Quy trình và kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng lên quyết định kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare tại Việt Nam...23 Quy trình nghiên cứu.
Trang 1-PHẠM THỊ THANH THÚY
GIẢI PHÁP GIA TĂNG QUYẾT ĐỊNH KÊ ĐƠN
CỦA BÁC SĨ CHO THUỐC ĐIỀU TRỊ DỌA SẨY THAI, DỌA SINH NON CỦA BESINS HEALTHCARE TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜ G ĐẠIHỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-PHẠM THỊ THANH THÚY
GIẢI PHÁP GIA TĂNG QUYẾT ĐỊNH KÊ ĐƠN
CỦA BÁC SĨ CHO THUỐC ĐIỀU TRỊ DỌA SẨY THAI, DỌA SINH NON CỦA BESINS HEALTHCARE TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Hướng nghề nghiệp)
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCTS NGUYỄN HỮU QUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của Besins Healthcare tại Việt Nam” là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn được thu thập và xử lý một cách trung thực, nộidung trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc Những kết quả nghiên cứu được trìnhbày trong luận văn này là thành quả lao động của tôi dưới sự giúp đỡ của giáo viênhướng dẫn là TS Nguyễn Hữu Quyền Những kết luận khoa học của luận văn chưatừng được ai công bố trong bất kì công trình nào
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn không sao chép lại bất kì một côngtrình nào đã có từ trước
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH KÊ ĐƠN CỦA BÁC SĨ CHO THUỐC ĐIỀU TRỊ DỌA SẨY THAI, DỌA SINH NON 4
Đặc điểm thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non tại Việt Nam 4 Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non 4
Phân loại thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non 5
Vài nét về thực trạng thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non hiện nay 5
Đặc điểm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare 6
Những vấn đề cơ bản về quyết định kê đơn thuốc 7
Trang 51.2.2.2 Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) 9
Các nghiên cứu trước về quyết định kê đơn thuốc của bác sĩ 11
Mô hình Kareem và cộng sự (2011) 11
Mô hình Saad Shamim-ul-Haq và cộng sự (2014) 13
Mô hình Phạm Xuân Cường (2013) 13
Thiết kế nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất 14
Tóm tắt chương 1 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUYẾT ĐỊNH KÊ ĐƠN CỦA BÁC SĨ CHO THUỐC ĐIỀU TRỊ DỌA SẨY THAI, DỌA SINH NON CỦA CÔNG TY BESINS HEALTHCARE VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 19
2.1 Giới thiệu về Công ty Besins Healthcare 19
Giới thiệu chung 19
Tầm nhìn và sứ mệnh 20
Kết quả hoạt động kinh doanh của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare tại Việt Nam 2010 – 2015 21
2.2 Quy trình và kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng lên quyết định kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare tại Việt Nam 23
Quy trình nghiên cứu 23
Nghiên cứu định tính 24
Nghiên cứu chính thức 27
Trang 6Kết quả nghiên cứu 32
2.3 Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kê đơn thuốc của công ty 36
Giá cả thuốc 36
Chất lượng thuốc 37
Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc 39
Chương trình marketing của công ty dược 39
Sự chuyên nghiệp của trình dược viên 41
Nguồn tham khảo chuyên môn cho bác sĩ về thuốc 43
Kinh nghiệm và quan niệm của bác sĩ 46
Tóm tắt chương 2 46
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIA TĂNG QUYẾT ĐỊNH KÊ ĐƠN CỦA BÁC SĨ CHO THUỐC ĐIỀU TRỊ DỌA SẨY THAI, DỌA SINH NON TẠI BESINS HEALTHCARE 47
3.1 Căn cứ xây dựng giải pháp 47
3.2 Giải pháp gia tăng quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non tại Besins Healthcare 49
Xây dựng chính sách giá hợp lý 49
Nâng cao chất lượng thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non 51
Hoàn thiện hoạt động chiêu thị - Tăng cường quảng bá tên tuổi thương hiệu công ty 53
Nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của trình dược viên 65
Xây dựng các nguồn tham khảo chuyên môn về thuốc cho các bác sĩ sản phụ khoa 69
Trang 7KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA : Phương pháp phân tích phương sai (Analysis of Variance)
BSCKII : Bác sĩ chuyên khoa II
COGI : Hội nghị về các tranh luận trong sản khoa, phụ khoa và vô sinh
(Congress on Controversies in Obstetrics, Gynecology & Infertility)
EHSRE : Hiệp hội về sinh sản và phôi người châu Âu (European Society of
Human Reproduction & Embryology)
FIGO : Hiệp hội sản phụ khoa quốc tế (The International Federation of
Gynecology and Obstetrics)GMP-WHO : Thực hành tốt sản xuất theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới
(Good Manufacturing Practice-World Health Organization)
HOSREM : Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh TP HCM (Hochiminh City
Society of Reproductive Medicine)
KPI : Công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả công việc (Key
Performance IndicatorsOPPTIMUM : Nghiên cứu lâm sàng về sử dụng progesterone để dự phòng sinh
non cho thai phụ có nguy cơ cao (DOes Progesterone Prophylaxis
To prevent preterm labour IMprove oUtcoMe?)
