Bằng việc sử dụng mô hình VAR và mô hình VEC,kết quả nghiên cứu trong giai đoạn từ quý 4 năm 1992 đến quý 3 năm 1998 cho thấyrằng trong ngắn hạn và dài hạn việc giảm giá đồng nội tệ có t
Trang 1NGUYỄN NGỌC TÚ
PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2NGUYỄN NGỌC TÚ
\
PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS LẠI TIẾN DĨNH
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3Thầy hướng dẫn khoa học Những nội dung nghiên cứu và kết quả nêu ra trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
TP.HCM, ngày 20 tháng 09 năm 2016
Học viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Tú
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng nghiên cứu 2
1.5 Phạm vi nghiên cứu 2
1.6 Phương pháp nghiên cứu 2
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 2
1.8 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 4
2.1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái 4
2.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái 4
2.1.2 Cơ sở xác định tỷ giá hối đoái 4
2.1.2.1 Trong chế độ bản vị vàng 4
2.1.2.2 Trong hệ thống tiền tệ Bretton Woods 4
2.1.2.3 Trong chế độ tiền tệ hiện nay 4
2.1.3 Các loại tỷ giá thông dụng 5
2.2 Tổng quan về cán cân thương mại 5
Trang 52.2.2.1 Trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi 6
2.2.2.2 Trong cơ chế tỷ giá hối đoái cố định 7
2.2.3 Các nhân tố tác động đến cán cân thương mại 8
2.2.3.1 Lạm phát 8
2.2.3.2 Thu nhập quốc dân 8
2.2.3.3 Tỷ giá hối đoái 8
2.2.3.4 Các biện pháp hạn chế của chính phủ 8
2.3 Khung lý thuyết và nghiên cứu về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu 8
2.3.1 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại 8
2.3.2 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá lên xuất khẩu 12
2.3.3 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá lên nhập khẩu 16
2.3.4 Các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu 18
2.3.4.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam 19
2.3.4.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 31
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 32
3.1 Thực trạng của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2015 32
3.2 Thực trạng về cán cân thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2015 36
3.3 Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2015 38
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 41
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
Trang 64.1.2 Phương pháp nghiên cứu 43
4.1.2.1 Kiểm định tính dừng bằng phương pháp ADF 43
4.1.2.2 Phân tích mối liên hệ dài hạn giữa TB và ER, EX và ER thông qua kiểm định đồng liên kết và VECM (Vector Error Correction Model) 44
4.1.2.3 Phân tích mối liên hệ ngắn hạn giữa TB và ER, EX và ER thông qua kiểm định đồng liên kết và VECM (Vector Error Correction Model) 45
4.1.2.4 Phân tích mối liên hệ giữa IM và ER thông qua mô hình VAR (Vector Autoregression) 46
4.2 Thu thập và xử lý dữ liệu 47
4.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp 47
4.2.2 Quy trình xử lý dữ liệu 47
4.3 Kết quả nghiên cứu 48
4.3.1 Thống kê mô tả 48
4.3.2 Kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian 49
4.3.3 Phân tích độ trễ tối ưu cho các cặp TB và ER, EX và ER, IM và ER 50
4.3.4 Kiểm định đồng liên kết giữa TB và ER, EX và ER, IM và ER 51
4.3.5 Mối quan hệ giữa TB và ER, EX và ER trong mô hình VEC 52
4.3.5.1 Mối quan hệ giữa TB và ER 52
4.3.5.2 Mối quan hệ giữa EX và ER 53
4.3.6 Mối quan hệ giữa IM và ER trong mô hình VAR 55
4.3.7 Phân tích hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function) 56
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
Trang 75.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2: PHÂN TÍCH TÍNH DỪNG CÁC CHUỖI THỜI GIAN
PHỤ LỤC 3: ĐỘ TRỄ TỐI ƯU GIỮA CÁC BIẾN
