu hết các thị trường lớn và quan trọng trên thế giới Đặc biệt, vào năm 2004tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá mạnh ở các thị trường, trong đó thị trường NhậtBản và thị trường EU tăng mạnh nhất
Tuy nhiên, đến năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty có chiềuhướng giảm xuống, nguyên nhân do hai thị trường lớn là thị trường Nhật Bản và thịtrường Mỹ có kim ngạch xuất khẩu thấp Mặc dù, số lượng xuất khẩu sản phẩm ởhai thị trường Mỹ và Nhật Bản tăng cũng khá cao nhưng vào thời điểm này thủy sảncủa nước Việt Nam đang gặp khá nhiều khó khăn như là các vụ kiện phá giá tôm,cá…nên giá cả xuất sang hai thị trường này giảm, ngược lại các chi phí vận chuyểnlại tăng lên do giá dầu, giá xăng tăng cao Chính vì vậy, số lượng xuất khẩu tăngnhưng phần giá trị thu được lại giảm so với những năm trước Qua báo cáo xuấtkhẩu, ta thấy số lượng sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Nhật Bản có giảmnhưng Mỹ và Nhật Bản vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực và lớn nhất của Công ty
Trang 4BẢNG 3: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA CÔNG TY CAFATEX (2003-2005)
Đơn vị tính: tấn, 1000 USD
Chênh lệch 2004/2003 Chênh lệch 2005/2004
Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Tổng kim
Trang 5(Nguồn: Báo cáo Xuất khẩu của Công ty Cafatex)
Trang 6Trong các thị trường xuất khẩu lớn của Công ty ngoài thị trường Nhật Bản và
Mỹ thì thị trường EU là ổn định nhất, kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng đều ở mỗi năm
Do đó, Công ty đang đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh và tăng cường nghiên cứuthị trường để xuất khẩu thủy sản sang EU ngày càng nhiều càng tốt
Ngoài giá trị kim ngạch xuất khẩu biểu hiện trên báo cáo xuất khẩu của Công
ty thì còn có một số sự kiện khá đặc biệt, tiêu biểu như năm 2003, sản phẩm củacông ty ngưng xuất sang Thái Lan, vì Thái Lan là một trong những nước xuất khẩuthủy sản lớn trên thế giới, sản phẩm của công ty Cafatex khó cạnh tranh với thịtrường này ngay tại đất nước của họ Do đó, số lượng sản phẩm của công ty xuấtkhẩu vào thị trường này không đáng kể, tỷ suất lợi nhuận không cao và mất thờigian làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu vào các thị trường lớn Còn đối với thịtrường Úc, công ty chưa hiểu rõ thị trường này, nên vấn đề làm ăn lâu dài còn khánhiều hạn chế
Năm 2005, thủy sản xuất khẩu của công ty Cafatex bắt đầu xuất sang thịtrường Hàn Quốc, một thị trường đang rất phát triển, thị trường này sẽ đem lại chocông ty khá nhiều lợi nhuận Đồng thời, vào năm 2005 này, Công ty sau một thờigian nghiên cứu thị trường Thái Lan thì Công ty đã quyết định xuất khẩu sản phẩmsang thị trường Thái Lan trở lại và qua bảng báo cáo xuất khẩu năm 2005 của công
ty Cafatex thấy rằng công ty đã xuất khẩu sản phẩm sang thị trường này một lượngđáng kể đem lại một phần lợi nhuận cho Công ty
Nhận xét một số thị trường chủ lực của Công ty:
Qua bảng 4 tổng kết tình hình xuất khẩu trên thì các thị trường xuất khẩu chủyếu của công ty Cafatex hiện nay là ba thị trường chủ lực sau thị trường Nhật Bản,thị trường Mỹ và thị trường EU Đối với các thị trường này thì mặt hàng thủy sảnđông lạnh của công ty Cafatex đã tạo dựng được uy tín lớn Những nước côngnghiệp phát triển này đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường xuyên của Công ty
Tỷ trọng xuất khẩu ở các thị trường lớn Nhật, Mỹ và EU quyết định giá trị tổng kimngạch xuất khẩu của Công ty trong năm và sự tăng trưởng của nó qua các năm
Trang 7Bảng 4: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CHUNG Ở CÁC THỊ TRƯỜNG CHỦ LỰC CỦA CÔNG TY CAFATEX
(2003-2005)
Đơn vị tính: 1000 USD
Chênh lệch 2004/2003 Chênh lệch 2005/2004
2 Xuất uỷ thác 1.885,53 2,85 18.109,34 21,20 4,71 0,01 16.223,81 860,44 -18.104,63 -99,97
(Nguồn: Báo cáo Xuất khẩu của Công ty Cafatex)
Trang 8Thị trường Nhật Bản: Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng của công ty
Cafatex, năm 2003 tổng giá trị xuất khẩu là 24.110,93 (1000 USD) đạt tỷ trọng là36,41% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong khi đó, năm 2004 con số này là 26.268,66(1000 USD) đạt tỷ trọng là 30,75% đã tăng so với năm 2003 một khoảng là 2.157,72(1000 USD) và đến năm 2005 tổng giá trị xuất khẩu 25.137,91 (1000 USD) có tỷtrọng 38,89%, mặc dù, giá trị xuất khẩu của năm 2005 thấp hơn so với năm 2004nhưng tỷ trọng lại đạt cao hơn là vì ở năm này lượng xuất uỷ thác giảm đi một lượngrất lớn nên Công ty chỉ chú trọng đến các thị trường xuất khẩu Từ đó, thấy rằng tìnhhình xuất khẩu của Công ty tương đối không được ổn định, vì vậy, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu ở thị trường Nhật Bản đã bị chậm lại Có hai nguyên do: thứ nhất,
do sự cạnh tranh giữa công ty Cafatex với các doanh nghiệp trong nước nhưCaminex, Cataco, Seaprodex,… thứ hai, là sự cạnh tranh của Công ty với các doanhnghiệp ở những nước trong khu vực như Singapo, Thái Lan, Malaixia,…
Nhìn chung, so với các thị trường khác thì thị trường Nhật Bản chiếm một vịtrí quan trọng đối với Công ty, thị trường nay đứng thứ hai sau thị trường Mỹ Do
đó, công ty Cafatex cần phải làm tăng tỷ trọng các mặt hàng như tôm sống, cá ngừtươi, đông lạnh, các đặc sản khác và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại,tăng cường công tác thông tin thị trường, tăng cường đào tạo cán bộ thị trường vàtiếp thị chuyên nghiệp ở các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứngnhu cầu và thị hiếu của thị trường Nhật Đồng thời, phải tìm nhiều phương pháp tốtnhất nhằm giữ vững và ổn định được thị trường Nhật Bản để có thể xuất khẩu hàngthủy sản vào thị trường này nhiều hơn nữa
