Thay vì tìm cách giảm quy môhoạt động của các tổ chức tín dụng, cần tìm cách gia tăng năng lực tài chính của các tổchức tín dụng này, như gia tăng yêu cầu tối thiểu về vốn tự có CAR, gia
Trang 1DIỆP NHẬT TUẤN
QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 2DIỆP NHẬT TUẤN
QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu củariêng rôi và có sự hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn Khắc QuốcBảo Các thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực; các nội dung trích dẫnđều được ghi rõ nguồn gốc, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn nàychưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tp Hồ Chí Minh, Ngày … tháng 11 năm
2016Người thực hiện
Diệp Nhật Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT 1
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.4 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 7
1.6 Cấu trúc của đề tài 7
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Khung Lý Thuyết 9
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 11
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Mô hình nghiên cứu 19
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 21
3.3 Mô tả biến nghiên cứu 22
3.3.1 Biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (biến phụ thuộc) 22
3.3.2 Biến đo lường quy mô hoạt động ngân hàng 24
3.3.3 Biến đo lường sự quản trị công ty 25
3.3.4 Biến tỷ lệ sở hữu của CEO/chủ tịch hội đồng quản trị 27
3.3.5 Biến tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách (Market to book ratio) 28
3.3.6 Biến số năm thành lập ngân hàng 29
3.3.7 Biến giả sở hữu nhà nước 29
3.3.8 Biến giả khủng hoảng tài chính 30
3.3.9 Biến kiểm soát GDP và CPI 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 32
PHẦN 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
Trang 54.4 Phân tích tổng hợp biến quy mô bằng mô hình 2SLS 51
4.5 Sử dụng thông số khác đại diện biến quy mô 54
4.6 Kiểm tra tác động của biến khủng hoảng 55
4.7 Phân tích chi tiết các nhân tố trong Z-score 58
PHẦN 5: KẾT LUẬN 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị đối với các ngân hàng 64
5.3 Kiến nghị đối với các nhà lập chính sách 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 62SLSFEGDPCPIBHCFED
Trang 7Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 40
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các cặp biến trong mô hình 42
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng thương mại Việt Nam không bao gồm biến M/B 44
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng niêm yết có tính giá trị M/B 46
Bảng 4.5: Kiểm định Hausman test về vấn đề nội sinh của mô hình 51
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy theo mô hình 2SLS 52
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy tại các ngân hàng thương mại Việt Nam không bao gồm biến M/B, biến tổng doanh thu đại diện cho quy mô hoạt động 54
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy kiểm tra tác động của biến khủng hoảng 56
Bảng 4.9: Phân tích chi tiết các nhân tố trong Z-score 58
Trang 8TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô hoạtđộng (Size) và mức độ chấp nhận rủi ro (Risk-taking) của các ngân hàng thương mạitại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015, qua đó đưa ra các kiến nghị cho cácnhà lập chính sách và các lãnh đạo ngân hàng thương mại tại Việt Nam Sau khi ápdụng phương pháp định lượng bằng nhiều mô hình hồi quy khác nhau, tác giả tìm thấybốn kết quả nghiên cứu như sau Đầu tiên, có mối quan hệ tương quan dương giữa quy
mô tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam tronggiai đoạn nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2015 Thứ hai, việc phân tích chi tiết cácyếu tố trong biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (Z-score) cho thấy mức độ chấpnhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu thông qua gia tăng mức độđòn bẩy tài chính Thứ ba, các ngân hàng có quản trị tốt hơn sẽ giảm thiểu rủi ro tronghoạt động, đặc biệt là tại các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán Thứ tư, mốiquan hệ tương quan dương giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro xuấthiện trong giai đoạn trước (2007-2008) và trong khủng hoảng tài chính (2009-2012),tuy nhiên không xuất hiện trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính (2013-2015)
Trang 9PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài
Theo đề án 254 năm 2012 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc tái cơ cấu
hệ thống các tổ chức tín dụng, mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản sẽ có nhữngngân hàng lớn theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc đủ khả năngcạnh tranh với các tổ chức tín dụng lớn trong khu vực Tuy nhiên, có phải quy mô ngânhàng càng lớn thì càng hoạt động càng hiệu quả và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động?Nhiều chuyên gia trên thế giới cho rằng quy mô ngân hàng quá lớn thì tiềm ẩn nhiềurủi ro hơn, nguyên nhân do khi ngân hàng đạt được đến quy mô “Too big too fail”(TBTF) hay gọi là quá lớn để thất bại, Chính phủ dù muốn hay không muốn vẫn phảiđảm bảo rằng trong trường hợp Ngân hàng bị mất thanh khoản hay gần đến bờ vực bịphá sản thì Chính phủ phải can thiệp để đảm bảo việc phá sản không xảy ra và tránh rủi
ro đổ vỡ toàn bộ hệ thống tài chính của nền kinh tế Do đó các ngân hàng lớn có nhiềuđộng cơ hơn để gia tăng mức độ rủi ro trong hoạt động của mình nhằm tìm kiếm lợinhuận cao trên thị trường trong khi đó rủi ro là do toàn bộ nền kinh tế gánh chịu Việc
đó làm gia tăng rủi ro cho toàn bộ hệ thống tài chính và cho cả nền kinh tế Tại ViệtNam, không chỉ các ngân hàng đạt được trạng thái TBTF mới có được sự cam kết đảmbảo của chính phủ mà cả các ngân hàng nhỏ cũng được chính phủ cam kết không đểxảy ra tình trạng phá sản cho bất kỳ tổ chức tín dụng nào nhằm ổn định thị trường tàichính và giữ vững niềm tin của người dân (đặc biệt là người gửi tiết kiệm) và các nhàđầu tư trên thị trường Do đó tại Việt Nam mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại bao gồm cả các ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ thườngrất cao và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế nước ta
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang bị cuốn vào vòng xoáy của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, và hiện nay đã biểu hiện cho thấy các hệ lụy nguyhiểm sau: tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, tập trung cho vay vào bất động sản, chứngkhoán là những lĩnh vực rất rủi ro; lãi suất huy động cao và cạnh tranh lãi suất giữa các
Trang 10ngân hàng không lành mạnh; nợ xấu tăng nhanh, tỷ lệ nợ xấu cao và khó xử lý; cơ cấunguồn vốn ngắn hạn là chính, trong khi cho vay trung dài hạn chiếm quy mô lớn… Rõràng hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự phát triển không bền vững và tiềm ẩn nhiềurủi ro Tình trạng rủi ro như hiện nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang ở mứcbáo động, cần có sự can thiệp ngay của các nhà chức năng nhằm lành mạnh hóa thịtrường tài chính và giảm nguy cơ đổ vỡ cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Nhận thấy mức độ chấp nhận rủi ro quá lớn của các ngân hàng thương mại ViệtNam, Chính phủ đã ban hành đề án 254 năm 2012 nhằm mục tiêu cơ cấu lại hệ thốngcác tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đảm bảo không để tình trạng đổ vỡ xảy ra Khi giớithiệu về đề án 254 năm 2012 về tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, thống đốcngân hàng nhà nước khi đó là ông Nguyễn Văn Bình đã phát biểu như sau: “Đập chuộtnhưng không được vỡ bình” Câu nói trên hàm ý các ngân hàng tại Việt Nam đượcngân hàng nhà nước cam kết chắc chắn sẽ không bị phá sản dù thực tế hoạt động cóyếu kém đến đâu Đây có phải là một chính sách hay và phù hợp nhằm cơ cấu lại hệthống ngân hàng hiện nay? Theo nhiều chuyên gia kinh tế, chính phủ cần mạnh dạncho phá sản các ngân hàng hoạt động quá yếu kém không thể tái cơ cấu được, vì thực
tế càng tìm cách cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém này thì tổn thất cho nền kinh tế cànglớn, điển hình là tại ngân hàng Xây Dựng (CBBANK) và ngân hàng Đại Dương(OCEANBANK) Cần có lộ trình rõ ràng để sàn lọc các tổ chức tín dụng, theo hướngchỉ giữ lại các tổ chức tín dụng có năng lực tài chính tốt và hoạt động lành mạnh để giatăng năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Nam so với khu vực và trên thế giới.Các ngân hàng có hoạt động yếu kém, năng lực tài chính yếu cần từng bước xử lý theohướng M&A hoặc cho phá sản để giảm thiểu gánh nặng cho hệ thống tài chính hiệnnay