PHỤ LỤC 4: PHÂN TÍCH ĐỒNG LIÊN KẾT
PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH VEC GIỮA TB VÀ ER
PHỤ LỤC 6: KIỂM TRA TÍNH DỪNG, TÍNH ỔN ĐỊNH, TỰ TƯƠNG QUAN TRONG
MÔ HÌNH VEC GIỮA TB VÀ ER
PHỤ LỤC 7: MÔ HÌNH VEC GIỮA EX VÀ ER
PHỤ LỤC 8: KIỂM TRA TÍNH DỪNG, TÍNH ỔN ĐỊNH, TỰ TƯƠNG QUAN TRONG
MÔ HÌNH VEC GIỮA EX VÀ ER
PHỤ LỤC 9: MÔ HÌNH VAR GIỮA IM VÀ ER
PHỤ LỤC 10: KIỂM TRA TỰ TƯƠNG QUAN, TÍNH ỔN ĐỊNH TRONG MÔ HÌNHVAR GIỮA IM VÀ ER
Trang 8ER Exchange Rate (tỷ giá)
USD United States Dollar (đồng đô la Mỹ)
VND Viet Nam Dong (Việt Nam đồng)
Trang 9nghiệp và 9 quốc gia đang phát triển
Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu trước tại Việt Nam
Bảng 3.1: Diễn biến tỷ giá cuối kỳ của VND/USD giai đoạn 2001 – 2006 Bảng 3.2: Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 3.3: Diễn biến tỷ giá cuối kỳ của VND/USD giai đoạn 2006 – 2015 Bảng 3.4: Xuất khẩu – nhập khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2015 Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định tính dừng
Bảng 4.3: Kết quả độ trễ tối ưu giữa TB và ER
Bảng 4.4: Kết quả độ trễ tối ưu giữa EX và ER
Bảng 4.5: Kết quả độ trễ tối ưu giữa IM và ER
Bảng 4.6: Kết quả phân tích đồng liên kết
Bảng 4.7: Kết quả phân tích mối quan hệ dài hạn giữa TB và ER
Bảng 4.8: Kết quả phân tích mối quan hệ dài hạn giữa EX và ER
Trang 10Hình 2.1: Sự dịch chuyển của IS – BP trong trường hợp gia tăng xuất khẩu ròng Hình 2.2: Chính sách ngoại thương trong cơ chế tỷ giá thả nổi
Hình 2.3: Chính sách ngoại thương trong cơ chế tỷ giá cố định
Hình 2.4: Hiệu ứng tuyến J
Hình 2.5: Hiệu ứng phá giá lên đường cầu
Hình 2.6: Hiệu ứng phá giá và xuất khẩu
Hình 2.7: Hiệu ứng phá giá lên nhập khẩu
Đồ thị
Đồ thị 3.1: Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2005 – 2015
Đồ thị 3.2: Cán cân thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam trong giai
đoạn 2001 – 2015
Đồ thị 3.3: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2015
Đồ thị 4.1: Hàm phản ứng đẩy giữa cán cân thương mại và tỷ giá
Đồ thị 4.2: Hàm phản ứng đẩy giữa xuất khẩu và tỷ giá
Đồ thị 4.3: Hàm phản ứng đẩy giữa nhập khẩu và tỷ giá
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Tỷgiá tác động đến hầu hết các mặt của nền kinh tế như tài khoản vãng lai, tài khoảnvốn, lạm phát, lãi suất, tốc độ tăng trưởng, tổng sản phẩm quốc dân,v.v… Nhưngmột trong những tác động nhanh chóng và rõ ràng nhất đó là tác động đến hoạt độngxuất – nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến cán cân thương mại Các quốc gia trong đó
có Việt Nam đã và đang sử dụng chính sách điều hành tỷ giá để điều chỉnh hoạtđộng xuất khẩu, nhập khẩu của mình Nhiều quan điểm cho rằng tồn tại hiệu ứngđường cong J trong mối quan hệ dài hạn giữa cán cân thương mại và tỷ giá là phùhợp với khung lý thuyết do Marshall – Lerner đưa ra; chính vì vậy, khi nội tệ mấtgiá sẽ làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi trong ngắn hạn nhưng trong dàihạn cán cân thương mại sẽ được cải thiện Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tạinhững quan điểm đối lập trong nghiên cứu
Nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá nhằm cải thiện cán cânthương mại là một vấn đề quan trọng Bởi vì nếu cán cân thương mại được cải thiện
sẽ góp phần gia tăng dự trữ ngoại hối, tăng lòng tin của các chủ thể trong nền kinh
tế đối với nội tệ, qua đó góp phần đảm bảo cho việc tăng trưởng kinh tế Chính vìvậy tác giả đã chọn đề tài: “Phân tích sự tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cânthương mại tại Việt Nam” cho luận văn của mình Đề tài này không chỉ nghiên cứunhững vấn đề lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại, màcòn nghiên cứu tác động của nó đến cán cân thương mại một cách cụ thể đó là: đolường, đánh giá tác động của việc tăng hoặc giảm giá đồng Việt Nam đến cán cânthương mại
