1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng triển khai chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố hồ chí minh giai đoạn 2010 2015

79 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 191,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN MINH HÙNGTHỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC MẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2010 -2015 Chuyên ngành :

Trang 1

NGUYỄN MINH HÙNG

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG

CÁC MẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIAI ĐOẠN 2010 -2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 3

NGUYỄN MINH HÙNG

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG

CÁC MẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIAI ĐOẠN 2010 -2015

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

Mã số : 60310102

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN VĂN TRÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 4

TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC M ẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰCPHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN

2010 -2015” là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quátrình công tác, học tập và nghiên c ứu trong thời gian qua, số liệu sử dụng là trungthực và có trích dẫn rõ ràng Lu ận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa họccủa PGS.TS Nguyễn Văn Trình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Minh Hùng

Trang 5

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng biểu

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ Ở VIỆT NAM 5

1.1 Lý lu ận về giá cả, giá cả thị trường và các nhân t ố ảnh hưởng 5

1.1.1 Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của C.Mác, Ph.Ăngghen 5

1.1.2 Giá cả thị trường 6

1.1.3 Đặc trưng của giá cả thị trường 7

1.1.4 Các nhân t ố ảnh hưởng đến giá cả thị trường 8

1.2 Một số nghiên cứu khoa học về bình ổn giá 14

1.3 Điều hành giá các m ặt hàng thiết yếu ở Việt Nam hiện nay 16

1.3.1 Chủ trương quản lý giá trong n ền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta 17

1.3.2 Khuôn kh ổ pháp lý 19

1.3.3 Kinh nghiệm điều hành giá trên c ả nước do các cơ quan trung ương thực hiện 20

1.3.4 Điều hành giá t ại các địa phương do Ủy ban nhân dân c ấp tỉnh thực hiện 23

TÓM TẮT CHƯƠNG I 24

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC MẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. 25

Trang 6

2.1.2 Ý ngh ĩa của Chương trình Bình ổn thị trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 26

2.2 Nội dung thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh 27

2.2.1 Công tác xác định mặt hàng thực hiện bình ổn thị trường 27

2.2.2 Công tác d ự báo, đánh giá thị trường 29

2.2.3 Phương thức tạo nguồn cung hàng hóa để bình ổn thị trường 31

2.2.3.1 Lựa chọn doanh nghiệp tham gia Chương trình Bình ổn thị trường 32

2.2.3.2 Chính sách hỗ trợ thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất 35

2.2.3.3 Chính sách kết nối cung – cầu với các tỉnh, thành 36

2.2.4 Phân phối hàng hóa bình ổn thị trường 38

2.2.5 Giá bán hàng bình ổn thị trường 42

2 2.5.1 Xác định giá bán 42

2.2.5.2 Kiểm tra giá bán 43

2.2.6 Nguồn vốn thực hiện Chương trình Bìnhổn thị trường 44

2.2.7 Phân công, ph ối hợp tổ chức triển khai thực hiện 46

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình Bìnhổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2014 48

2.3.1 Đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu 48

2.3.2 Những mặt tích cực 49

2.3.3 Những mặt hạn chế 50

2.3.4 Nguyên nhân t ồn tại 51

2.3.4.1 Nguyên nhân khách quan 51

Trang 7

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC

HIỆN CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC MẶT HÀNG

LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN

TPHCM GIAI ĐOẠN 2015 – 2025. 56

3.1 Quan điểm, định hướng 563.2 Định hướng thực hiện Chương trình Bìnhổn thị trường 573.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hi ệu quả thực hiện Chương trình

Bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa

bàn thành ph ố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2025 57

3.3.1 Nâng cao hiệu quả công tác d ự báo, đánh giá thị trường để định

hướng sản xuất, tạo nguồn hàng 57

3.3.2 Giải pháp tạo nguồn cung hàng hóa b ền vững 593.3.2.1 Xây dựng Chuỗi cung ứng tối ưu các sản phẩm bình ổn thị

trường 60

3.3.2.2 Xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực thực hiện Chương trình

Bình ổn thị trường 61

3.3.3 Giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại, gia tăng hiệu

quả lưu thông hàng hóa 62

3.3.4 Giải pháp quản lý th ị trường, kiểm tra, kiểm soát, phòng ch ống

gian lận thương mại 63

3.4 Một số khuyến nghị đối với cơ quan điều hành giá c ấp Trung

ương 64

TÓM TẮT CHƯƠNG III 67 PHẦN KẾT LUẬN 68

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

- Bảng 2.2: Nhu cầu tiêu thụ một số nhóm m ặt hàng thiết yếu năm 2015. 28

- Bảng 2.3: nhu cầu tiêu thụ một số nhóm m ặt hàng thiết yếu năm 2015. 30

- Bảng 2.4: So sánh chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của TPHCM và cả nước. 49

Trang 9

2. Cục Thống kê thành ph ố Hồ Chí Minh, 2014 Niên giám Thống kê năm

2013 TPHCM: Nhà xuất bản Thanh Niên

3. Cục Thống kê thành ph ố Hồ Chí Minh, 2015 Niên giám Thống kê năm

2014 TPHCM: Nhà xuất bản Thanh Niên

4. Cục Quản lý Giá – Bộ Tài chính, 2007 Tài liệu bồi dưỡng kiến thứcngắn hạn chuyên ngành th ẩm định giá: chuyên đề Nguyên lý hình thành giá c ả thị trường

5. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013 Văn kiện Đại hội Đảng Thời kỳ đổi mới

và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI) Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị

Quốc Gia

6. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các bộ

môn khoa h ọc Mác – Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, 2014 Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lê Nin Hà N ội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia

7. Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh, 2011 Báo cáo sơ kết Chươngtrình Bình ổn thị trường trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh năm 2010 –

Trang 10

11. Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh, 2015 Báo cáo sơ kết Chươngtrình Bình ổn thị trường trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh năm 2014 –

Tết Ất Mùi 2015

12. Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh, 2015 Báo cáo tình hình triểnkhai Chương trình Bình ổn thị trường trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh năm 2014 – Tết BínhThân 2016

13. Quốc Hội Nước Cộng hòa xã h ội chủ nghĩa Việt Nam, 2012 Luật Giá

Hà N ội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia

14. Ủy ban nhân dân thành ph ố Hồ Chí Minh, 2010 Báo cáo tổng kết 09năm thực hiện Chương trình Bìnhổn thị trường trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh (giai đoạn

2002 – 2010)

15. Ủy ban nhân dân thành ph ố Hồ Chí Minh, 2015 Quyết định Về banhành Kế hoạch thực hiện Chương trình Bìnhổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩmthiết yếu trên địa bàn Thành ph ố Hồ Chí Minh năm 2015 và Tết Bính Thân 2016

16 Website:

- Vũ Văn Phúc, 2008 Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta http://dangcongsan.vn

- Vương Đình Huệ, 2015 Chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thểchếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

http://daihoi12.dangcongsan.vn

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Sau gần 30 năm đổi mới, phát triển đất nước và trong bối cảnh hội nhập quốc

tế ngày càng sâu r ộng, nhiều vấn đề lý lu ận và thực tiễn về nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần được tổng kết để bổ sung, hoàn chỉnh Từchủ trương ban đầu xác định tại Đại hội VI (1986) là “phát triển nền kinh tế hàng hóanhi ều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường

có s ự quản lý c ủa nhà nước”; đến Đại hội IX (2001) Đảng ta đã xác định “thực hiệnnhất quán và lâu dài chính sách phát tri ển nền kinh tế hàng hóa nhi ều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường, có s ự quản lý c ủa nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và tiếp tụckhẳng định tại Đại hội XI (2011) “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhi ều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường

có s ự quản lý c ủa nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”; trong đó, “Nhànước quản lý n ền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng luật pháp, cơchế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế, giữ vững

ổn định kinh tế vĩ mô, t ạo lập, phát triển đầy đủ , đồng bộ các yếu tố thị trường vàcác lo ại thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh củanền kinh tế, định hướng phát triển, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặttrái, tiêu c ực của cơ chế thị trường”

Nhận thức sâu sắc quan điểm trên, thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là đô thịđặc biệt, là đầu tàu, động lực, có s ức thu hút và s ức lan tỏa lớn của vùng kinh t ếtrọng điểm phía Nam, đã không ng ừng sáng tạo, triển khai nhiều cơ chế, chính sách,giải pháp đồng bộ, linh hoạt, góp ph ần tích cực cùng c ả nước ổn định kinh tế vĩ mô,đảm bảo an sinh xã hội Trong đó, Chương trình Bình ổn thị trường đã thể hiện rõ vaitrò qu ản lý nhà n ước trong điều tiết, ổn định thị trường các mặt hàng thiết yếu

Năm 2015, cả nước có 48 tỉnh, thành phố thực hiện Chương trình Bìnhổn thịtrường, có nhi ều cách làm khác nhau, hi ệu quả mang lại cũng khác nhau Riêng tại

Trang 12

thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Bìnhổn thị trường hoàn toàn không s ử dụngnguồn lực nhà nước, điều tiết thị trường chủ yếu thông qua cân đối cung - cầu và hỗtrợ lưu thông hàng hóa; do đó nhận được nhiều phản ánh tích cực của dư luận, cácchuyên gia kinh tế, đồng thời Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo nhân rộng môhình trên cả nước.