Trái ngược với Việt Nam đang mong muốn gia tăng quy mô hoạt động của cácngân hàng để cạnh tranh với khu vực, tại các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Châu Âu,Nhật Bản, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã đề xuất một loạt các quy
Trang 11định nhằm hạn chế quy mô của các tổ chức tài chính đã đạt đến trạng thái TBTF nhằmgiảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro hoạt động của các tổ chức tài chính này Tuy nhiêncác quy định nhằm giảm thiểu quy mô hoạt động của các tổ chức tài chính đạt trạngthái TBTF gặp phải không ít khó khăn Đầu tiên, rất khó để xác định được ngưỡng tối
ưu của mức độ hoạt động cho chính xác Thứ hai, việc tập trung vào quy mô hoạt động
sẽ bỏ sót các ngân hàng nhỏ có mức độ chấp nhận rủi ro cao Ngoài ra, việc giảm quy
mô hoạt động sẽ làm suy yếu mức độ cạnh tranh toàn cầu của các tổ chức tài chính lớn
và khiến thị phần của họ suy giảm Hơn nữa, nhiều chuyên gia lập luận việc giới hạnquy mô hoạt động không phải là công cụ tốt, việc giới hạn quy mô có thể tạo ra các tácđộng ngoài ý muốn, chẳng hạn như sự thiếu đa dạng hóa rủi ro tín dụng, giảm năng lựccạnh tranh, thiếu năng lực quản trị rủi ro hoạt động Thay vì tìm cách giảm quy môhoạt động của các tổ chức tín dụng, cần tìm cách gia tăng năng lực tài chính của các tổchức tín dụng này, như gia tăng yêu cầu tối thiểu về vốn tự có (CAR), gia tăng kiểmsoát rủi ro trong quá trình hoạt động, giảm mức độ sở hữu của các cổ đông lớn, tránhtình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng, tăng cơ chế giám sát của các ngân hàngtrung ương…
Vậy, liệu quy mô hoạt động có phải là vấn đề quan trọng để giảm thiểu mức độchấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam? Sử dụng dữ liệu của các
tổ chức tín dụng trong giai đoạn từ năm 2007-2015, tác giả kiểm tra sự thay đổi quy
mô hoạt động có tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro hay không? Tác giả tập trungchủ yếu vào thước đo mức độ chấp nhận rủi ro được đo lường bằng Z-score (đo lườngdựa vào sổ sách kế toán) trong quá trình xây dựng mô hình nghiên cứu, các thước đokhác dựa vào thị trường (như biến động của lợi nhuận của cổ phiếu theo ngày σ(RET))chủ yếu để phục vụ việc kiểm tra tính vững của mô hình nghiên cứu Nếu quy mô hoạtđộng có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro được đo bằng Z-score, câu hỏi tiếptheo là làm thế nào để quy mô hoạt động ảnh hưởng đến các thành phần của Z-score?Tập trung vào các thành phần của Z-score - cụ thể là, đòn bẩy tài chính (CAR), lợi
Trang 12nhuận trên tài sản (ROA), và sự biến động của thu nhập (σ(ROA)) - cho phép tìm hiểu kỹ hơnmối liên quan giữa quy mô và từng yếu tố cấu thành Z-score, từ đó hoạch định các chính sáchnhằm giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro của các tổ chức tín dụng hiệu quả hơn.
Xuất phát từ thực tiễn đã nêu trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quy mô,đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại ViệtNam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm tra vai trò của nhân tố quy mô hoạtđộng của các ngân hàng tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàngthương mại tại Việt Nam Ngoài ra bài nghiên cứu còn nhằm mục đích tìm hiểu các yếu
tố khác như quản trị Ngân hàng, sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO, cơ cấuvốn sở hữu, các yếu tố vĩ mô tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngânhàng Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời cho các câu hỏi cụ thể sau:
+ Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 là như thế nào?
+ Mức độ chấp nhận rủi ro tính theo Z-score liên quan đến mức độ đòn bẩy tài chính của Ngân hàng (CAR) hay do tỷ suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng (ROA) hay do mức độ biến động của tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (σ(ROA))?
+ Ngân hàng có ban quản trị/điều hành sở hữu nhiều cổ phần có góp phần giảm thiểu mức độ chấp nhận rủi ro hay không?
+ Mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro (nếu có) xuất hiện tronggiai đoạn trước khủng hoảng (năm 2007-2008) hay trong khủng hoảng (năm 2009-2012) hay sau khủng hoảng tài chính (năm 2013-2015)?
Bài nghiên cứu nhằm tìm kiếm các yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận rủi rocủa các ngân hàng Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho các nhà lập chính sách
và các lãnh đạo ngân hàng để xây dựng mức độ chấp nhận rủi ro tương ứng tại từng
Trang 13ngân hàng cho phù hợp với thực tế kinh doanh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài là ảnh hưởng của quy mô hoạt động (được đolường bằng tổng tài sản) lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tạiViệt Nam (được đo lường bằng hệ số Z-score) Mẫu nghiên cứu bao gồm các Ngânhàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2015, không bao gồm các Ngânhàng đã bị sáp nhập trong giai đoạn trên hoặc độ dài dữ liệu không đủ theo yêu cầu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được từ năm 2007 đến năm 2015 để tạo
ra bộ dữ liệu bảng (Panel data) Dữ liệu được thu thập thông qua dữ liệu tài chính đượccung cấp bởi Vietstock (đơn vị cung cấp số liệu tài chính lớn tại Việt Nam) sau đó được
bổ sung bằng phương pháp thu thập dữ liệu thủ công từ các báo cáo tài chính, báo cáothường niên của các ngân hàng được công bố trên website chính thức của các ngânhàng tại Việt Nam Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảngRobust Check và phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định Fixed Effect để kiểm tra mức
ý nghĩa của biến quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàngthương mại Đồng thời bài nghiên cứu còn sử dụng mô hình hồi quy 2SLS (Two-stageLeast Square) để khắc phục việc lựa chọn biến đại diện cho quy mô hoạt động nào chophù hợp Ngoài ra trong quá trình phân tích, tác giả còn áp dụng thêm nhiều phươngpháp khác nhau để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề nghiên cứu và nhằm đưa ra các kết luận phùhợp
Trong bài nghiên cứu, để tính toán mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàngthương mại tại Việt nam tác giả sử dụng hệ số Z-score, hệ số được World Bank khuyếnnghị sử dụng và được áp dụng trong nhiều bài nghiên cứu trên thế giới về mức độ chấpnhận rủi ro trong hệ thống tài chính Về biến quy mô tác giả sử dụng nhiều biến khácnhau như tổng tài sản, tổng doanh thu, tổng số lượng nhân viên, tổng số chi nhánhphòng giao dịch Về các biến kiểm soát trong bài bao gồm biến tỷ lệ M/B ratio, biến tỷ
Trang 14lệ sở hữu của lãnh đạo ngân hàng, biến giá trị cổ phiếu sở hữu của lãnh đạo ngân hàng,biến số năm thành lập ngân hàng, biến đòn bẩy tài chính, biến giả ngân hàng có thuộc
sở hữu nhà nước, biến giả giai đoạn khủng hoảng, biến đại diện yếu tố vĩ mô như GDP,CPI Các biến trên được lựa chọn để áp dụng cho phù hợp trong quá trình chạy môhình hồi quy tương ứng
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay, việc các ngân hàng chấp nhận mức độ rủi ro cao nhằmtìm kiếm lợi nhuận diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng Việc tìmhiểu mối liên hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro sẽ giúp chúng ta
có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố cấu thành lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngânhàng Từ đó góp phần giúp các nhà lập chính sách và các lãnh đạo Ngân hàng cóhướng giải quyết phù hợp nhằm vừa góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cácngân hàng Việt Nam vừa góp phần giảm thiểu rủi ro quá lớn trong hoạt động của các tổchức tín dụng Qua đó giúp thị trường Ngân hàng tại Việt Nam hoạt động ổn định vàngày càng phát triển vững chắc hơn
1.6 Cấu trúc của đề tài
Bài nghiên cứu được sắp xếp như sau:
Phần 2 là Cơ sở lý thuyết
Trong phần này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu thựcnghiệm trên thế giới về mối quan hệ mức độ chấp nhận rủi ro và quy mô hoạt động củacác tổ chức tài chính
Phần 3 là Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của phần này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giảithích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của môhình thực nghiệm, các giả định đặt ra và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu
Phần 4 là Nội dung và kết quả nghiên cứu
Trong phần này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan
Trang 15hệ giữa mức độ chấp nhận rủi ro và quy mô hoạt động, ngoài ra tác giả còn tiến hành nghiên cứu mở rộng về nhiều khía cạnh khác nhau của đề tài.