Qua phân tích trên ta thấy rằng mặc dù Nhật Bản là thị trường rộng lớn và kimngạch xuất khẩu thủy sản vào thị trường Nhật Bản chiếm tỷ trọng tương đối lớnnhưng Công ty vẫn chưa phải là bạn hàng lớn của thị trường này Bởi vì, hiện naymột số thị trường khác cũng đang tìm mọi cách để xuất khẩu hàng sang Nhật nhưThái Lan, Trung Quốc,…và đó cũng là những đối thủ cạnh tranh lớn của Công ty
mà Công ty cần phải quan tâm Từ đó, ta thấy rằng thị trường Nhật Bản là thị trường
có tiềm năng lớn trong việc nhập khẩu thủy sản
Trang 9Thị trường Mỹ: Tuy là thị trường đầy tiềm năng đối với tình hình xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam nhưng thị trường Mỹ luôn có sóng gió và biến động Giá trịkim ngạch xuất khẩu năm 2003 đạt 34.070,17 (1000 USD), trong khi đó năm 2004con số này không tăng lên mà lại giảm xuống có giá trị kim ngạch xuất khẩu là33.734,50 (1000 USD) và chiếm tỷ trọng 39,49% trong tổng kim ngạch xuất khẩucủa Công ty Đến năm 2005, thì giá trị kim ngạch xuất khẩu chỉ còn có 26.784,25(1000 USD), giảm đi một khoảng tương đối cao nhưng tỷ trọng lúc bấy giờ là41,44%, chính vì vậy, mà thị trường Mỹ vẫn là một thị trường xuất khẩu lớn nhấtcủa công ty Cafatex Mặc dù, tình hình xuất khẩu của Công ty ở thị trường Mỹ gặpkhông ít những khó khăn nhưng bên cạnh đó, Việt Nam nói chung và Công tyCafatex nói riêng vẫn có được sự đồng tình từ các doanh nghiệp lớn trên nước Mỹ,vừa qua các công ty Mỹ đánh giá Việt Nam là một thị trường ổn định tăng trưởngnhanh và nhiều hứa hẹn, điều đó cũng đem đến cho công ty Cafatex nhiều cơ hộitốt
Ngoài ra, để xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường Mỹ ngày càng cao thìCông ty phải có thật nhiều biện pháp tối ưu như là thường xuyên theo dõi thông tin,diễn biến của vụ kiện cũng như diễn biến về tình hình mua bán, biến động giá cả củathị trường này để quyết định phương án kinh doanh của Công ty cho phù hợp Vàhiện nay, công ty Cafatex cần đặc biệt quan tâm đến việc nâng tỷ trọng sản phẩmchế biến giá trị gia tăng để xuất vào thị trường Mỹ, nâng cao hiệu quả sản xuất, mặtkhác, để giảm áp lực do công suất chế biến tăng quá nhanh so với tốc độ tăngnguyên liệu đưa vào chế biến Vì vậy, việc nỗ lực để giữ thị trường Mỹ đóng vai tròrất cần thiết kể cả vấn đề thị phần tại thị trường này có thể giảm xuống
Thị trường EU: Đây là thị trường khó tính nhất trong các thị trường xuất khẩu
của Công ty nên Công ty cần phải quan sát thật chính xác và rõ ràng Qua báo cáoxuất khẩu của Công ty ta thấy rằng giá trị xuất khẩu qua 3 năm không ngừng tăng từ4.967,78 (1000 USD) với tỷ trọng 7,50% năm 2003 lên 6.816,57 (1000 USD) với
tỷ trọng 7,98% và đến năm 2005 thì giá trị xuất khẩu đã tăng cao 11.526,35(1000USD) với tỷ trọng chiếm 17,83% trong tổng giá trị xuất khẩu của Công ty.Qua đó có thể thấy sự tăng trưởng ở thị trường này từ năm 2003 đến 2005 tăng rất
Trang 10cao Nguyên nhân của sự tăng trưởng này là do các doanh nghiệp Việt Nam nóichung và công ty Cafatex nói riêng đã có những nổ lực trong việc tìm thị trường để
bù lại sự mất mát ở thị trường Mỹ trong những năm qua
Thị trường EU là thị trường được nhiều doanh nghiệp của các nước quan tâm
mở rộng trong thời gian tới, chính vì vậy, muốn giữ vững được thị trường này thìCông ty phải đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh và tổ chức tốt các hoạt động xúctiến thương mại như hội chợ, hội thảo và gặp gỡ các doanh nghiệp để giới thiệu vàquảng bá về sản phẩm, chất lượng hàng thủy sản Việt Nam tại các thị trường lớn của
EU như Tây Ban Nha, Pháp,…
Thị trường ở các nước khác: Trong năm 2004, giá trị kim ngạch xuất khẩu
của Công ty ở thị trường này có sự giảm tương đối đột ngột, cụ thể là chỉ còn 497,29(1000 USD) chiếm tỷ trọng 0,58 % thấp hơn nhiều so với năm 2003, tuy nhiên, đếnnăm 2005 thì giá trị xuất khẩu của Công ty đã ổn định trở lại và có giá trị là 1.178,44(1000 USD) có tỷ trọng 1,83% Vì vậy, để phát triển mạnh hơn nữa thì Công ty nên
ra sức tập trung và nỗ lực để tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu này nhằm chủđộng về thị trường khi các thị trường chủ yếu như Nhật, Mỹ, EU có biến động.Đồng thời, Công ty cần phải quan tâm đến các thị trường mới nổi như Hàn Quốc,Australia, Canada, thị trường các nước thành viên EU trong đó có Đức, Tây BanNha và các nước Đông Âu mới gia nhập Mặt khác, tiếp tục mở rộng thị trường xuấtkhẩu vào các nước Trung Đông, Châu Phi và tiếp cận các thị trường tiềm năng nhưBrazil
Tóm lại, dù có những biến động lớn về thị trường đặc biệt trong vụ kiện chốngphá giá của Mỹ, tình hình xuất khẩu thủy sản của công ty Cafatex đã có nhữngchuyển biến tích cực, mặc dù, giá trị kim ngạch xuất khẩu nói chung của tất cả cácthị trường qua ba năm không tăng cao nhưng tình hình kinh doanh của Công ty vẫnrất đạt hiệu quả Hơn nũa, thị trường chủ yếu của công ty là Nhật Bản, Mỹ và đặcbiệt là Châu Âu – một thị trường vốn rất khó tính – đã góp phần tăng tổng kimngạch xuất khẩu của Công ty Trong khi thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng chi phối trongtổng giá trị kim ngạch có sự suy giảm thì ngoài thị trường EU là thị trường mới giúp
Trang 11uỷ thác Chính xuất uỷ thác cũng đã góp phần đáng kể trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu với tốc độ tăng trưởng cao Qua đó cho thấy Công ty đã rất nổ lực trong việctìm kiếm thị trường, cải tiến kỹ thuật công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng sảnphẩm để đạt được kết quả và hiệu quả xuất khẩu cao.