Những năm tới đây, trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâurộng; chính sách quản lý nhà n ước nói chung, Chương trình Bìnhổn thị trường trênđịa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng c ần phải được nghiên cứu, đúc kết lý luận,hoàn thiện nội dung thực hiện; qua đó nâng cao hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế củaChương trình; đáp ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước và phù h ợp xu thế phát triểncủa thế giới

2 Mục tiêu nghiên c ứu.

Luận văn làm rõ ph ương thức thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường trênđịa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2015; đề xuất các giải pháp hoànthiện nội dung, nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình giai đoạn 2015 –

2020

3 Đối tượng và ph ạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của Luận văn là nội dung thựchiện Chương trình Bìnhổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu của chínhquyền thành phố Hồ Chí Minh

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

+ Giới hạn về góc độ nghiên cứu: Luận văn đề cập đến Chương trình Bình

ổn thị trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; thị trường của 09 nhóm hànglương thực, thực phẩm: gạo, đường, dầu ăn, thịt gia súc, th ịt gia cầm, trứng gia cầm,thực phẩm chế biến, rau – củ - quả, thủy hải sản và các v ấn đề liên quan

Trang 13

+ Giới hạn về không gian, th ời gian: Luận văn nghiên cứu về Chương trìnhBình ổn thị trường tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2014, đề xuất giải pháp giai đoạn

2015 – 2025

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Đề tài được thực hiện dựa trên nền tảng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phân tích – so sánh, tổng hợp…

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: xem xét, đánh giá mộtcách khách quan, toàn di ện Chương trình Bìnhổn thị trường trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh trong trạng thái luôn luôn bi ến đổi của tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Phương pháp thu thập thông tin : tập hợp dữ liệu theo các mốc thời gian, thànhphần, yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến Chương trình Bìnhổn thị trường trên

địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp chuyên gia, tham khảo các ý ki ến đóng góp về lý lu ận của các chuyên gia chuyên ngành kinh t ế trong nước

5 Nguồn thông tin nghiên c ứu.

- Tài liệu của Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh về triển khai thực hiện Chương trình Bìnhổn thị trường từ năm 2002 đến nay

- Luật Giá được Quốc hội nước Cộng hòa Xã h ội chủ nghĩa Việt Nam thôngqua ngày 20/6/2012, có hi ệu lực từ ngày 01/01/2013 và các văn bản quy phạm pháp luật liênquan đến quản lý nhà n ước về giá

- Các Văn kiện Đại hội Đảng từ năm 1986 đến nay

- Tài liệu chuyên ngành kinh t ế chính trị, kinh tế vĩ mô, lịch sử các học thuyết kinh tế đề cập đến thị trường, giá cả, giá cả thị trường, thương mại

Trang 14

6 Ý ngh ĩa nghiên cứu.

Bằng việc đi sâu nghiên cứu về Chương trình Bìnhổn thị trường trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2015, đề tài đề xuất các nhóm gi ải phápthực hiện hiệu quả Chương trình Bìnhổn thị trường trong giai đoạn 2015 – 2025, cóthể áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh và các t ỉnh, thành trên c ả nước

7 Kết cấu của nghiên cứu.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chialàm ba chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý lu ận về giá cả thị trường và cơ chế điều hành giá

ở Việt Nam hiện nay

- Chương 2: Thực trạng triển khai Chương trình Bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình Bìnhổn thịtrường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giaiđoạn 2015 – 2025

Trang 15

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LU ẬN VỀ GIÁ C Ả THỊ TRƯỜNG VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ Ở VIỆT NAM.

1.1 Lý lu ận về giá c ả, giá c ả thị trường và các nhân t ố ảnh hưởng 1.1.1 Học thuyết “Lý luận về giá tr ị, giá c ả” của C.Mác, Ph.Ăngghen.

C.Mác khẳng định, hàng hoá là s ự thống nhất biện chứng của 2 mặt: giá trị sửdụng và giá tr ị

Giá trị sử dụng là công d ụng của sản phẩm có th ể thoả mãn nhu cầu nào đócủa con người Ví dụ, cơm để ăn, xe đạp để đi lại vật phẩm nào cũng có một sốcông d ụng nhất định Công d ụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của vật chấtquyết định Giá trị sử dụng là phạm trù v ĩnh viễn và là v ật mang giá trị trao đổi

Giá trị được xem xét như là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuấthàng hoá, còn hàng hoá là nhân t ố tế bào của xã hội tư sản Ông đã phân tích tínhchất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao động trừu tượng,lao động tư nhân và lao động xã hội Ông kh ẳng định chỉ có lao động trừu tượng tạo

ra giá trị hàng hoá

Giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá k ết tinh tronghàng hoá - chất của giá trị là lao động Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất rachúng càng nhi ều thì giá trị càng cao Giá tr ị là nội dung, là cơ sở của giá trị traođổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài Giá tr ị là 1phạm trụ lịch sử gắn liền với sản xuất hàng hoá

Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá, k ết tinhtrong hàng hoá Lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá

đó quyết định, lượng giá trị của hàng hoá do th ời gian lao động quyết định

Từ việc phân tích các phạm trù giá tr ị nêu trên, C.Mác đã đưa ra định nghĩa

về giá cả: “Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá” Giá cả ở đây là giá

cả hàng hoá, là m ức giá mà được xã hội thừa nhận Giá trị hàng hoá là giá tr ị xã hội,

Trang 16

được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, ch ứ không phải là giá trị cá biệt của từng người sản xuất.

1.1.2 Giá cả thị trường.

Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường và giá

cả sản xuất Trong điều kiện tự do cạnh tranh, sự hình thành của giá cả thị trường phụthuộc vào 03 nhân t ố: giá trị thị trường của hàng hóa, quan h ệ cung – cầu về hànghóa và s ức mua của đồng tiền trong lưu thông Giá trị thị trường có nh ững đặc trưng

cơ bản sau:

- Một là, giá c ả thị trường hình thành trên cơ sở giá trị thị trường Để sản xuấthàng hoá, người sản xuất phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố “đầu vào” như nguyên, nhiên v ật liệu,năng lượng, tiền lương, … chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm là bộ phận cơ bản tạo ra giátrị hàng hoá Giá tr ị hàng hoá c ủa một người sản xuất là giá tr ị cá biệt Nhưng khi người sảnxuất mang hàng hoá ra bán trên th ị trường, được thị trường chấp nhận thì đó là giá trị thị trường

- Hai là, giá c ả thị trường là giá được thị trường chấp nhận Trên thị trường, khingười mua chấp nhận mua hàng và tr ả cho người bán một lượng tiền nhất định để được quyền

sử hữu, sử dụng sản phẩm; tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa là về cơ bảnquá trình sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành Thị trường thừa nhận quan hệ cung-cầu,thừa nhận giá trị và giá tr ị sử dụng của hàng hoá

- Ba là, giá c ả thị trường biểu hiện quan hệ trực tiếp giữa người mua và ngườibán hàng hoá Giá c ả hàng hoá được hình thành trên thị trường thông qua hoạt động trao đổigiữa người mua và người bán, người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, người bán bao giờ cũngmuốn bán giá cao Mâu thu ẫn này được giải quyết khi người mua và người bán thống nhất đượcmức giá hàng hoá, khi đó giá cả thị trường hình thành

- Bốn là, giá c ả thị trường biểu hiện sự thống nhất giữa giá trị và giá tr ị sửdụng Giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử dụng Giá trị sử dụng

Trang 17

được thể hiện trên các m ặt: Chất lượng chi phí sử dụng hàng hoá và tính thay thế lẫnnhau trong sử dụng Vì vậy, giá cả hình thành theo chất lượng hàng hoá, hàng có chấtlượng cao thì giá cao và ngược lại, hàng có ch ất lượng thấp thì giá thấp.