Phần 5 là Phần kết luận
Ở phần này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thựcnghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài, hướng mở rộng đềtài Sau đó tác giả đưa ra kiến nghị riêng cho các nhà lập chính sách và các nhà quản lýchủ chốt của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 16PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khung Lý Thuyết
Cơ sở lý thuyết cho việc các ngân hàng có quy mô lớn hơn sẽ có mức độ chấpnhận rủi ro cao hơn là do hiện tượng TBTF (quá lớn để thất bại) diễn ra trên thị trườngtài chính Khi quy mô của ngân hàng càng lớn thì khả năng nhận được các gói cứu trợkhi hoạt động kinh doanh gặp khó khăn càng cao Khi đó các nhà quản lý ngân hàng và
cả chủ sở hữu ngân hàng sẽ có nhiều động cơ hơn để gia tăng rủi ro nhằm tìm kiếm lợinhuận cao trên thị trường Khi trạng thái TBTF xảy ra, ngân hàng sẽ có mức độ chấpnhận rủi ro cao hơn, ngân hàng sẽ nhận được lợi nhuận cao nếu hoạt động kinh doanh
có kết quả như dự tính và sẽ bị thiệt hại ít nếu rủi ro xảy ra vì đã có sự hỗ trợ lớn từchính phủ Do đó theo lý thuyết thì với các Ngân hàng có quy mô hoạt động càng lớnthì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao Điển hình cho trạng thái TBTF diễn ra tại thịtrường tài chính Mỹ là vào năm 2008 khi khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra doviệc cho vay dưới chuẩn tiềm ẩn nhiều rủi ro cao của các ngân hàng Mỹ và việc chứngkhoán hóa các khoản cho vay này, chính phủ Mỹ đã phải ban hành gói cứu trợ khẩncấp để cứu các tổ chức tài chính lớn vượt qua giai đoạn khủng hoảng như Bear Sterns,AIG, JP Morgan Chase… nhằm tránh tình trạng đổ vỡ cho toàn bộ thị trường tài chínhthế giới
Theo báo cáo Squam Lake Report, nghiên cứu của French và cộng sự (2010):
“Chính sách quá lớn để thất bại (too-big-too-fail policies, viết tắt TBTF) cung cấp chocác công ty quan trọng có quy mô lớn một lời hứa rõ ràng và chắc chắn về một gói cứutrợ khi hoạt động của các công ty này gặp sự cố Những chính sách này là phá hoại, vìnhiều lý do khác nhau Đầu tiên, bởi vì khả năng chắc chắn của một gói cứu trợ nên cácchủ sở hữu của công ty có thể hưởng được tất cả lợi nhuận cao trong khi chịu rất ít rủi
ro khi sự cố xảy ra, các công ty tài chính có thể nhận được các gói cứu trợ của chínhphủ nên có động cơ để gia tăng mức độ rủi ro trong hoạt động của mình nhằm tìm kiếmlợi nhuận cao Tất cả các bên liên quan của công ty bao gồm các cổ đông, chủ
Trang 17nợ, nhân viên và nhà quản lý đều chia sẻ cám dỗ trên Kết quả là sự gia tăng rủi ro phảigánh chịu cho toàn bộ xã hội”.
Các ngân hàng còn theo đuổi chính sách tăng trưởng mạnh quy mô đi kèm vớigia tăng rủi ro trong hoạt động nhằm mục đích đạt được trạng thái TBTF dù họ biết cónhững khoản đầu tư đem lại hiện giá dòng tiền âm (NPV của phương án/dự án là âm)tuy nhiên họ vẫn thực hiện dự án nhằm gia tăng quy mô hoạt động của mình Nguyênnhân do các nhà quản lý ngân hàng biết rằng, nếu họ tăng quy mô đạt được đến trạngthái TBTF thì họ sẽ được nhiều chính sách ưu đãi hơn từ các cơ quan quản lý và khảnăng họ sẽ nhận được các gói cứu trợ của chính phủ khi hoạt động không hiệu quả sẽcao hơn Từ đó kéo theo các ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ càng có động lực giatăng rủi ro hơn để vừa tìm kiếm được lợi nhuận cao trên thị trường vừa để họ có thểtăng trưởng quy mô nhanh hơn nhằm đạt được trạng thái TBTF để quyết định được thịtrường và gây sức ép lên các cơ quan quản lý
Trái ngược với thế giới, tại Việt Nam các ngân hàng có quy mô càng lớn càng ít
bị kiểm soát từ các cơ quan quản lý và ngược lại Các ngân hàng này hoạt động tự do
và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Theo nhận định của nhiều chuyên gia,các ngân hàng quy mô lớn thường ít bị thanh tra giám sát từ các cơ quan nhà nước vàthường đẩy mức độ rủi ro hoạt động lên cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận Nguyên nhâncho việc này có thể kể đến do sự lỏng lẻo về quản lý của các cơ quan nhà nước, lợi thế
về quy mô khiến quyền lực của các ngân hàng quy mô lớn có thể gây sức ép lên cơquan quản lý, hay có thể nói gọn là các ngân hàng này đã đạt trạng thái TBTF tại thịtrường Việt Nam (điển hình là các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước chi phối bao gồmBIDV, Vietinbank, Vietcombank, Agribank) Tuy nhiên yếu tố quy mô hoạt động ảnhhưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng Việt Nam chưa được kiểm chứngthực nghiệm
Ngoài nhân tố quy mô hoạt động tác động đến mức độ chấp nhận rủi ro trongngân hàng thì vai trò của quản trị doanh nghiệp cũng cần được đề cập đến Lý thuyết
Trang 18hiện đại về quản trị doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp có quản trị tốt sẽ làm tăng giátrị công ty đồng thời giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của công ty Cơ sở cho nhậnđịnh trên là khi công ty được quản trị tốt, công ty sẽ đầu tư vào các dự án chắc chắn cóNPV dương và tìm ẩn rủi ro thấp nhằm ổn định dòng tiền của công ty, tránh rủi ro mấtthanh khoản dẫn đến phá sản Từ đó, công ty sẽ chỉ đầu tư vào các dự án có rủi ro thấp,
có dòng tiền ổn định, nhằm ổn định giá trị doanh nghiệp và tạo niềm tin cho cổ đôngtrên thị trường Tuy nhiên, nhà quản trị tốt cũng không loại trừ khả năng sẽ đầu tư vàocác dự án có rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận đột biến và nhằm mục đích chứng tỏkhả năng quản trị của bản thân nhà quản lý Theo lý thuyết quyền chọn (option theory),các nhà quản lý của công ty thường được thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu đểgắn kết mục tiêu của nhà quản lý với việc gia tăng giá trị công ty, tuy nhiên giá trịquyền chọn này sẽ tăng đồng biến với sự biến động của giá trị tài sản công ty Các công
ty có giá trị biến động càng lớn thì giá trị quyền chọn mua cổ phiếu càng cao Từ đó,các nhà quản lý có động lực gia tăng rủi ro của công ty nhằm mục tiêu tìm kiếm lợinhuận cao đồng thời nhằm giúp tăng giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường Do đó,mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro là không chắc chắn, tuy nhiêntác giả kỳ vọng là biến quản trị doanh nghiệp (đo lường bằng giá trị giá trị cổ phiếu sởhữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO) sẽ có mối quan hệ tương quan âm với rủi
ro, nghĩa là công ty được quản trị tốt sẽ có rủi ro thấp hơn và ngược lại
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Hiện nay tác giả chưa tìm thấy đề tài nghiên cứu nào trước đây tại Việt Nam cónội dung tương tự với nghiên cứu này nên tác giả sẽ chỉ trình bày các kết quả nghiêncứu của các đề tài nước ngoài hiện đã đăng trên các tạp chí uy tín thế giới
Có rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu các nhân tố tác động lên mức độ chấp nhậnrủi ro của các tổ chức tài chính trên thế giới như nghiên cứu của Saunder và cộng sự(1990), nghiên cứu của Boyd and Runkle (1993), nghiên cứu của Demsetz and Strahan(1997), nghiên cứu của Boyd và cộng sự (2006), nghiên cứu của Stiroh (2006), nghiên
Trang 19cứu của Laeven and Levine (2009), nghiên cứu của Houston và cộng sự (2010) haynghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) Theo mục tiêu nghiên cứu của bàinày, tác giả sẽ tập trung chính vào mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấpnhận rủi ro của các tổ chức tài chính (bảng 2.1 sẽ tóm tắt về các kết quả nghiên cứutrước đây).