2 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty Cafatex
2.1 Phân tích tình hình tiêu thụ theo cơ cấu mặt hàng của công ty Cafatex
Trong hoạt động kinh doanh việc đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm củaCông ty là yếu tố đóng vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp xác định được mức độtăng trưởng và phát triển của đơn vị mình thông qua việc gia tăng sản lượng tiêu thụthị trường, đồng thời cũng xác định được sự phát triển của Công ty
Trang 12BẢNG 5: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA THEO CƠ CẤU MẶT HÀNG THUỶ SẢN
CỦA CÔNG TY CAFATEX
Đơn vị tính: tấn
Chênh lệch 2004/2003
Chênh lệch 2005/2004
Trang 142.1.1 Tình hình tiêu thụ theo cơ cấu mặt hàng tại thị trường nội địa
Tình hình tiêu thụ thủy sản của Công ty Cafatex tại thị trường nội địa tương đốithấp, vì thị trường xuất khẩu thủy sản đem đến cho Công ty nhiều doanh thu lẫn lợinhuận hơn thị trường nội địa nên những năm trước đây Công ty vẫn chưa tập trungnhiều đến thị trường trong nước Sản phẩm tiêu thụ nội địa của Công ty là sản phẩmđông block truyền thống và sản phẩm cao cấp, trong đó thì tôm và cá là hai loại sảnphẩm chính của Công ty, ngoài tôm và cá còn có các loại thủy sản khác như nghêu,cồi điệp, mực… Qua bảng tiêu thụ sản phẩm trên thì ta thấy rằng sản phẩm cao cấptiêu thụ mạnh hơn sản phẩm đông block truyền thống, cụ thể như sau:
- Sản phẩm đông block truyền thống: Trong đó, tôm và cá đông block chiếm
sản lượng cao nhất và qua ba năm 2003 đến 2005 thì sản phẩm tôm và cá đôngblock luôn luôn tăng Đối với sản phẩm tôm thì sản lượng tôm năm 2004 tăng hơnnăm 2003 một lượng là 14,15 tấn đạt tỷ trọng là 68,03% và đến năm 2005 thì sảnlượng tôm lại tăng cao hơn năm 2004 Còn đối với mặt hàng cá đông block thì sảnlượng cá tiêu thụ ngày một tăng rất cao, tiêu biểu như năm 2003 thì sản lượng cáđông block tiêu thụ chỉ 0,81 tấn thì đến năm 2004 sản lượng tiêu thụ đã tăng lên156,36 tấn một sản lượng rất cao, tuy nhiên, vào năm 2005 thì sản lượng cá tiêu thụ
đã đem lại sự bất ngờ cho Công ty khi sản lượng cá tăng lên đến 498,04 tấn Ngoài
ra, năm 2005 thì Công ty đã bắt đầu tiêu thụ được 0,11 tấn mực đông block đầu tiên,điều đó đã làm cho Công ty phấn khởi hơn và bắt đầu tập trung cao vào tình hìnhtiêu thụ ở thị trường nội địa để đẩy mạnh sự phát triển và đi lên của Công ty
- Sản phẩm cao cấp: Ngoài tôm đông và cá đông thì còn có sản phẩm nghêu
và cồi điệp cũng chiếm một sản lượng tiêu thụ khá cao Từ năm 2003 đến 2005 thìsản lượng tiêu thụ của tôm và cồi điệp tăng cao, còn sản lượng của sản phẩm nghêu
và cá tiêu thụ tương đối thấp, và đến năm 2005 thì Công ty lại không tiêu thụ đượcsản phẩm nghêu Vì vậy, Công ty nên có những giải pháp đẩy mạnh việc tiêu thụ cá
và nghêu nhiều hơn nữa để doanh thu của Công ty ngày một tăng cao Để thấy rõhơn sự tăng giảm của sản phẩm đông block truyền thống và sản phẩm cao cấp tănggiảm qua ba năm ta có biểu đồ về tình hình sản lượng tiêu thụ nội địa sau:
Trang 15BIỂU ĐỒ 3: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA (2003-2005)
21,66 31,81 191,31
2.991,48
533,29 496,93 0
500 1000 1500 2000 2500 3000
2003 2004 2005
Sản phẩm đông block truyền thống
Sản phẩm cao cấp
Qua biểu đồ về sản lượng của sản phẩm đông block truyền thống và sảnphẩm cao cấp của công ty Cafatex ta thấy rõ rằng ở thị trường nội địa thì hai loạisản phẩm này tăng giảm không tương đồng nhau, năm 2004 thì sản phẩm cao cấptăng một cách đáng kinh ngạc trong khi đó thì năm 2005 sản phẩm đông block caocấp mới gia tăng Từ bảng 6 và biểu đồ 3 cho thấy khi sản phẩm này tăng lên thì sảnphẩm kia lại giảm xuống, đồng thời, sản phẩm cao cấp đóng vai trò quan trọng hơnsản phẩm đông block truyền thống nhưng không vì thế mà Công ty xem nhẹ sảnphẩm đông block truyền thống.Vì vậy, Công ty cần phải có những phương phápquảng cáo và phát triển sản phẩm để sao cho hai sản phẩm này tăng lên một cáchđều đặn nhằm phát triển thị trường nội địa ngày càng mạnh
2.1.2 Tình hình tiêu thụ theo cơ cấu mặt hàng tại thị trường xuất khẩu
Qua số liệu sản lượng tiêu thụ xuất khẩu của bảng 6, ta thấy tổng sản lượngnăm 2004 đến năm 2005 có giảm những rất ít là 5,54% tương đương một lượng là459,38 tấn, nhưng một số mặt hàng vẫn tăng như tôm đông block và cá đông caocấp Tuy là công ty Cafatex đã nổ lực rất lớn trong việc cải tạo điều kiện sản xuất,môi trường và đổi mới công nghệ, chủng loại, mẫu mã, bao bì… nhưng một số mặthàng thủy sản xuất khẩu vẫn chưa được phong phú còn chiếm tỷ lệ thấp như cồiđiệp, nghêu, seafood mix tiêu thụ không được cao, thậm chí năm 2005 lại không cókhả năng tiêu thụ
Trang 16BẢNG 6: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ XUẤT KHẨU THEO CƠ CẤU MẶT HÀNG THUỶ SẢN CỦA CÔNG TY CAFATEX
Đơn vị tính: tấn
(Nguồn: Báo cáo Thu mua – Sản xuất – Tiêu thụ của Công ty Cafatex)
Chênh lệch 2004/2003
Chênh lệch 2005/2004
Trang 17- Mặt hàng tôm đông block và cá đông block của sản phẩm đông block truyềnthống của Công ty chủ yếu xuất khẩu ở thị trường Nhật Bản và thị trường Mỹ, tạihai thị trường này sản lượng tôm và cá đông block tiêu thụ rất mạnh chiếm khoảnghơn 1/2 số sản lượng đông block xuất khẩu Mặt hàng tôm đông block có sản lượngtiêu thụ luôn cao hơn mặt hàng cá đông block, vì giá xuất khẩu tôm đông truyềnthống tương đối thấp Điều này cũng đã góp phần làm giảm đi phần nào lợi nhuậncủa Công ty, do đó, trong những năm sắp tới Công ty sẽ ký những hợp đồng với cácloại sản phẩm cá đông truyền thống nhiều hơn để gia tăng doanh thu lẫn lợi nhuậncho Công ty
- Đối với sản phẩm cao cấp thì trong đó mặt hàng cá đông giữ vai trò trungphong trong các mặt hàng xuất khẩu của Công ty Sản phẩm cá tra, cá ba sa đônglạnh là mặt hàng mới của Công ty, Công ty bắt đầu đi vào hoạt động chế biến vàxuất khẩu sản phẩm này vào năm 2000 và tới năm 2004 sản phẩm cá đông block đã
có mặt tại 11 nước trên thế giới, thị trường chủ lực của công ty Cafatex ở thị trườngquen thuộc như Mỹ và EU,… trong đó Mỹ là thị trường quan trọng nhất Trong 3năm qua 2003 đến 2005 thì thị trường Mỹ đã tiêu thụ sản lượng tôm đông của Công
ty nhiều nhất so với các mặt hàng thủy sản đông lạnh khác
BIỂU ĐỒ 4: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ XUẤT KHẨU (2003-2005)
0,00 1.000,00
Nhìn chung, qua biểu đồ 4 về sản lượng tiêu thụ xuất khẩu của sản phẩm đôngblock truyền thống và sản phẩm cao cấp thì các mặt hàng thủy sản cao cấp luôn tăngcao hơn các mặt hàng đông block Mặt hàng tôm đông, cá đông cao cấp,… có giátương đối cao vì chất lượng hoàn hảo, mặt hàng này có thể đáp ứng được những thịtrường khó tính như thị trường EU, nhưng do công nhân của Công ty chưa có trình
Trang 18độ tay nghề cao để chế biến khâu này nên vẫn còn nhiều hạn chế, do đó, Công tycũng đang cố gắng đào tạo những nhân viên tay nghề tốt hơn nhằm tạo ra những sảnphẩm thủy sản đông lạnh đạt giá trị tốt nhất để những mặt hàng thủy sản này đếnđược các thị trường hiện tại và thị trường tiềm năng của Công ty.
