1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)

57 485 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tình Hình Thu Mua Và Xuất Khẩu Tại Công Ty Thực Phẩm Nông Sản Xuất Khẩu Cần Thơ (Mekonimex Ns)
Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Loan
Người hướng dẫn Ts. Mai Văn Nam
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 818,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty ký hợp đồng xuất khẩu với các đối tác nước ngoài xong, dựa vào lượnggạo xuất khẩu đã ký trong hợp đồng mà Công ty thực hiện thu mua gạo thành phẩmhoặc gạo nguyên liệu chế biến để

Trang 1

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG

TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ

(MEKONIMEX/NS)

I PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THU MUA GẠO XUẤT KHẨU:

1 Tình hình thu mua gạo xuất khẩu theo hình thức thu mua:

Công ty thực hiện ba hình thức thu mua đó là mua gạo thành phẩm từ các doanhnghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp tư nhân (Đây là hình thức thu mua từ các đơn

vị chế biến lương thực) và thu mua trực tiếp từ hộ nông dân, thứ ba là thu mua bạnhàng xáo từ các thương lái

Nguồn: Phòng kinh doanh, năm 2005

Sơ đồ 5: Các hình thức của hoạt động thu mua gạo xuất khẩu của Công ty

Các đơn vị chế

Gạo thànhphẩm

Phân xưởng chế biến Thương lái

Gạo thànhphẩm

Hìnhthứcmua từđơn vịchế biến(80%)

Mua bạnhàng xáo(2%)

Muatrựctiếp(18%)

Trang 2

Số liệu thu mua gạo xuất khẩu theo hình thức thu mua được trình bày dưới đây:

Bảng 2: Số liệu về thu mua gạo theo hình thức thu mua qua 3 năm 2003-2005

Lượng

Thu mua từ đơn vị chế

biến 34.921,40 79 29.889,75 74 24.274,20 81 (5.031,65) (14,41) (5.615,55) (18,79)

Thu mua trực tiếp

Tổng cộng 44.204,3 0 100 39.853,01 100 29.968,1 4 100 (4.351,29) 0,25 (9.884,87) (104,49)

Nguồn: Phòng Kế toán, năm 2003, 2004, 2005

Trang 3

Đồ thị biểu diễn tình hình thu mua theo các hình thức thu mua qua 3 năm2003-2005:

Năm 2004

29.889,75 ; 74%

Biểu đồ1: Tình hình thu mua gạo theo hình thức thu mua

qua 3 năm 2003-2005:

Trang 4

Nhận xét:

*Về sản lượng thu mua của mỗi hình thức:

Từ biểu đồ trên ta thấy, cả 3 năm 2003, 2004, 2005 Công ty đều thực hiện hìnhthức mua gạo từ các đơn vị chế biến là nhiều nhất chiếm trung bình 80% lượng gạothu mua của Công ty Thực hiện mua theo hình thức mua bạn hàng xáo hay mua trựctiếp từ nông dân chỉ chiếm một phần ít Lý do có một tỷ lệ như vậy vì Công ty sẽ đạtđược một % an toàn cao hơn nếu thực hiện thu mua thành phẩm chế biền sẵn Còn việcthu mua nguyên liệu để chế biến thì Công ty phải tự chế biến, vận chuyển; khó khăn vềcông nghệ, các yếu tố của quá trình bảo quản, dự trữ, vận chuyển, Công ty đều phảichịu Nếu so về chi phí thì trong những lúc thị trường biến động giá nguyên liệu thumua để chế biến có thể lớn hơn là mua thành phẩm

* Về mức biến động lượng mua qua các năm:

- Hình thức mua từ các đơn vị chế biến: Năm 2003 hình thức mua từ các đơn vị

chế biến là 34.921,40 tấn Năm 2004 là 29.889,75 tấn, giảm so với năm 2004 là5.031,65 tấn, tương ứng là 14,41% Năm 2005 mua 24.274,20 tấn, tiếp tục giảm mộtlượng là 5.615,55 tấn, tương ứng là 18,79 % so với năm 2004

- Mua từ bạn hàng xáo: Năm 2003 mua gạo nguyên liệu chế biến ra được

8.354,61 tấn Năm 2004 chế biến được 8.966,93 tấn, tăng so với năm 2003 là 612,31tấn, tương ứng là 7,33 % Năm 2005 lượng chế biến được còn 5.124,55 tấn, giảm3.842,37 tấn, tương ứng 42,85% so với năm 2005

- Mua trực tiếp từ nông dân: Năm 2003 mua gạo nguyên liệu thu mua từ nông

dân chế biến được 928,29 tấn gạo thành phẩm Năm 2004 chế biến được 996,33 tấn,tăng 68,03 tấn, tương ứng 7,33 % Năm 2005 lượng gạo thu mua chế biến được569,39 tấn gạo thành phẩm, giảm 426,93 tấn tương ứng 42,85 %

Công ty ký hợp đồng xuất khẩu với các đối tác nước ngoài xong, dựa vào lượnggạo xuất khẩu đã ký trong hợp đồng mà Công ty thực hiện thu mua gạo thành phẩmhoặc gạo nguyên liệu chế biến để xuất theo các hợp đồng đó Do đó biến động lênxuống của lượng gạo thu mua qua các năm đều phụ thuộc vào lượng gạo xuất của cácnăm đó Tức là tổng lượng gạo thành phẩm xuất trong năm sẽ bằng tổng lượng gạothành phẩm thu mua và chế biến được trong năm đó (Công ty không thực hiện chínhsách tồn kho thành phẩm) Lý do Công ty không thực hiện chính sách tồn kho thànhphẩm là vì điều kiện bảo quản, dự trữ của Công ty còn nhiều hạn chế, khó khăn nhiềutrong việc khống chế ẩm độ tăng, sâu mọt, … và nhiều vấn đề khác (nguyên nhân làmgiảm chất lượng gạo dự trữ)

Tóm lại qua 3 năm nhìn chung lượng gạo thành phẩm mua từ các đơn vị chế biếnhay lượng gạo chế biến được từ gạo nguyên liệu đều giảm do lượng xuất giảm Nhưng

Trang 5

2 Tình hình thu mua gạo xuất khẩu theo loại gạo:

Việc phân loại gạo thu mua được chia thành 2 nhóm là: các loại gạo thành phẩm được thu mua (thuộc hình thức mua từ các đơn vị chế biến lương thực) và các loại gạo được chế biến từ việc thu mua gạo nguyên liệu (do phân Công ty phát lệnh mua xuống xưởng thu mua

từ hộ nông dân và từ thương lái)

- Thu mua gạo nguyên liệu của nông dân và thương lái: 3 năm 2003, 2004, 2005, Công ty chủ yếu chỉ thực hiện chế biến gạo 15% tấm

từ gạo nguyên liệu thu mua được Thành phẩm gạo 15% tấm chế biến của Công ty các năm qua đều chiếm tỷ lệ 20% trong tổng số thànhphẩm xuất cho các khách hàng nước ngoài

- Gạo thành phẩm thu mua từ các đơn vị chế biến lương thực thì chiếm tỷ trọng lớn gần 80% lượng gạo thành phẩm xuất cho các

khách hàng nước ngoài Gồm các loại 5%, 10%, 15%, và 25% tấm

Sau đây là số liệu cụ thể về tình hình mua các loại gạo qua 3 năm 2003-2005:

Bảng 3: Số liệu về thu mua các loại gạo qua 3 năm 2003-2005

So sánh 2004/2003 2005/2004 So sánh   Lượng (tấn) Giá trị (1000 đồng/tấn) Lượng (tấn) Giá trị (1000 đồng/tấn) Lượng (tấn) Giá trị (1000 đồng/tấn) Lượng (tấn) % Lượng (tấn) %

Gạo thành

phẩm 34.921,40 124.568.664,00 29.889,75 123.833.251,80 24.274,20 107.987.643,50 (5.031,65) (14,41) (5.615,55) (18,79)Gạo

Trang 6

0,00 5.000,00 10.000,00 15.000,00 20.000,00 25.000,00 30.000,00 35.000,00

- Gạo thành phẩm: Năm 2003 lượng gạo thành phẩm là 34.921,40 tấn Năm 2004

mua gạo thành phẩm là 29.889,75 tấn thấp hơn năm 2003 là 5.031,65 tấn, tương đương14,41% Năm 2005, thu mua 24.274,20 tấn, thấp hơn năm 2004 là 5.615,55 tấn tươngđương 18,79%

- Gạo nguyên liệu: Năm 2003 mua một lượng 10.118,36 tấn Năm 2004 mua

11.030,74 tấn, cao hơn năm 2003 là 912,38 tấn tương đương 9,02% Năm 2005, mua6.775,80 tấn giảm so với năm 2004 là 4.254,94 tương đương 38,57%

2.1 Gạo thành phẩm:

Gạo thành phẩm đặt mua thông qua các hợp đồng thu mua từ các doanh nghiệp tưnhân hoặc các doanh nghiệp nhà nước thông thường là gạo 5% tấm, gạo 10% tấm, gạo15% tấm và gạo 25% tấm

Trang 7

Sau đây là số liệu về tình hình thu mua gạo thành phẩm qua 3 năm 2003-2005:

Bảng 3a: Tình hình thu mua gạo thành phẩm qua 3 năm 2003-2005

Các loại gạo

  Lượng (tấn) Giá trị (1000 đồng/tấn) Lượng (tấn) Giá trị (1000 đồng/tấn) Lượng (tấn) Giá trị (1000 đồng/tấn) Lượng (tấn) % Lượng (tấn) %

Trang 8

0,00 5.000,00 10.000,00 15.000,00 20.000,00 25.000,00 30.000,00 35.000,00

Lượng (tấn)

Biểu đồ biểu diễn tình hình thu mua gạo thành

phẩm qua 3 năm 2003-2005

Gạo thành phẩm 5% tại kho không

bao bì, chưa VAT

500,00 1.438,60 786,95 Gạo thành phẩm 10% tại kho không

bao bì, chưa VAT

Gạo thành phẩm 15% tại kho không

bao bì, chưa VAT

2.371,75 19.792,05 23.487,25 Gạo thành phẩm 25% tại kho không

bao bì, chưa VAT

Nhìn vào biểu đồ trên, ta thấy:

- Năm 2003, Công ty thu mua nhiều nhất là gạo 25% tấm (32.049,65 tấn) Cácloại gạo khác chỉ chiếm một phần rất nhỏ Nguyên nhân là Công ty vẫn không đáp ứngđược các nhu cầu cao về chất lượng gạo nhập khẩu của các nước Thị phần Công ty cóthể xâm nhập chỉ là thị trường các nước có nhu cầu về giá thấp, chất lượng gạo thấp,

đó là gạo 25% tấm Năm 2003, khách hàng lớn của Công ty là Malaysia với lượngnhập là 20.134 tấn gạo 25% tấm, nó góp phần vào một lượng xuất lớn gạo 25% tấmcủa năm 2003 Từ hợp đồng xuất khẩu, Công ty mới thực hiện thu mua gạo thànhphẩm xuất khẩu, do đó gạo 25% tấm được thu mua nhiều nhất vào năm 2003

Trang 9

- Năm 2004, gạo 25% tấm không được thu mua nhiều nữa mà giảm xuống cònđứng hàng thứ hai, sau gạo 15% tấm Các loại gạo khác cũng tăng lượng mua vàonhưng với một lượng tăng tương đối, không lớn như gạo 15% tấm Năm nay có thêmgạo 10%, năm 2003 không có, nhưng chỉ thu mua với lượng thấp Do lượng gạo 15%tấm xuất khẩu tăng nên lượng thu mua cũng tăng Nguyên nhân tăng là do Công ty cóthêm một số hợp đồng mới của một số nước mới nhập gạo 15% tấm Đồng thời thịtrường lớn của Công ty là Malaysia cũng chuyển từ nhập gạo 25% tấm sang gạo 15%tấm nên làm cho lượng gạo 25% tấm xuất khẩu giảm, gạo 15% tấm xuất khẩu tăng.

- Năm 2005, gạo 25% giảm mạnh, không còn mua nữa Gạo 10% cũng khôngcòn mua thêm Gạo 5% cũng tương đối không giảm mạnh, nhưng vẫn ở sản lượng thumua thấp Chỉ gạo 15% tấm tăng hơn so với năm 2004, với lượng xuất là 23.487,25tấn), đứng thứ nhất, vượt xa về sản lượng thu mua so với năm 2003 Nguyên nhân làtrong năm này, Công ty chuẩn bị cho cổ phần hoá, chi phí nhiều cho tu sửa và các hoạtđộng cho việc cổ phần hoá, hoạt động xuất khẩu của Công ty không ổn định, do đólàm ảnh hưởng đến việc kinh doanh Nhiều thị trường bị mất, các hợp đồng xuất khẩunăm này chủ yếu là các thị trường truyền thống của Công ty Iran nhập gạo 5% tấmkhông đổi, sản lượng xuất chênh lệch không nhiều; malaysia, Philipines… nhập gạo15% tấm Ngoài ra Công ty cũng đã tìm thêm một thị trường tiềm năng mới đó làChâu Phi Thị trường này cũng nhập gạo 15% tấm, nên làm cho lượng xuất gạo 15%tấm năm này tăng

Trang 10

2.2 Gạo nguyên liệu:

Gạo nguyên liệu thu mua qua 3 năm 2003, 2004, 2005, Công ty chỉ dùng để chếbiến ra loại gạo 15% tấm

Bảng 3b: Tình hình thu mua gạo nguyên liệu qua 3 năm 2003-2005

Loại gạo

Lượng (tấn)

Giá (đồng/kg ) Lượng (tấn)

Giá (đồng/kg ) Lượng (tấn) (đồng/kg) Giá Gạo nguyên liệu 10.118,36 2.500 11.030,74 2.650 6.775,80 3.000

Thành phẩm tạo ra

từ gạo nguyên liệu

(gạo 15% tấm) 9.282,90 3.200 9.963,25 3.233 5.693,95 3.670

Nguồn: Phòng Kế toán, Năm 2003, 2004, 2005

Giá gạo nguyên liệu mua vào được tính theo thực tế thu mua; khi chế biến thànhgạo thành phẩm, Công ty tính giá thành của gạo thành phẩm chế biến được bằng vớigiá của gạo thành phẩm thu mua của thị trường Các chi phí chế biến đều được điềuchỉnh cho phù hợp để giá gạo thành phẩm không thấp hơn tổng chi phí chế biến ra nó.Việc điều chỉnh giá này do phân xưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm, Công ty khoáncho họ Nếu giá gạo thành phẩm thấp hơn chi phí chế biến thì phần thiếu này do phânxưởng chịu, ngược lại, phân xưởng sẽ được hưởng phần lợi nhuận đó