Bài nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) là bài nghiên cứu nền tảngcủa bài nghiên cứu này Đề tài nghiên cứu “Size, leverage, and risk-taking of financialinstitutions” của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) diễn ra vào thời điểm sau thời kỳkhủng hoảng tài chính toàn cầu (bắt đầu từ năm 2008), nguyên nhân của khủng hoảng
là do các định chế tài chính tại thị trường Mỹ đặc biệt là các ngân hàng thương mại vàcác ngân hàng đầu tư đã có mức độ chấp nhận rủi ro quá lớn để tìm kiếm lợi nhuận,ngoài ra là do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan nhà nước đặt biệt là FED, họ đã đểcho các định chế tài chính hoạt động tự do quá mức với mức độ chấp nhận rủi ro toàn
hệ thống rất lớn Nghiên cứu này bao gồm mẫu nghiên cứu 702 tổ chức tài chính (599ngân hàng thương mại, 60 ngân hàng đầu tư và 43 công ty bảo hiểm) và dữ liệu nghiêncứu từ năm 2002 đến năm 2012, nghiên cứu bao gồm 6277 quan sát Dữ liệu được thuthập từ báo cáo Compustat và báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại,ngân hàng đầu tư và công ty bảo hiểm tại thị trường Mỹ Kết luận chính của nghiêncứu này như sau: Thứ nhất, quy mô hoạt động có mối tương quan dương với mức độchấp nhận rủi ro tại các tổ chức tài chính tại Mỹ cho giai đoạn 2002-2012 Thứ hai, cácngân hàng có mức độ chấp nhận rủi ro cao chủ yếu dựa trên gia tăng đòn bẩy tài chính.Thứ ba, các ngân hàng có sự quản trị tốt hơn sẽ ít rủi ro trong hoạt động hơn Nghiêncứu này có khuyến nghị ngoài việc giới hạn quy mô hoạt động của các ngân hàng quálớn, thì cần phải gia tăng quy định về yêu cầu vốn tối thiểu cho tất cả các tổ chức tàichính Đề nghị gia tăng yêu cầu vốn này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Admati
và Hellwig (2013), Bhagat và Bolton (2014) và Fama (2010) Ngoài ra theo Wall StreetJournal cũng đã đề nghị nâng mức yêu cầu vốn chủ sở hữu cao hơn đáng kể so
Trang 20với hiện nay (theo chuẩn Basel 2 hiện nay thì yêu cầu vốn tối thiểu chỉ là 8%).
Ngoài nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) là nền tảng của bài,nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) cũng gần tương đồng với bài nghiên cứu này,tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt Dữ liệu nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) chỉbao gồm các ngân hàng lớn niêm yết (BHCs) tại Mỹ, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia,cuộc khủng hoảng tài chính gần nhất năm 2008 nguyên nhân không chỉ bao gồm cácngân hàng niêm yết lớn BHCs mà còn bao gồm các ngân hàng nhỏ, công ty bảo hiểm,các định chế tài chính khác, nếu chỉ nghiên cứu trên các ngân hàng lớn thì sẽ khôngbao quát được tình hình chấp nhận rủi ro của hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay.Kết quả nghiên cứu của Boyd và Runkle (1993) đưa ra kết luận: tổng tài sản có mốiquan hệ tương quan âm với Z-score, độ lệch chuẩn của ROA, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữutrên tổng tài sản CAR, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mốiquan hệ tương quan dương với mức độ rủi ro của các ngân hàng niêm yết lớn tại thịtrường Mỹ
Về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của cácngân hàng, nghiên cứu của Saunder và cộng sự (1990) bao gồm mẫu nghiên cứu là 38ngân hàng niêm yết lớn tại Mỹ và dữ liệu nghiên cứu từ năm 1978 đến 1985 Dữ liệunghiên cứu được thu thập từ báo cáo CALL REPORT, biến phụ thuộc đại diện cho mức
độ chấp nhận rủi ro là độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, biến độc lập làtổng tài sản và giá trị sở hữu cổ phiếu nội bộ công ty Kết quả nghiên cứu đưa ra kếtluận: tổng tài sản có mối quan hệ tương quan dương với mức độ biến động của biến độlệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, điều này có nghĩa quy mô hoạt động củacác ngân hàng có mối quan hệ tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro của cácngân hàng niêm yết tại thị trường Mỹ
Một nghiên cứu khác cũng khá tương đồng với bài này là của nghiên cứu củaDemsetz và Strahan (1997), tập trung vào mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hànglớn niêm yết tại Mỹ (các BHC) và quy mô của các ngân hàng Nghiên cứu này bao
Trang 21gồm mẫu nghiên cứu là 134 ngân hàng niêm yết lớn tại Mỹ niêm yết trên báo cáo Y-9CReport và có số tuần giao dịch gần nhất lớn hơn 30, dữ liệu nghiên cứu từ năm 1980đến 1993 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo Y-9C Report và báo cáo thườngniên của các ngân hàng, biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro là rủi ro đặc biệt của công ty(Firm-specific risk σ(Ɛ)), biến độc lập là logarit tự nhiên của tổng tài sản Kết quảnghiên cứu đưa ra kết luận: Các ngân hàng có quy mô lớn được đa dạng hóa tốt khônglàm giảm rủi ro trong quá trong hoạt động Trong phân tích hồi quy, nghiên cứu pháthiện ra quy mô công ty có ảnh hưởng không đáng kể trong việc giảm rủi ro đặc biệtcủa công ty cho giai đoạn mẫu của họ (1980-1993) Cũng giống như nghiên cứu Boyd
và Runkle (1993), nghiên cứu của Demsetz và Strahan (1997) chỉ bao gồm các ngânhàng BHCs nên không bao quát được mức độ chấp nhận rủi ro của hệ thống các tổchức tín dụng tại thị trường Mỹ
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2008 đã tạo động lực chonhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhậnrủi ro của các ngân hàng trên thế giới Chẳng hạn như, Laeven và Levine (2009) đãnghiên cứu mẫu bao gồm 270 ngân hàng từ 48 quốc gia khác nhau cho giai đoạn từnăm 1996-2001 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ dữ liệu của Bankscope vàBankers Almanac với 10 ngân hàng niêm yết lớn nhất cho mỗi quốc gia Họ đã tìmthấy mối liên hệ tương quan dương giữa quy mô ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi rođược đo lường bằng Z-score Họ cũng tìm thấy mối quan hệ tương quan dương giữaquyền ngân lưu (cash flow rights) của các cổ đông lớn của ngân hàng và rủi ro củangân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu của Houston và cộng sự (2010) nghiên cứu mốiquan hệ giữa mức độ chấp nhận rủi ro và quy mô hoạt động của hệ thống các tổ chứctài chính trên thế giới Dữ liệu nghiên cứu gồm 300 ngân hàng trên khắp thế giới, dữliệu nghiên cứu từ năm 2000 đến 2007 được thu thập từ Bankscope và báo cáo thườngniên của các ngân hàng Biến phụ thuộc đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro là Z-score, ROA, CAR, biến động của ROA Biến độc lập là tổng tài sản, quản trị ngân
Trang 22hàng, M/B, tỷ lệ sở hữu của CEO Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản cómối quan hệ tương quan dương với mức độ biến động của biến độ lệch chuẩn lợi nhuậnhàng ngày của cổ phiếu, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng cómối quan hệ tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng niêmyết tại thị trương Mỹ.