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cânthương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 07 năm 2001 đến tháng 12 năm2015
Trang 12- Mục tiêu cụ thể: phân tích tác động của việc tăng hoặc giảm giá đồng ViệtNam đến hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu; tìm hiểu xem giữa tỷ giá và cán
cân thương mại ở Việt Nam tồn tại mối quan hệ tuyến tính hay phi tuyến Từ đó đưa
ra các gợi ý chính sách về tỷ giá và cán cân thương mại Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Liệu có tồn tại tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại tại Việt Nam?Nếu có thì giữa tỷ giá và cán cân thương mại Việt Nam tồn tại mối quan hệ tuyếntính hay phi tuyến
- Cần có những gợi ý chính sách gì về tỷ giá hối đoái và cán cân thươngmại tại Việt Nam?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thươngmại tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 07 năm 2001 đến tháng 12 năm 2015
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 07 năm 2001 đến tháng 12 năm 2015
1.6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng dựa trên mối quan hệ đồngliên kết (cointegration), mô hình VAR (Vector Autoregressive) và mô hình VEC(Vector Error Correction) nhằm đo lường tác động của tỷ giá đến cán cân thươngmại cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn
- Dữ liệu và các biến nghiên cứu được thu thập từ tổng cục thống kê vàIMF (International Monetary Fund) Dữ liệu sau khi thu thập, sàng lọc và được xử
lý bằng phần mềm Eviews 8.0 và Stata 13.0 để đưa ra kết luận về mối quan hệ cũng như ý nghĩa thống kê của các biến
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
- Ở Việt Nam, hiện nay đa số là các nghiên cứu lấy dữ liệu theo năm hoặctheo quý Trong nghiên cứu này, để ước lượng trở nên vững (consistent) hơn, tác giả
sẽ mở rộng số quan sát bằng cách lấy dữ liệu theo tháng để kiểm định Ngoài ra
Trang 13tác giả không chỉ phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại màcòn phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu và nhập khẩu Qua đónghiên cứu này sẽ giúp cho người đọc thấy được rõ nét hơn mối quan hệ giữa tỷ giáhối đoái và cán cân thương mại tại Việt Nam, cũng như xem xét xem liệu có tồn tạihiệu ứng đường cong J giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại theo lý thuyếtcủa Marshall – Lerner trong ngắn hạn và trong dài hạn hay không.
1.8 Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cânthương mại
- Chương 3: Thực trạng về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương
- Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN
CÂN THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái
2.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị đồng tiền nước này được thể hiệnthông qua số lượng đồng tiền nước khác (Trần Hoàng Ngân và cộng sự, 2014)
2.1.2 Cơ sở xác định tỷ giá hối đoái
2.1.2.1 Trong chế độ bản vị vàng
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được xác địnhtrên cơ sở so sánh hàm lượng vàng giữa hai đồng tiền với nhau được gọi là nganggiá vàng hoặc đồng giá vàng
Tỷ giá trong giai đoạn này là tỷ giá cố định với biên độ cộng trừ chi phí vậnchuyển vàng giữa hai quốc gia Chính vì vậy chế độ bản vị vàng là cơ chế có tỷ giá
ổn định nhất
2.1.2.2 Trong hệ thống tiền tệ Bretton Woods
Trong giai đoạn này hình thành nên hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng cóthể điều chỉnh Theo đó mỗi đồng tiền ở mỗi quốc gia sẽ được ấn định một tỷ giátrung tâm so với đồng đô la Mỹ và không được phép biến động vượt quá biên độ
±1% Tỷ giá đồng đô la Mỹ trong thời kỳ này được cố định với giá vàng là
$35/ounce
2.1.2.3 Trong chế độ tiền tệ hiện nay