Lượng gạo nguyên liệu thu mua để chế biến do Công ty đặt một tỷ lệ ổn định quacác năm Như đã phân tích ở trên, khi ký hợp đồng thu mua gạo thành phẩm chế biếnsẵn sẽ làm giảm độ rủi ro hơn là thu mua gạo nguyên liệu để chế biến Cho nên tỷ lệthu mua gạo nguyên liệu là thấp, khoảng 20% Phần trăm này chỉ là % gạo thành phẩmchế biến được, do đó gạo nguyên liệu thu mua phải có một sự tính toán để có thể chếbiến ra đúng một lượng gạo thành phẩm theo yêu cầu là 20% trong tổng lượng gạothành phẩm thu mua trong năm hay cũng là tổng lượng gạo thành phẩm xuất khẩutrong năm

Trong các năm 2003-2005, Công ty chỉ thực hiện chế biến ra gạo 15% tấm

Trang 11

3 Giá thu mua

Số liệu về giá gạo mua vào trung bình của 3 năm 2003-2005:

Bảng 4: Giá mua vào của các loại gạo xuất khẩu qua 3 năm 2003-2005

Gạo thành phẩm 5% tại kho

Nguồn: Phòng Kế toán, Năm 2003, 2004, 2005

Biểu đồ giá gạo thu mua qua 3 năm 2003-2005

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000

Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005

Đồ thị 4: Mức biến động giá gạo thu mua qua 3 năm 2003-2005

Trang 12

- Gạo thành phẩm 5% tại kho không bao bì chưa VAT: năm 2003 có giá 3.350đồng / Kg; năm 2004 gái cũng là 3.350 đồng / Kg, không tăng cũng không giảm sovới năm 2003; năm 2005 có giá 3.730 đồng / Kg, tăng 380 đồng / Kg.

- Gạo thành phẩm 10% tại kho không bao bì chưaVAT: năm 2003 có giá 3.200đồng / Kg; năm 2004 tăng lên 3.233 đồng / Kg, tăng thêm 33 đồng / Kg; năm 2005 lạităng thành 3.670 đồng / Kg, tăng 437 đồng / Kg

- Gạo thành phẩm 15% tại kho không bao bì chưa VAT: năm 2003 có giá 3.183đồng / Kg; năm 2004 tăng lên 3.207 đồng / Kg, tăng thêm 24 đồng / Kg; năm 2005 lạităng thành 3.600 đồng / Kg, tăng 493 đồng / Kg

- Gạo thành phẩm 25% tại kho không bao bì chưa VAT: năm 2003 có giá 2.677đồng / Kg; năm 2004 tăng lên 2.717 đồng / Kg, tăng thêm 40 đồng / Kg; năm 2005 lạităng thành 3.530 đồng / Kg, tăng 813 đồng / Kg

Giá gạo trên đây là những con số trung bình của cả năm Còn giá cụ thể thì biếnđộng phức tạp theo từng ngày Giá gạo thu mua chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi 2 yêú tố

là giá gạo xuất khẩu và tính mùa vụ:

+ Khi giá gạo xuất khẩu tăng cao thì dẫn đến giá gạo thu mua tăng và ngược lại.+ Giá gạo thu mua hạ thấp khi vào mùa vụ; ngược lại khi qua vụ mùa, lúa gạokhan hiếm, đẩy giá tăng cao

Ngoài ra giá gạo thu mua còn tuỳ thuộc vào chất lượng lúa gạo Nếu lúa gạo bịsâu bệnh, hạt bể, gãy… thì không thể bán được giá cao như giá thị trường cùng thờiđiểm

Giá gạo có chất lượng cao tất nhiên sẽ cao hơn gạo có chất lượng kém hơn Quatừng năm giá gạo chỉ có tăng không giảm Nguyên nhân là cầu thế giới luôn ở mứccao, còn cung thì không ổn định, có khi là giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau Mức

độ tăng giá của năm 2005 so với năm 2004 cao hơn nhiều so với mức tăng giá của năm

2004 so với năm 2003 là do các nước xuất khẩu như Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ đều

bị hạn hán làm cho sản lượng giảm, mà cầu thế giới lại luôn ở mức cao nên dẫn đếngiá gạo thu mua tăng cao

Trang 13

4 Kết quả phân tích hoạt động thu mua:

Bảng 5: Tổng hợp các yếu tố của hoạt động thu mua

Loại gạo thu

mua

Hinh thức thu

Lượng (tấn)

Giá (1000 đồng/

tấn)

Lượng (tấn)

Giá (1000 đồng/

tấn)

Lượng (tấn)

Giá (1000 đồng/ tấn) Gạo nguyên

liệu

Thu mua bạn hàng xáo 9.106,53 2.500 9.927,67 2.650 6.098,22 3.000 

Thu mua trực tiếp nông dân 1.011,84 2.500 1.103,07 2.650 677,58 3.000

32.049,65 2.677 8.539,10 2.717

Nguồn: Phòng Kế toán, tổng hợp các bảng ở trên, Năm 2003, 2004, 2005

Nhận xét:

Nhìn vào bảng trên ta thấy:

- Gạo nguyên liệu là loại gạo thu mua theo hai hình thức là mua từ bạn hàng xáo

và mua trực tiếp nông dân Giá mua của gạo nguyên liệu so sánh tương quan với gạothành phẩm thì qua các năm trung bình đều thấp hơn Sản lượng thu mua cũng tươngđối thấp, chiếm khoảng 20% trong tổng lượng gạo thu mua

- Gạo thành phẩm của Công ty thu mua chủ yếu chỉ bằng hình thức thu mua từ

các đơn vị chế biến lương thực Lượng mua của gạo thành phẩm chiếm 80% tổng sốgạo thu mua để xuất khẩu Trong đó:

Trang 14

+ Gạo 5% tấm tương đối được thu mua đều qua các năm, sản lượng thấp nhưng

ổn định, tăng, giảm ít so với những loại gạo khác Giá thu mua là cao nhất so với cácloại khác

+ Gạo 10% tấm chỉ được thu mua vào năm 2004 với sản lượng tương đối thấp.Giá mua thấp hơn gạo 5% tấm, nhưng qua 3 năm giá đều cao hơn các loại khác

+ Gạo 15% tấm: là loại gạo có sản lượng mua nhiều nhất, qua mỗi năm mỗi tăng,đặc biệt là năm 2005, trong khi các loại gạo khác đều giảm thì gạo 15% tấm lại tăngsản lượng mua Giá mua trung bình thấp hơn gạo 5%, 10% và cao hơn gạo 25% tấm.+ Gạo 25% tấm: năm 2003 sản lượng mua vào cao nhưng sang năm 2004 giảmmạnh và không còn mua nữa trong năm 2005 Giá mua là thấp nhất

* Kết luận:

Liệu có duy trì được nguồn cung? Có một thực tế đối với các nước xuất khẩu

gạo là hầu như họ không phải lo đầu ra cho sản phẩm vì nhu cầu tiêu dùng gạo của thếgiới ngày càng cao, trong khi lượng cung luôn thấp hơn nhiều so với cầu Theo dựđoán của FAO trong vài thập kỷ tới, thế giới có hàng tỷ người thiếu đói lương thực,nhu cầu gạo tiêu dùng thế giới năm 2003 là 415,58 triệu tấn, năm 2004 là 414,16 triệutấn, năm 2005 là 418,18 triệu tấn Việt Nam là một cường quốc xuất khẩu gạo chiếm

tỷ trọng quan trọng trong thị trường thế giới (từ 12-18% thị trường gạo thế giới) Năm