1.1.3 Đặc trưng của giá c ả thị trường.

Từ việc nghiên cứu bản chất kinh tế của phạm trù giá c ả, có th ể rút ra nh ữngđặc trưng cơ bản của giá cả thị trường như sau:

- Một là, giá c ả thị trường hình thành trên cơ sở giá trị thị trường: để sản xuấthàng hoá, người sản xuất phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố “đầu vào” như nguyên, nhiên vật liệu,năng lượng, tiền lương, … chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm là bộ phận cơ bản tạo ra giátrị hàng hoá Gi á trị hàng hoá c ủa một người sản xuất là giá trị cá biệt Nhưng khi người sảnxuất mang hàng hoá ra bán trên th ị trường,

được thị trường chấp nhận thì đó là giá trị thị trường

- Hai là, giá c ả thị trường là giá được thị trường chấp nhận: trên thị trường, khingười mua chấp nhận mua hàng và tr ả cho người bán một lượng tiền nhất định để được quyền

sử hữu, sử dụng sản phẩm; tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa là về cơ bảnquá trình sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành Thị trường thừa nhận quan hệ cung-cầu,thừa nhận giá trị và giá tr ị sử dụng của hàng hoá

- Ba là, giá c ả thị trường biểu hiện quan hệ trực tiếp giữa người mua và ngườibán hàng hoá Giá cả hàng hoá được hình thành trên thị trường thông qua hoạt động trao đổi giữangười mua và người bán, người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, người bán bao giờ cũng muốnbán giá cao Mâu thu ẫn này được giải quyết khi người mua và người bán thống nhất được mứcgiá hàng hoá, khi đó giá cả thị trường hình thành

- Bốn là, giá c ả thị trường biểu hiện sự thống nhất giữa giá trị và giá tr ị sửdựng Giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử dụng Giá trị sử dụng được thể hiệntrên các m ặt: Chất lượng chi phí sử dụng hàng hoá và tính thay thế

Trang 18

lẫn nhau trong sử dụng Vì vậy, giá cả hình thành theo chất lượng hàng hoá, hàng có chất lượng cao thì giá cao và ngược lại, hàng có ch ất lượng thấp thì giá thấp.

1.1.4 Các nhân t ố ảnh hưởng đến giá c ả thị trường.

- Trường hợp thứ nhất: Giá trị thị trường của hàng hoá do giá tr ị của đại bộphận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định Đây là trường hợp phổbiến nhất, ở hầu hết các loại hàng hoá

Ví dụ: Để sản xuất quần áo, thì có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia s ảnxuất, các doanh nghiệp này về cơ bản có điều kiện sản xuất như; máy móc thiết bị,

Trang 19

nguyên vật liệu, nhân công… là như nhau Trên thị trường, giá trị thị trường của quần, áo sẽ do giá trị cá biệt trung bình của các doanh nghiệp quyết định.

- Trường hợp thứ hai: Giá trị thị trường của hàng hoá do giá tr ị của bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện sấu quyết định

Ví dụ: Trong ngành khai thác than, do ch ịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên,các doanh nghiệp khai thác than ngày càng ph ải khai thác ở những điều kiện khókhăn hơn như; khai thác hầm lò ph ải đi vào sâu trong lòng đất, điều kiện vận chuyểnthan từ nơi khai thác ra bến cảng xa hơn, năng xuất lao động có th ể thấp hơn…nhưng những doanh nghiệp này vẫn chiếm một tỷ trọng lớn sản lượng tiêu thụ củangành khai thác than và xã h ội vẫn cần than để sản xuất và tiêu dùng Cho nên, giá tr

ị cá biệt của những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quan trọng, đôi khi quyết địnhgiá trị thị trường của sản phẩm than

- Trường hợp thứ ba: Giá trị thị trường hàng hoá do giá tr ị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện tốt quyết định

Ví dụ: Trong ngành trồng lúa ở nước ta Đồng bằng Sông h ồng và đồng bằngNam bộ là 2 vùng tr ồng lúa chính, cung cấp đại bộ phận gạo cho cả nước và xuấtkhẩu Đây là 2 vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn so với các vùng khác Vìvậy, giá trị cá biệt để sản xuất ra gạo ở 2 vùng này có ảnh hưởng quyết định đến giáthị trường của gạo trong cả nước

- Giá tr ị (sức mua) của tiền.

Trong nền sản xuất hàng hoá, ti ền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị củacác hàng hoá Mu ốn đo lường giá trị của hàng hoá, b ản thân tiền phải có giá tr ị Vìvậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đo lường giá trị hànghoá không c ần thiết phải là tiền mặt, mà chỉ cần so sách với lượng vàng nào đó mộtcách tưởng tượng Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá tr ịcủa hàng hoá trong th ực tế đã có m ột tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gianlao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó Trong quá trình trao đổihàng hoá, ti ền đứng ra làm môi gi ới và đó là tiền mặt Như vậy, Giá trị

Trang 20

thực của tiền tách rời giá trị doanh nghĩa của nó và để làm phương tiện lưu thông,người ta đã sử dụng tiền giấy.

Bản thân tiền giấy không có giá tr ị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công

nh ận trong phạm vi quốc gia Vì vậy, trong việc phát hành, lưu thông tiền giấy phảiđược tính toán kỹ lưỡng, chính xác, phù hợp với lượng tiền cần thiết trong lưu thông

N ếu nhu cầu về tiền thực tế không thay đổi theo thời gian, thì sự gia tăng mức cungtiền danh nghĩa nhất định phải dẫn đến một lượng tăng tương ứng trong mức giá Có

th ể nói, s ự thay đổi trong mức cung tiền gây ra sự thay đổi về giá cả Sự thay đổi giá

cả này phụ thuộc vào hai yếu tố sau:

+ Sự tăng lượng cung tiền gây ra sự tăng giá

+ Do tác động của một số nhân tố làm cho giá c ả tăng lên và Chính phủ điềutiết sự tăng lên của giá cả bằng cách in thêm ti ền thì cả khối lượng tiền và giá c ả cũng tăng lên

Trên thực tế, nếu như sự tăng lượng cung tiền danh nghĩa kéo theo sự thay đổitương ứng của tiền lương và giá cả thì điều đó sẽ dẫn đến hậu quả nguy hiểm đối vớinền kinh tế Khi tiền lương doanh nghĩa tăng nhanh, về cơ bản nó s ẽ làm cho giátăng lên nhanh, để đảm bảo ổn định nền kinh tế thì mức cung tiền thực tế chỉ thay đốimột cách chậm chạp tương ứng với những thay đổi về nhu cầu tiền tệ

Từ sự phân tích trên cho thấy, giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thịtrường của hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị (hay sức mua) của tiền Khi giá trị thịtrường của hàng hoá có th ể không thay đổi thì giá cả thị trường hàng hoá v ẫn có thểthay đổi, tăng lên hay giảm xuống do sự thay đổi sức mua của tiền

- Cung và c ầu hàng hoá

Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trênthị trường Cung – cầu không ch ỉ có m ối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá

cả thị trường

Trang 21

Trong thực tế, khi cung = cầu, thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị củahàng hoá Khi cung > cầu, thì giá cả thị trường xuống thấp hơn giá trị hàng hoá Cònkhi cung < c ầu, thì giá cả thị trường lên cao hơn giá trị Như vậy, cung và cầu thayđổi, dẫn đến làm thay đổi giá cả thị trường của hàng hoá Đồng thời, giá cả thị trườngcũng có sự tác động ngược trở lại tới cung và cầu Nhìn chung, trong cơ chế thịtrường khi không có s ự nhất trí giữa cung và cầu, thì giá cả có tác động điều tiết đưacungcầu trở về xu hướng cân bằng nhau.