2.2 Phân tích doanh số tiêu thụ theo cơ cấu mặt hàng của Công ty Cafatex
Doanh số tiêu thụ là một trong những chỉ tiêu vô vùng quan trọng vì nó phảnánh kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ở mỗi thờiđiểm Thông qua sự thay đổi, biến động của doanh số tiêu thụ sẽ cho chúng ta có thểnhìn nhận được rằng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có đạt hiệu quả haykhông đạt hiệu quả
2.2.1 Doanh số tiêu thụ nội địa theo cơ cấu mặt hàng của Công ty
Trang 19BẢNG 7: DOANH SỐ TIÊU THỤ NỘI ĐỊA THEO CƠ CẤU MẶT HÀNG THUỶ SẢN
CỦA CÔNG TY CAFATEX
Đơn vị tính: 1000 USD
Chênh lệch 2004/2003 Chênh lệch 2005/2004
Trang 20BIỂU ĐỒ 5: DOANH SỐ TIÊU THỤ NỘI ĐỊA CỦA CÔNG TY
(2003-2005)
82,67 158,68550,49
8.775,69
1.517,09 1.326,59 0
Công ty Cafatex chủ yếu chế biến hàng thủy sản để xuất khẩu sang thị trườngcác nước khác, chính vì vậy, doanh số tiêu thụ tại thị trường nội địa của Công tykhông lớn lắm Doanh số mà Công ty thu được từ sản phẩm đông block truyềnthống tăng đều qua ba năm, cụ thể năm 2003 thu được 82,67 (1000 USD), năm 2004thu được 550,49 (1000 USD) và đến năm 2005 có giá trị là 1.517,09 (1000 USD)
Từ đó, ta thấy rằng tại thị trường nội địa thì sản phẩm đông block được tiêu thụ rấttốt, chứng tỏ người dân ở nước ta rất chuộng các mặt hàng truyền thống này, chủyếu là tôm đông block và cá đông block được tiêu thụ cao nhất
Mặc dù, doanh số của sản phẩm đông block tăng qua các năm nhưng vẫn thấphơn nhiều so với doanh số của sản phẩm cao cấp đó là năm 2003 và 2004 Riêngnăm 2005, thì doanh số sản phẩm đông block đã vượt qua doanh số tiêu thụ của sảnphẩm cao cấp, điều đó có nghĩa là Công ty đã có nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnhlượng tiêu thụ các mặt hàng thủy sản đông block truyền thống hơn so với nhữngnăm trước, điển hình như là Công ty đã có thêm sản phẩm mực đông block
Tóm lại, muốn tăng doanh thu cao và có khả năng cạnh tranh với các doanhnghiệp khác cùng ngành thì Công ty nên có những chính sách khuyến khích nhiềuhơn nữa cho hai nhóm sản phẩm đông block truyền thống và sản phẩm cao cấp, cụthể như là mở rộng thị trường, quảng cáo tiếp thị sản phẩm mạnh mẽ hơn,… nhằmđưa lợi nhuận của Công ty ngày một tăng cao
Trang 21BẢNG 9: DOANH SỐ TIÊU THỤ XUẤT KHẨU THEO CƠ CẤU MẶT HÀNG THUỶ SẢN
CỦA CÔNG TY CAFATEX
Đơn vị tính:1000 USD
Chênh lệch 2004/2003
Chênh lệch 2005/2004
Trang 222.2.2 Doanh số tiêu thụ xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng của Công ty BIỂU ĐỒ 6: DOANH SỐ TIÊU THỤ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY
0,00 10.000,00
Doanh thu của Công ty chủ yếu thu được từ hoạt động xuất khẩu thủy sản,trong đó doanh số từ sản phẩm cao cấp luôn cao hơn doanh số từ sản phẩm đôngblock truyền thống Thông qua bảng số liệu doanh số tiêu thụ ở thị trường xuất khẩu
và biểu đồ 6, ta có thể kết luận và đánh giá tình hình doanh số như sau:
Năm 2003: Doanh số thu được từ thị trường xuất khẩu là 66.214,14
(1000USD), trong đó, doanh số bán của sản phẩm đông block truyền thống đạt giátrị là 13.740,44 (1000 USD) và doanh số bán của sản phẩm cao cấp là 52.473,70(1000 USD) Chứng tỏ rằng doanh số của sản phẩm mà Công ty thu được gấp ba lần
so với doanh số sản phẩm đông block truyền thống Sở dĩ, doanh số bán của sảnphẩm cao cấp này cao hơn là do sản lượng của sản phẩm tôm đông, cá đông, nghêu
và cồi điệp bán ra tăng nhiều hơn so với sản phẩm đông block, cho thấy sự tiếp nhậncủa thị trường đối với sản phẩm này rất khả quan
Thêm vào đó tại thời điểm năm 2003 này, dịch cúm gia cầm bùng nổ nên ngườidân chuyển hướng sang tiêu thụ hàng thủy sản thay thế và những sản phẩm chế biếnsẵn rất phù hợp với các nước công nghiệp hiện đại, vì đa số người dân ở các nướcnày không có thời gian nhiều cho việc chế biến thức ăn Ở các thị trường Mỹ, NhậtBản, Hà Lan,… doanh số từ sản phẩm tôm đông cao cấp rất cao đạt 48.483,64(1000USD) chiếm tỷ trọng 73,22 % trong tổng nhóm sản phẩm cao cấp và cũng caohơn nhiều so với sản phẩm cá đông cao cấp, lý do là từ sức ép cạnh tranh trên thị
Trang 23đến sức mua của người tiêu dùng đối với mặt hàng này.