Trang 9S European School in Perinatal, Neonatal and
Reproductive Medicine)
PROMISE : Nghiên cứu lâm sàng về sử dụng progesterone
cho bệnh nhân sẩy thai liên tiếp (PROgesterone in recurrent MIScarriage Trial)
RR
: Chỉ số Relative Risk
SWOT
: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, rủi ro (Strength, Weekness, Opportunity, Threat)
TP
HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
VAGO
: Hội phụ sản Việt Nam (Vietnam Association of Gynaecology & Obstetrics)
VNĐ
: Việt Nam Đồng
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của nhóm thuốc Hormone Progestins
Bảng 2.2 Doanh thu của nhóm thuốc Hormone Progestins tại nhà thuốc dịch vụ của top 10 bệnh viện phụ sản trên cả nước
Bảng 2.3 Danh sách chuyên gia tham gia thảo luận tay đôi
Bảng 2.4 Mã hóa thang đo thành phần Giá cả thuốc
Bảng 2.5 Mã hóa thang đo thành phần Chất lượng thuốc
Bảng 2.6 Mã hóa thang đo thành phần Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốcBảng 2.7 Mã hóa thang đo thành phần Chương trình marketing của công ty dượcBảng 2.8 Mã hóa thang đo thành phần Sự chuyên nghiệp của trình dược viên
Bảng 2.9 Mã hóa thang đo thành phần Nguồn tham khảo chuyên môn về thuốcBảng 2.10 Mã hóa thang đo thành phần Kinh nghiệm và quan niệm của bác sĩBảng 2.11 Mã hóa thang đo Quyết định kê đơn thuốc
Bảng 2.12 Phân loại mẫu thống kê
Bảng 2.13 Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’alpha
Bảng 2.14 Bảng giá thuốc của công ty Besins Healthcare và các đối thủ
Bảng 2.15 Bảng đánh giá chất lượng thuốc của Besins Healthcare và các đối thủBảng 2.16 Thống kê các chương trình marketing của Besins Healthcare và các đối thủ trong năm 2015
Bảng 2.17 Chương trình huấn luyện cho trình dược viên của công ty Besins
Healthcare năm 2015
Bảng 2.18 Danh sách các ấn phẩm chuyên ngành sản phụ khoa năm 2015
Bảng 2.19 Danh sách các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo chuyên ngành sản phụ khoa năm 2015
Trang 11sinh non công ty Besins Healthcare
Bảng 3.3 Danh sách các tài liệu thông tin y khoa đề xuất cho của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non công ty Besins Healthcare
Bảng 3.4 Danh sách các hoạt động tài trợ Hội nghị khoa học chuyên ngành sản phụ khoa đề xuất cho công ty Besins Healthcare trong 1 năm
Bảng 3.5 Chương trình huấn luyện Besins Healthcare “QUẢN LÝ BÁN HÀNG DƯỢC CHUYÊN NGHIỆP”
Bảng 3.6 Danh sách các bác sĩ đề xuất Besins Healthcare tài trợ tham dự hội nghị quốc tế chuyên ngành sản phụ khoa
Bảng 3.7 Danh sách các bài báo về thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare đề xuất đăng trên tạp chí chuyên ngành trong 1 năm
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Cơ cấu thuốc tân dược theo tác dụng dược lý
Hình 1.2 Cơ cấu thị trường thuốc theo vùng
Hình 1.3 Mô hình Lý thuyết Hành động Có Lý do – TRA
Hình 1.4 Mô hình Lý thuyết Hành vi Có Hoạch định – TPB
Hình 1.5 Mô hình của Kareem và cộng sự (2011)
Hình 1.6 Mô hình của Saad Shamim-ul-Haq và cộng sự (2014)
Hình 1.7 Mô hình của Phạm Xuân Cường (2013)
Hình 1.8 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 2.1 Logo của Besins Healthcare
Hình 2.2 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Hình ảnh minh họa Cẩm nang thông tin sản phẩm
Hình 3.2 Hình ảnh trang facebook page của chương trình “Nâng niu mầm sống”Hình 3.3 Hình ảnh Chương trình tư vấn trực tuyến về phòng ngừa sinh non và sẩy thai do công ty Besins Healthcare tổ chức trên VNExpress
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non là nhóm thuốc đóng góp doanh số lớnthứ nhất cho công ty Besins Healthcare trên toàn cầu và đứng vị trí hàng đầu trongthị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non ở hầu hết các quốc gia trên thếgiới, đặc biệt khu vực châu Á
Mặc dù vào thị trường Việt Nam từ năm 2000 nhưng kênh phân phối thuốcchủ yếu là qua công ty phân phối dẫn đến chiến lược phát triển chưa phù hợp, sựthay đổi nhân sự thường xuyên, và đặc biệt là hoạt động marketing chưa nổi bật nên
sự đóng góp doanh số của nhóm thuốc này chưa đúng với vị trí đáng có của nó Cụthể, trước năm 2014, việc kinh doanh chưa đạt như mong đợi với mức tăng trưởngchưa cao, thậm chí có lúc tăng trưởng âm, doanh thu năm 2015 chỉ đạt 4,520,000USD giảm 9% so với năm 2014, trong khi đó cả thị trường thuốc điều trị dọa sẩythai, dọa sinh non tăng trưởng 9% Tuy thuốc thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinhnon của công ty Besins Healthcare là Utrogestan trong năm 2015 vẫn dẫn đầu thịtrường, nhưng kết quả hoạt động kinh doanh trong năm này không tốt và mất dầnthị phần sang các đối thủ cạnh tranh
Do đó, chống sụt giảm doanh số bán ra và tăng hiệu quả kinh doanh là mụctiêu hàng đầu và cấp thiết của công ty Besins Healthacre trong giai đoạn hiện nay.Với kinh nghiệm làm việc tại Besins Healthcare từ lúc văn phòng mới thành lập,nắm được mục tiêu cũng như chiến lược phát triển lâu dài của công ty và hiểu rõ vềđặc điểm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non– một loại thuốc kê đơn, cần cóvai trò quyết định của bác sĩ trong việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân, tác giả đã xây
dựng đề tài “Giải pháp gia tăng quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị
dọa sẩy thai, dọa sinh non của Besins Healthcare tại Việt Nam”.
Trang 142. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng về quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare
Đưa ra giải pháp gia tăng quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọasẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare tại thị trường Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: quyết định kê đơn và các yếu tố ảnh hưởng đến quyếtđịnh kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công
ty Besins Healthcare
Đối tượng khảo sát: các bác sĩ sản phụ khoa đang làm việc tại phòng khámdịch vụ của các bệnh viện công và các phòng khám tư ở thành phố Hồ ChíMinh (TP HCM), Hà Nội đã từng kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinhnon của công ty Besins Healthcare cho bệnh nhân
Phạm vi nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu có hạn việc nghiên cứu chỉ tiếnhành khảo sát tại khu vực TP HCM, Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện từ 6/2015 đến 11/2015
4. Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp: các lý thuyết quyết định kê đơn của bác sĩ, các họcthuyết và mô hình đã có, những nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Namtrước đây về quyết định kê đơn, nguồn tài liệu nội bộ (thống kê, báo cáo)của công ty
Dữ liệu sơ cấp: thảo luận tay đôi với các chuyên gia đầu ngành về sảnphụ khoa tại TP HCM và Hà Nội Phỏng vấn các bác sĩ sản phụ khoatheo bảng câu hỏi khảo sát
Phương pháp thực hiện: tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định
Trang 15tính và định lượng.