Vậy, yếu tố nào ảnh hưởng và quyết định đến quan hệ cung cầu? Đó chính làchu kỳ kinh doanh Sự vận động của chu kỳ kinh doanh trên thị trường quyết định sựvận động của quan hệ cung – cầu

Một chu kỳ kinh doanh xuất hiện trên thị trường thường có m ột số thời kỳ chủyếu sau:

+ Suy thoái; tức là giai đoạn mà kinh doanh giảm sút nghiêm tr ọng Trong thời

kỳ nay có giai đoạn tiêu điều và giai đoạn ảm đạm

+ Phát triển; tức là kinh doanh được phục hồi, có phát tri ển và tăng trưởng.+ Ổn định; tức là kinh doanh phát tri ển và sau đó ổn định ở mức cao

Hiện tượng trên được lặp đi lặp lại trên thị trường Khi kinh doanh bước vàothời kỳ suy thoái, nhu cầu tiêu dùng b ị hạn chế, hàng hoá có ít người mua, sản xuất

bị thu hẹp nghiệm trọng Ở thời kỳ suy thoái, do những khuyết tật của sản phẩm, do

sự yếu kém trong quản lý ho ặc do sự lạc hậu về công ngh ệ và thiết bị, nên sản phẩm

có ít người mua Từ đó dẫn đến tình trạng cung lớn hơn cầu và giá c ả hàng hoá giảmxuống, đến một lúc nào đó giá cả sẽ giảm đến mức doanh nghiệp có th ể lỗ vốn Đểtồn tại và đứng vững trên thị trường doanh nghiệp phải cải tiến máy móc, thiết bịhoặc công tác qu ản lý, m ẫu mã sản phẩm,… để đưa ra thị trường những sản phẩm

ưu việt hơn, doanh nghiệp sẽ dần dần bán được hàng với mức giá cao hơn, hàng hoá

có th ể ngày càng bán được nhiều hơn, doanh thu và lợi nhuận tăng lên Đây là thời

kỳ phát triển của doanh nghiệp, giá cả trở thành sức hút m ạnh nhất đối với các doanhnghiệp và là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất

Trang 22

để có nhi ều hàng cung cấp cho thị trường Tuy nhiên, không ph ải nhu cầu về hànghoá lúc n ào cũng tăng, mà đến một giai đoạn nhất định, quan hệ cung- cầu trên thịtrường tương đối ổn định và về cơ bản là phù h ợp với nhau, đây là thời kỳ ổn địnhcủa doanh nghiệp Trong thời kỳ này, các doanh nghi ệp thường ít đổi mới công nghệ

và thiết bị, ít cải tiến kỹ thuật và quản lý… Do đó, ngay trong thời kỳ này đã bắt đầuchứa đựng những yếu tố, mầm mống của thời kỳ suy thoái, và n ếu doanh nghiệpkhông chú ý đến các yếu tố; cải tiến quy trình công nghệ, công tác qu ản lý, chấtlượng sản phẩm… thì thời kỳ suy thoái đến nhanh hơn

Trên đây là xu hướng vận động của giá cả hàng hoá - dịch vụ trên thị trường

Xu hướng này được thể hiện trên nhiều hình thái thị trường, song sự vận động trêncủa giá cả cần phải chú ý đến thị trường độc quyền Trên thị trường độc quyền, cácyếu tố độc quyền có vai trò r ất lớn đối với việc điều tiết quan hệ cung- cầu (độcquyền bán) Thông thường các nhà độc quyền đưa một lượng hàng hoá ra th ị trườngnhỏ hơn nhu cầu và họ sẽ bán với giá cao, nhưng đến một lúc nào đó, do giá cao nhucầu sẽ giảm xuống, các nhà độc quyền sẽ nghiên cứu hạ giá xuống để tăng nhu cầuhoặc phải cải tiến kỹ thuật, quy trình công nghệ… để có s ản phẩm mới Như vậy, có

th ể sẽ xuất hiện thời kỳ tăng giá mới, thời kỳ phục hồi và phát tri ển

Vậy, chu kỳ kinh doanh là hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường Chu kỳkinh doanh trên mỗi nền kinh tế thị trường có nh ững đặc thù c ủa nó S ự vận độngcủa chu kỳ kinh doanh và các đặc thù c ủa nó d ựa trên sự chi phối rất lớn của các yếu

tố phát sinh trên th ị trường trong nước và thế giới Bất kỳ một hàng hoá nào trên thịtrường, hay một nhà kinh doanh nào trên th ị trường đều bị chi phối bởi chu kỳ kinhdoanh Tuy nhiên, các nhà độc quyên có kh ả năng hạn chế bớt sự tác động tự phátcủa chu kỳ kinh doanh tới quan hệ cung- cầu và giá cả hàng hoá c ủa doanh nghiệpmình Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới cung và cầuhàng hoá, t ới quan hệ cung- cầu và giá c ả thị trường Ngược lại, giá cả thị trườngcũng tác động trở lại tới chu kỳ kinh doanh, làm cho quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp luôn bi ến động theo cơ chế thị trường

Trang 23

- Cạnh tranh.

Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền kinh tế thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu th ụ hànghoá

Cạnh tranh có th ể diễn ra giữa người sản xuất với người sản xuất, người sảnxuất với người tiêu dùng ho ặc giữa người tiêu dùng v ới người tiêu dùng Do có mâuthuẫn về lợi ích kinh tế, nên những người sản xuất và người tiêu dùng c ạnh tranh gaygắt với nhau Sự cạnh tranh này dẫn đến sự thoả thuận trực tiếp giữa họ để hình thànhnên m ức giá thị trường mà 2 bên đều chấp nhận Cạnh tranh giữa người sản xuất vớingười sản xuất, nhằm mục đích bán được nhiều hàng hoá v ới giá hợp lý để thu đượclợi nhuận cao nhất Kết quả của cạnh tranh này, buộc những người sản xuất, muốnchiếm lĩnh thị trường phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, đưa công nghệ mới vào sảnxuất, cải tiến công tác qu ản lý… để sản xuất ra những sản phẩm mới, chất lượng cao,giá thành th ấp Đây là yếu tố tích cực, không nh ững tạo điều kiện cho nhà sản xuấtthu được lợi nhuận cao, mà đứng trên phạm vi toàn xã h ội, nó có tác dụng rất lớn đểthúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, giá bán s ảnphẩm Cạnh tranh giữa người tiêu dùn g với người tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích

sử dụng, người tiêu dùng (người mua) để đạt được nhu cầu tiêu dùng c ủa mình (trongđiều kiện khả năng cung về hàng hoá có h ạn) thường phải trả giá cao hơn nhữngngười khác để mua được hàng hoá và trong s ự cạnh tranh này, làm cho giá c ả thịtrường thay đổi theo xu hướng tăng lên

Trang 24

- Nhà nước cần phải quản lý giá Vi ệc quản lý giá ph ải được thực hiện đồng bộ

từ tài chính đến tiền tệ, từ cầu đến cung, từ giá thị trường trong nước đến giá thị trường thế giới,

từ cạnh tranh đến chống độc quyền và các bi ện pháp hạn chế tự do kinh doanh

- Để quản lý giá, Nhà n ước cần có h ệ thống luật pháp hoàn ch ỉnh và đồng bộ

về các lĩnh vực tài chính- tiền tệ- giá cả, củng cố hệ thống pháp luật đối với các doanh nghiệp sảnxuất và kinh doanh Có như vậy, mới có th ị trường lành mạnh, cơ chế thị trường hoạt động theođúng nghĩa của nó và giá c ả thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lựckinh tế, thúc đẩy tiến bộ khoa học- kỹ

thuật, làm cho sản xuất phát triển lành mạnh, hiệu quả

1.2 Một số nghiên cứu khoa học về bình ổn giá.

Nghiên cứu của W Allen Wallis về bình ổn giá và tăng trưởng kinh tế, dẫnchứng trường hợp của Hoa Kỳ trong nhiều giai đoạn lịch sử cho rằng việc ổn định giá

cả (hay bình ổn giá) có ý ngh ĩa quan trọng Trước tiên là đối với việc kiểm soát lạmphát có th ể trở nên căng thẳng trong thời kỳ trước, trong và sau chiến tranh hoặctrong những giai đoạn nhất định của chu kỳ kinh tế và gây ra nh ững ảnh hưởng trựctiếp tới các nhóm người dân có thu nh ập không tăng nhanh bằng mức tăng của lạmphát hoặc thu nhập thấp, gâp tâm lý hoang mang trong dân chúng, ảnh hưởng tớinhững quyết định kinh doanh, gây ra những mất cân bằng các cán cân và kết quả làảnh hưởng tới hiệu quả và tăng trưởng kinh tế Để chạy theo mục tiêu tăng trưởngkinh tế, Chính phủ luôn ph ải điều chỉnh và thay đổi các chính sách Tuy nhiên, trên

th ực tế cho thấy các con số tăng trưởng qua các thời kỳ không có m ối liên hệ trựctiếp nào với sự gia tăng của giá cả, sự thay đổi của giá không có m ối tương quan nàovới tăng trưởng Ngược lại, sự ổn định của lao động và thu nhập có