- Tỷ giá cố định: là tỷ giá không phụ thuộc quy luật cung cầu của thị trường
và được ngân hàng trung ương công bố cố định trong một biên độ dao động hẹp.Cho nên để duy trì tỷ giá cố định dưới áp lực cung cầu của thị trường, ngân
hàng trung ương buộc phải sử dụng dự trữ ngoại hối quốc gia để can thiệp
- Tỷ giá thả nổi tự do: là cơ chế tỷ giá mà theo đó giá cả ngoại tệ sẽ do cungcầu trên thị trường quyết định và ngân hàng trung ương sẽ không điều chỉnh
xu hướng vận động của tỷ giá
Trang 15- Tỷ giá thả nổi có quản lý: là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can thiệp của ngânhàng trung ương Theo đó, ngân hàng trung ương sẽ có những can thiệp tích cực lên
xu hướng vận động của tỷ giá trên thị trường ngoại hối thông qua các công cụ tàichính
2.1.3 Các loại tỷ giá thông dụng
Tỷ giá chính thức là tỷ giá do ngân hàng trung ương công bố Như vậy tỷ giáchính thức chỉ dùng để tham chiếu, dùng để định hướng cho thị trường chứ khôngđược sử dụng để mua bán
Tỷ giá kinh doanh của ngân hàng thương mại là tỷ giá mà ngân hàng thươngmại sử dụng để mua bán trên thị trường hối đoái Tỷ giá kinh doanh của ngân hàngthương mại bao gồm: tỷ giá mua, tỷ giá bán, tỷ giá tiền mặt, tỷ giá chuyển khoản
Tỷ giá xuất khẩu: tỷ giá xuất khẩu là tỷ giá phản ánh chi phí bằng nội tệ để thuđược một đơn vị ngoại tệ khi xuất khẩu hàng hóa
Tỷ giá xuất khẩu = Tổng giá vốn hàng xuất khẩu trên sàn tàu
Ngoại tệ thu được theo giá FOB tại cảng xuất khẩu
Tỷ giá nhập khẩu là tỷ giá phản ánh doanh thu nội tệ thu được từ việc nhập khẩu một đơn vị ngoại tệ hàng hóa
Tỷ giá nhập khẩu = Tổng giá bán hàng nhập tại cảng nhập khẩu
Ngoại tệ chi trả theo giá CIF tại cảng nhập khẩu
Tỷ giá mở cửa là tỷ giá đầu ngày giao dịch
Tỷ giá đóng cửa là tỷ giá cuối ngày giao dịch
Tỷ giá cao nhất là tỷ giá cao nhất trong ngày giao dịch
Tỷ giá thấp nhất là tỷ giá thấp nhất trong ngày giao dịch
2.2 Tổng quan về cán cân thương mại
2.2.1 Khái niệm về cán cân thương mại
Cán cân thương mại phản ánh sự chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu
và các khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa, mà các hàng hóa này có thể quan sátđược bằng mắt thường khi di chuyển qua biên giới Cán cân thương mại sẽ trở nênthâm hụt khi các khoản chi cho hàng nhập khẩu lớn hơn thu nhập từ hàng xuất
Trang 16khẩu Ngược lại, khi thu nhập từ hàng xuất khẩu lớn hơn các khoản chi cho hàngnhập khẩu thì khi đó cán cân thương mại sẽ thặng dư (Nguyễn Văn Tiến, 2011).
2.2.2 Tác động của cán cân thương mại
Trên cơ sở mô hình IS – LM của Keynes, mô hình Mundell – Fleming đượccông bố lần đầu tiên bởi Robert Mundell (1962, 1963) và James Fleming (1962) đã
đề cập tới các luồng chu chuyển vốn quốc tế Theo đó, việc tăng hay giảm xuất khẩuròng của một quốc gia tùy thuộc vào tình hình của nền kinh tế Nếu nền kinh tế suythoái thì lúc đó chính phủ sẽ đẩy mạnh xuất khẩu và giảm bớt nhập khẩu (gia tăngxuất khẩu ròng) Như vậy nếu thực hiện chính sách gia tăng xuất khẩu ròng thì
giảm (xem hình 2.1)
Hình 2.1: Sự dịch chuyển của IS – BP trong trường hợp gia tăng xuất khẩu ròng
LM E’
2.2.2.1 Trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi
Do tỷ giá giảm dẫn đến xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng làm cho đường ISdịch chuyển trở lại sang trái và đường BP cũng sẽ dịch chuyển sang trái trở lại vị tríban đầu (xem hình 2.2)
Trang 17Hình 2.2: Chính sách ngoại thương trong cơ chế tỷ giá thả nổi
LM E’
2.2.2.2 Trong cơ chế tỷ giá hối đoái cố định
Trong cơ chế này, để cho tỷ giá không giảm, ngân hàng trung ương sẽ bán nội
tệ ra và mua ngoại tệ vào làm dịch chuyển đường LM sang phải (xem hình 2.3)
Hình 2.3: Chính sách ngoại thương trong cơ chế tỷ giá cố định
Trang 18Như vậy cả 3 đường (IS-LM-BP) cùng dịch chuyển sang phải thì lúc đó sản