Trong giai đoạn gần kề với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nghiêncứu của Boyd và cộng sự (2006) bao gồm mẫu nghiên cứu là 2.500 ngân hàng quy mônhỏ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ngoài địa bàn đô thị trên thế giới, dữ liệunghiên cứu chỉ trong tháng 06 năm 2003 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáoRural non-metropolitan Statistical Areas report, biến phụ thuộc đại diện cho mức độchấp nhận rủi ro là Z-score, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAR, biến độclập là logarit tự nhiên tổng tài sản Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản cómối quan hệ tương quan âm với Z-score, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sảnCAR, điều này có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tươngquan dương với mức độ rủi ro của các ngân hàng nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp.Nghiên cứu của Stiroh (2006) tập trung vào mức độ chấp nhận rủi ro của các ngânhàng lớn niêm yết tại Mỹ (các BHC) và kích cỡ của các ngân hàng Nghiên cứu baogồm mẫu nghiên cứu là 400 ngân hàng niêm yết lớn tại Mỹ niêm yết trên báo cáo Y-9CReport, dữ liệu nghiên cứu từ năm 1997 đến 2004 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từbáo cáo Y-9C Report và báo cáo thường niên của các ngân hàng, biến phụ thuộc đạidiện cho rủi ro là độ lệch chuẩn lợi nhuận theo tuần của cổ phiếu, biến độc lập làlogarit tự nhiên của tổng tài sản Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: tổng tài sản cómối quan hệ tương quan âm với độ lệch chuẩn lợi nhuận theo tuần của cổ phiếu, điềunày có nghĩa quy mô hoạt động của các ngân hàng có mối quan hệ tương quan âm vớimức độ rủi ro của các ngân hàng lớn, nghĩa là ngân hàng quy mô lớn hoạt động ít chấpnhận rủi ro hơn
Về mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và rủi ro hoạt động tín dụng trong ngân
Trang 23hàng, nghiên cứu của Berger và Bouwan (2013) đã xem xét mẫu nghiên cứu là cácNgân hàng Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2010 và đã phát hiện có mốiquan hệ tương quan dương giữa quy mô hoạt động (đo lường bằng tổng tài sản) và rủi
ro hoạt động tín dụng trong ngân hàng (được xác định bằng giá trị tài sản rủi ro đượcđịnh nghĩa trong Basel I chia cho tổng giá trị tài sản)
Về ảnh hưởng của việc quản trị ngân hàng lên mức độ chấp nhận rủi ro, nghiêncứu của Cheng và cộng sự (2010) trên mẫu nghiên cứu các các tổ chức tài chính tạiHoa Kỳ (bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm) đãnghiên cứu cấu trúc đền bù rủi ro Trong nghiên cứu này rủi ro được đo bằng beta củacông ty và biến động giá cổ phiếu của công ty có mối tương quan dương với khoản tiềnthưởng của các nhà điều hành ngân hàng, nghĩa là ngân hàng có khoản tiền thưởng caothì có mức rủi ro cao hơn
Về lợi thế của các ngân hàng thuộc diện TBTF, nghiên cứu của Baker và McArthur (2009) đã ước tính khoản cách chi phí huy động vốn giữa các ngân hàng nhỏ vàcác ngân hàng thuộc TBTF và phát hiện ra khoản cách này là 0.29% trong giai đoạn từnăm 2000 đến năm 2007 và tăng lên 0.78% trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm
2009, điều này có nghĩa các ngân hàng TBTF có thể huy động vốn với chi phí thấp hơn
so với các ngân hàng nhỏ và mức chênh lệch này càng tăng, do đó các ngân hàng có xuhướng tăng mạnh quy mô nhằm đạt được trạng thái TBTF trên thị trường Ngoài ranghiên cứu của Rime (2005) cũng cho thấy rằng các ngân hàng TBTF có mối quan hệtương quan dương với xếp hạng ngân hàng Từ những lợi thế của các ngân hàng TBTF,các ngân hàng khác đều có xu hướng gia tăng quy mô hoạt động của mình, đi cùng với
đó là gia tăng rủi ro hoạt động trong kinh doanh
Tóm lại hầu hết các nghiên cứu trước đây tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ đều có kết luận rằng: có mối quan hệ tương quan dương giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro tại các tổ chức tài chính Từ các nghiên cứu trên, tác giả sẽ vận dụng các mô hình đã được kiểm chứng thực nghiệm và xây dựng mô hình hồi quy
Trang 24cho bài nghiên cứu này Phương pháp nghiên cứu của bài sẽ được trình bày ở phần 3 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 25Tác giả Giai đoạn nghiên
cứu và số lượng mẫu
Trang 26PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu
Thước đo mức độ chấp nhận rủi ro (hay mức độ rủi ro) thường được áp dụngtrong lĩnh vực ngân hàng là hệ số Z-score với ý nghĩa là Z-score càng cao thì Ngânhàng càng ít chấp nhận rủi ro hơn hay ít rủi ro hơn và ngược lại Bài nghiên cứu nàychủ yếu tìm hiểu tác động của yếu tố quy mô hoạt động lên mức độ chấp nhận rủi rocủa các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Trong bài, tác giả sử dụng biến mức độchấp nhận rủi ro được đo lường bằng logarit tự nhiên của Z-score (ln(z-score)) và biếnquy mô được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản (ln(total assets)) Bêncạnh đó tác giả còn sử dụng thêm các biến đo lường khác thay thế cho Z-score và tổngtài sản để kiểm tra tính vững của mô hình nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu của Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun
Lu (2015) đã được đăng trên tạp chí Journal of Banking & Finance số 59 (2015), môhình nghiên cứu cơ sở của bài nghiên cứu này là mô hình hồi quy như sau:
Bank Riski = α + β1Total Assetsi + β2Director Ownershipi + β3CEO Ownershipi +β4Market-to-Booki + β5Firm Agei + β6State Owni + β7Financial Crisis Dummyi +
Trang 27+ CEO Ownershipi : Tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO củaNgân hàng/người điều hành trực tiếp ngân hàng, được đo lường bằng tỷ lệ sở hữu cổphiếu sở hữu cuối năm tài chính của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO.
+ Market-to-Booki : Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, được đo lường bằnggiá cổ phiếu cuối năm tài chính trên giá trị sổ sách của cổ phiếu trên cân đối kế toán.Biến này chỉ thu thập được đối với các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán
+ Firm Agei : Số năm thành lập của ngân hàng, được đo lường bằng năm tài chính hiện hành trừ cho năm thành lập ngân hàng
+ State Owni : Biến giả sở hữu nhà nước, đối với các ngân hàng Nhà nước sởhữu trên 50% vốn điều lệ (bao gồm BIDV, Vietcombank, Vietinbank) giá trị là 1, cácngân hàng còn lại giá trị là 0
+ Financial Crisis Dummyi : Biến giả giai đoạn khủng hoảng, giai đoạn khủnghoảng được hiểu là từ năm 2009 (năm đánh dấu khủng hoảng trên thị trường tài chínhthế giới tác động đến kinh tế Việt Nam) đến năm 2012 (năm đánh dấu sự ra đời của đề
án 254 về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam), giai đoạn năm2007-2008 được xem là trước khủng hoảng, giai đoạn 2013-2015 được xem là saukhủng hoảng Biến giả này có giá trị là 1 cho giai đoạn 2009-2012 và giá trị là 0 chohai giai đoạn 2007-2008 và 2013-2015
+ GDPi : Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế năm tài chính
+ CPIi : Tỷ lệ lạm phát năm tài chính
Bài nghiên cứu này có thay đổi đôi chút so với nghiên cứu của Sanjai Bhagat vàcộng sự (2015) ở các điểm: Biến Market-to-book chỉ áp dụng để chạy cho các ngânhàng có niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, các ngân hàng còn lại không thể thuthập được dữ liệu này do thông tin về giao dịch không công khai (giao dịch thỏa thuận)
và nhiều cổ phiếu hiện nay không phát sinh giao dịch trên sàn nên không xác địnhđược chính xác giá thị trường của cổ phiếu Tác giả bổ sung thêm biến State Own (sở
Trang 28hữu nhà nước) là biến kiểm soát để kiểm tra tác động của các ngân hàng thuộc sở hữunhà nước đến mức độ chấp nhận rủi ro, bổ sung thêm hai biến GDP và CPI để xem tácđộng từ môi trường vĩ mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của các Ngân hàng tại ViệtNam Bài nghiên cứu này chủ yếu nhằm mục đích kiểm tra nhân tố quy mô hoạt độngđến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, các biến cònlại là biến kiểm soát để đảm bảo mô hình hồi quy hiệu quả.