ý ngh ĩa tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tác giả cho rằng thậm chí có thể đạtđược cả 3 mục tiêu là giá c ả ổn định, thất nghiệp thấp và tăng trưởng cùng 1 lúc Chính vì vậy,việc ổn định giá cả hay bình ổn giá có quan h ệ với tăng trưởng vì những hiệu ứng tích cực của

nó t ới hiệu quả kinh tế

Trang 25

Sử dụng các mô hình phân tích định lượng khác nhau về chi phí và lợi ích củabình ổn giá, nghiên c ứu của Martin Feldstein (1999) xem xét trường hợp của cácnước trong khối OECD cho rằng lạm phát cao có nhi ều tác hại Mặc dù vi ệc giảmlạm phát từ cao xuống mức vừa phải có th ể làm giảm sản lượng hoặc tăng tỷ lệ thấtnghiệp tạm thời nhưng vẫn là một mục tiêu cần thiết phải thực hiện Các chi phí bỏ ra

để kiểm soát lạm phát sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí cho việc ổn định giá cả Việctác động vào lạm phát, cho dù ch ỉ là mức tăng nhỏ có th ể làm giảm đáng kể phúc l

ợi xã hội Vì vậy, ổn định giá cả là chính sách tiền tệ hữu hiệu nhất

Nhìn từ khía cạnh chính sách tiền tệ và mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ vàlạm phát qua các th ời kỳ tại các nước phát triển như Hoa Kỳ, New Zealand, Canada,Anh, Thụy Điển và khu vực sử dụng đồng Euro, nghiên cứu của Marc Labonte vàGail Markine chỉ ra rằng chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua các động thái,chỉ thị, quyết định, tuyên bố từ Ngân hàng trung ương và có những ảnh hưởng lớn tớitổng cầu và GDP thực tế, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái thực tế, lãi suất, sản lượng v.v…nhưng nhìn chung chỉ trong ngắn hạn và nhất thời Trong dài hạn, ảnh hưởng chủ yếucủa chính sách tiền tệ là đối với lạm phát Điều này đặc trưng với các quốc gia có l

ạm phát cao Chính vì vậy, sau một giai đoạn nhận thấy việc sử dụng M1, M2, M3không còn hi ệu quả, Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã thực thi chính sách tiền tệthông qua vi ệc thiết lập mục tiêu cho lãi su ất qua đêm Lãi suất thấp là dấu hiệu củachính sách tiền tệ nới lỏng và lãi su ất cao và tăng là dấu hiệu của chính sách tiền tệthắt chặt Nghiên cứu thêm các trường hợp đặt mục tiêu ổn định giá cả khác thấy rằngchính sách lạm phát mục tiêu phải không bao g ồm việc thay đổi giá các hàng hóa cơbản như lương thực, năng lượng và tăng các loại thuế Một kết luận của nghiên cứu là

sự cải thiện của nền kinh tế sau khi thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu đang dần

rõ nét t ại các quốc gia trên thế giới sau khi trải qua nhiều bất ổn về kinh tế và chínhtrị

Đối với trường hợp của Việt Nam, một báo cáo ng ắn của Ngô Trí Long có đềcập tới thể chế xác định giá cho các hàng hóa cơ bản (chính là những hàng hóa trongdanh mục bình ổn giá) cho rằng thể chế xác định giá cho những hàng hóa cơ

Trang 26

bản thuộc diện bình ổn giá trong những năm qua tại Việt Nam theo Pháp lệnh giá cónhiều bất cập Ví dụ những hàng hóa do Nhà nước định giá như giá điện được xácđịnh hiện nay chủ yếu dựa trên chi phí thống kê hạch toán giá thành c ủa Tập đoànĐiện lực Việt Nam, chứa đựng nhiều điều bất hợp lý Giá xăng dầu được xác địnhtheo kiểu “lưỡng tính” hay “nửa vời”, không phù hợp đối với loại thị trường độcquyền – cạnh tranh (độc quyền nhóm) Giá đối với hàng hóa, d ịch vụ thuộc diện bình

ổn giá khác như giá gas, giá thuốc, giá sữa luôn b ất ổn, gây bức xúc đối với ngườitiêu dùng Có r ất nhiều khía cạnh cần phải điều chỉnh để thực sự thực hiện bình ổngiá thị trường cho những mặt hàng này

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều cho rằng giá cả ổn định hay bình ổn giá

có nh ững tác dụng tích cực đối với người dân nói riêng và n ền kinh tế nói chung.Vấn đề quan trọng là các Chính phủ phải xác định được mức độ ổn định của giá cả vàthời gian thực hiện bình ổn Tuy nhiên việc bình ổn giá theo đúng nghĩa phải thôngqua các công c ụ của chính sách kinh tế vĩ mô như tiền tệ và tài khóa Vi ệc sử dụngcác công c ụ hành chính hay chính phủ can thiệp trực tiếp vào việc quyết định giá cảcác mặt hàng cụ thể trên thị trường cần được đánh giá khách quan v ề tính hiệu quảcũng như sự cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế thị trường

Đối với trường hợp của Việt Nam cũng tương tự Tuy nhiên, cho tới hiện nay,chưa có những nghiên cứu tổng thể về các chính sách bình ổn giá tại Việt Nam mộtcách đầy đủ và hệ thống để có th ể đưa ra những khuyến nghị cụ thể, đầy đủ và cầnthiết

1.3 Điều hành giá các mặt hàng thi ết yếu ở Việt Nam hiện nay.

Có th ể nói, trong nh ững năm qua, Việt Nam được quốc tế đánh giá khá caotrong công tác ki ểm soát lạm phát để tạo một sự bình ổn nhất định đối với mặt bằnggiá cả nói chung trên bình diện toàn nền kinh tế bằng một hệ thống các giải pháp vàchính sách kinh tế vĩ mô kết hợp với nhau trong tổng thể hài hòa v ới các mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội khác Đặc biệt đối với những giai đoạn lạm phát tăng cao,đột biến và có nhi ều dấu hiệu căng thẳng, gây bất ổn vĩ mô, sự phản ứng khá chủ

Trang 27

động và quyết liệt từ Chính phủ đã nhanh chóng đưa lạm phát về ngưỡng an toàn.Theo đó, mặt bằng giá cả nói chung c ũng ổn định và giảm bớt tâm lý hoang mang, lolắng cho người dân và cho các nhà đầu tư Bên cạnh đó, việc phối hợp điều hành củacác cơ quan quản lý Nhà n ước nhằm bình ổn một số mặt hàng thiết yếu trong thờigian qua, cụ thể là từ năm 2000 đến nay cũng luôn được chú ý và có nh ững bước tiếnđáng kể.

1.3.1 Chủ trương quản lý giá trong n ền kinh tế thị trường định hướng

Xã h ội chủ nghĩa ở nước ta.

Trong thời gian qua, tư tưởng, đường lối phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước được thể chế hóa thành pháp lu ật, cơ chế,chính sách Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực vàhiệu quả hơn Thị trường hàng hóa, d ịch vụ tăng về số lượng, chủng loại, chất lượng;

đã có b ước phát triển và hoàn thi ện về quy mô, cơ cấu, kết cấu hạ tầng thương mại,dịch vụ, cơ chế quản lý, năng lực cạnh tranh Giá cả hàng hóa, d ịch vụ hầu hết vậnhành theo cơ chế giá thị trường và được xác định dựa trên quan hệ cung

- cầu Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; chất lượngchưa cao, tiến độ ban hành còn ch ậm; việc tuyên truyền, phổ biến, thực thi và bảo đảm kỷ cươngpháp luật còn nhi ều hạn chế Giá cả một số hàng hóa, d ịch vụ thiết yếu chưa thật sự tuân thủtheo nguyên tắc và quy luật kinh tế thị trường Đây là thách thức, khó khăn không nhỏ

Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đểđảm bảo lợi ích và phúc l ợi của toàn xã h ội, trong điều kiện kinh tế thị trường chưaphát triển thì quản lý nhà nước về giá đối với các doanh nghiệp độc quyền và thốnglĩnh thị trường là yêu c ầu cần thiết Tuy nhiên, kiểm soát không có nghĩa là Nhànước định giá đối với tất cả các hàng hóa, d ịch vụ do các doanh nghiệp độc quyềnhoặc thống lĩnh thị trường kinh doanh mà ưu tiên các quy định kiểm soát các hành

vi hạn chế cạnh tranh Nhà nước chỉ quy định giá đối với một số ít hàng hóa, d ịch

v ụ độc quyền nhà nước trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường

Trang 28

Để góp phần kiểm soát, ngăn ngừa và xử lý các hành vi lạm dụng sức mạnhthị trường của các doanh nghiệp để định giá bất lợp lý, gây tổn hại đến lợi ích ngườitiêu dùng và l ợi ích của Nhà nước, góp phần khuyến khích cạnh tranh về giá, tăngcường hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội; sau đó là góp ph ần bình ổn giá cũng nhưđảm bảo vai trò qu ản lý của Nhà nước trong việc khắc phục những khuyết tật của thịtrường.