2005, để duy trì được 3,9 triệu tấn xuất khẩu và tăng hơn nữa thì bản thân nông nghiệpViệt Nam phải duy trì và tăng diện tích năng suất trồng lúa Tuy nhiên đây lại là vấn

đề hết sức nan giải vì dự báo thách thức đối với tương lai cây lúa ở Việt Nam sẽ khôngnhỏ Đó là vấn đề sâu bệnh, hạn hán, lũ lụt, phèn mặn Bên cạnh nỗi lo lũ lụt, mấtmùa là nguy cơ cạnh tranh giữa các loại cây trồng có giá trị hơn trong cơ chế thịtrường đang dần lấn chỗ đứng cây lúa Có lẽ vấn đề bảo đảm an toàn lương thực quốcgia và đảm bảo nguồn cung ứng cho thị trường gạo thế giới không chỉ là vấn đề củanăm 2006 mà có lẽ còn là vấn đề lâu dài đối với chiến lược xuất khẩu gạo của ViệtNam trong nhiều năm tới

Thách thức về chất lượng và giá thành Để tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo

thì ngoài việc tăng khối lượng hàng xuất, việc cải tiến chất lượng để tăng giá thành làvấn đề hết sức quan trọng Trong những năm vừa qua để phù hợp với yêu cầu thịtrường, chất lượng gạo của Việt Nam đã được cải thiện một bước đáng kể, loại gạochất lượng trung bình chiếm tỷ lệ từ 22,4% (năm 1996) tăng lên 85% (năm 2003) Loạigạo chất lượng thấp chiếm tỷ lệ 23% giảm xuống còn 8% Nhưng so với gạo của TháiLan thì gạo xuất khẩu của Việt Nam phần lớn có chất lượng trung bình Qua khảo sátcho thấy gạo xuất 5% tấm của Việt Nam mới đạt 35%; 15% tấm chiếm 40%; 25% tấmchiếm 12%; các loại khác là 13% Do chất lượng gạo chưa cao nên giá bán bình quâncác loại gạo xuất khẩu luôn thấp hơn giá gạo bình quân của Thái Lan Khoảng cách

Trang 15

chênh lệch giá gạo xuất khẩu Việt Nam với Thái Lan loại 5% tấm năm 2000 là 50USD/tấn, nay tuy có rút ngắn nhưng gạo 5% tấm của ta vẫn thấp hơn từ 20-35USD/tấn so với Thái Lan Còn so sánh bình quân tất cả các loại gạo xuất khẩu thìhàng của ta luôn thấp hơn hàng Thái Lan khoảng 12-24 USD/tấn.

40-Thiếu đồng bộ trong sản xuất, thu mua và chế biến: Về sản xuất, đặc tính phân

tán, tự phát, quy mô nhỏ lẻ theo hộ gia đình vẫn là cản trở lớn cho việc sản xuất hàngloạt lúa chất lượng cao theo yêu cầu xuất khẩu gạo Mạng lưới thu mua, vận chuyểnlúa hàng hoá phục vụ xuất khẩu gạo vẫn phụ thuộc quá lớn vào thương lái, chưa có sựtham gia tích cực của các doanh nghiệp lương thực Nhà nước Bên cạnh đó, cơ sở vậtchất phục vụ chế biến, bảo quản xuất khẩu còn yếu kém, lại phân bố không đều Hệthống nhà máy xay xát, đánh bóng gạo xuất khẩu được cải tiến nhưng vẫn còn ít và xavùng nguyên liệu Do yếu trong khâu bảo quản như: lẫn chủng loại, độ ẩm cao, hạt lép,biến màu… nên khi thóc được chuyển đến cơ sở sản xuất đã giảm chất lượng Hiệnnay, phần lớn các cơ sở chế biến và kinh doanh chưa áp dụng tiêu chuẩn, kể cả tiêuchuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn cơ sở, cho sản phẩm của mình Những điều này tạo chokhách hàng những mặc định tâm lý không tốt về chất lượng gạo Việt Nam, mặc dùtrên thực tế, chúng ta không ngừng nỗ lực để nâng cao phẩm cấp hạt gạo

Thiếu tính dự báo: Việc tổ chức, điều hành xuất khẩu gạo như hiện nay cũng

đang bộc lộ những nhược điểm Kế hoạch xuất khẩu gạo được ấn định từ đầu nămtrong khi chưa biết kết quả sản xuất lúa trong năm như thế nào, do đó liên tục phảiđiều chỉnh Kế hoạch không gắn sát với thực tế sản xuất nên tính khả thi thấp Việcdựa vào “nhu cầu” của khách hàng theo hợp đồng ký kết để quyết định xuất khẩu gạo

cả năm mà chưa tính đến yếu tố “cung” là chưa hợp lý Bởi thực tế, “cung” có thể chịubiến động bởi ngoại cảnh khách quan Đã xuất hiện tình trạng một số hợp đồng được

ký từ đầu năm với giá thấp nhưng cuối năm giá cao nên nông dân không bán lúa theohợp đồng, dẫn đến tình trạng vỡ hợp đồng xuất khẩu gạo, làm giảm lòng tin của kháchhàng và thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo

Trang 16

II PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO:

1 Tình hình xuất khẩu gạo theo loại gạo:

Ở nước ta mà cụ thể là tại công ty, ta thực hiện phân loại gạo theo tỷ lệ tấm

Công ty thực hiện xuất khẩu gạo theo yêu cầu đặt hàng của khách hàng nước ngoài, theo hợp đồng xuất khẩu Tuỳ theo những thịtrường khác nhau, những nhu cầu khác nhau mà khách hàng có những yêu cầu khác nhau về chất lượng gạo xuất khẩu Thông thường Công

ty thường xuất khẩu gạo theo 3 loại chất lượng sau: Loại 5% tấm, 15% tấm và loại 25% tấm

Số liệu về tình hình xuất khẩu gạo theo chất lượng qua các thị trường của Công ty trong vòng 3 năm 2003-2005:

Bảng 6: Tình hình xuất khẩu gạo theo loại gạo, qua 3 năm 2003-2005:

Lượng (Tấn)

Giá Trị (1000 USD)

Lượng (Tấn)

Giá Trị (1000 USD)

Lượng (Tấn)

Giá Trị (1000 USD)

Trang 17

Đồ thị biểu diễn tình hình xuất khẩu gạo theo chất lượng gạo:

Năm 2003

Loại 25%;

32.049,65 ; 73%

Loại 5%;

500,00 ; 1%

Loại 15%;

11.654,65 ; 26%

Loại 15%;

29.755,30 ; 75%

Loại 5%;

786,95 ; 3%

Biểu đồ 5: Tình hình xuất khẩu của các loại gạo qua 3 năm 2003-2005

Trang 18

Nhận xét:

* Về khả năng đa dạng và mở rộng mức độ phẩm chất gạo xuất khẩu:

Qua 3 năm, loại gạo xuất khẩu của Công ty có nhiều thay đổi: Năm 2003: Công

ty xuất 3 loại gạo đó là gạo 5% tấm, 15% tấm và 25% tấm Sang năm 2005, số loại gạoxuất khẩu tăng lên 4 loại, ngoài 3 loại của năm 2003, còn có thêm loại 10% tấm.Nhưng sang năm 2005 thì loại gạo xuất khẩu chỉ còn lại có 2 loại đó là gạo 5% tấm vàgạo 15% tấm Điều đó nói lên rằng gạo 5% tấm và gạo 15% tấm là 2 loại gạo kinhdoanh có hiệu quả của Công ty