Kết luận: Thực hiện chính sách thay đổi xuất khẩu ròng trong cơ chế tý giá hối đoái
cố định sẽ có tác dụng mạnh hơn trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn.Ngoài ra việc thực hiện chính sách này sẽ làm thay đổi tỷ giá cũng như là lượng dựtrữ ngoại tệ của một quốc gia
2.2.3 Các nhân tố tác động đến cán cân thương mại
2.2.3.1 Lạm phát
Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát gia tăng cao hơn so với các quốc gia khác
có quan hệ thương mại, thì cán cân thương mại của quốc gia này sẽ giảm trong điềukiện các yếu tố khác không thay đổi
2.2.3.2 Thu nhập quốc dân
Nếu thu nhập của một quốc gia có mức gia tăng cao hơn so với các quốc giakhác thì cán cân thương mại của quốc gia đó sẽ giảm trong điều kiện các yếu tốkhác không thay đổi
2.2.3.3 Tỷ giá hối đoái
Nếu đồng tiền của một nước tăng giá so với đồng tiền của các nước khác thìcán cân thương mại của nước đó sẽ giảm trong điều kiện các yếu tố khác không thayđổi
2.2.3.4 Các biện pháp hạn chế của chính phủ
Nếu chính phủ của một quốc gia đánh thuế lên hàng nhập khẩu, giá cả củahàng nước ngoài đối với người tiêu dùng trong nước tăng trên thực tế Sự can thiệpcủa chính phủ thường có khuynh hướng là khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhậpkhẩu Ngoài việc áp dụng các biện pháp hạn chế, chính phủ còn có các cách khác cóthể ảnh hưởng đến cán cân thương mại như: trợ cấp, trợ giá, chống bán phá giá vàcác hàng rào phi thuế quan khác
2.3 Khung lý thuyết và nghiên cứu về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu
2.3.1 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại
Trang 19Phương pháp tiếp cận hệ số co giãn (the elasticity approach) nghiên cứu sựảnh hưởng của tỷ giá đến cán cân thương mại thông qua hệ số co giãn của giá trịxuất khẩu và nhập khẩu, lần đầu tiên được Alfred Marshall và Abba Lerner sử dụng
và sau đó tiếp tục được mở rộng ra bởi Joan Robinson (1937) và Fritz Machlup(1955)
Alfred Marshall và Abba Lerner cho rằng nếu trạng thái xuất phát của cán cânthương mại là cân bằng thì khi phá giá nội tệ sẽ làm cho cán cân thương mại đượccải thiện khi tổng hệ số co giãn của xuất khẩu và hệ số co giãn của nhập khẩu lớn
thâm hụt, và cán cân thương mại cân bằng khi tổng hệ số co giãn của xuất khẩu và
phá giá nội tệ sẽ tạo ra hiệu ứng tăng khối lượng xuất khẩu và hạn chế khối lượngnhập khẩu, nhưng khi xét về mặt giá trị thì sẽ không hoàn toàn như vậy vì sau khiphá giá nội tệ sẽ tạo nên hiệu ứng giá cả và hiệu ứng khối lượng như sau:
- Hiệu ứng giá cả: sau khi phá giá nội tệ, xuất khẩu trở nên rẻ hơn khi tínhbằng ngoại tệ trong khi nhập khẩu trở nên đắt hơn khi tính bằng nội tệ Đây chính lànguyên nhân khiến cán cân thương mại trở nên xấu đi khi phá giá nội tệ
- Hiệu ứng khối lượng: sau khi phá giá nội tệ, xuất khẩu trở nên rẻ hơntrong mắt người tiêu dùng nước ngoài nên đã kích thích tăng khối lượng xuất khẩu;trong khi đó, nhập khẩu trở nên đắt hơn đã làm hạn chế khối lượng nhập khẩu củangười tiêu dùng trong nước Như vậy, hiệu ứng khối lượng là nhân tố góp phần cảithiện cán cân thương mại
Trong thực tế, khi Chính phủ thực hiện phá giá nội tệ, người ta luôn mong đợirằng cán cân thương mại sẽ được cải thiện, tức là khối lượng xuất khẩu tăng và khốilượng nhập khẩu giảm thừa sức bù đắp cho việc giảm giá trị xuất khẩu khi tính bằngngoại tệ và tăng giá trị nhập khẩu khi tính bằng nội tệ Chính vì vậy khi nói đến “khung
lý thuyết về điều kiện Marshall – Lerner” người ta thường nghĩ đến điều kiện ηx + ηm >
1 (tổng số hệ số co giãn của xuất khẩu và hệ số co giãn của nhập
Trang 20khẩu lớn hơn 1) Chính vì vậy một cuộc phá giá thành công (cuộc phá giá đó sẽ cảithiện được cán cân thương mại) còn được gọi là cuộc phá giá đáp ứng được điềukiện Marshall – Lerner.