Trong quá trình chạy mô hình hồi quy, tác giả còn sử dụng bổ sung thêm các môhình hồi quy khác để kiểm định tính vững của kết quả nghiên cứu và nhằm tìm hiểu rõhơn tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc là mức độ rủi ro của Ngânhàng
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu cho bài nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ Vietstock (Công tycung cấp thông tin tài chính lớn tại Việt Nam với nguồn dữ liệu mở có độ tin cậy cao)nơi mà tác giả thu thập dữ liệu hàng năm của tất cả các ngân hàng thương mại tại ViệtNam, dữ liệu được thu thập theo giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 Sau đó tác giảthu thập thêm những dữ liệu còn thiếu thông qua việc tự thu thập thông tin từ các báocáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tác giảthu thập toàn bộ thông tin tài chính của hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam(trừ Ngân hàng Agribank không công bố báo cáo và các Ngân hàng nước ngoài dohạch toán phụ thuộc vào ngân hàng mẹ) Tổng số ngân hàng thu thập dữ liệu là 28 ngânhàng (trên tổng số 33 ngân hàng tại Việt Nam, ngoại trừ Agribank, CB Bank, Vietbank,BaoVietbank, Oceanbank do không thu thập đủ dữ liệu) bao gồm 246 quan sát theonăm, đây là mẫu đủ đại diện cho toàn bộ các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Việc thu thập dữ liệu bắt đầu từ dữ liệu thô do Vietstock cung cấp, trong đó baogồm 24 Ngân hàng và thông tin tài chính cơ bản cho giai đoạn từ năm 2007 đến năm
2015 Tuy nhiên bộ dữ liệu này chưa đầy đủ và chưa bao gồm các biến như số lượng
Trang 29nhân viên ngân hàng, số lượng chi nhánh phòng giao dịch, tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hộiđồng quản trị/CEO, giá trị cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO… do đối tácVietstock không đủ thông tin Sau đó tác giả phải thu thập thủ công thêm các thông tincòn thiếu để nâng tổng số mẫu lên 28 Ngân hàng với 246 quan sát Trong quá trình thuthập dữ liệu, tác giả đã phải thu thập thủ công từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niêncủa các ngân hàng để hoàn thành bộ dữ liệu nghiên cứu Đây là bộ dữ liệu gần như đầy
đủ các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam, chiếm 28/33 ngân hàng tạiViệt Nam
3.3 Mô tả biến nghiên cứu
3.3.1 Biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (biến phụ thuộc)
Thước đo mức độ chấp nhận rủi ro chính trong bài nghiên cứu là Z-score, được
đo bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) cộng với tỷ lệ tài sản vốn (CAR), chia cho độlệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản (σ(ROA)):
(ROA + CAR)
Z − score =
σ(ROA)Trong ngân hàng, định nghĩa về vốn hoàn toàn khác biệt so với các lĩnh vực phingân hàng Theo thước đo quy định trong Basel I, vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, cácquỹ dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối, trong khi đó vốn cấp 2 bao gồm lợi nhuậnchưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công
cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp dài hạn Việc thu thập vốn tự có theochuẩn Basel I là vốn cấp 1 và vốn cấp 2 tại Việt Nam là không khả thi do trước đây cácngân hàng tại Việt Nam không tách bạch được vốn cấp 1 và vốn cấp 2 mà chỉ dùngchung là vốn chủ sở hữu hay vốn điều lệ, đến hiện nay việc báo cáo về vốn tự có củacác ngân hàng thương mại vẫn chưa được công bố rộng rãi trên các báo cáo thườngniên của ngân hàng mà chỉ dùng để báo cáo nội bộ và báo cáo cho ngân hàng nhà nước
để thực hiện tính toán các chỉ số an toàn vốn và đáp ứng quy định của luật các tổ chứctín dụng về hoạt động cho vay cấp bảo lãnh Do đó trong bài nghiên cứu này, tác giả sử
Trang 30dụng CAR được đo bằng tổng tài sản trừ đi tổng nợ phải trả, chia cho tổng tài sản Đây
là công thức tính CAR được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu hiện nay, nhưnghiên cứu của Sanjai Bhagat (2015), Laeven và Levine (2009), Houston và cộng sự(2010), Vyas (2011)…
Z-score được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu nước ngoài để đo lườngmức độ rủi ro của các công ty phi tài chính cũng như các ngân hàng Z-score đo lườngrủi ro phá sản của các công ty và cả các ngân hàng Một giá trị Z-score cao nghĩa làngân hàng đó có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn và hoạt động ổn định hơn Bởi vì Z-score là một giá trị chệch nên tác giả áp dụng phương pháp theo nghiên cứu của SanjaiBhagat và cộng sự (2015), Laeven and Levine (2009) và Houston và cộng sự (2010) là
sử dụng logarit tự nhiên của Z-score để đo lường rủi ro Tuy nhiên, vấn đề trong tínhtoán là nhiều khả năng Z-score sẽ bị âm do nhiều ngân hàng hoạt động trong tình trạng
bị lỗ thì khi đó sẽ không tính toán được logarit tự nhiên của Z-score để áp dụng trong
mô hình Khi thu thập dữ liệu, tác giả không bị trường hợp nào Z-score bị âm nên tácgiả đã sử dụng logarit tự nhiên của Z-score trong quá trình tính toán Trong tính toán Z-score, ROA và CAR được sử dụng là giá trị hàng năm và σ(ROA) là độ lệch chuẩn củaROA hàng năm tính trên khoảng thời gian 5 năm cho mỗi quan sát Tác giả tínhσ(ROA) dựa trên nghiên cứu của Sanjai Bhagat (2015), Laeven and Levine (2009) vàHouston và cộng sự (2010)
Z-score có một số hạn chế khi được dùng để tính mức độ chấp nhận rủi ro củacác ngân hàng thương mại Hạn chế quan trọng nhất là Z-score là được tính toán hoàntoàn dựa trên các số liệu kế toán Do đó, chỉ số Z-score chỉ được xem là tốt trongnghiên cứu khi các ngân hàng áp dụng chung một khuôn khổ kế toán và kiểm toán vàchuẩn mực này phải được áp dụng nghiêm tại toàn bộ hệ thống Ngân hàng, tránh tìnhtrạng sử dụng các thủ thuật kế toán để che dấu số liệu Nếu các ngân hàng có thể tìmcách làm mịn các số liệu báo cáo, nghĩa là các ngân hàng tìm cách để số liệu ROA ítbiến động để làm sao cho chỉ số σ(ROA) nhỏ nhất, khi đó Z-score có thể cung cấp một
Trang 31đánh giá quá tích cực của mức độ rủi ro và sự ổn định các ngân hàng Ngoài ra, Z-scorecòn tính cho từng ngân hàng riêng biệt, việc tính toán này không xét đến mức độ rủi rocủa các ngân hàng khác đến mức độ rủi ro chung của cả hệ thống qua đó tác động đếnmức độ rủi ro của ngân hàng ta đang tính đến Tuy nhiên lợi thế khi áp dụng Z-scoretrong tính toán mức độ rủi ro là việc thu thập dữ liệu khá đơn giản và có thể áp dụng tạicác thị trường mà việc tính toán chỉ số rủi ro dựa trên thị trường là rất khó khăn dothiếu thông tin và không đủ dữ liệu như tại thị trường chứng khoán Việt Nam Ngoài
ra, Z-score cho phép so sánh nguy cơ vỡ nợ giữa các ngân hàng với nhau dù rằng cácngân hàng có thể khác nhau về quyền sở hữu hoặc khác nhau về quản trị công ty hoặckhác nhau về mục tiêu hướng tới trong tương lai Từ những nhận định trên, tác giảnhận thấy việc sử dụng Z-score trong tính toán mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngânhàng Việt Nam là hợp lý tại thời điểm hiện nay và phù hợp với thông lệ nghiên cứutrên thế giới
Khi chạy mô hình Robustness Check, tác giả còn sử dụng thêm biến đo lườngrủi ro khác là độ lệch chuẩn của lợi nhuận cổ phiếu theo ngày (σ(RET)) Chỉ số nàycho thấy phản ứng của thị trường về mức độ rủi ro của công ty phản ánh theo ngày.Đây là mức đo bổ sung cho Z-score được áp dụng khá phổ biến trong các nghiên cứunước ngoài như nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) hay Vyas (2011)
Để tìm hiểu kỹ hơn về từng nhân tố trong cấu thành Z-score trong mối quan hệvới các biến độc lập (như là biến quy mô, tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị,hoặc việc sở hữu của chính phủ…), tác giả còn sử dụng từng cấu thành trong Z-score làlợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ tài sản vốn (CAR), độ lệch chuẩn của lợi nhuận trêntài sản (σ(ROA)) như là biến phụ thuộc để áp dụng chạy mô hình Việc phân tích từngcấu thành này nhằm nghiên cứu kỹ thêm việc Z-score chịu ảnh hưởng nhiều từ nhân tốnào và nhân tố đó chịu ảnh hưởng như thế nào từ quy mô hoạt động của ngân hàng
3.3.2 Biến đo lường quy mô hoạt động ngân hàng
Thước đo quy mô trong hoạt động ngân hàng có nhiều cách thức lựa chọn khác
Trang 32nhau Cách đầu tiên là dựa trên số liệu kế toán, thước đo quy mô này có thể áp dụng làtổng tài sản của ngân hàng hay tổng doanh thu của ngân hàng Cách thứ hai là dựa trên
số liệu thị trường, thước đo quy mô này có thể áp dụng là tổng vốn hóa trên thị trườngchứng khoản của ngân hàng Theo các nghiên cứu nước ngoài mà tác giả tìm hiểu vàtình hình thực tế là ít ngân hàng Việt Nam niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, tácgiả chủ yếu tập trung vào số liệu kế toán là tổng tài sản để đại diện cho biến quy môhoạt động ngân hàng Nguyên nhân do tổng tài sản là số liệu dễ thu thập từ báo cáo tàichính và thường được áp dụng để so sánh quy mô các ngân hàng tại thị trường ViệtNam Để chạy kiểm định lại ảnh hưởng của quy mô hoạt động ngân hàng đến mức độchấp nhận rủi ro tác giả còn sử dụng thước đo tổng doanh thu thay thế cho tổng tài sản.Tác giả xem xét biến quy mô ngân hàng là một biến có thước đo liên tục Tác giả dựkiến xác định biến giả là TBTF (quá lớn để thất bại) để tìm hiểu tác động của trạng tháiTBTF đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng Một tham chiếu có thể áp dụng là 5ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất sẽ được xem là đạt trạng thái TBTF Tuy nhiênviệc tính toán đúng ngưỡng của trạng thái TBTF tại thị trường Việt Nam gặp rất nhiềukhó khăn do chưa có nghiên cứu nào trước đây tìm hiểu rõ về trạng thái này Do đó tácgiả quyết định không áp dụng biến giả cho trạng thái TBTF để chạy mô hình hồi quy