Công ty kinh doanh các mặt hàng gạo dựa trên hợp đồng đặt hàng của kháchhàng nước ngoài Sự mất đi các mặt hàng gạo 10% tấm và 25% tấm cũng chứng tỏ nhucầu của các thị trường của Công ty không có sự hài lòng thật sự đối với chất lượng củacác loại gạo này (Tuy nhiên việc không hài lòng về mặt nào thì cần có những phântích cụ thể hơn)

Khả năng đa dạng và mở rộng loại gạo xuất khẩu của Công ty còn nhiều hạn chế.Hầu hết các hợp đồng xuất khẩu của Công ty do các nhà nhập khẩu nước ngoài tự tìmđến Công ty Công ty hoàn toàn thụ động, không thể chủ động tìm khách hàng nướcngoài Đây là một hạn chế của Công ty do Công ty chưa chú trọng đến vấn đềmarketing, tìm kiếm khách hàng Điều này làm cho việc kinh doanh xuất khẩu gạo củaCông ty nhiều hạn chế, bị động hoàn toàn về sản lượng, loại gạo, thị trường xuất khẩu

* Về tỷ trọng xuất khẩu của các loại gạo:

Tỷ trọng xuất khẩu của 3 loại gạo thay đổi phức tạp, cụ thể như sau:

- Năm 2003: Loại gạo xuất khẩu đạt tỷ trọng cao nhất là gạo 25% tấm, chiếm73%; thứ hai là gạo 15% tấm, chiếm 26%; cuối cùng là gạo 5% tấm, chiếm 1% Các sốliệu đã cho thấy gạo kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả nhất năm 2003 là gạo 25% tấm,gạo có chất lượng tương đối thấp Cũng như đã nói ở trên, hạn chế của Công ty làkhông thể đáp ứng các nhu cầu về gạo chất lượng cao xuất khẩu nên hầu như năm

2003, lượng gạo 25% tấm xuất đạt tỷ trọng cao nhất

- Năm 2004: Gạo 15% tấm vượt lên đứng đầu với tỷ trọng xuất khẩu tăng từ 26%năm 2003 lên tới 75% năm 2004 Gạo 25% tấm lùi lại đứng thứ hai với tỷ trọng xuấtgiảm từ 73% năm 2003 xuống còn 21% năm 2004 Gạo 5% tấm đứng thứ 3 với tỷtrọng xuất khẩu tăng từ 1% năm 2003 lên 4% năm 2004 Cuối cùng là gạo 10% tấm(năm 2003 không có xuất mặt hàng này), lượng xuất trong năm 2004 là chưa tới 1%.Qua 2 năm 2003 và 2004 cho thấy, gạo chất lượng thấp có xu hướng giảm, còn gạochất lượng cao hơn thì lại có xu hướng tăng Điều này cho thấy nhu cầu thế giới vềchất lượng gạo xuất khẩu là ngày càng cao Năm 2004, chất lượng gạo xuất khẩu từngbước được cải thiện, giá thành lại tương đối thấp so với các đối thủ cạnh tranh, đặc

Trang 19

biệt là Thái Lan, nên gạo 15% tấm được xuất nhiều hơn, tăng tỷ trọng trong tổnglượng xuất.

- Năm 2005: Gạo 10% tấm, và 25% tấm giảm lượng xuất xuống còn 0%, loại gạomới xuất với số lượng ít chưa tới 1% trong năm 2004 (gạo 10% tấm) và loại gạo 25%tấm (gạo có chất lượng thấp) không còn được các nhà nhập khẩu đặt hàng nữa Điềucày chứng tỏ, gạo 10% tấm chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường nhập gạo nàytrong năm 2004 Còn gạo 25% thì không còn được nhiều nhà nhập khẩu ưa chuộngnữa Gạo chất lượng cao, gạo 5% tấm giảm nhẹ từ 4% xuống còn 3% Loại gạo nàykhông bị mất thị phần nhưng với chất lượng cung cấp của Công ty hiện nay thì chưa

đủ khả năng mở rộng thị trường, cần hoàn thiện hơn về khâu chất lượng Gạo 15%tăng mạnh từ 75% lên 97%, chiếm phần lớn kim ngạch xuất trong năm 2005 Đây làloại gạo chất lượng trung bình, nên chiếm được thị trường ngày một lớn Các nhu cầu

về gạo của các thị trường chính của Công ty ngày một tăng, năm 2005, gạo 25% khôngcòn được xuất nữa Thay vào đó là lượng gạo trung bình, giá tương đối đó là gạo 15%tấm

* Về tình hình biến động lượng xuất khẩu của các loại gạo:

- Loại gạo 5% tấm: Năm 2004 lượng xuất khẩu là 1.438,60 tấn, tăng tuyệt đối là

938,60 tấn so với năm 2003 (là 20.634 tấn), tương ứng lượng tương đối là 187,72 %.Năm 2005, lượng xuất khẩu lại giảm còn 786,95 tấn, giảm tuyệt đối là 651,65 tấn sovới năm 2004 (là14.464,5 tấn), tương ứng lượng tương đối là 45,30% Qua 3 năm2003-2004-2005 cho thấy, việc kinh doanh mặt hàng gạo chất lượng cao, gạo 5% tấmcủa công ty biến động lên xuống bình thường, không có nhiều bức phá vì các thịtrường nhập gạo 5% tấm của Công ty là Iran, Iraq, macau là những thị trường truyềnthống, không có nhiều thay đổi lớn trong các hợp đồng thu mua Mặt khác, Công ty lạikhông thể mở rộng thêm các thị trường mới nên không làm tăng sản lượng gạo 5% tấmxuất

- Loại 10% tấm: chỉ xuất vào năm 2004 là 120,00 tấn, sang năm 2005 thì không

còn xuất nữa Đây không là thị trường truyền thống của Công ty nên năm 2004 là nămkinh doanh có hiệu quả nên Công ty có thể xuất sang thị trường này Nhưng năm 2005việc kinh doanh chậm lại, thị trường này bị mất là một điêù đương nhiên

- Loại 15% tấm: Lượng xuất khẩu của năm 2004 là 29.755,30 tấn, so với năm

2003 là 11.654,65 tấn, tăng tuyệt đối là 18.100,65 tấn, tương ứng lượng tương đối là155,31 % Năm 2005 xuất 29.181,20 tấn, lại giảm so với năm 2004 (29.755,30 tấn)một lượng tuyệt đối là 574,10 tấn, tương ứng lượng tương đối là 1,93% Loại gạo nàycũng có xu hướng biến động lên xuống nhưng chỉ ở mức độ nhẹ Vì chất lượng gạotrung bình nên có xu hướng được tiêu dùng tăng mạnh vào năm 2004 (chất lượng gạochấp nhận được, giá tương đối rẻ), năm 2005 chỉ giảm nhẹ không đáng kể Có thể nóiđây là loại gạo kinh doanh có hiệu quả của Công ty

Trang 20

- Loại gạo 25% tấm: Lượng xuất khẩu năm 2004 so với năm 2003 giảm tuyệt đối

là 23.510,55 tấn, tương ứng lượng tương đối là 73,36% Năm 2005 lượng xuất khẩu lạitiếp tục giảm xuống không còn được xuất nữa Giảm lượng tuyệt đối 8.539,10 tấn,tương ứng lượng tương đối là 100% so với năm 2004 Lý do là thị trường lớn của công

ty là Malaysia đã chuyển từ nhập gạo 25% tấm năm 2003 sang nhập gạo 15% tấm cácnăm 2004 và 2005, do đó lượng xuất gạo 25% tấm giảm và đi đến không còn đượcxuất vào năm 2005 khi Công ty bị mất luôn thị trường gạo này là Indonesia vàPhilipines (Lý do cũng tương tự Malaysia, do nhu cầu về chất lượng gạo ngày càngtăng: Indonesia thì chuyển từ nhập uỷ thác gạo 25% tấm thành nhập uỷ thác gạo 15%tấm; Philipines thì không còn nhập nữa do gạo chất lượng cao hơn gạo 25% tấm khôngđạt yêu cầu nhập khẩu của họ)