Về phương hướng quản lý giá:

- Đối với quản lý nhà nước về giá, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý giá hànghóa, d ịch vụ độc quyền hoặc do doanh nghiệp thống lĩnh thị trường sản xuất - kinh doanh theohướng: Tôn trọng nguyên tắc thị trường, Nhà nước không can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính;định giá đối với những hàng hóa, d ịch vụ độc quyền nhà nước (dịch vụ kết nối viễn thông,truyền tải điện, dịch vụ phụ trợ hệ thống điện,…), kịp thời điều chỉnh giá (tăng/giảm) khi các yếu

tố đầu vào thay đổi Đồng thời, tăng cường kiểm soát, kiểm tra chi phí sản xuất - kinh doanh thựctế; kiểm soát chặt chẽ các yếu tố hình thành giá đối với những hàng hóa, d ịch vụ quan trọng,thiết yếu có thị trường cạnh tranh hạn chế thuộc danh mục bình ổn giá, kê khai giá, qu ản lý giágián ti ếp thông qua các biện pháp kinh tế như: Điều hòa cung ứng hàng hóa dịch vụ, sử dụnglinh hoạt các công c ụ tài chính, tiền tệ để tác động vào giá c ả trong trường hợp có biến động bấtthường, tăng cường tính hiệu quả trong việc thu thập, công khai và minh b ạch thông tin về giá,cũng như công tác dự báo thị trường

- Đối với quản lý nhà nước về cạnh tranh, tiếp tục hoàn thiện các quy định quản

lý cạnh tranh cho phù h ợp với thực tế thực hiện; tăng cường hiệu quả các biện pháp kiểm soátcác hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường:

+ Hoàn thiện và phát tri ển cơ cấu thị trường cạnh tranh theo hướng: Ưu tiêncho các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường được tiếp cận với công nghệ hiện đại, tạo môitrường thuận lợi để các doanh nghiệp huy động vốn Giảm những thủ tục đăng ký phiền hà, tốnkém; ưu đãi hay miễn thuế cho những doanh nghiệp tham gia

Trang 29

thị trường trong những năm đầu Thực hiện tái cấu trúc thị trường, rà soát và d ỡ bỏnhững rào cản thị trường không cần thiết, bất hợp lý đang “bảo hộ độc quyền” để cácdoanh nghiệp, nhất là các doanh nghi ệp tiềm năng, có cơ hội đầu tư phát triển.

+ Thực hiện tái cấu trúc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh; điều chỉnh cấu trúc

th ị trường góp phần thúc đẩy cạnh tranh, giảm thiểu độc quyền, thông qua các biện pháp: Nhànước từng bước tổ chức sắp xếp sản xuất theo hướng tiếp tục phân định, xác định và công b ốnhững ngành sản xuất nào Nhà nước còn duy trì độc quyền ở mức độ nhất định gắn liền với việctái cấu trúc doanh nghiệp Rà soát l ại chiến lược và quy hoạch phát triển, đẩy nhanh quá trình cổphần hóa doanh nghi ệp nhà nước, thu hút s ự tham gia của các thành phần kinh tế khác, kể cảnhà đầu tư nước ngoài (trừ những lĩnh vực nhạy cảm về quốc phòng, an nin h); giảm dần ưu đãicho các doanh nghiệp nhà nước, trong đó có những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa

ở những lĩnh vực độc quyền, thống lĩnh thị trường trong việc tiếp cận các yếu tố đầuvào của sản xuất - kinh doanh như: Đất đai, tiền vốn, hạ tầng thương mại… tách chức năng sảnxuất - kinh doanh ra khỏi nhiệm vụ an sinh xã hội

1.3.2 Khuôn kh ổ pháp lý.

Khuôn kh ổ pháp lý đối với hoạt động này cũng đã có nh ững dấu mốc quantrọng Để góp ph ần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,bình ổn giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân s ản xuất, kinhdoanh, của ngườitiêu dùng và l ợi ích của Nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hộikhóa X đã ban hành Pháp l ệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26 tháng 4 năm

2002 Mục tiêu chung của Pháp lệnh Giá chính là thực hiện kiểm soát Nhà nước tronglĩnh vực giá cả đối với tất cả các hàng hóa trên th ị trường nhằm tránh những biếnđộng bất thường có th ể xảy ra Bên cạnh đó, Pháp lệnh Giá đã có ph ần quy định cụthể về bình ổn giá với mục tiêu thực hiện các chính sách, biện pháp cần thiết tác độngvào quan hệ cung cầu để bình ổn giá thị trường đối với những hàng hóa, d ịch vụquan trọng, thiết yếu Các biện pháp này bao g ồm: (a) Điều chỉnh cung cầu hàng hóa

s ản xuất trong nước và hàng hóa xu ất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa gi ữa

Trang 30

các vùng, các địa phương trong nước; (b) Mua vào hoặc bán ra hàng hóa d ự trữ; (c)Kiểm soát hàng hóa t ồn kho; (d) Quy định giá tối đa, giá tối thiểu, khung giá; (đ)Kiểm soát các y ếu tố hình thành giá; (e) Trợ giá nông s ản khi giá thị trường xuốngquá thấp gây thiệt hại cho người sản xuất; trợ giá hàng hóa, d ịch vụ quan trọng, thiếtyếu khác.

Gần đây, Luật Giá đã được thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 thay thế choPháp lệnh Giá Luật Giá đã có nh ững quy định chi tiết, cụ thể và chặt chẽ hơn vềquản lý nhà n ước đối với giá cả hàng hóa nói chung trên th ị trường và cũng chi tiếthơn cả nội dung bình ổn giá so với Pháp lệnh Giá trước đây Điều 4, Luật Giá đưakhái niệm: “Bình ổn giá là vi ệc Nhà nước áp dụng biện pháp thích hợp về điều hòacung c ầu, tài chính, tiền tệ và biện pháp kinh tế, hành chính cần thiết khác để tácđộng vào sự hình thành và vận động của giá, không để giá hàng hóa, d ịch vụ tăngquá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý” Luật Giá cũng đưa ra danh mục hàng hóa thu

ộc diện bình ổn1 với 7 biện pháp bình ổn khác nhau Sau đó, Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ ban hành đã quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật Giá, trong đó có những quy định về bình ổn giá

Bên cạnh đó, tùy từng mặt hàng trong danh mục bình ổn giá, Chính phủ, các

Bộ, ban, ngành đã ban hành nh ững quy định riêng nhằm quản lý th ị trường cũngnhư giá cả trong từng thời điểm nhằm thực hiện mục tiêu chung đưa ra trong Pháplệnh Giá trước đây và Luật Giá sau này

1.3.3 Kinh nghiệm điều hành giá trên c ả nước do các cơ quan trung ương thực hiện.

Trong những năm vừa qua, trước những đợt biến động liên tiếp và khó lường

ở thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới của giá cả các mặt hàng thiết

1 Bao gồm: (i) Xăng, dầu thành phẩm; (ii) Điện; (iii) Khí dầu mỏ hóa lỏng; (iv) Phân đạm; phân NPK; (v) Thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật; (vi) Vac-xin phòng b ệnh cho gia súc, gia cầm; (viig) Muối ăn; (viii) Sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi; (ix)) Đường ăn, bao gồm đường trắng và đường tinh luyện;

(x) Thóc, g ạo tẻ thường; (xi) Thuốc phòng b ệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