Áp dụng theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015), tác giả sử dụngbiến logarit tự nhiên của tài sản và doanh thu cho giai đoạn nghiên cứu từ năm 2007-
2015 khi chạy mô hình hồi quy nguyên nhân do tổng tài sản và tổng doanh thu cũng làmột đại lượng chệch khi chạy mô hình Tác giả cũng kỳ vọng rằng biến quy mô sẽ cómối quan hệ tương quan dương với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro, do tác giả
kỳ vọng Ngân hàng có quy mô hoạt động càng lớn càng có mức rủi ro nhiều hơn
3.3.3 Biến đo lường sự quản trị công ty
Áp dụng theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat và các cộng sự (2015), tác giả sửdụng phương pháp đo lường sự quản trị công ty dựa trên giá trị cổ phiếu sở hữu củachủ tịch hội đồng quản trị hay CEO của Ngân hàng/người điều hành trực tiếp ngân
Trang 33hàng, được đo lường bằng logarit tự nhiên của giá trị cổ phiếu sở hữu cuối năm tàichính của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO Đây là phương pháp được phát triển bởiBhagat và Bolton (2008) và được sử dụng phổ biến tại các nghiên cứu về tài chính hiệnnay Biến này được phát triển dựa trên ý tưởng rằng các nhà quản trị điều hành ngânhàng sẽ có trách nhiệm hơn với ngân hàng trong việc giám sát rủi ro và quản trị rủi rokhi họ là người có nhiều tài sản tại Ngân hàng, thuật ngữ tiếng anh là “Skin in thegame” Điều này cũng phù hợp với thực tế hiện nay đang áp dụng tại các lĩnh vực khác,nhiều công ty đã khuyến khích các nhà quản lý sở hữu nhiều cổ phiếu hơn trong công
ty thông qua việc chia thưởng bằng cổ phiếu với điều khoản hạn chế mua bán trongthời gian vài năm đầu Thực tế hiện nay nhiều công ty còn yêu cầu người quản lý phải
sở hữu tối thiểu bao nhiêu cổ phiếu để được điều hành hoạt động công ty (chẳng hạncông ty NIKE tại Mỹ yêu cầu các nhà quản lý phải sở hữu tối thiểu 100.000 USD cổphiếu của NIKE vào năm 2013) Do đó hoạt động của ban quản trị công ty sẽ bị phụthuộc vào giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ Lợi thế lớn nhất trong việc sử dụng giá trị cổphiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO của Ngân hàng đại diện cho sựquản trị công ty so với việc áp dụng các chỉ tiêu khác như là G-index (nghiên cứu củaGornpers và cộng sự (năm 2013)) hay E-index (nghiên cứu của Bebchuk và cộng sự(năm 2009)) là đơn giản hơn, dễ dàng để thu thập thông tin và ít bị lỗi trong tính toán
Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) và Bhagat và Bolton (2008) xem giá trị sở hữucủa chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO là yếu tố chính tác động lên quyết định quản trịcông ty của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO hơn là các yếu tố khác như là tỷ lệ sởhữu cổ phiếu của CEO Nguyên nhân do các nhà quản lý quan tâm đến lượng tiền họđang nắm giữ hơn là tỷ lệ cổ phiếu họ đang nắm Đây cũng là điều được nhận thấytrong các nghiên cứu của Murphy và Shleifer (2004) hay nghiên cứu của Milanovic(2004) Theo như trình bày ở trên, việc thu thập dữ liệu giá trị cổ phiếu của chủ tịch hộiđồng quản trị hay CEO là rất khó khăn do sự hạn chế từ dữ liệu cung cấp từ Vietstock,
do đó tác giả phải tự thu thập dữ liệu nghiên cứu từ các báo cáo thường niên của ngân
Trang 34hàng và từ các dữ liệu thu thập được trên internet Đối với các ngân hàng niêm yết, giátrị cổ phiếu được tính dựa trên thị giá của cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị hayCEO, còn đối với các ngân hàng chưa niêm yết, giá trị cổ phiếu được tính dựa trên giátrị sổ sách của cổ phiếu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO Tác giả cũng kỳ vọngrằng biến giá trị cổ phiếu sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO sẽ có mốiquan hệ tương quan âm với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro, do tác giả kỳ vọngNgân hàng có sự quản trị tốt (hàm ý chủ tịch hay CEO có động lực quản trị công ty tốthơn) sẽ có mức độ rủi ro ít hơn.
3.3.4 Biến tỷ lệ sở hữu của CEO/chủ tịch hội đồng quản trị
Các nhà quản lý e ngại rủi ro có xu hướng chấp nhận rủi ro ít hơn so với cácmức rủi ro tối ưu nhằm bảo vệ nguồn nhân lực công ty, cụ thể là mức lương họ đượchưởng, vì thu nhập làm việc của họ thường gắn liền với những thay đổi trong giá trịcông ty Đây là vấn đề người đại diện (agency problem) được nêu lên nhiều lần tại cácnghiên cứu trước đây Ví dụ như trong nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976),Amihud và Lev (1981), và Smith và Stulz (1985) Tuy nhiên, việc nhà quản lý công ty
sở hữu nhiều cổ phần sẽ khiến họ hành động dựa trên động lực phù hợp với các cổđông công ty Vì vậy, tác giả kỳ vọng rằng có mối quan hệ tương quan dương giữa tỷ lệ
sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO với mức độ chấp nhận rủi ro
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về cấu trúc sở hữu vốn trong công ty đến mức độchấp nhận rủi ro trong công ty Ví dụ như trong lĩnh vực phi tài chính, nghiên cứu củaAgrawal và Mandelker (1987) đã tìm thấy mối quan hệ tương quan dương giữa tỷ lệ sởhữu của nhà quản lý và mức độ thay đổi giá trị công ty Trong khi đó, theo nghiên cứucủa John và cộng sự (2008) đã tìm thấy rằng các nhà quản lý có tỷ lệ sở hữu lớnthường có chiến lược đầu tư dưới mức tối ưu, nghĩa là có mức độ chấp nhận rủi ro dướimức tối ưu Sauders và cộng sự (1990) đã tìm thấy rằng các cổ đông thường kiểm soátngân hàng với mức độ rủi ro cao hơn so với các nhà quản lý kiểm soát ngân hàng.Demsetz và cộng sự (1997) tìm thấy mối quan hệ quan trọng giữa cấu trúc ngân hàng
Trang 35và mức độ chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng có quy mô nhỏ.
Tác giả sử dụng biến tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị/CEO và thước
đo cấu trúc sở hữu vốn của ngân hàng Giống như biến đo lường sự quản trị công ty,tác giả đã thu thập thủ công tỷ lệ sở hữu của CEO/chủ tịch hội đồng quản trị từ các báocáo thường niên của ngân hàng và từ dữ liệu thu thập trên internet Tác giả cũng kỳvọng rằng biến tỷ lệ sở hữu của chủ tịch hội đồng quản trị hay CEO sẽ có mối quan hệtương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro
3.3.5 Biến tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách (Market to book ratio)
Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (M/B) được xem là yếu tố quan trọngtrong mô hình định giá tài sản Ví dụ, theo mô hình năm nhân tố của Fama và French(1992) đã chỉ ra rằng các công ty có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường càng cao(hoặc tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách càng thấp) thì có nhiều khả năng đangtrong giai đoạn khủng hoảng tài chính và tìm ẩn rủi ro phá sản cao Tác giả tính toángiá trị này bằng cách chia giá trị thị trường của cổ phiếu kết thúc năm báo cáo tài chínhcho giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính theo năm
Trong lý thuyết ngân hàng, tỷ lệ M/B thường được xem là một thước đo giá trịngân hàng Giá trị M/B rất có ý nghĩa bởi vì đây được xem là rào cản để gia nhập thịtrường và thường được xem là như kỳ vọng của thị trường về khả năng tạo ra lợi nhuậncủa ngân hàng Giá trị M/B thấp có ý nghĩa là thị trường kỳ vọng thấp về khả năng tạo
ra lợi nhuận của ngân hàng hay tình hình tài chính của ngân hàng gặp nhiều rủi ro, khảnăng phá sản của các ngân hàng có M/B thấp (bé hơn 1) cao hơn nhiều so với các ngânhàng khác Theo nghiên cứu của Demsetz và cộng sự (1997), nghiên cứu của Galloway
và cộng sự (1997), đã phát hiện rằng các ngân hàng có giá trị M/B thấp sẽ có mức độrủi ro cao hơn so với các ngân hàng có M/B cao Từ đó, tác giả kỳ vọng rằng biến M/B
sẽ có mối quan hệ tương quan âm với biến đo lường rủi ro của các ngân hàng
Tuy nhiên việc thu thập giá trị M/B tại Việt Nam cho tất cả các ngân hàng trongmẫu nghiên cứu là không khả thi do chỉ có 6/28 ngân hàng đang niêm yết trên thị
Trang 36trường chứng khoán HOSE và HNX Trong khi đó các ngân hàng không niêm yết hoặcđược giao dịch trên thị trường UPCOM không thể thu thập đầy đủ giá giao dịch, do đóđối với các ngân hàng này không thể tính được giá trị M/B Trong nghiên cứu này, tácgiả chỉ phân tích tác động của yếu tố M/B cho các ngân hàng được niêm yết trên thịtrường chứng khoán HOSE và HNX bao gồm Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàngQuốc Dân (NCB), Ngân hàng Quân Đội (MB BANK), Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội(SHB), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK), Ngân hàng Xuất NhậpKhẩu (EXIMBANK), Ngân hàng Ngoại Thương (Vietcombank), Ngân hàng CôngThương Việt Nam (VIETINBANK), Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam(BIDV).