Tóm lại, qua 3 năm cho thấy, đối với Công ty hiện nay, việc đáp ứng nhu cầucủa các thị trường khó tính là một khó khăn, Công ty không thể mở rộng thị trường vớiloại gạo chất lượng cao Ngược lại, với việc mở rộng thị trường loại gạo có chất lượngthông thường, trung bình cho các thị trường dễ tính hơn thì lại là một việc làm đem lạinhiều thành công và lợi nhuận cho Công ty Đặc biệt là thị trường Châu phi, một thịtrường tiềm năng mới của Công ty cho loại gạo chất lượng trung bình giá trung bình(gạo 15% tấm)

Trang 21

2 Tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường:

Gạo ngày càng phổ biến và được ưa chuộng với nhiều người trên thế giới và rấthay thay đổi theo từng quốc gia Phẩm chất gạo thay đổi theo thị hiếu con người ở mỗinơi nên một loại gạo thượng hạng ở thị trường này có khi lại trở thành hạng bét ở thịtruờng khác

Một cách tổng quát, nước nào có mức sống càng cao thì càng ít tiêu thụ gạonhưng lại sẵn sàng trả giá cao cho các loại gạo tốt Các nước có nhu cầu gạo với khốilượng lớn, giá vừa phải gồm: Bangladesh, Indonesia, Srilanca và nhiều quốc gia ở TâyChâu Phi Một số nước phải chuyển sang mua 100% tấm để ăn cho rẻ thay vì làm bia

và thức ăn gia súc Nhu cầu mới này làm cho giá tấm nhảy vọt lên đến 75% giá gạo(thay vì chỉ bằng 50%) Một số nước đã bắt đầu quen ăn tấm nên các nhà xuất khẩu lại

bẻ gạo thành tấm để có thể xuất khẩu khối lượng lớn

 Trái lại, Người tiêu dùng ở Thái Lan thích loại gạo hạt rất dài, loại hìnhIndica, gạo lúa cũ (tồn trữ thóc nhiều tháng) chà trắng, cao giá hơn gạo từ thóc mới thuhoạch (lúa mới), hàm lượng amylose trung bình, cơm mềm không được dính, cơm xốpthì ngon

- Châu Phi:

 Một số nước Tây Châu Phi sẽ trả giá rất cao nếu hạt gạo hơi có màu đỏ

 Vùng Tây Châu Phi, Banladesh và nhiều bang của Ấn Độ rất thích gạo đồ(parboiled rice) vì dễ nấu và họ cảm thấy ngon cơm Đây là loại gạo được chế biến từthóc đã được luộc bằng hơi nước, sau phơi khô và xay chà làm thực phẩm

- Châu Âu:

 Trái lại ở Châu Âu người tiêu dùng thích gạo hạt dài, nhưng không được cóbất kỳ mùi gì Họ cho rằng mùi là tín hiệu tạp nhiễm hoặc hiện tượng gạo bị hư hỏng,thà ăn bánh mì còn hơn

Trang 22

- Châu Mỹ:

 Dân Mỹ đòi gạo phải trắng hoàn toàn, nếu có một ít vết đỏ hoặc vàng hoặc

có sọc trên hạt thì họ chi trả bằng giá phân nữa mặc dù giá trị dinh dưỡng không có gìkhác nhau

 Ngược lại ở thị trường Châu Mỹ La tinh người dân thích gạo có vỏ lụa màu

đỏ như gạo Huyết Rồng của Việt Nam trước đây

 Trái lại, người tiêu dùng ở Nam Mỹ, Mỹ La tinh cho rằng ăn gạo đồ giốngnhư nhai cao su, họ thích gạo lức hơn Gạo đồ với kỹ thuật cải tiến của Mỹ đã loại trừđược hai nhược điểm chính của nó là “mùi hôi” và “màu hạt gạo hơi vàng” Gạo đồhạt gạo trắng là loại cao cấp được phục vụ tại những khách sạn sang trọng hoặc trênmột vài hãng hàng không Hương vị đậm đà, đặc sắc của nó có được nhờ nhiệt độ caokhi xử lý hạt thóc làm các tinh thể Protein di chuyển sâu vào bên trong phôi nhũ Cơm

có giá trị dinh dưỡng cao hơn, hạt thóc tồn trữ ít bị sâu bệnh hại hơn

Trang 23

2.2 Phân tích tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường:

Số liệu về tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường qua 3 năm 2003-2005

Bảng7: Bảng tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường, qua 3 năm 2003-2005

Nước xuất khẩu Lượng

(Tấn)

Giá Trị (1000 USD)

Lượng (Tấn)

Giá Trị (1000 USD)

Lượng (Tấn)

Giá Trị (1000 USD)

Trang 24

Tình hình xuất khẩu gạo qua các thị trường được biểu diễn bằng đồ thị sau:

Iraq; 500,00 ; 1%

Tanzania;

1.499,65 ; 3%

Malaysia;

20.134,00 ; 46%

Malaysia;

12.251,90 ; 32%

Turkey; 72,00 ; 0%

Timor; 750,00 ; 2%

Năm 2005

Philipines;

17.464,75 ; 57%

Iran; 498,95 ; 2%

Trang 25

Nhận xét:

* Về khả năng đa dạng và mở rộng thị trường:

Nhìn vào đồ thị 3 năm, tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường của Công ty cũng

có nhiều biến động

- Năm 2003, Công ty chiếm được 6 thị trường với những thị phần khác nhau.Trong đó, thị trường lớn nhất là Malaysia, kế đến là Philipines, Indonesia, Singapore,Tanzania và nhỏ nhất là thị trường Iraq

- Sang năm 2004, Công ty chiếm thêm 4 thị trường mới nữa, nhưng lại mất đihai thị trường cũ là Singapore và Tanzania Tổng cộng Công ty có được 8 thị trườngtrong năm 2004 Lớn nhất cũng vẫn là Malaysia, kế đến là Philipines, đặc biệt là ChâuPhi, một thị trường mới của Công ty trong năm 2004 nhưng lại chiếm hơn 1/5 tỷ trọngxuất khẩu, thị trường lớn đứng thứ 3 Kế đến đứng thứ tư là Indonesia, và một số thịtrường nhỏ như: Guinea, Iraq, Đông Timor, Macau, Thổ Nhỹ Kỳ (Turkey) và Algeria.Điều này cho thấy khả năng mở rộng thị trường của Công ty trong năm 2004 là rấtthành công Nguyên nhân là do Công ty có một sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, thànhphần lãnh đạo Công ty có sự thay đổi dẫn đến chính sách Công ty thay đổi, hoạt độngcông ty hiệu quả hơn