Nghiên cứu định tính: thảo luận tay đôi với nhóm các chuyên gia đầungành về sản phụ khoa nhằm phân tích, đánh giá, hiệu chỉnh mô hình tácgiả chọn để kế thừa Từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
kê đơn cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non phù hợp với đặctrưng của công ty
Nghiên cứu định lượng:
Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát các bác sĩ sản phụ khoa đang làm việc tạiphòng khám dịch vụ của các bệnh viện công và các phòng khám tư ở thành phố HồChí Minh (TP HCM), Hà Nội Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 đánh giá độ tin cậycủa thang đo, phân tích nhân tố khám phá, thống kê mô tả để phân tích dữ liệu xácđịnh mức độ đạt được của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kê đơn cho thuốcđiều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non Sau đó đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng quyếtđịnh kê đơn của bác sĩ
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phần phụ lục thì bố cục luậnvăn này được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non.
Chương 2: Thực trạng về quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare và các yếu tố ảnh hưởng.
Chương 3: Giải pháp gia tăng quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non tại Besins Healthcare
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH KÊ ĐƠN CỦA BÁC
SĨ CHO THUỐC ĐIỀU TRỊ DỌ SẨY THAI, DỌ SINH NON
Mục tiêu Chương 1:
Trong chương 1 tác giả đề cập đến đặc điểm thị trường thuốc dọa sẩy thai,dọa sinh non nói chung và đặc điểm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non củacông ty Besins Healthcare nói riêng; các khái niệm cơ bản về quyết định kê đơnthuốc, đồng thời tác giả cũng giới thiệu các học thuyết tiêu biểu nhất liên quan đếnquyết định kê đơn thuốc như: thuyết hành động có lý do, thuyết hành vi có hoạchđịnh Bên cạnh đó tác giả đưa ra một số nghiên cứu các yếu tố tác động lên quyếtđịnh kê đơn thuốc của bác sĩ trên thế giới và Việt Nam Qua đó ứng dụng mô hìnhphù hợp nhất cùng với việc thảo luận tay đôi và phân tích để chọn mô hình và thang
đo cho nghiên cứu
Đặc điểm thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non tại Việt Nam
Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non
Dọa sẩy thai là tình trạng ra huyết âm đạo ở thai sống có tuổi thai dưới 20-24tuần, kèm theo không có đau bụng và không có mở cổ tử cung Trong giai đoạn nàyphôi còn sống chưa bị bong khỏi niêm mạc tử cung, nếu được điều trị sớm thì có thểgiữ được thai
Sinh non là khi trẻ được sinh ra ở tuổi thai từ 28 đến 37 tuần (tính từ ngàyđầu kỳ kinh cuối) Chuyển dạ sinh non xảy ra khi có cơn co tử cung “đều đặn” đikèm với các dấu hiệu: sự thay đổi cổ tử cung, hoặc cổ tử cung mở lớn hơn 2 cm,hoặc cổ tử cung xóa lớn hơn 80% ở tuổi thai < 37 tuần
Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non là các loại thuốc nhằm điều trị ngăncản hiện tượng dọa sẩy thai, dọa sinh non xảy ra ở thai phụ trong giai đoạn dưới 20-
24 tuần hoặc từ tuần 28 đến trước tuần thứ 37 của thai kỳ (Bệnh viện Từ Dũ, 2015)
Trang 17Phân loại thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non
Trên thị trường dược phẩm Việt Nam, thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinhnon hiện nay chỉ có thuốc tân dược Riêng về đông y hầu như không có loại thuốcnào dành riêng cho điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non (Bệnh viện Từ Dũ, 2015)
Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non có thể chia thành 5 nhóm:
Thuốc kích thích thụ thể beta (Beta-minetics): Salbutamol, Terbutalin, Ritodrine
Thuốc chẹn kênh calci: Nifedipine
Thuốc bảo vệ thần kinh: Magnesium sulphate
Thuốc ức chế thụ thể oxytocin: Atosiban
Hormone Progestins: Progesterone, dydrogesterone
Vài nét về thực trạng thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non hiện nay
Theo các khảo sát mới nhất của ngành y tế, Việt Nam mỗi năm có 120.000 150.000 thai phụ có các triệu chứng dọa sẩy thai, dọa sinh non, tức chiếm gần 10%trên tổng số thai phụ và tỉ lệ này có xu hướng ngày càng tăng
-Hiện nay, trên thế giới việc sử dụng Progesterone trong điều trị phụ nữ bị sẩythai tái phát (3 lần hoặc nhiều hơn 3 lần sẩy thai liên tiếp) đã cho thấy hiệu quả làmgiảm có ý nghĩa thống kê tỉ lệ sẩy thai so với giả dược hoặc không điều trị (OR0,38; 95% CI 0,20-0,70) Không tăng tỷ lệ xuất huyết trước sinh (RR 0,76; 95% CI0,30 - 1,94), hoặc tăng huyết áp thai kỳ (RR 1,00, 95% CI 0,54 - 1,88) cho mẹ Tỷ lệ
dị tật bẩm sinh không khác nhau giữa các trẻ sơ sinh của các bà mẹ sử dụngprogestogen và những người không sử dụng (RR 0,70, 95% CI 0,10-4,82) Bên cạnh
đó, không có khác biệt về hiệu quả điều trị theo các đường sử dụng progestogen(uống, tiêm bắp, đặt âm đạo) so với giả dược hoặc không điều trị (Wahabi HA vàcộng sự, 2011)
Trang 18Tại Việt Nam, theo thống kê chuyên ngành, có trên 90.000 phụ nữ hàng nămđược điều trị bằng Utrogestan – Progesterone dạng hạt vi thể hóa có nguồn gốcthiên nhiên Tuy nhiên hiện nay, các sản phẩm thuốc điều trị chủ yếu nhập khẩu từnước ngoài Do đó tiềm năng thị trường về thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non
là khá lớn cho Besins Healthcare
Đặc điểm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare
Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Utrogestan–Progesterone dạng hạt vi thể hóa có nguồn gốc thiên nhiên hỗ trợđiều trị tình trạng sảy thai, dọa sinh non do mức độ progesterone thấp ở thaiphụ
Healthcare- Utrogestan nằm trong nhóm thuốc Hormone Progestins, hiện là thuốc dẫnđầu thị trường các hormone progestins trong chỉ định điều trị dọa sẩy thai,dọa sinh non
Thuốc bao gồm các đặc tính dược lực của progesterone tự nhiên, gồm: Trợthai, kháng estrogene, kháng nhẹ androgene, kháng aldosterone Thuốc đượchấp thu tốt qua đường tiêu hóa
Sau khi uống thuốc, nồng độ progesterone huyết tương bắt đầu tăng ngaytrong giờ đầu tiên và nồng độ cao nhất được ghi nhận sau khi uống thuốc từ 1đến 3 giờ
Do thuốc có thời gian lưu lại trong mô nên cần phải chia liều hàng ngày làm
2 lần cách nhau 12 giờ để đạt tình trạng bão hòa trong suốt 24 giờ
Sự nhạy cảm đối với thuốc có khác nhau giữa người này và người khác, tuynhiên ở cùng một người thì các đặc tính dược động thường rất ổn định, do đókhi kê đơn bác sĩ cần chỉnh liều thích hợp cho từng người và một khi đã xácđịnh được liều thích hợp thì liều dùng được duy trì ổn định (BesinsHealthcare, 2015)
Trang 19Những vấn đề cơ bản về quyết định kê đơn thuốc
Quyết định kê đơn bác sĩ
Quyết định kê đơn bác sĩ là một khái niệm rất rộng bao gồm khía cạnh khácnhau Trong nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc sử dụng thuốc trong điều trị bệnh.Các giai đoạn khác nhau trong quá trình sử dụng thuốc trong điều trị bệnh của bác sĩgồm nhận thức về sản phẩm, thu thập thông tin, thái độ tích cực đối với các sảnphẩm, thử nghiệm nó trong một số cách trực tiếp hoặc gián tiếp, việc tìm kiếm sựhài lòng trong việc thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm vào sử dụng thuốc trongđiều trị bệnh Quá trình này cũng tương tự như quá trình khuếch tán, quá trình màcác ý tưởng và sản phẩm được chấp nhận bởi một xã hội Đó là, quyết định của bác
sĩ để áp dụng một loại thuốc bị ảnh hưởng bởi sự tiếp xúc của họ với các bác sĩ khácthái độ, kiến thức, hoặc hành vi (Campbell EG, 2007)
Các lý thuyết liên quan đến quyết định kê đơn thuốc
1.2.2.1 Thuyết hành động có lý do (Theory of Reasoned Action – TRA)
Thuyết hành động có lý do (TRA) là một lý thuyết thuộc ngành tâm lý học xãhội Các nhà tâm lý học xã hội đã cố gắng giải thích làm thế nào và tại sao thái độlại tác động đến hành vi Tại sao và như thế nào mà niềm tin của mỗi con ngườikhiến họ thay đổi cách thức và đường lối hành động Thuyết hành động có lý dođược Martin Fishbein giới thiệu lần đầu vào năm 1967, một nhà tâm lý học xã hộicủa đại học Illinois tại Urbana Ông đã đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa “Niềmtin” và “Thái độ” Sau đó, vào thập niên 70, Fishbein đã cộng tác cùng Icek Ajzenthuộc đại học Massachusetts, Amherst để nghiên cứu và phát triển lý thuyết này
TRA quan tâm đến mối liên quan giữa niềm tin, hành vi, chuẩn chủ quan,thái độ và ý định hành vi Fishbein đã phân biệt Thái độ về một đối tượng cụ thể vàThái độ hướng về hành vi liên quan đến đối tượng đó Ông cũng chứng minh thái độhướng về hành vi giúp dự đoán hành vi tốt hơn là thái độ đối với con người, các tổchức, các hiện tượng xã hội Lý thuyết này cho rằng có một mối liên kết mật thiết
Trang 20vi là yếu tố quyết định thái độ hướng về hành vi Ý định hành vi là một sự phánđoán tốt cho hành vi Khái niệm này được xem là khả năng có thể xảy ra mà một cánhân chắc chắn sẽ thực hiện một hành vi Fishbein cho rằng các biến trong mô hìnhông xây dựng có thể ảnh hưởng đến ý định và hành vi Tuy nhiên, các biến này phảiảnh hưởng đáng kể đến các yếu tố thái độ hoặc niềm tin, chuẩn chủ quan Các biếnông đề cập bao gồm các yếu tố nhân khẩu và tính cách tiêu biểu của cá nhân.
Theo TRA, ý định hành vi có thể được dự đoán nếu đáp ứng được 3 điềukiện Thứ nhất, những ý định và hành vi phải phù hợp với mục tiêu hành động, hoàncảnh và thời gian cụ thể Thứ hai, ý định và hành vi không thay đổi trong cùngkhoảng thời gian khi việc đánh giá ý định và đánh giá hành vi diễn ra Cuối cùng,hành vi đó phải chịu sự kiểm soát của nhận thức Từ đó, cá nhân sẽ quyết định thựchiện hay không thực hiện hành vi
TRA giúp giải mã hành vi của một cá nhân bằng cách nhận diện, đo lường vàkết nối những niềm tin có liên quan của người đó, cho phép hiểu lý do thúc đẩyhành vi Tuy nhiên, TRA cũng mang nhiều hạn chế (Taylor, 2001) Một trong nhữnghạn chế là xuất phát từ bản chất tự nhiên của việc tự thuật, được dùng để xác địnhthái độ chủ thể Các thông tin do cá nhân tự thuật lại được sử dụng khi áp dụngthuyết này chứ không qua quan sát trực tiếp Trong khi các dữ liệu tự thuật lại mangtính chất rất chủ quan và không chính xác Hạn chế lớn nhất của thuyết TRA là giảđịnh tất cả hành vi đều chịu sự kiểm soát của lý trí Nhưng đôi khi lý trí không thểkiểm soát được toàn bộ hành vi của một người Do đó, TRA chỉ áp dụng được vớihành vi thực hiện có ý thức Quyết định không hợp lý, hành động theo thói quen
Trang 21hoặc hành vi thực hiện không phải do ý thức không thể giải thích được bằng thuyếtnày Những người thường thay đổi hành vi của họ phụ thuộc vào hoàn cảnh hiện tạicủa họ cũng không phải đối tượng của thuyết này Từ những hạn chế đó, thuyếtHành vi có Hoạch định – TPB đã ra đời.