3.3.6 Biến số năm thành lập ngân hàng
Các ngân hàng hoạt động lâu trên thị trường thường có xu hướng chấp nhận rủi
ro ít hơn so với các ngân hàng mới thành lập, nguyên nhân do các ngân hàng thành lậplâu đã có thị phần ổn định và có nền khách hàng vững chắc do đó họ có ít động lực hơn
để gia tăng rủi ro nhằm phát triển thị phần Còn đối với các ngân hàng mới thành lập,
họ có động lực để gia tăng rủi ro nhằm tìm kiếm thị phần mới và gia tăng lợi nhuận vàngoài ra còn giúp cho nhà quản lý ngân hàng thể hiện năng lực quản lý của mình trướccác cổ đông
Do đó, tác giả sẽ dùng biến số năm thành lập ngân hàng như là biến kiểm soátvới kỳ vọng rằng các ngân hàng hoạt động lâu năm sẽ quản trị rủi ro tốt hơn và ít rủi rohơn so với các ngân hàng mới thành lập
3.3.7 Biến giả sở hữu nhà nước
Hiện nay, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam phân thành 2 nhóm sở hữu Nhóm 1gồm các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước chi phối, nghĩa là nhà nước chiếm trên50% vốn chủ sở hữu, nhóm 2 gồm các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc tư nhân.Trong nhóm 1 gồm các ngân hàng có quy mô lớn, bao gồm BIDV, Vietcombank,Vietinbank, Agribank, MHB (Agribank và MHB không thuộc mẫu nghiên cứu do
Trang 37Agribank không thu thập đủ dữ liệu, còn MHB đã được sáp nhập với BIDV vào năm2015) Trong nhóm 2 bao gồm cả các ngân hàng có quy mô lớn, quy mô nhỏ và vừa.Nguyên nhân do các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thường được ưu đãi và nhậnđược nhiều hỗ trợ của nhà nước và nhận được sự cam kết chắc chắn sẽ được cứu trợnếu xảy ra khủng hoảng nên theo nhận định các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nướcthường có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn các ngân hàng không thuộc sở hữu nhànước.
3.3.8 Biến giả khủng hoảng tài chính
Thị trường tài chính Việt Nam cũng chịu tác động rất lớn từ cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu Do đó yếu tố mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng cũng chịu tácđộng từ cuộc khủng hoảng tài chính này Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng biếngiả khủng hoảng tài chính với giai đoạn khủng hoảng được hiểu là từ năm 2009 (nămđánh dấu khủng hoảng trên thị trường tài chính thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam)đến năm 2012 (năm đánh dấu sự ra đời của đề án 254 về tái cấu trúc hệ thống ngânhàng thương mại tại Việt Nam), giai đoạn năm 2007-2008 được xem là trước khủnghoảng, giai đoạn năm 2013-2015 được xem là sau khủng hoảng Trái ngược với cácnghiên cứu trên thế giới như nghiên cứu của Sanjai Bhagat và cộng sự (2015) trong đótrong giai đoạn khủng hoảng tài chính rủi ro của các ngân hàng thấp hơn do sự kiểmsoát của các nhà quản lý, trong nghiên cứu này tác giả kỳ vọng trong giai đoạn khủnghoảng tài chính mức độ chấp nhận rủi ro sẽ cao hơn vì trong giai đoạn này các ngânhàng đẩy mạnh tăng trưởng quy mô hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận và chiếm lĩnh thịtrường, tác giả kỳ vọng sau khủng hoảng rủi ro của các ngân hàng sẽ thấp hơn dù quy
mô hoạt động tăng so với giai đoạn trước vì các chính sách tái cơ cấu thị trường ngânhàng của Ngân hàng nhà nước theo đề án 254 năm 2012
3.3.9 Biến kiểm soát GDP và CPI
Hoạt động ngân hàng tại Việt Nam chịu tác động mạnh từ các yếu tố vĩ mô nhưtăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá, cán cân thanh toán, chính sách của ngân hàng nhà
Trang 38nước… Các yếu tố này tác động trực tiếp đến hoạt động hàng ngày của ngân hàng, tác
động trực tiếp đến lợi nhuận và hiệu quả của các ngân hàng, qua đó tác động đến mức
độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Do đó tác giả sử dụng
bổ sung hai biến kiểm soát là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế GDP và lạm phát CPI trong quá
trình chạy mô hình hồi quy
Sau khi chạy mô hình hồi quy thì thật sự có mối liên hệ tương quan giữa GDP
CPI đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng tại Việt Nam
Bảng 3.1: Tóm tắt biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu
Assetsi
hội đồngtrị/CEO
quản trị/CEO
của ngân hàng
Trang 39State Owni Biến giả sở hữu
3.4 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu
Thước đo chính về mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại
Việt Nam là Z-score với hàm ý các ngân hàng có Z-score cao hơn sẽ có mức chấp nhận
rủi ro ít hơn, hay có rủi ro ít hơn, hay có mức ổn định hoạt động tốt hơn Bài nghiên
cứu này tác giả chú trọng đến việc tìm hiểu xem quy mô hoạt động của các ngân hàng
tại Việt Nam có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng hay không
Trang 40Các ngân hàng có quy mô lớn có mức độ chấp nhận rủi ro nhiều hơn hay không, hay cóphát sinh chiều ngược lại Trong bài này, quy mô hoạt động được dùng chủ yếu bởithước đo logarit tự nhiên của tổng tài sản (ln(total assets)) và thước đo này áp dụngxuyên suốt trong bài nghiên cứu Trong quá trình chạy mô hình nếu tác giả sử dụng cácthước đo khác đại diện cho quy mô hoạt động như tổng doanh thu thì tác giả sẽ nêu rõtrước khi trình bày kết quả mô hình hồi quy.
Trong bài nghiên cứu tác giả đã thu thập dữ liệu từ kênh thông tin Vietstock vàthu thập thủ công từ các báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Các dữliệu thu thập được trình bày dưới dạng dữ liệu bảng (Panel Data) để áp dụng vào môhình hồi quy
Về định nghĩa, dữ liệu bảng đôi khi còn được gọi là dữ liệu gộp (longitudinaldata) mô tả nhiều đại lượng tương ứng với tần số quan sát qua nhiều đối tượng theomột chuỗi thời gian xác định cho từng đối tượng là như nhau Có thể nói dữ liệu bảng
là sự kết hợp của dữ liệu chéo (cross-section) và dữ liệu chuỗi thời gian (time series)
Dữ liệu bảng có nhiều ưu thế hơn so với nhóm dữ liệu thông thường, điển hình dữ liệubảng có 2 điểm nổi trội như sau
Đầu tiên, các tham số ước lượng trong mô hình hồi quy bằng dữ liệu bảng sẽcho kết quả có độ tin cậy cao hơn, điều này được thể hiện qua ba yếu tố: thứ nhất dữliệu bảng sẽ kiểm soát được những thành phần không quan sát được Các thành phầnnày có thể không giống nhau giữa các đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gianhoặc có thay đổi theo thời gian nhưng giống nhau giữa các đối tượng Điều này phầnnào đã làm thay đổi để giảm sự chênh lệch trong ước lượng tham số mô hình Yếu tốthứ hai, thông thường sự biến động trong dữ liệu bảng thường nhiều hơn so với dữ liệuchéo hoặc dữ liệu chuỗi thời gian Sự biến động cho một đặc điểm trong dữ liệu càngnhiều thì hiển nhiên độ chính xác của các ước lượng đó càng tăng, tức là có nhiều biếnđộng thì càng có nhiều giải thích cho việc ước lượng tham số Yếu tố thứ ba, có ít đacộng tuyến trong các biến giải thích ở dữ liệu bảng hơn so với dữ liệu chéo hoặc dữ