- Năm 2005, Công ty giữ quan hệ làm ăn lại với Singapore nhưng với một tỷtrọng xuất rất nhỏ Vẫn duy trì thị trường Thổ Nhỹ Kỳ (Turkey) mặc dù tỷ trọng xuấtcủa nó là khá nhỏ Bị mất đi một số thị trường như: Guinea, Iraq, Đông Timor, Macau,Algeria Thay vào đó là Công ty đặt quan hệ làm ăn mới với Iran và Uganda VớiMalaysia và Châu phi ta bị giảm tỷ trọng xuất nhưng vẫn là hai thị trường lớn trongnăm 2005 Thị trường Philipines được mở rộng nhiều so với các năm trước, vươn lênđứng thứ nhất chiếm hơn 1/2 tỷ trọng xuất khẩu gạo của Công ty trong năm Điều nàynói lên rằng, sự mở rộng thị trường của Công ty đã đi đến bước chọn lọc, chọn ra đượcnhững thị trường có tiềm năng nhất của Công ty mà mở rộng thị phần, còn những thịtrường có sức mua yếu thì Công ty có thể đặt nhẹ sự quan tâm

Vì Công ty đang trong tình trạng chuyển hoá giữa hình thức nhà nước sang cổphần Nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh Công ty Do đó điều cần làm hiện nay là

ổn định Công ty, củng cố sức mạnh nội tại để đi vào hoạt động hiệu quả, sau đó mới

có thể nâng cao sức cạnh tranh, phát triển kinh doanh Điều quan trọng là giá trị xuấtkhẩu và sản lượng xuất khẩu, nếu thị trường nhiều mà giá trị xuất và số lượng xuất ítthì không đem lại hiệu quả kinh tế Đồng thời chính sách chọn lọc thị trường cũng làmột trong những chính sách marketing Công ty chọn lựa, chỉ tập trung vào một số thịtrường có tiềm năng đem lại hiệu quả cao chứ không dàn trãi ra nhiều thị trường, chiphí cao, không dem lại hiệu quả lớn

Trang 26

* Về tỷ trọng xuất khẩu của các loại gạo vào các thị trường:

- Năm 2003: Tỷ trọng xuất khẩu gạo vào thị trường Malaysia là cao nhất, chiếm46%; thứ hai là Philipine, chiếm 23%; thứ ba là Indonesia, chiếm 21%; thứ tư làSingapore, chiếm 6%; thứ năm là Tanzania, chiếm 3% và cuối cùng là Iraq, chiếm 1%.Qua số liệu trên cho thấy, thị trường lớn nhất, có quan hệ làm ăn tốt nhất với Công tytrong năm 2003 là Malaysia Nguyên nhân là vì Malaysia là thị trường từ trước đếnnay của công ty- có thể gọi là thị trường truyền thống của công ty Thị trường này yêucầu chất lượng gạo không cao, giá lại tương đối, Công ty ta nhà cung cấp phù hợp vớithị trường này Tương tự singapore, Philiines, indonesia là những thị trường khó tínhhơn về chất lượng gạo xuất khẩu, nhưng giá xuất của ta là một đểm thu hút các nhànhập khẩu của các thị trường đó

- Năm 2004: Malaysia vẫn là thị trường nhập khẩu gạo của Công ty nhiều nhất,mặc dù tỷ trọng xuất khẩu vào thị trường này có giảm đi từ 46% năm 2003 xuống còn32% năm 2004 Tương tự như Malaysia, Philipines vẫn đứng thứ 2 về tỷ trọng xuấtkhẩu vào các thị trường của Công ty trong năm 2003; nhưng tỷ trọng xuất khẩu vàoPhilipines lại tăng ít, từ 23% năm 2003 lên 25% năm 2004 Tỷ trọng xuất khẩu vàoIndonesia từ đứng thứ 3 trong năm 2003 thì năm 2004 lại sụt xuống hàng thứ 4, giảm

từ 21% năm 2003 xuống còn 13% năm 2004 Châu Phi là một thị trường mới trongnăm 2004 nhưng Công ty đã có tỷ trọng xuất vào thị trường này lớn xếp thứ 3, chiếm21% (vì đây là một khúc thị trường mới với dân số đông và phần lớn là thuộc thànhphần nghèo khổ Nhu cầu của thị trường này là chất lượng gạo không cần cao và giánhất định phải rẻ) Với thị trường Iraq, Công ty cũng có tỷ trọng xuất vào thị trườngnày tăng nhẹ từ 1% năm 2003 lên 3% năm 2004 Trong năm 2004, Công ty đã bị mất

đi 3% tỷ trọng xuất khẩu gạo vào thị trường Tanzania Nhưng bù lại, Công ty lại cóthêm một số thị trường mới như: Guinea (4%), Đông Timor (2%), Macau, Thổ Nhỹ

Kỳ (Turkey), và Algeria Đây là năm kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả không nhữngcủa công ty mà của cả nước Việt Nam, nhiều thị trường mới ký hợp đồng với công ty.Xong, đây chỉ là những thị trường với sức mua nhỏ, Malaysia, Indonesia, Philipinesvẫn là những thị trường chính

- Năm 2005: Trong năm này, tỷ trọng xuất khẩu vào thị trường Philipines tăngvọt lên đứng hàng thứ 1, từ 25% năm 2004 tăng lên đến 57% năm 2005 Châu Phi thìvươn lên đứng thứ 2 nhưng tỷ trọng xuất vào thị trường này lại giảm từ 21% năm 2004xuống còn 18% năm 2005 Malaysia được xếp hàng thứ 3 với tỷ trọng xuất vào thịtrường này giảm từ 32% năm 2004 xuống 15% năm 2005 Công ty lại bị mất đi nhữngthị trường mới ở năm 2004 là: Guinea (4%), Đông Timor (2%), Macau, và Algeria.Riêng thị trường Thổ Nhỹ Kỳ (Turkey) vẫn còn với tỷ trọng xuất vào thị trường nàytăng nhẹ từ chưa được 1 % năm 2004 lên 1% trong năm 2005 Năm này, Công ty lại

có thêm 2 thị trường mới với tỷ trọng xuất vào thị trường này cũng khá cao là: Uganda

Trang 27

(7%), Iran (2%) (điều thu hút hai thị trường này là giá rẻ hơn tất nhiều so với Thái Lan

và chất lượng gạo họ cũng có thể tạm chấp nhận được) Năm này lượng gạo xuất trựctiếp của Công ty giảm, kinh doanh gạo xuất khẩu bắt đầu chựng lại, Công ty tăng sảnlượng xuất qua Philipines bằng hình thức uỷ thác Do đó Philipines trở thành thịtrường lớn của Công ty trong năm này Châu Phi là thị trường mới công ty phát hiệnđược, đây là một thị trường tiềm năng của Công ty trong tương lai

* Về tình hình biến động lượng xuất khẩu ở các thị trường:

- Malaysia: Lượng xuất khẩu sang Malaysia năm 2003 là 20.134 tấn Qua năm

2004, lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm còn 12.251,9 tấn; giảm một lượngtuyệt đối là 7.882,1 tấn, tương ứng số tương đối là 39,15% Năm 2005, lượng xuất lạigiảm mạnh còn 4.392 tấn, giảm tương đối là 7.859,9 tấn, tương ứng số tuyệt đối là64,15% Đây là thị trường lớn nhất của Công ty (năm 2003) nhưng dần dần lượng xuấtqua thị trường này lại giảm, nguyên nhân chủ yếu là do Malaysia chuyển từ nhập gạo25% tấm sang gạo 15% tấm, nhu cầu về tiêu dùng gạo cao hơn và một số nhà nhậpkhẩu của nước này sẽ phải chọn những nhà cung cấp khác với chất lượng gạo cao hơncủa Công ty