Niềm tin
về hành vi
Thái độ về hành viĐánh giá
thực hiện
Hình 1.3 Mô hình Lý thuyết Hành động Có Lý do – TRA
(Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1975)
1.2.2.2 Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB)
Trong tâm lý học, Lý thuyết Hành vi Có Hoạch định là một lý thuyết về mốiliên hệ giữa niềm tin và hành vi Khái niệm này đã được đề xuất bởi Icek Ajzen năm
1991 để cải thiện sức mạnh tiên đoán của lý thuyết lý luận hành động dựa trên nhậnthức kiểm soát hành vi Đây là một trong các lý thuyết tiên đoán thuyết phục nhất
Nó đã được áp dụng cho các nghiên cứu về mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ,
ý định hành vi và hành vi trong nhiều lĩnh vực như quảng cáo, quan hệ công chúng, chiến dịch quảng cáo và chăm sóc sức khỏe
Lý thuyết nói rằng Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi sẽảnh hưởng đến ý định hành vi và từ đó tác động lên hành vi của một cá nhân Đặcbiệt, "Nhận thức Kiểm soát Hành vi" được cho là không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đếnHành vi Thật sự, mà còn ảnh hưởng gián tiếp thông qua Ý định Hành vi
Trang 22Thái Độ
Chuẩn ChủQuan
Thái độ: là đánh giá của một cá nhân khi tự thực hiện một hành vi cụ thể
Khái niệm này thể hiện đánh giá của cá nhân đối với hành vi là tích cực hay tiêu
cực và mức độ như thế nào Nó được quyết định dựa trên tổng niềm tin của một
người và được liên kết với các thuộc tính khác của sản phẩm hay dịch vụ
Chuẩn chủ quan: là nhận thức của một cá nhân về hành vi cụ thể sau khi bị
ảnh hưởng bởi nhận định của những người quan trọng (như: cha mẹ, vợ, chồng, bạn
bè, giáo viên ) Nếu một người tin rằng nhân vật ảnh hưởng tới họ nghĩ họ nên
thực hiện hành vi thì người đó sẽ có khuynh hướng đáp ứng mong mỏi đó hoặc
ngược lại
Nhận thức kiểm soát hành vi: Theo mô hình này, Đánh giá hay Nhận thức
kiểm soát hành vi của một người được quyết định bởi niềm tin hành động của người
đó Ở đây, nhận thức kiểm soát hành vi đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một
người để thực hiện một công việc bất kì Nó cũng đề cập đến nguồn tài nguyên sẵn
có, kỹ năng, cơ hội, cũng như nhận thức riêng của từng cá nhân dẫn đến kết quả
hành vi cuối cùng
Trang 23Mô hình TPB được đánh giá là cải tiến hơn mô hình TRA trong việc dự đoán
và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnhnghiên cứu
Nghiên cứu này cũng cho thấy “Quyết định kê đơn thuốc điều trị dọa sẩythai, dọa sinh non” của mỗi bác sĩ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện đều dựa vào
kỹ năng, nhận thức và kinh nghiệm của riêng mỗi người Nhận thức kiểm soát hành
vi có tác động tích cực đến quyết định kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của bác sĩ
Các nghiên cứu trước về quyết định kê đơn thuốc của bác sĩ
Thuốc là loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt được xác định trong Luật Bảo vệsức khỏe nhân dân và Điều lệ thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, do đó cần phải có sự kêđơn của các bác sĩ hoặc dược sĩ (trừ một số thuốc không kê đơn) Bác sĩ kê đơn làmột dạng khách hàng có nhiều khác biệt với người tiêu dùng các sản phẩm thôngthường nên ngoài các yếu tố như yếu tố văn hóa, xã hội, tâm lý, xu hướng lựa chọnthuốc điều trị của người thầy thuốc còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác
Những nghiên cứu về quyết định kê đơn của bác sĩ chủ yếu bao gồm mô hình
“giá trị mong đợi” (expectancy – value) và các yếu tố quy chuẩn để dẫn đến quyếtđịnh kê đơn của bác sĩ Để dẫn đến quyết định kê đơn của bác sĩ, trong mô hình “giátrị mong đợi”, kỳ vọng về kết quả điều trị và mong muốn những kết quả này sẽ giảithích cho sự lựa chọn thuốc đang được so sánh (Segal và Hepler, 1982) Thêm vào
đó các yếu tố quy phạm cũng bao gồm những kỳ vọng, những kỳ vọng này liênquan đến thái độ chuyên nghiệp và những yêu cầu của bệnh nhân (Harrell vàBennett, 1974)
Mô hình Kareem và cộng sự (2011)
Trong nghiên cứu của Kareem và cộng sự (2011) về quyết định kê đơn củabác sĩ được thực hiện tại Ấn Độ đưa ra mô hình gồm bảy yếu tố dựa theo nhữngnghiên cứu trước đó của Dey và cộng sự (1999), Abratte & Lanteigne (2000), Wight
& Lundstrom (2004) (trích trong Kareem và cộng sự, 2011): sự chuyên
Trang 24nghiệp của trình dược viên, sự thân thiện của của trình dược viên, sự tương đồng
của trình dược viên với bác sĩ, chất lượng của thuốc, danh tiếng của công ty dược,
những quà tặng hữu hình (bao gồm những quà tặng có giá trị và thuốc mẫu), những
ảnh hưởng chuyên môn (từ các bác sĩ đầu ngành hay đồng nghiệp)
Tính cách củatrình dược viên
Ảnh hưởngchuyên môn
Hình 1.5 Mô hình của Kareem và cộng sự (2011)
(Nguồn: Kareem và cộng sự, 2011)
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy chỉ có hai yếu tố là sự chuyên nghiệp của
trình dược viên và những quà tặng hữu hình là có tác động có ý nghĩa thống kê đến
sự kê đơn của bác sĩ đối với một loại thuốc nào đó Tuy nhiên các tác giả này cũng
đưa ra nhận xét so sánh với nghiên cứu trước đó của Denig và cộng sự (1988) kết
luận chất lượng của thuốc có tác động có ý nghĩa thống kê lên quyết định kê đơn
thuốc của bác sĩ, trong nghiên cứu này chất lượng thuốc không có ảnh hưởng có ý
nghĩa thống kê đến sự kê đơn của bác sĩ là do trong nhận thức của bác sĩ, chất lượng
thuốc có lẽ là một yếu tố tương tự (point of parity factor) giữa các công ty dược lớn
Tương tự như vậy, yếu tố tính cách của trình dược viên và danh tiếng của
công ty dược cũng được các tác giả giải thích là một yếu tố tương tự giữa các công
Trang 25ty dược Tuy nhiên, nghiên cứu này thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ (71 bác sĩ) vàphương pháp lấy mẫu thuận tiện nên các tác giả đề nghị thực hiện lại trên cỡ mẫulớn hơn và dùng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hơn.