Hiện nay nhiều cuộc tranh luận cho rằng việc phá giá nội tệ đối với các nướccông nghiệp phát triển sẽ thành công hơn so với các nước đang phát triển Nguyênnhân là do các nước đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu, do đó hệ số
co giãn của nhập khẩu thường là rất thấp; còn đối với các nước công nghiệp pháttriển có hệ số co giãn đối với xuất khẩu là tương đối cao Qua đó cho thấy việc phágiá tiền tệ có thể cải thiện được cán cân thương mại của quốc gia này nhưng cũng cóthể làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi đối với quốc gia khác
Bảng 2.1: Hệ số co giãn cầu đối với xuất khẩu và nhập khẩu của 15 nước công
nghiệp và 9 quốc gia đang phát triển
Hệ số co giãn cầu xuất khẩu Hệ số co giãn cầu nhập khẩu Các nước công nghiệp
Trang 21Hệ số co giãn cầu xuất khẩu Hệ số co giãn cầu nhập khẩu
Gylfason and Schmid (1983, table I)
Năm 1987, trong nghiên cứu European Economic Review, Gylfason đã công
bố bảng tổng hợp về các hệ số co giãn (kết quả của 10 công trình nghiên cứu thựcnghiệm trong giai đoạn 1969 – 1981), chỉ ra rằng “điều kiện Marshall – Lerner” đềuđược đáp ứng bởi tất cả các quốc gia mà ông nghiên cứu, bao gồm 15 nước côngnghiệp phát triển và 9 quốc gia đang phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việcphá giá nội tệ sẽ làm xuất hiện hiệu ứng đường cong J, tức là cán cân vãng lai trongngắn hạn sẽ trở nên xấu đi, sau một khoảng thời gian từ 2 đến 3 năm cán cân vãnglai mới dần được cải thiện Bởi vì trong ngắn hạn độ co giãn của khối lượng xuấtkhẩu và khối lượng nhập khẩu là bằng không, do đó hiệu ứng giá cả đã lấn át hiệuứng khối lượng gây tác động xấu đến cán cân vãng lai Thế nhưng trong dài hạn,khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu bắt đầu co giãn nhiều hơn khiến cho hiệu ứngkhối lượng lấn át hiệu ứng giá cả làm cho cán cân vãng lai được cải thiện
Trang 22Công trình nghiên cứu của Artus và Knight (1984) cho thấy trong ngắn hạn (từ
6 tháng cho đến 1 năm), hệ số co giãn của khối lượng xuất khẩu và của nhập khẩu làrất thấp và tổng của chúng nhỏ hơn 1, do đó cán cân vãng lai trở nên xấu đi trongngắn hạn Còn theo kết quả nghiên cứu của Krugman khi phân tích cuộc phá giá đô
la Mỹ trong giai đoạn 1985 – 1987 đã phát hiện ra hiệu ứng đường cong J, nghiêncứu này cho thấy tổng thể các hệ số co giãn trong dài hạn là 1.9 Như vậy ban đầucán cân vãng lai sẽ trở nên xấu đi nhưng khoảng 2 năm sau đó cán cân vãng lai sẽđược cải thiện
Do “điều kiện Marshall – Lerner” nên cán cân thương mại sẽ được cải thiệntrong dài hạn, điều đó đã làm phát sinh ra hiệu ứng đường cong J, được thể hiện trênhình 2.4 Nguyên nhân là do trong ngắn hạn khối lượng xuất khẩu và khối lượngnhập khẩu không co giãn nhiều, do đó hiệu ứng khối lượng bị hiệu ứng giá cả lấn átlàm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi Tuy nhiên sau một khoảng thời giannhất định thì khối lượng xuất khẩu bắt đầu tăng lên cùng với khối lượng nhập khẩubắt đầu giảm xuống, lúc này hiệu ứng giá cả sẽ bị hiệu ứng khối lượng lấn át làmcho cán cân thương mại được cải thiện trong dài hạn
Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khối lượng xuất khẩu và khối lượng nhậpkhẩu không co giãn trong ngắn hạn nhưng lại co giãn nhiều trong dài hạn:
- Phản ứng của người tiêu dùng diễn ra chậm
- Phản ứng của nhà sản xuất diễn ra chậm
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Kết luận: Chính sự thay đổi giá cả và khối lượng xuất – nhập khẩu không diễn rađồng thời là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiệu ứng tuyến J
2.3.2 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá lên xuất khẩu
Để nghiên cứu, giả sử công ty A (công ty xuất khẩu áo thun) có đường cầukhông hoàn toàn co giãn với giá cả Trong đó, trục tung được sử dụng để biểu diễngiá cả và được tính bằng nội tệ, trục hoành được dùng dể biểu diễn khối lượng xuất
Trang 23khẩu của nước phá giá Câu hỏi được đặt ra trong trường hợp này là những hiệu ứngphá giá lên đường cầu là như thế nào?