Năm 2004: Đây là một năm mà Công ty Cafatex đạt hiệu quả kinh doanh tốt
nhất so với tình hình kinh doanh từ trước đến nay Doanh số bán của sản phẩm đôngblock truyền thống và sản phẩm cao cấp trong năm là rất cao Doanh số thu được là85.426,37 (1000 USD) tăng 19.212,22 (1000 USD) so với năm 2003, trong đó,doanh số có được từ sản phẩm cao cấp chiếm đa số vì sản phẩm cá, tôm cao cấp đemlại doanh số bán nhiều hơn sản phẩm cá, tôm đông block truyền thống Do sản phẩmtôm, cá cao cấp là sản phẩm chế biến sẵn, tiện lợi cho việc sử dụng và giá bán cũngphù hợp, được khách hàng chấp nhận, nên số lượng đặt hàng nhiều hơn sản phẩmđông block truyền thống dẫn đến việc doanh số bán mặt hàng cao cấp này tăng cao Với năm 2004 này, thì sản phẩm tôm cao cấp đem lại cho Công ty lợi nhuậnrất lớn và sản phẩm tôm cao cấp này được Công ty xem là sản phẩm chiến lượctrong nhóm sản phẩm cao cấp Ngoài ra, năm 2004, hoạt động quảng cáo tiếp thị củaCông ty đã được duy trì ở mức độ cao để tìm kiếm thị trường mới và giảm sức épcạnh tranh ở thị trường cũ
Năm 2005: Doanh số tiêu thụ xuất khẩu năm 2005 là 64.631,68 (1000 USD)
thấp hơn so với 2004 một khoảng 20.794,68 (1000 USD) giảm tương đương 24,34%nhưng lợi nhuận của Công ty vẫn còn rất cao với các doanh nghiệp cạnh tranh khác.Trong tổng doanh số tiêu thụ thì doanh số sản phẩm cao cấp 43.997,76 (1000 USD)chiếm 68,07 %, phần còn lại là doanh số thu từ sản phẩm đông block truyền thống.Trong hai nhóm sản phẩm này thì sản phẩm cao cấp vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn sảnphẩm đông block và chính sản phẩm cao cấp này góp phần rất lớn trong việc tăngdoanh số tiêu thụ xuất khẩu của Công ty Sản phẩm cao cấp vào những năm trước cónhiều loại mặt hàng thủy sản đáp ứng được yêu cầu thị hiếu người tiêu dùng tại cácthị trường xuất khẩu, trong khi đó năm 2005, Công ty chỉ xuất khẩu các mặt hàngtôm đông và cá đông nên hạn chế rất nhiều và không thoả mãn được phần nào nhucầu tiêu dùng cho người dân ở tại các thị trường này, vì vậy, doanh số của năm 2005
có giảm xuống Ngoài ra, nguồn nguyên liệu đầu vào của Công ty ở năm 2005 gặpkhó khăn qua các sự kiện như tôm, cá bị chết hàng loạt làm cho người nuôi giảmviệc nuôi tôm, cá và chuyển sang nghề khác đã gây ảnh hưởng khá lớn đến tình hình
Trang 24nguyên liệu của Công ty và kéo theo lợi nhuận hoạt động kinh doanh của Công tycũng giảm theo.
3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ của công ty Cafatex
Mục đích của hoạt động tiêu thụ sản phẩm chính là doanh thu và lợi nhuận, nóchịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau tác động qua lại nhau Vì vậy, muốn đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm thìCông ty cần xác định được các nhân tố ảnh hưởng và đây là các nhân tố quan trọngảnh hưởng mộtcách trực tiếp đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của Côngty Cafatex
3.1 Chất lượng của sản phẩm
Trong tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ thì nhân tố về chấtlượng sản phẩm giữ vai trò quan trọng nhất và một sản phẩm được xem là có chấtlượng và có khả năng xuất khẩu sang các nước khác khi sản phẩm đó không nhữngphải ngon, mẫu mã đẹp, hợp vệ sinh mà còn phải đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc
tế Đặc biệt, đối với mặt hàng thủy sản của công ty Cafatex thì chất lượng sản phẩmcòn quan trọng hơn nữa, vì đa số các mặt hàng này đều được xuất khẩu sang các thịtrường nước ngoài, do đó, những sản phẩm này phải đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏigắt gao hơn nhiều so với việc tiêu thụ tại thị trường trong nước
Hiện nay, tình hình xuất khẩu thủy sản dạng nguyên liệu cấp đông chiếm tỷ lệcao nhưng chất lượng thủy sản của Công ty được đánh giá cao ở các thị trường xuấtkhẩu như Mỹ, Nhật Bản, EU,… do nguồn thủy sản của Công ty chủ yếu được khaithác từ các nguồn tự nhiên và từ những nơi nuôi trồng không bị ô nhiễm nên sảnphẩm thủy sản của Công ty có tính bổ dưỡng cao Chất lượng sản phẩm thủy sản củaCông ty được người tiêu dùng ở các thị trường này đánh giá ngang bằng với các sảnphẩm thủy sản của Thái Lan và cao hơn các nước Ấn Độ, Bangladesh Vì vậy, Công
ty đang chú ý nhiều hơn vào việc đầu tư công nghệ - khoa học kỹ thuật trong khâuchế biến các sản phẩm giá trị gia tăng nên tính cạnh tranh thủy sản xuất khẩu Công
ty ngày càng được nâng cao Cụ thể yêu cầu về chất lượng ở một vài thị trường đặctrưng sau:
Trang 25Thị trường Nhật Bản: Trước đây, các nhà doanh nghiệp của Nhật Bản chỉ đặt
hàng chế biến đơn giản ở công ty Cafatex và sau này khi đã tin tưởng thì Nhật bắtđầu đặt các mặt hàng chế biến phức tạp Và các sản phẩm đều được Nhật thừa nhận,hầu như không có trường hợp nào bị trả về, Nhật cũng không đòi hỏi các nhà sảnxuất chế biến thủy sản phải có CODE hoặc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn HACCPnhư thị trường EU và Mỹ
Ngoài ra, Nhật cũng chấp nhận các giải pháp xử lý thủy sản với hóa chất nhưChlorine, Sodium Tripoly Phosphste và một số hợp chất khử trùng khác Nếu không
sử dụng các chất khử trùng thì khó có thể đảm bảo điều kiện vô trùng cho các loạithủy sản được nuôi trồng và khai thác tại các nước nhiệt đới hoặc các loại thủy sảnchế biến thủ công, đòi hỏi nhiều lao động chân tay
Để đảm bảo uy tín của nhà nhập khẩu Nhật Bản và bảo hộ hàng hóa trongnước, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra rất nhiều biện pháp quản lý chất lượng thựcphẩm thủy sản như:
+ Kiểm tra chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn Nhật
+ Kiểm tra nguyênliệu sản xuất ra sản phẩm nhập khẩu
+ Kiểm tra kiểu dáng và công nghệ chế tạo sản phẩm
+ Kiểm tra phong bì và đóng gói hàng hóa
Hiện nay, thì sản phẩm thủy sản của Công ty (bao gồm tôm đông block truyềnthống và sản phảm cao cấp) được tiêu thụ mạnh ở thị trường này Vì Công ty đã đạtđược các tiêu chuẩn mà Nhật Bản đã đặt ra và đáp ứng được phần chất lượng màngười Nhật đã yêu cầu
Thị trường EU: Đây là thị trường khó tính nhất so với tất cả các thị trường
khác, tại thị trường này có rất nhiều quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm
mà thị trường EU đặt ra để nhập khẩu hàng thủy sản Các sản phẩm phải đáp ứngcác tiêu chuẩn cụ thể vệ sinh gồm độ tươi và độ sạch, mức nhiễm vi tối đa, bao gồmcác vi sinh vật gây bệnh và các vi sinh vật chỉ thị: dư lượng hóa chất, độc tố sinh họcbiển và ký sinh trùng
Ngoài ra, tiêu chuẩn HACCP là điều quan trọng của doanh nghiệp xuất khẩuthủy sản vào thị trường EU Đây là một hệ thống tiêu chuẩn có tính bắt buộc đối với
Trang 26ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chấtlượng sản phẩm theo quan điểm phân tích và kiểm soát các mối nguy cơ trước khixảy ra Nó được áp dụng cho các doanh nghiệp chế biến, xử lý đóng gói, vậnchuyển, phân phối và kinh doanh thực phẩm, các doanh nghiệp này buộc phải hiểu