Mô hình Saad Shamim-ul-Haq và cộng sự (2014)
Trong nghiên cứu Yếu tố ảnh hưởng quyết định kê đơn của bác sĩ của SaadShamim-ul-Haq và cộng sự (2014), các tác giả đã đánh giá tác động của các yếu tốtác động từ quá trình tiếp thị dược phẩm đến quyết định kê đơn thuốc của các bác sĩtại Pakistan Thông qua thông tin đã được thu thập thông qua bảng câu hỏi Likert,khảo sát với 260 bác sĩ làm việc tại các bệnh viện ở Pakistan Kết quả phân tích hồiquy đa biến đã chỉ ra quyết định kê đơn thuốc của bác sĩ được đo lường bởi các yếu
tố thành phần: Thuốc mới (ND), Thương hiệu thuốc (BP), Tài trợ cho Hội nghị(SC), Công cụ chiêu thị (PT), Các mẫu thuốc (DS)
Thuốc mới (ND)
Thương hiệu thuốc (BP)
Tài trợ cho Hội nghị (SC)
Công cụ chiêu thị (PT)
Các mẫu thuốc (DS)
Hình 1.6 Mô hình của Saad Shamim-ul-Haq và cộng sự (2014)
(Nguồn: Saad Shamim-ul-Haq và cộng sự, 2014)
Mô hình Phạm Xuân Cường (2013)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Xuân Cường (2013) về các yếu tố ảnh hưởngđến khuynh hướng kê đơn thuốc biệt dược gốc của các bác sĩ nội khoa tại TP HCM
đã cho thấy quyết định kê đơn thuốc của các bác sĩ chịu tác động của 7 yếu tố: Giá
cả của thuốc biệt dược gốc; Chất lượng của thuốc biệt dược gốc; Danh
Trang 26tiếng của công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc; Chương trình marketing của
công ty dược sản xuất thuốc biệt dược gốc; Sự chuyên nghiệp của trình dược viên
thuốc biệt dược gốc; Nguồn tham khảo chuyên môn về thuốc biệt dược gốc; Kinh
nghiệm và quan niệm của bác sĩ về thuốc biệt dược gốc.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy có 2 yếu tố có tác động cùng chiều đến
khuynh hướng kê đơn thuốc biệt dược gốc của bác sĩ: sự chuyên nghiệp trong
marketing và nguồn tham khảo Mô hình giải thích được 49.2% sự biến thiên của
khuynh hướng kê đơn thuốc biệt dược gốc của bác sĩ
Danh tiếngcủa công tydược
Chương trìnhmarketing củacông ty dược
Hình 1.7 Mô hình của Phạm Xuân Cường (2013)
(Nguồn: Phạm Xuân Cường, 2013)
Thiết kế nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 27pháp gia tăng quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh
Trang 28Trong phần thảo luận tiếp theo về đánh giá thang đo, tác giả tóm tắt kết quảnhư sau:
Đối với thang đo thành phần “Giá cả thuốc”, các chuyên gia thống nhất
với thang đo mẫu, và nhất trí điều chỉnh khía cạnh “Giá cả thuốc điều trị
dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare không cao hơn
bao nhiêu so với thuốc generic” thành “Giá cả thuốc điều trị dọa sẩy
thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare không cao hơn bao
nhiêu so với thuốc cùng loại” để phù hợp hơn với thị trường các thuốc
dọa sẩy thai, dọa sinh non cạnh tranh với thuốc dọa sẩy thai, dọa sinh noncủa công ty Besins Healthcare có cả thuốc biệt dược gốc và thuốcgeneric
Đối với thang đo thành phần “Chất lượng thuốc”, các chuyên gia thốngnhất với thang đo mẫu, và nhất trí điều chỉnh 2 khía cạnh sau đây để phùhợp hơn với thị trường các thuốc dọa sẩy thai, dọa sinh non cạnh tranhvới thuốc dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare có cảthuốc biệt dược gốc và thuốc generic:
Trang 29 “Chất lượng của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty
Besins Healthcare ổn định hơn thuốc generic” điều chỉnh thành “Chất
lượng của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins
Healthcare ổn định hơn thuốc cùng loại”.
“Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare
có hiệu quả hơn hẳn so với thuốc generic” điều chỉnh thành “Thuốc điều
trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare có hiệu quả
hơn hẳn so với thuốc cùng loại”.