Trang 31

yếu thuộc diện bình ổn giá do Chính phủ trực tiếp quản lý, ch ủ trương bình ổn giá làhết sức thiết thực và những biện pháp thực hiện cũng đã phần nào kịp thời tác độngđến giá cả nhằm đưa giá hàng hóa về một mặt bằng bình ổn nhất định sau đó, khônglàm giá c ả có nh ững biến động quá xấu và kéo dài làm ảnh hưởng tới đời sống củangười dân và n ền kinh tế Đối với những mặt hàng luôn có xu hướng tăng giá nhưxăng dầu, điện, sữa bột, thuốc thông d ụng, phân bón cây tr ồng v.v…, Chính phủ đã

có nhi ều biện pháp khác nhau nh ằm kiểm soát giá khi giá tăng tùy từng mặt hàng vàthời điểm (bình ổn giá lên) Đối với mặt hàng đặc thù như lúa gạo do người dân sảnxuất nhưng giá không ổn định và có nh ững đợt xuống thấp khiến người sản xuất thua

lỗ, Chính phủ cũng đã có nh ững biện pháp bình ổn như thu mua, tạm trữ với mức giáhợp lý (bình ổn giá xuống)

Tuy nhiên, có th ể nhận thấy một số hạn chế trong việc thực hiện hệ thốngchính sách và biện pháp bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu đối với đời sống ngườidân do Chính phủ trực tiếp chỉ đạo và các B ộ trực tiếp điều hành như sau:

Việc kiểm tra, kiểm soát giá còn mang tính hình thức, hành chính, các Bộ,ban, ngành còn l ỏng lẻo hoặc chậm trễ trong việc đưa ra những biện pháp thực sựhữu hiệu giúp bình ổn thị trường một cách bền vững Mặc dù đã có m ột hệ thống cácvăn bản pháp luật quy định cụ thể về chính sách, biện pháp bình ổn giá và các mặthàng cụ thể thuộc diện bình ổn nhưng trong những năm qua, dường như sự bất ổnchính của giá cả lại tập trung vào những mặt hàng này Điều này có th ể xuất phát từnhững nguyên nhân khách quan nhưng cũng không thể phủ nhận nguyên nhân chủquan là sự quản lý l ỏng lẻo của các cơ quan Nhà nước và có nh ững thời điểm đãbuông l ỏng hoặc không có động thái thực sự tích cực bình ổn thị trường Sau đó, khigiá tăng bất thường hoặc khó ki ểm soát, những phản ứng kiểm soát giá l ại lúngtúng, b ị động, đối phó ho ặc bắt buộc phải sử dụng các công c ụ áp đặt, phi thịtrường nhằm bình ổn giá trong một giai đoạn ngắn hạn nhất định

Sự bất ổn về giá cả và những điều chỉnh tăng đột ngột (giá điện hoặc giá xăngdầu) trong nhiều năm đã gây b ức xúc trong xã h ội, giảm niềm tin thực sự của

Trang 32

người dân vào các cơ quan điều hành giá Bên c ạnh đó, đôi khi vẫn có nh ững giải thích khó hiểu2 hoặc việc “đùn đẩy” trách nhiệm từ các Bộ, ban, ngành cho nhau3.

Việc sử dụng các biện pháp hành chính can thiệp vào thị trường, điều chỉnhgiá còn là t ư tưởng chủ đạo hiện nay đối với hầu hết các mặt hàng thuộc diện bình ổngiá do Chính phủ điều hành, kể cả bình ổn giá lên và bình ổn giá xuống (như đã phântích ở các phần trên) Điều này có th ể dẫn tới việc làm méo mó s ự phát triển của thịtrường theo hướng cạnh tranh lành mạnh hoặc nghiêm trọng hơn là gây thất thoát,lãng phí lớn cho ngân sách nhà nước

Chính sự chồng chéo của các quy định và chưa phân định rõ trách nhi ệm,quyền hạn và chế tài đối với các cơ quan quản lý và tham gia bình ổn giá nên s ự phốihợp giữa các cơ quan quản lý ch ưa tốt dẫn tới tình trạng lũng đoạn giá, đầu cơ giá

Có th ể nói nh ững hiện tượng đầu cơ, tích trữ hay câu kết, độc quyền thâu tóm giá cả

để vô hi ệu hóa các bi ện pháp bình ổn giá đã trở thành phổ biến Điều này đã tạo điềukiện cho những doanh nghiệp “sân sau”, có quan hệ kinh doanh chụp giật hoặc lợidụng thế độc quyền áp đặt thị trường Ví dụ điển hình là các đại lý xăng dầu, cáccông ty phân ph ối sữa bột, các công ty dược (thậm chí, trong một thời gian dài, cáchãng s ữa đã “làm mưa, làm gió” giá cả sữa cho trẻ em nhưng “không ai làm gì” hoặc

“không làm gì được” v.v…

Chưa có một chế tài thực sự hữu hiệu đối với doanh nghiệp hoạt động kinhdoanh trong thị trường hàng hóa thi ết yếu khi có nh ững dấu hiệu vi phạm hoặc né,tránh, lách các bi ện pháp thực hiện bình ổn giá Điển hình là trường hợp các doanhnghiệp kinh doanh sữa trẻ em dưới 6 tuổi Những mức xử phạt hành chính hiện quáthấp so với lợi nhuận các doanh nghiệp thu được

1.3.4 Điều hành giá tại các địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện.

Theo quy định hiện hành, công tác bình ổn giá tại địa phương chủ yếu gồm

03 nội dung chính:

2 Như việc tuyên bố “Giá điện tăng có lợi cho người dân”.

3 Như việc quản lý giá sữa, Bộ Tài chính và Bộ Công thương đã không xác định rõ được trách nhiệm của mình.

Trang 33

- Tổ chức triển khai các biện pháp bình ổn giá do Chính phủ quyết định.

- Tổ chức triển khai thanh tra chuyên ngành v ề giá, việc chấp hành pháp lu ật

về giá theo quy định của Luật Giá và quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn

- Theo dõi, t ổng hợp, phân tích, dự báo tình hình giá cả thị trường trên địa bàn,quyết định loại hàng hóa, d ịch vụ cụ thể để áp dụng biện pháp bình ổn giá phù

hợp trong từng thời kỳ

Về nội dung này, năm 2014 cả nước có 4 8 tỉnh, thành xây dựng kế hoạch cụthể hàng năm với mục tiêu góp ph ần giữ ổn định thị trường, đảm bảo an sinh xã hộitrên địa bàn Cụ thể:

+ Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp về cơ bản qua các năm có điểm chung sau:

* Doanh nghiệp có quy mô kinh doanh l ớn (vốn, hệ thống mạng lưới bán buôn,bán l ẻ, kho dự trữ, có năng lực và kinh nghiệm tổ chức nguồn hàng, phân

phối) phù h ợp với nhóm hàng thu ộc danh mục bình ổn; hoạt động kinh doanh cóhiệu quả (qua các báo cáo tài chính ho ặc báo cáo ki ểm toán 2 năm gần nhất, không

có n ợ xấu, nợ quá hạn…)

* Có lượng hàng hóa thu ộc danh mục Bình ổn giá cung ứng cho thị trường với

số lượng lớn và xuyên su ốt trong thời gian thực hiện chương trình

* Có phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh, tạo nguồn hàng, phát triển mạng lưới bán lẻ đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ bình ổn thị trường

Trang 34

* Quy định doanh nghiệp có s ố lượng điểm bán hàng ho ặc điểm cung ứnghàng hóa bình ổn giá ổn định trên địa bàn (Không áp d ụng đối với doanh nghiệp sản xuất).

- Nêu một số nghiên cứu khoa học về bình ổn giá cả tại các nước và Việt Nam,qua đó giải thích yêu cầu cần thiết phải thực hiện bình ổn giá trong nền kinh tế thị trường vàtham khảo cách thức bình ổn giá đã thực hiện tại các nước phát triển và tại Việt Nam

- Nghiên cứu cơ sở pháp lý, th ực trạng, hạn chế trong việc thực hiện bình ổngiá cả tầm vĩ mô tại Việt Nam, qua đó xác định môi trường thực hiện Chương trình Bình ổn thịtrường tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC M ẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH.