- Singapore: Lượng xuất sang thị trường này năm 2003 là 2.605 tấn Năm 2004,

Công ty bị mất đi thị trường này, giảm lượng tuyệt đối đúng bằng lượng xuất năm

2003 là 2.605 tấn, tương ứng số tương đối 100% Năm 2005, Lượng xuất là 66 tấn,tăng tuyệt đối 66 tấn so với năm 2004, tương ứng số tương đối 100% Đây là thịtrường lớn thứ 2 năm 2003, nhưng do yêu cầu ngày càng cao về chất lượng gạo nhậpkhẩu nên Công ty ta khó đáp ứng được Vì vậy chiếm lĩnh được thị trường này là mộtđiều không dễ đối với Công ty

- Indonesia: Cũng là một thị trường khó tính Năm 2003, lượng xuất sang thị

trường này là 9.120,4 tấn Năm 2004, giảm còn 5.309,7 tấn, giảm tuyệt đối là 3.810,7tấn, tương ứng số tương đối là 41,78% Nhưng sang năm 2005 thì không còn xuất sangthị trường này nữa

- Philipines: Có thể nói đây là một trong những thị trường dễ tính, lượng xuất

sang thị trường này có giảm nhưng rồi cũng tăng Năm 2003 xuất 10.345,25 tấn Năm

2004, lượng xuất là 9.889,1 tấn, giảm nhẹ một lượng tuyệt đối là 456,15 tấn, tươngứng số tương đối là 4,41% Năm 2005, lượng xuất sang thị trường này lại tăng lên17.464,75 tấn, tăng 7.575,65 tấn so với năm 2004, tương ứng lượng tương đối là76,61% Nhu cầu của thị trường này lớn nhưng do khả năng của Công ty về marketingcòn nhiều hạn chế nên dẫn đến việc xuất trực tiếp vào thị trường này ngày một giảm.Sang năm 2005, nhờ vào hình thức xuất uỷ thác Công ty mới làm tăng sản lượng xuấtsang thị trường này

Trang 28

- Tanzania: Chỉ xuất vào thị trường này 1.499,65 tấn vào năm 2003 Từ đó về

sau không còn xuất sang thị trường này nữa Vì đây là một trong những thị trường cónhu cầu về chất lượng cao mà Công ty không thể đáp ứng được

- Iraq: Năm 2003, xuất sang thị trường này một lượng là 500 tấn Năm 2004,

xuất tiếp một lượng là 1.390,6 tấn, tăng so với năm 2003 là 890,6 tấn, tương ứng sốtương đối là 178,12% Nhưng qua năm 2005, do đây là một thị trường không ổn định.Chiến tranh thường xuyên, những biến động về chính trị là nguyên nhân dẫn đến việcnhập gạo của công ty có nhiều thay đổi

- Châu Phi và Thổ Nhĩ Kỳ là những thị trường có thể mở rộng của Công ty Châu

Phi là một thị trường lớn, lượng xuất năm 2004 là 8.522,5 tấn Năm 2005, lượng xuất

là 5.256,7, giảm 3.265,8 tấn tương ứng lượng tuyệt đối là 38,32% Vì thị trường nàycần chủ yếu là gạo giá rẻ chứ không chú trọng nhiều đến chất lượng gạo, mặt khác dânChâu Phi phần lớn là đông và nghèo, do đó nó là một thị trường tiềm năng của công tytrong thời gian tới Nhưng đây là thị trường mới, cần có những chính sách kinh doanhphù hợp Thổ Nhĩ Kỳ cũng là giống như Châu Phi là thị trường mới, nhưng nó nhỏhơn Châu Phi Lượng xuất năm 2004 là 72 tấn Năm 2005 là 288 tấn, tăng 216 tấn,tương ứng lượng tương đối là 300% Đây là thị trường có sức mua nhỏ và cũng là thịtrường mới, cần có sự xem xét trong tương lai

- Algeria, Macau, Guinea, Đông Timor là 4 thị trường mới năm 2004, với lượng

xuất là Algeria (120 tấn), Macau (48 tấn), Guinea (1.499,2 tấn), Đông Timor (750 tấn).Sang năm 2005 thì không còn xuất sang những thị trường này nữa Do năm 2004 lànăm được mùa, xuất nhiều, thị trường xuất cũng nhiều, nhưng sang năm 2005 thì sảnlượng gạo xuất giảm, cần cân nhắc những thị trường chủ yếu hơn là những thị trườngmới này

- Uganda và Iran: là 2 thị trường mới của năm 2005 Lượng xuất khẩu sang

Uganda là 2001,75 tấn; Iran là 498,95 tấn

Nhìn chung năm 2004 là năm xuất khẩu có hiệu quả nhất của Công ty Nhưngsang năm 2005 thì tình hình xấu hơn, công ty bị mất một số thị trường nhỏ Một phầncòn do công ty không có những chính sách marketing phù hợp để kéo giữ khách hàng,tìm khách hàng mới; một phần do sản lượng gạo xuất giảm và một nguyên nhân đángquan tâm đó là chất lượng gạo xuất của Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu nhậpkhẩu của các nước có đòi hỏi cao về chất lượng gạo nhập khẩu

Ngày đăng: 20/10/2013, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 5: Các hình thức của hoạt động thu mua gạo xuất khẩu của Công ty - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Sơ đồ 5 Các hình thức của hoạt động thu mua gạo xuất khẩu của Công ty (Trang 1)
Bảng 2: Số liệu về thu mua gạo theo hình thức thu mua qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 2 Số liệu về thu mua gạo theo hình thức thu mua qua 3 năm 2003-2005 (Trang 2)
Bảng 3: Số liệu về thu mua các loại gạo qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 3 Số liệu về thu mua các loại gạo qua 3 năm 2003-2005 (Trang 6)
Bảng 3a: Tình hình thu mua gạo thành phẩm qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 3a Tình hình thu mua gạo thành phẩm qua 3 năm 2003-2005 (Trang 8)
Bảng 3b: Tình hình thu mua gạo  nguyên liệu qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 3b Tình hình thu mua gạo nguyên liệu qua 3 năm 2003-2005 (Trang 11)
Bảng 4: Giá mua vào của các loại gạo xuất khẩu qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 4 Giá mua vào của các loại gạo xuất khẩu qua 3 năm 2003-2005 (Trang 12)
Bảng 6: Tình hình xuất khẩu gạo theo loại  gạo, qua 3 năm 2003-2005: - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 6 Tình hình xuất khẩu gạo theo loại gạo, qua 3 năm 2003-2005: (Trang 17)
Bảng7: Bảng tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường, qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 7 Bảng tình hình xuất khẩu gạo theo thị trường, qua 3 năm 2003-2005 (Trang 24)
Bảng 8 : Chi phí bao bì, nhãn mác qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 8 Chi phí bao bì, nhãn mác qua 3 năm 2003-2005 (Trang 30)
Bảng 10: So sánh giá xuất khẩu gạo, qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 10 So sánh giá xuất khẩu gạo, qua 3 năm 2003-2005 (Trang 35)
Bảng 11: Tình hình xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu, qua 3 năm 2003-2005 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 11 Tình hình xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu, qua 3 năm 2003-2005 (Trang 38)
Bảng 15: Sự tổn thất sau thu hoạch - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 15 Sự tổn thất sau thu hoạch (Trang 51)
Bảng 18: Đầu tư cho nghiên cứu khoa học của Việt Nam và Thái Lan - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU MUA VÀ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY THỰC PHẨM NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ (MEKONIMEX NS)
Bảng 18 Đầu tư cho nghiên cứu khoa học của Việt Nam và Thái Lan (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w