Đối với thang đo thành phần “Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc”, các chuyên gia thống nhất với thang đo mẫu
Đối với thang đo thành phần “Chương trình marketing của công ty dược”,các chuyên gia thống nhất với thang đo mẫu và nhất trí điều chỉnh khía
cạnh “Những câu slogan trên tờ brochure của thuốc điều trị dọa sẩy
thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare giúp bác sĩ dễ dàng các
chỉ định của thuốc” thành “Những câu giới thiệu trên các tài liệu cung
cấp thông tin cho bác sĩ của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non
của công ty Besins Healthcare giúp bác sĩ dễ dàng các chỉ định của
thuốc” để thể hiện rõ hơn vì các tài liệu cung cấp thông tin thuốc cho bác
sĩ không chỉ có brochure mà còn có các tài liệu khác như tóm tắt nghiêncứu lâm sàng, tóm tắt điểm chính của hội nghị, hội thảo
Đối với thang đo thành phần “Sự chuyên nghiệp của trình dược viên”, cácchuyên gia thống nhất với thang đo mẫu, và nhất trí điều chỉnh khía cạnh
“Nhân viên giới thiệu thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công
ty Besins Healthcare thực hiện cuộc trình dược hay và chuyên nghiệp hơn so với người giới thiệu thuốc generic” thành “Nhân viên giới thiệu thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare thực hiện cuộc trình dược hay và chuyên nghiệp”.
Trang 30 Đối với các thang đo thành phần còn lại “Nguồn tham khảo chuyên môn
về thuốc”, “Kinh nghiệm và quan niệm của bác sĩ”, các chuyên gia thốngnhất với thang đo mẫu
Kết quả tác giả đề xuất thang đo quyết định kê đơn được điều chỉnh phù hợpvới công ty Besins Healthcare gồm 7 yếu tố thành phần ảnh hưởng đến quyết định
kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của bác sĩ: (1) Giá cả thuốc; (2)Chất lượng của thuốc; (3) Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc; (4) Chươngtrình marketing của công ty dược; (5) Sự chuyên nghiệp của trình dược viên; (6)Nguồn tham khảo chuyên môn cho bác sĩ về thuốc; (7) Kinh nghiệm và quan niệmcủa bác sĩ với 25 biến quan sát và biến phụ thuộc “Quyết định kê đơn thuốc” có 7biến quan sát
Giá cả thuốc
Chất lượng thuốc
Danh tiếng của công ty dược
Sự chuyên nghiệp của trình
Trang 31Tóm tắt chương 1
Trong chương này tác giả đã trình bày Cơ sở lý luận chung về đặc điểm thịtrường thuốc dọa sẩy thai, dọa sinh non nói chung và đặc điểm thuốc điều trị dọasẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare nói riêng; các khái niệm cơbản và học thuyết liên quan đến quyết định kê đơn thuốc, các mô hình nghiên cứutrước về các yếu tố tác động lên quyết định kê đơn thuốc của bác sĩ Tác giả đã chọn
mô hình và thang đo của Phạm Xuân Cường (2013) để ứng dụng cho đề tài “Giải
pháp gia tăng quyết định kê đơn của bác sĩ cho thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của Besins Healthcare tại Việt Nam” Trong đó, quyết định kê đơn thuốc điều
trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của bác sĩ được đo lường bởi các yếu tố thành phần:
Giá cả thuốc; Chất lượng thuốc; Danh tiếng của công ty dược sản xuất thuốc; Chương trình marketing của công ty dược; Sự chuyên nghiệp của trình dược viên; Nguồn tham khảo chuyên môn cho bác sĩ về thuốc; Kinh nghiệm và quan niệm của bác sĩ.
Trang 322.1 Giới thiệu về Công ty Besins Healthcare
Giới thiệu chung
Hình 2.1 Logo của Besins HealthcareBesins Healthcare là công ty dược phẩm đa quốc gia được thành lập từ năm
1885 tại Vương quốc Bỉ - khối cộng đồng chung Châu Âu Với bề dày lịch sử hơn
100 năm, Besins có 2 nhà máy sản xuất chính tại Pháp và Bỉ, 1 trung tâm nghiêncứu và phát triển tại Washington – Hoa Kì, và mở rộng thương mại hóa toàn cầuhơn 90 quốc gia Besins Healthcare chuyên nghiên cứu phát triển và sản xuất cácdược phẩm về nội tiết chăm sóc sức khỏe sinh sản, cải thiện chất lượng sống cho
Trang 33ngành nam khoa và sản phụ khoa và cũng đang phát triển mạnh trong các lĩnh vực
hỗ trợ sinh sản, mãn dục nam, sang chấn não, thực phẩm bổ sung…
Trong 30 năm gần đây, Besins Healthcare đã đạt được nhiều thành công, trởthành một trong những công ty đứng đầu ngành điều trị nội tiết sinh sản trên thếgiới Công ty đang mở rộng hoạt động và đầu tư tại các khu vực quốc gia Châu Á,trong đó có thị trường Việt Nam - mặc dù các sản phẩm của Besins Healthcare đã cómặt tại Việt Nam từ hơn 15 năm thông qua đối tác phân phối Theo thống kê chuyênngành, hàng năm có trên 90.000 phụ nữ Việt Nam được điều trị bằng sản phẩm doBesins Healthcare phát minh, trong các chỉ định điều trị vô sinh do suy hoàng thể,
hỗ trợ các phác đồ thụ tinh nhân tạo và cho phụ nữ mang thai trong dự phòng sinhnon, dọa sẩy thai
Sự có mặt của văn phòng đại diện tại Việt Nam cho thấy mong muốn cam kếthơn nữa của Besins Healthcare trong các hoạt động đào tạo, cung cấp thông tinchuyên ngành sản phụ khoa cho nhân viên y tế, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản; cùngvới các ban ngành, tổ chức chuyên môn và xã hội xây dựng và phát triển cácchương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhằm nâng cao chất lượng cuốc sống củacác bà mẹ mang thai và hỗ trợ sinh con khỏe mạnh (Besins Healthcare, 2015)
Tầm nhìn và sứ mệnh
Tầm nhìn:
Là một chuyên gia toàn cầu và là đối tác cung cấp các giải pháp điều trị chocác bác sĩ sản phụ khoa, nam khoa và bệnh nhân với tất cả niềm đam mê và sự đảmbảo về chất lượng