rõ những nguy cơ về măt vệ sinh an toàn thực phẩm có thể xảy ra ở tất cả các giaiđoạn của quy trình sản xuất từ việc nuôi lớn, chế biến, sản xuất thành phẩm và phânphối cho đến tận nơi người tiêu dùng Những nguy cơ có thể do những sinh vật nhưchuột, sâu, bọ gây ra; do vi sinh vật như virut, vi khuẩn, mốc meo; do chất độc nhưnhiễm hóa chất diệt các loại có hại; hoặc do vật chất tự nhiên như gỗ, kim loại, thủytinh, vải sợi gây ra
Hệ thống HACCP rất quan trọng đối với Công ty, vì Công ty phải có tráchnhiệm thực hiện đầy đủ quy định của hệ thống đối với tất cả các dây chuyền sảnxuất Nếu Công ty vì một sơ sót nhỏ không thể hiện đã đáp ứng đầy đủ quy định của
cơ quan có thẩm quyền ở những nước nhập khẩu của thị trường này thì nhà nhậpkhẩu sẽ không chấp nhận mua sản phẩm của Công ty nữa
Để một sản phẩm thủy sản đông lạnh có chất lượng thì khâu đóng gói bao bìđóng vai trò không kém phầm quan trọng Bao bì được xem như là yếu tố cần thiết
để khẳng định chất lượng sản phẩm vì nó đại diện cho sản phẩm, vừa bảo vệ cho sảnphẩm chống lại các tổn hại về cơ học Nó là yếu tố quan trọng đối với các sản phẩmđược bán lẻ tại các siêu thị hoặc tại điểm bán lẻ
Bên cạnh vấn đề vận chuyển, vấn đề môi trường cũng có vai trò đáng kể trongviệc đóng gói Theo xây dựng luật về môi trường, việc tái sử dụng và tái sinh cácchất liệu bao bì và những yêu cầu cụ thể về đặt tính của môi trường phải hoàn toànliên quan đến chất liệu bao bì Bao bì nhựa đóng bên trong thùng carton phải đảmbảo không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, yêu cầu đóng gói bao bì các loạithủy sản như trọng lượng của sản phẩm, kích cỡ của sản phẩm, số sản phẩm đượcđóng gói trong một thùng, mùi của sản phẩm, thu hút sự chú ý của người tiêu dùng,
… Nếu như Công ty muốn mở rộng thêm thị trường các nước thành viên của EUcũng cần biết đến các quy định của EU về chất thải bao bì, để theo đó Công ty có
Trang 27Đồng thời, trong thời gian qua công ty Cafatex đã thường xuyên cập nhậtthông tin, cải tiến công nghệ và đáp ứng được các yêu cầu kỷ thuật khắc khe của thịtrường thủy sản EU Và SGS (tập đoàn chứg nhận tiêu chuẩn quốc tế hàng đầu củaThụy Sĩ) cũng đã cấp giấy chứng nhận ISO 9002, HACCP cho Công ty Đây là điềukiện thuận lợi để Công ty mở rộng thêm thị trường các nước thành viên EU vàonhững năm tới.
Qua phân tích các chính sách về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và môitrường… cho thấy EU là thị trường nghiêm khác và khó tính nhất hiện nay Đây làmối đe dọa đối với công ty, nếu Công ty không nghiên cứu kỹ về thị trường này vàkhông đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đã quy định thì hoạt động xuất khẩu của Công ty
sẽ gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là vấn đề về chất lượng và vệ sinh an toàn thựcphẩm là trở ngại đối với Công ty , do đó, đòi hỏi Công ty phải kiểm tra giám sát chặtchẽ trong quá trình thu mua nguyên liệu, tuyệt đối không để bất cứ sai sót nào có thểxảy ra Nếu ta không cẩn thận mà để phạm sai lầm sẽ ảnh hưởng đến uy tín, chấtlượng nhãn hiệu của Công ty
Thị trường Mỹ: So với hai thị trường Nhật Bản và EU thì thị trường Mỹ là
một thị trường cũng nghiêm khắc và khó khăn không kém Đối với Mỹ thì chấtlượng đóng vai trò quan trọng vì chất lượng của sản phẩm cũng chính là thước đocủa sự bền vững trong kinh doanh trên thị trường Mỹ Mỹ là một thị trường lớn vớikhoảng 270 triệu người tiêu dùng, tổng giá trị hàng hoá lên tới 1.200 tỷ USD/năm.Đây là một thị trường rất minh bạch và cởi mở, tuy nhiên thị trường này đòi hỏihàng hoá khi nhập vào thị trường phải có chất lượng cao Chính vì vậy mà đặc điểmnổi bật của thị trường này là yêu cầu rất cao về chất lượng, đơn đặt hàng của thịtrường Mỹ thường có số lượng lớn và thời gian giao hàng lại ngắn Tuy nhiên, cácnhà nhập khẩu Mỹ lại dễ dàng dịch chuyển đơn đặt hàng sang các nhà cung cấp khácnếu phía đối tác của nước ngoài không đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng
mà họ đặt ra
Thị trường Mỹ đòi hỏi nghiêm ngặt về quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm,tiêu chuẩn môi trường, an toàn sức khoẻ của người lao động,… Khi đã ký hợp đồnglàm ăn với phía đối tác Mỹ thì nhà xuất khẩu nước ngoài cần thực hiện nghiêm túc
Trang 28nếu không sẽ dễ dàng dẫn đến những vụ tranh chấp phức tạp Do đó, cũng nhưnhững công ty khác thì công ty Cafatex khi xuất khẩu sản phẩm sang thị trường nàythì cần lưu ý đến những yêu cầu và các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng sản phẩm
mà nước Mỹ đặt ra để nhằm hạn chế tối đa lượng sản phẩm không đủ chất lượng bịtrả về, từ đó sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty.Mặt khác, mặt hàng thủy sản đông lạnh của Công ty rất cần đến sự bảo quản kỹlưỡng để giữ chất lượng của sản phẩm lúc nào cũng phải tươi sống và đạt chất lượngtốt nhất Nếu làm được tất cả những điều đó thì lượng tiêu thụ sản phẩm của Công tyngày càng nhiều hơn, mạnh hơn và uy tín của Công ty cũng sẽ nâng cao cùng vớilượng sản phẩm xuất khẩu
Tóm lại, chất lượng sản phẩm là một nhân tố có sự ảnh hưởng rất mạnh đốivới tình hình tiêu thụ của Công ty, Công ty muốn xuất khẩu càng nhiều thì yếu tốchất lượng sản phẩm lại càng quan trọng, chất lượng sản phẩm góp phần rất lớn vàoviệc tăng doanh thu và lợi nhuận của Công ty Do đó, chất lượng sản phẩm là nhân
tố mà Công ty cần quan tâm nhiều nhất
3.2 Thị hiếu của người tiêu dùng
Ngoài nhân tố chất lượng là nhân tố quan trọng nhất thì nhân tố đứng thứ haiảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ của một công ty đó chính là nhân tố về thái độ, ýthích và thị hiếu của người tiêu dùng Người tiêu dùng là một yếu tố không thể táchrời trong môi trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của người tiêu dùng là tài sản có giátrị đối với doanh nghiệp, sự tín nhiệm đó đạt được nếu công ty biết thoả mãn tốt nhucầu và thị hiếu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh Nhu cầu của ngườitiêu dùng về sản phẩm, mức tiêu thụ, thói quen và tập tính sinh hoạt, phong tục của
họ là nguyên nhân tác động trực tiếp đến lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty
Nhu cầu tiêu dùng thủy sản của từng nước rất đa dạng và phong phú ở tất cảcác mặt hàng là cá, tôm, mực, cua,… đều phải được tươi sống, đông lạnh Tuynhiên, còn tuỳ theo từng nước mà nhu cầu tiêu dùng sẽ khác nhau, cụ thể nhu cầutiêu dùng tại một số thị trường sau:
Thị trường Nhật Bản: Tại thị trường Nhật Bản, thủy sản là nguồn cung cấp
Trang 29Nhật đạt từ 72 kg/người/năm Được như vậy là nhờ ở thói quen tiêu thụ sản phẩmthủy sản và nghệ thuật chế biến món ăn từ thủy sản có từ lâu đời trong mỗi ngườiNhật Các món ăn được người Nhật ưa thích là mực Shushi, mực Sashima, cá ngừSashimi, tôm Nabashi, tôm Surimi.