Hình 2.5: Hiệu ứng phá giá lên đường cầu
- Điểm A là trạng thái ban đầu trước khi phá giá xảy ra
- Với tỷ giá trước khi phá giá là E(d/$) , ta tính được giá xuất khẩu tính
Để thấy được sự ảnh hưởng của việc phá giá đến đường cầu như thế nào chúng
ta sẽ tiến hành 3 bước sau:
Trang 24- Bước 1: Sau khi phá giá, nếu nhà xuất khẩu vẫn duy trì khối lượng xuất
khẩu của Việt Nam bán ở Mỹ chỉ tăng phù hợp với mức lạm phát ở Mỹ, nghĩa là với
giá như sau:
Phương trình trên nói lên rằng sau khi phá giá nếu như tỷ giá hối đoái tăng từ
không thay đổi Từ hình 2.5 chúng ta có thể thấy rằng trước khi tiến hành phá giá,
Như vậy, ta thấy được rằng đường cầu sau khi phá giá đã dịch chuyển lên trên tới
- Bước 2: Với cách lập luận như trên, giả sử như trước khi phá giá, tại điểm
bằng VND sẽ là:
Như vậy, tại các mức xuất khẩu khác nhau, sau khi phá giá đường cầu đã đượcđẩy lên trên với tỷ lệ bằng tổng của tỷ lệ phá giá cộng với tỷ lệ lạm phát ở Mỹ Bêncạnh đó, hình 2.5 cho chúng ta thấy, tại cùng mức giá tính bằng VND như trước khiphá giá, thì sau khi phá giá, nhà xuất khẩu có thể bán được nhiều áo thun hơn tạiMỹ
Như đã trình bày, sau khi phá giá, giá xuất khẩu tính bằng VND tăng, kíchthích gia tăng khối lượng xuất khẩu Giả sử như công ty tăng khối lượng xuất khẩu
Trang 25Hình 2.6: Hiệu ứng phá giá và xuất khẩu
Hình 2.6 cho thấy hiệu ứng phá giá VND làm cho đường cầu dịch chuyển từ
không thay đổi trước và sau khi phá giá xảy ra, do đó MC cũng chính là chi phítrung bình AC Từ hình 2.6 thấy rằng:
biên bằng chi phí biên nên tại điểm A biểu diễn trạng thái lợi nhuận tối đa của côngty
A*) Do doanh thu biên bằng chi phí biên nên tại điểm A* biểu diễn trạng thái lợi
Trang 26Cần lưu ý rằng do đường cầu có độ dốc từ trái sang phải cho nên sau khi phágiá làm cho giá xuất khẩu tính bằng nội tệ sẽ giảm Nếu khối lượng xuất khẩu sau
tệ giảm xuống tại điểm C Như vậy, ta thấy được rằng AC < AB Như vậy, việc giáxuất khẩu tính bằng nội tệ giảm sau khi phá giá có thể được giải thích bằng cáchsau: trong điều kiện các yếu tố khác không đổi do khối lượng áo thun xuất khẩu vào
Mỹ tăng, làm cho giá áo thun tính bằng USD giảm; giá xuất khẩu tính bằng USDgiảm làm cho giá tính bằng VND giảm; ngoài ra, do xuất khẩu tăng, làm gia tăngnguồn thu được từ ngoại tệ, tạo nên áp lực tăng giá VND, tức là sẽ làm cho tỷ giá
bằng ngoại tệ giảm Như vậy, sau khi phá giá, giá xuất khẩu tính bằng nội tệ tăng vàkhối lượng xuất khẩu tăng, nhưng giá tăng ít hơn so với tổng của tỷ lệ lạm phát và
tỷ lệ phá giá ở Mỹ
thu nhập sau khi phá giá trừ đi tổng thu nhập trước khi phá giá cộng với phần chi
Như vậy, nếu ngành sản xuất áo thun của Việt Nam không có sẵn năng lực đểgia tăng sản lượng xuất khẩu, nghĩa là đường chi phí biên MC là một đường thẳngđứng, thì sau khi phá giá khối lượng xuất khẩu sẽ không tăng, nhưng giá xuất khẩu
áo thun tính bằng VND sẽ tăng một cách đầy đủ, bao gồm cả tỷ lệ phá giá và tỷ lệlạm phát ở Mỹ
2.3.3 Khung lý thuyết về tác động của tỷ giá lên nhập khẩu
Giả sử công ty A tại Việt Nam nhập khẩu áo thun từ Mỹ để bán tại Việt Nam.Trong hầu hết các trường hợp, tại mức giá áo thun tính bằng USD nhất định, thìcông ty A có thể nhập khẩu số lượng áo thun tùy ý Như vậy đường cầu áo thunbằng USD là một đường nằm ngang tại mỗi mức giá đã cho, do đó chi phí biên đểnhập khẩu thêm mỗi chiếc áo thun tính bằng VND là không thay đổi trước khi phá