Sứ mệnh:
Sứ mệnh của Besins Healthcare là thiết lập vị trí dẫn đầu trong ngành chămsóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ và nam giới, cung cấp các giải pháp chuyên biệttrên toàn thế giới Chúng tôi cố gắng tạo ra quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng
Trang 34Kết quả hoạt động kinh doanh của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare tại Việt Nam 2010 – 2015
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam, công ty Besins Healthcare cung cấp 2sản phẩm thuộc nhóm thuốc Hormone Progestins chuyên điều trị dọa sẩy thai, dọasinh non với tên biệt dược là Utrogestan và Progestogel, trong đó sản phẩm chủ lựccủa công ty là Utrogestan, 1 loại progesterone tự nhiên dạng vi hạt
Nếu xét một các tổng thể thì doanh thu của công ty Besins Healthcare luôn
có sự tăng trưởng liên tục qua các năm từ 2011 đến 2014 Cụ thể, năm 2012, doanhthu đạt 4,328,000 USD tăng 40% so năm 2011; năm 2013 giá trị doanh thu đạt4,247,000 USD giảm nhẹ 2% so với năm 2012; doanh thu năm 2014 đạt 4,990,000USD tăng 17% so năm 2013 Cho thấy ở thị trường Việt Nam hoạt động kinh doanhsản phẩm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcarekhá hiệu quả từ năm 2011 đến 2014
Tuy nhiên doanh thu năm 2015 chỉ đạt 4,520,000 USD giảm 9% so với năm
2014 Tổng quan cả thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non có mức tăngtrưởng 9%, 2 đối thủ chính của Utrogestan là Duphaston và Cyclogest đều có mứctăng trưởng dương lần lượt là 6% và 371% Như vậy, tuy thuốc thuốc điều trị dọasẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare là Utrogestan trong năm 2015vẫn dẫn đầu trường, nhưng kết quả hoạt động kinh doanh trong năm này không tốt
và mất dần thị phần sang các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là Cyclogest của công ty
Trang 35Actavis Thói quen kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của các bác sĩsản phụ khoa đang chuyển dần từ sản phẩm của Besins Healthcare sang các đối thủcạnh tranh, điều này dẫn đến một nhu cầu bức thiết phải đề ra các giải pháp để giatăng quyết định kê đơn của bác sĩ đối với thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh noncủa công ty Besins Healthcare (Besins Healthcare, 2015).
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của nhóm thuốc Hormone Progestins
Đơn vị tính: nghìn USD
Sản phẩm
UtrogestanDuphastonCyclogestProgestogelProgendoProgeffikVagestonTổng thị trường
(Nguồn: IMS, 2015)
Thêm vào đó, khi phân tích cụ thể doanh thu của thuốc điều trị dọa sẩy thai,dọa sinh non của Besins Healthcare so với đối thủ cạnh tranh thứ 2 (Duphaston) vàthứ 3 (Cyclogest) tại nhà thuốc dịch vụ của top 10 bệnh viện phụ sản trên cả nước
đã cho thấy doanh thu của thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của Besins
Trang 36Healthcare năm 2015 có sự giảm đều ở tất cả các địa bàn này, và mất thị phần vàotay của 2 đối thủ cạnh tranh này.
Trang 37Bảng 2.2 Doanh thu của nhóm thuốc Hormone Progestins tại nhà thuốc
dịch vụ của top 10 bệnh viện phụ sản trên cả nước
2.2 Quy trình và kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng lên quyết định kê
đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare tại Việt Nam
Quy trình nghiên cứu
Trang 38Dựa trên cơ sở lý thuyết ban đầu, tác giả tiến hành nghiên cứu sơ bộ thôngqua thảo luận tay đôi, nhằm đánh giá lại mô hình và thang đo về quyết định kê đơnthuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare, tiếp theo lànghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện thông qua thu thập thông tin từphía người tiêu dùng với bảng câu hỏi khảo sát Từ thông tin thu thập được tiến
Trang 39hành thống kê, phân tích dữ liệu Quá trình này, được thực hiện từng bước theo trình
tự như quy trình sau:
Mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Thang đochính thứcNghiên cứu định lượng
Kiểm định độ tin cậyCronbach’s Alpha
Phân tích nhân tốkhám phá EFAViết báo cáo nghiên cứuHình 2.2 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu định tính
Thảo luận tay đôi
Nghiên cứuđịnh tínhĐiều chỉnh
(Nguồn: Tác giả, 2016)
Thông qua việc thảo luận tay đôi với 5 chuyên gia là các bác sĩ sản phụ khoahàng đầu tại TP HCM và Hà Nội, điều chỉnh và bổ sung thang đo quyết định kê đơnthuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare sao cho phùhợp với thực tế, việc thảo luận thực hiện theo một dàn bài được chuẩn bị sẵn
Trang 40Bảng 2.3 Danh sách chuyên gia tham gia thảo luận tay đôi
4 GS TS BS Nguyễn Viết Tiến
(Nguồn: Tác giả, 2016)
Nội dung thảo luận: trao đổi về các yếu tố thành phần ảnh hưởng đến quyết
định kê đơn thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare,các biến quan sát cho từng thang đo các thành phần trong mô hình, đánh giá nội
dung thang đo (tham khảo phụ lục 1).
Thời gian phỏng vấn được tiến hành 1 – 2 giờ
Trình tự tiến hành:
1) Tác giả giới thiệu đề tài và mục đích của cuộc phỏng vấn sâu
2) Tiến hành thảo luận tay đôi giữa người nghiên cứu với từng đối tượng được chọn tham gia nghiên cứu định tính để thu thập dữ liệu liên quan:
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định kê đơn thuốc của các bác sĩ đối với thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare
Ý kiến bổ sung, loại bỏ các yếu tố nhằm xây dựng thang đo phù hợp của các đối tượng tham gia thảo luận