Qua các món ăn được ưa thích của người Nhật cho thấy có nhu cầu đa dạng vềthủy sản dùng làm nguyên liệu chế biến các món ăn như tôm, cá ngừ, cá các loại…
từ đó, có thể xác nhận được sản phẩm nào có thể xâm nhập vào thị trường Nhật Bản.Tuy nhiên, đa phần các món ăn kể trên đều phải đều phải làm từ thủy hải sản tươisống, chất lượng cao, vì vậy đối với việc chế biến sản phẩm thuộc dạng này là rấtphức tạp, cần có một trình độ chế biến và trang thiết bị hiện đại Ngoài ra, thì ngườiNhật Bản rất ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm nếu hàng hóa có mẫu mã đa dạng,phong phú mới dễ dàng thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản Nếu Công ty nắmbắt được sở thích xu hướng, nghệ thuật trong ăn uống của người Nhật là chúng ta đãbước đầu thành công trong việc tiếp cận đưa họ đến với sản phẩm của Công ty mình
Thị trường Mỹ: Mỹ là một thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng khá khó tính
đối với những ai không hiểu và không biết được thói quen của người tiêu dùng Mỹ.Cần phải hiểu xem họ muốn gì, yêu cầu gì và điều cốt yếu với mỗi doanh nghiệp làphải nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng và đáp ứng được những thị hiếu đó
Mặc dù, hiện nay Mỹ là thị trường tiêu thụ thủy sản mạnh nhất của công ty Cafatex
nhưng Công ty vẫn cần phải quan tâm và tìm hiểu nhiều hơn thị hiếu của người tiêudùng Mỹ để Công ty có thể xuất khẩu ngày càng nhiều sản phẩm sang thị trườngnày Qua nghiên cứu có thể rút ra một số tiêu chí về mặt hàng thủy sản mà ngườitiêu dùng Mỹ quan tâm
Thứ nhất, người Mỹ quan tâm là chất lượng của sản phẩm, nhưng quan niệm về
chất lượng của họ cũng khác nhau Chất lượng mà người Mỹ xác định đối với mặthàng thủy sản đó là nguồn gốc sản phẩm Ngoài ra, công tác tiếp thị và tìm hiểu thịtrường là một con đường dài đối với Công ty trong qua trình tác động đến người tiêudùng Mỹ Chính vì vậy, hàng hoá của Việt Nam nói chung và các mặt hàng thủy sảncủa công ty Cafatex nói riêng khi muốn xâm nhập và phát triển tại thị trường Mỹ vàđược người dân Mỹ chấp nhận thì các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến nhãn
Trang 30hiệu sản phẩm của mình cũng như cần phải có một kế hoạch giới thiệu, khuếchtrương sản phẩm của mình một cách hữu hiệu.
Thứ hai, người tiêu dùng Mỹ cũng rất quan tâm đến mẫu mã sản phẩm Đối với
người Mỹ, họ sẵn sàng trả giá cao gấp ba lần cho một sản phẩm có mẫu mã đẹp, mặc
dù, có thể chất lượng không được hoàn hảo lắm so với những sản phẩm cùng loại.Một điều khác lạ nữa ở người tiêu dùng Mỹ đó là một sản phẩm dù giá trị thấpnhưng vẫn được coi là sáng giá nếu mẫu mã đẹp Do đó, để xuất khẩu các mặt hàngthủy sản của Công ty vào thị trường Mỹ ngày càng nhiều thì ngoài chất lượng tốt thìCông ty nên chú trọng đến mẫu mã sản phẩm nhiều hơn nữa
Thứ ba, giá là điều quan tâm cuối cùng đối với người tiêu dùng Mỹ khi họ
quyết định nên mua sản phẩm nào đó Người Mỹ đặt việc mua bán của họ vào chấtlượng và sự hữu dụng của sản phẩm khi họ cần đến
Tóm lại, tại thị trường Mỹ thì giá trị của một sản phẩm chủ yếu được xác địnhbởi danh tiếng của nhãn mác hoặc xuất xứ của một sản phẩm Đối với các doanhnghiệp xuất khẩu hầu hết các loại sản phẩm sang thị trường Mỹ, đặc biệt là các mặthàng thủy sản, Công ty có một điều cần chú ý đó là không nên áp dụng chiêu thứckhuyến mãi để thu hút người tiêu dùng Mỹ Bởi vì, nếu một sản phẩm khuyến mãi
mà chất lượng không tốt thì nó sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn của họ đối với các sảnphẩm khác cùng nguồn gốc với sản phẩm đó
Thị trường Pháp: tổng sản phẩm tiêu thụ sản phẩm thủy sản là 30
kg/người/năm, sản phẩm chủ yếu là cắt miếng, gói sẵn, đồ thủy sản bao bột đã chếbiến sẵn, các loại đồ hộp dễ mở, salad thủy sản,…
Thị trường Ý: nhu cầu chung về thủy sản của người dân nước này là cá biển,
tôm,… việc sử dụng cá nước ngọt vẫn còn hạn chế nhiều mặt hàng mà thị trườngnày thường xuyên sử dụng là hộp cá ngừ, mực đông lạnh, tôm và cá fillet đông
Nhìn chung, thị trường nào cũng rất đa dạng và năng động, vì vậy, khi Công
ty thâm nhập vào từng thị trường nên có sự nghiên cứu, xem xét phong tục tập quán,văn hoá tiêu dùng, sở thích, niềm tin và mức độ chi trả… Sản phẩm là thước đo vănhoá người tiêu dùng vì vậy mà Công ty khi tung sản phẩm ra thị trường phải bám sát
Trang 31nhiều khâu phân phối lưu thông nên khi đến tay người tiêu dùng thường có giá cả rấtcao so với giá nhập khẩu, do đó, Công ty cần có những chính sách hợp lý về giá cảcủa các mặt hàng thủy sản mà Công ty sẽ xuất khẩu đến các thị trường khác.