2.1 Khái quát Chương trình Bình ổn thị trường trên địa bàn thành ph ố

Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh là 01 trung tâm kinh t ế, văn hóa, giáo dục, khoa học

kỹ thuật quan trọng, GDP chiếm hơn 20%, giá trị sản xuất công nghi ệp chiếm hơn30%, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ chiếm hơn 25% của cả nước; luôn gi ữvai trò trung tâm s ản xuất, phân phối, trung chuyển, tiêu thụ hàng hóa sôi động vànhiều tiềm năng Sức tiêu thụ hàng hóa c ủa thành phố Hồ Chí Minh tăng bình quânhàng năm 10 - 15% giúp quy mô th ị trường ngày càng l ớn, thu hút đầu tư và mởrộng kết nối giao thương đi khắp nơi trong cả nước và vươn ra thế giới Đây chính làyếu tố tích cực, là động lực phát triển sản xuất, thương mại của cả khu vực, góp phầnphát triển kinh tế Đồng thời thành phố Hồ Chí Minh trở thành nơi chịu nhiều tácđộng từ những biến động tiêu cực của thị trường trong nước và thế giới Vì vậy, cùng

v ới việc tập trung thúc đẩy hoạt động sản xuất - kinh doanh, đầu tư phát triển; Chínhquyền thành phố Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác bình ổnthị trường, chăm lo an sinh xã hội; một trong những công cụ thực hiện nhiệm vụ này

là Chương trình Bìnhổn thị trường

2.1.1 Từ nhận thức “bình ổn giá” đến nhận thức “bình ổn thị trường”.

Chương trình Bình ổn giá trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được triển khailần đầu năm 2002, chủ yếu nhằm ổn định giá cả các mặt hàng Tết (chưa xác định cụthể) trong dịp Tết Nguyên đán; theo đó Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh ứng vốnngân sách không tính lãi cho doanh nghiệp dự trữ hàng hóa , doanh nghiệp tham gia

có trách nhi ệm giữ cố định giá trong 03 tháng Tết

Sau hơn 13 năm thực hiện, từ nhận thức “bình ổn giá” đơn thuần, chính quyềnThành phố đã có b ước chuyển biến căn bản sang nhận thức “bình ổn thị trường” vớinhiều điều chỉnh phù h ợp:

Trang 36

- Từ mục tiêu ban đầu nhằm ổn định giá cả ngắn hạn mùa T ết; nay Chương

trình tập trung thực hiện các mục tiêu chính:

+ Trở thành công c ụ điều tiết giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu thôngqua điều hòa cung - cầu hàng hóa , ổn định thị trường trong dài hạn và thúc đẩy phát triển hệthống phân phối, gia tăng hiệu quả lưu thông hàng hóa Góp ph ần kiềm chế lạm phát, đảm bảo

an sinh xã hội

+ Thúc đẩy sản xuất trong nước theo hướng hiện đại, năng suất cao, đạt tiêuchuẩn an toàn Góp ph ần thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng ViệtNam” của Bộ Chính trị

- Thời gian thực hiện ban đầu chỉ trong dịp Tết Nguyên đán, đến nay Chương trình được triển khai xuyên suốt cả năm

- Từ chưa xác định cụ thể danh mục hàng hóa , đến nay Chương trình thực hiệnbình ổn thị trường đối với 40 nhóm hàng c ụ thể: 09 nhóm hàng lương thực

thực phẩm thiết yếu, 04 nhóm hàng phục vụ mùa khai gi ảng, 06 nhóm hàng sữa và

21 nhóm hàng dược phẩm thiết yếu

- Đối tượng doanh nghiệp tham gia được mở rộng về thành phần, ban đầu chỉ cókinh t ế nhà nước, hiện đã có thêm kinh t ế tập thể, tư nhân và khu vực có v ốn đầu

tư nước ngoài cùng tham gia

- Nguồn vốn thực hiện Chương trình từ hình thức nhà nước ứng vốn ngân sáchcho doanh nghiệp dự trữ hàng hóa sang hình thức xã hội hóa, kết nối ngân hàng với doanhnghiệp

2.1.2 Ý ngh ĩa của Chương trình Bìnhổn thị trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thứ nhất, Chương trình góp ph ần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh;tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động về nguồn vốn, kế hoạch sản xuất, tăng cường mốiliên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất và giữa sản xuất với phân phối, giúp doanh nghi ệp chủđộng được đầu ra, mạnh dạn đầu tư đổi mới công ngh ệ nhằm

Trang 37

nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, đáp ứng tốt nhucầu tiêu dùng c ủa người dân.

- Thứ hai, Chương trình góp ph ần đảm bảo hiệu lực quản lý th ị trường của

Nhà nước, đồng thời góp ph ần thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Vi ệt Nam” của Bộ Chính trị trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh

+ Thứ ba: Chương trình góp ph ần cân đối cung cầu hàng hóa, đáp ứng nhucầu của người dân, hạn chế tốc độ tăng giá, kiềm chế lạm phát, đảm bảo anh sinh xãhội trên địa bàn

2.2 Nội dung thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường các m ặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh.

2.2.1 Công tác xác định mặt hàng thực hiện bình ổn thị trường.

Từ năm 2011 - 2015, Chương trình Bìnhổn thị trường trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh triển khai đối với 04 ngành hàng: các m ặt hàng lương thực, thực phẩmthiết yếu; các mặt hàng phục vụ mùa khai gi ảng; các mặt hàng sữa và các m ặt hàngdược phẩm thiết yếu

Trong đó các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu có 09 nhóm m ặthàng: lương thực (gạo, mì, bún, bánh phở…), đường ăn, dầu ăn, thịt heo, thịt gia cầm,trứng gia cầm, thực phẩm chế biến, rau củ quả, thủy hải sản Chính quyền thành phố

Hồ Chí Minh thực hiện bình ổn thị trường các nhóm m ặt hàng này vì các

Trang 38

Bảng 2.1: Chi tiêu đời sống bình quân đầu người một tháng theo giá th ực tế.

Nội dung chi tiêu 2004 2006 2008 2010 2012

(Nguồn: Niên giám th ống kê TPHCM năm 2014)

- Với thẩm quyền của địa phương cấp tỉnh, bình ổn thị trường các nhóm m ặt

hàng này là l ựa chọn tối ưu để thực hiện chính sách quản lý th ị trường, kiềm chế

lạm phát do chiếm tỷ trọng cao trong rổ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng – CPI

Bảng 2.2: 20 nhóm hàng hóa, d ịch vụ có tr ọng số cao nhất trong rổ hàng hóa

tính chỉ số giá tiêu dùng – CPI

(Nguồn: tham khảo thông tin n ội bộ Cục Thống kê TPHCM)

Trang 39

- Do đáp ứng nhu cầu cơ bản nên mức chi tiêu (tuyệt đối) các mặt hàng nàykhông phân bi ệt tầng lớp dân cư; vì vậy sự tăng giá của các mặt hàng này s ẽ tác

động trực tiếp và tác động lớn nhất đối với tầng lớp dân cư có mức sống thấp nhất

- Vì tính thiết yếu cao nên giá c ả thị trường các nhóm hàng này tương đối nhạycảm, thường bị một số đối tượng thực hiện đầu cơ, găm hàng, tung tin đồn thất thiệt, gây sốt giá

để trục lợi

Nhìn chung, bìnhổn thị trường hiệu quả các nhóm m ặt hàng này là gi ải pháptối ưu mà chính quyền địa phương cấp tỉnh có th ể lựa chọn để thực hiện các nhiệm

vụ kềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội

2.2.2 Công tác d ự báo , đánh giá thị trường.

Công tác d ự báo là vô cùng quan tr ọng bởi lẽ nó cung c ấp các thông tin c ầnthiết nhằm phát hiện và bố trí sử dụng các nguồn lực trong tương lai một cách có căn

cứ thực tế Với những thông tin mà d ự báo đưa ra cho phép các nhà hoạch định chínhsách có những quyết định về chính sách kinh tế vĩ vô Dự báo không ch ỉ tạo cơ sởkhoa học cho việc hoạch định chính sách mà còn cho phép xem xét kh ả năng thựchiện kế hoạch và hiệu chỉnh kế hoạch

Công tác d ự báo, đánh giá thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩmthiết yếu là bước đầu tiên và là cơ sở để xây dựng, thực hiện, hiệu chỉnh kế hoạchtriển khai Chương trình Bình ổn thị trường; bao gồm 4 nội dung: dự báo nhu cầu tiêuthụ, thống kê nguồn cung hàng hóa, di ễn biến giá cả thị trường, đánh giá thị trường

- Dự báo nhu c ầu tiêu thụ:

+ Nội dung dự báo: tổng nhu cầu tiêu thụ từng nhóm hàng c ủa toàn Thành phố bình quân một tháng

+ Nguồn thông tin: C ục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, Sở Nông nghi ệp

và Phát tri ển Nông thôn

+ Phương pháp dự báo: hiện nay công tác d ự báo nhu cầu thị trường của Sở

Công Thương chưa áp dụng mô hình định lượng cụ thể; chủ yếu sử dụng kết quả

Ngày đăng: 26/09/2020, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w