3.3 Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả cácdoanh nghiệp, nếu có nhiều thông tin về đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp sẽ đưa ranhững quyết định đúng đắn hơn về giá cả, chất lượng mẫu mã, dịch vụ cung cấp chokhách hàng làm cho họ hài lòng hơn so với đối thủ cạnh tranh khác Vì vậy, nhân tốđối thủ cạnh tranh là một trong những yếu tố cần thiết của Công ty khi muốn cạnhtranh và kinh doanh có hiệu quả cao trên thương trường
Hiện tại, những doanh nghiệp của các nước như Campuchia, Lào,… đều cóđiều kiện địa hình, khí hậu thuận lợi giống như Việt Nam sẽ trở thành mối nguy hạiđối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty Cafatex nói riêng khinhững doanh nghiệp này bắt đầu quan tâm nhiều đến việc nuôi các loại thủy sản đểxuất khẩu Thời gian gần đây, các doanh nghiệp tại các nước này đã bắt đầu có kếhoạch trong việc nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản Mặc dù, bây giờ cácdoanh nghiệp này chưa phải là đối thủ cạnh tranh thực thụ, nhưng họ sẽ trở thànhđối thủ tiềm năng trong việc xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là xuất khẩu cá tra, cá basatrong tương lai
Đối với Thái Lan và Trung Quốc, hai nước này từ lâu đã là đối thủ lớn của ViệtNam trong việc xuất khẩu thủy sản Cụ thể là Trung Quốc đứng đầu thế giới về sảnlượng xuất fillet cá nheo và cá da trơn vào thị trường Mỹ, Thái Lan đưa nghề cá tra
và các loại pangasius khác vào chương trình phát triển cấp quốc gia Do đó, trongtương lai, hai nước này sẽ là đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Việt Nam trong hoạtđộng xuất khẩu thủy sản Họ lại có được một bề dày kinh nghiệm xuất khẩu thủy sản
và sản phẩm của họ đã khẳng định được trên thị trường quốc tế với sản phẩm chấtlượng cao, công nghệ chế biến hiện đại Từ đó, doanh nghiệp nước ta và cả công tyCafatex sẽ mất dần thị phần ngày càng cao nếu không nhanh chóng đổi mới quản lý,cải thiện chất lượng ở công đoạn sản xuất khi các nước này tham gia vào hoạt độngxuất khẩu thủy sản
Trang 32Về đối thủ cạnh tranh của Công ty trong thời điểm này, không phải là cácdoanh nghiệp nước ngoài mà là các doanh nghiệp của Việt Nam ở ĐBSCL Hiệnnay, nước ta có trên 220 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh Tuy nhiên, để trởthành đối thủ cạnh tranh với công ty cổ phần thủy sản Cafatex thì hầu như rất ít đốithủ, Công ty Cafatex là doanh nghiệp đang dẫn đầu trong số các doanh nghiệp thuộc
13 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long về chế biến thủy sản, đặc biệt là sản phẩm cáđông và tôm đông Thời gian qua, xuất khẩu thủy sản đã đem lại nhiều lợi nhuận chocác doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu ở ĐBSCL Trước tình hình, các nhàmáy, xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mới mọc lên ngày càng nhiều Nhiềudoanh nghiệp đã làm ăn thuận lợi, nên đã tiếp tục đầu tư trang thiết bị, cải tiến côngnghệ, mở rộng quy mô sản xuất
Đặc biệt, nhiều đối thủ cạnh tranh của Công ty đã đi vào đầu tư, mở rộng sảnxuất, cải tiến công nghệ để nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu nhưCông ty TNHH Tuấn Anh đã nâng công suất hoạt động lên 10%, Công ty TNHHNam Việt vừa đầu tư 10 triệu USD xây dựng thêm một nhà máy chế biến công suấttrên 400 tấn cá filê/ngày, Công ty Agifishco đầu tư nhà xưởng và máy móc thiết bịvới tổng trị giá là 62 tỷ đồng và đó là một lượng đầu tư rất lớn Ngoài đầu tư vàoquy trình sản xuất, các doanh nghiệp còn thường xuyên tạo ra nhiều sản phẩm mới,nâng cao chất lượng sản phẩm Chính vì lẽ đó, công ty Cafatex cần phải đầu tư ngàycàng nhiều hơn nữa để cạnh tranh với các đối thủ của mình
3.4 Quan hệ thương mại
Sản phẩm thủy sản của Công ty đã có mặt hầu hết ở các thị trường nhập khẩuthủy sản lớn của thế giới như Mỹ, EU, Nhật,… Đến thời điểm này, nhãn hiệu củacông ty Cafatex đã có mặt ở 17 nước trên thế giới và trở thành nhu cầu thườngxuyên tại Hoa Kỳ, một số nước Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Úc, Bắc Mỹ, HồngKông, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Tương lai, Công ty có kế hoạch mở rộngthị trường sang các nước thành viên khác EU, các nước tiềm năng thủy sản lớn vàduy trì phát triển các bạn hàng hiện tại Để đạt được mối quan hệ làm ăn lâu dài vớicác nước nhập khẩu hàng thủy sản, Công ty cần chú ý:
Trang 33+ Tiến hành nghiên cứu chính xác thị trường mục tiêu bằng việc tập hợp vàphân tích các thông tin thu thập khi vẫn ở trong nước.
+ Thực hiện việc tiếp xúc ban đầu với các đối tác bằng thư, fax hoặc điện thoại.Nếu có thể nên thực hiện việc giới thiệu công ty và chất lượng sản phẩm muốn đưavào thị trường một cách chi tiết bằng tiếng Anh hoặc bằng ngôn ngữ của nước nhậpkhẩu Gởi kèm một bảng giá sản phẩm theo điều kiện giao hàng FOB hoặc CIF.+ Khi lựa chọn được một số đối tác có triển vọng nhất, sau đó thực hiện việctiếp cận thực tế Qua đó có thể tiếp xúc trực tiếp và thiết lập mối quan hệ làm ănchính thức với nhà nhập khẩu sau khi đã thực hiện điều tra sơ bộ về họ
Muốn có mối quan hệ thật tốt với các thị trường khác để doanh số tiêu thụ sảnphẩm của Công ty càng cao, thì ngoài các vấn đề trên Công ty còn phải làm tốt hơnnữa mối quan hệ trong quá trình giao dịch thương mại với các doanh nghiệp nhậpkhẩu thủy sản của Công ty
+ Quan hệ thư từ giữa hai bên đối tác với nhau rất quan trọng, vì đó là bằngchứng về sự hiện diện của công ty trong giao dịch thương mại, vì thế cần thực hiệnthư từ càng đúng, càng chính xác và càng thường xuyên càng tốt
+ Sự chắc chắn đúng giờ, đáng tin cậy và trung thực đều rất quan trọng Do đó,cần chính xác và thẳng thắn về thời hạn giao hàng, chất lượng sản phẩm và khả năngsản xuất của công ty mình Như thế thì uy tín của công ty có thể được nâng lên và cókhả năng đạt được thoả thuận xuất khẩu dài hạn
+ Phải có sự giao hẹn trước khi giao dịch trực tiếp, trong trường hợp khôngđúng hẹn phải có sự thông báo càng sớm càng tốt
Tóm lại, quan hệ thương mại cũng là một trong những yếu tố đóng vai tròquan trọng để đẩy mạnh tình hình tiêu thụ sản phẩm thủy sản đông lạnh của Công tyđến các thị trường cũ và kể cả những thị trường mới của Công ty trong thời gianhiện tại và cả tương lai sau này
II PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CAFATEX
Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong 3 năm(2003-2005) ta có thể so sánh hiệu quả giữa các năm và đánh giá chung tình hìnhhoạt động kinh doanh của Công ty Cafatex