Trang 27giá: nghĩa là đường chi phí biên là một đường thẳng nằm ngang Tương tự, đườngchi phí biên bằng VND sau khi phá giá cũng là một đường thẳng nằm ngang Dođường MC là một đường nằm ngang, cho nên đường chi phí biên cũng chính là
Hình 2.7: Hiệu ứng phá giá lên nhập khẩu
Đường cầu áo thun bằng VND là đường có độ dốc từ trái sang phải, và đườngthu nhập cận biên MR là đường phát sinh từ đường cầu D Trước khi phá giá, công
có bất kỳ lý do gì khiến giá áo thun tính bằng USD bị ảnh hưởng Với giá áo thun
Trang 28tính bằng USD không thay đổi khiến cho chi phí bằng VND để nhập khẩu áo thuntăng lên cùng với tỷ lệ phá giá VND Chi phí tăng làm cho dịch chuyển đường chi
V là điểm mà công ty đạt được lợi nhuận tối đa sau khi phá giá tại mức giá áo thun
khối lượng nhập khẩu giảm xuống
Vậy điều gì đã xảy ra với tổng thu nhập, lợi nhuận và tổng chi phí sau khi phágiá xảy ra?
- Tổng thu nhập: bằng khối lượng nhập khẩu nhân với giá nhập khẩu Ta cótổng thu nhập trước khi nhập khẩu là M1.Pd1 và sau khi nhập khẩu là M2.Pd2 Để chotổng thu nhập sau khi phá giá giảm thì M1.Pd1 > M2.Pd2 Nghĩa là tỷ lệ giảm của khốilượng nhập khẩu phải nhanh hơn tỷ lệ tăng của giá, hay hệ số co giãn của nhập khẩuphải lớn hơn 1 Thực tế cho thấy, do đường cầu thường là co giãn, cho nên sau khi tiếnhành phá giá thì tổng thu nhập từ nhập khẩu tính bằng nội tệ thường giảm
trường hợp của thu nhập, tổng chi phí của nhập khẩu sau khi phá giá là không rõràng, phụ thuộc vào hệ số co giãn của khối lượng xuất khẩu đối với thu nhập cậnbiên Để cho tổng chi phí sau khi phá giá giảm thì tỷ lệ giảm khối lượng nhập khẩuphải nhanh hơn tỷ lệ tăng của doanh thu biên; tức là hệ số co giãn nhập khẩu đối vớidoanh thu biên phải lớn hơn 1 Trên thực tế, do đường cầu thường co giãn, cho nênđường doanh thu biên cũng là đường thường co giãn, do vậy sau khi phá giá tổng chi phí nhập khẩu bằng nội tệ thường giảm
- Lợi nhuận tăng thêm: sau khi xảy ra phá giá, do tổng chi phí và tổng thunhập đều giảm, cho nên không thể tính ngay được lợi nhuận tăng lên hay giảmxuống Trong những điều kiện nhất định, để tính được phần lợi nhuận tăng thêm,người ta phải sử dụng đến phương pháp toán học cao cấp và kết quả cho thấy lợinhuận thường là sẽ giảm sau khi phá giá
2.3.4 Các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 29Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tiếp cận, nghiên cứu các tài liệu có liênquan trực tiếp và gián tiếp đến luận văn: “Phân tích sự tác động của tỷ giá hối đoáiđến cán cân thương mại tại Việt Nam”.
2.3.4.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Theo nghiên cứu Vietnam’s export competitiveness: Trade and Macroeconomic policy Linkages (Lord, 2002):
Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp đồng liên kết và mô hình VEC đểxem xét tác động của tỷ giá hối đoái thực đến cán cân thương mại Việt Nam từ năm
1990 – 2001
Kết quả thu được cho thấy tác động của tỷ giá hối đoái thực của Việt Nam đếnvấn đề cạnh tranh quốc tế và nhu cầu của hàng xuất khẩu có ý nghĩa thống kê trênthị trường toàn cầu và các thị trường khác trong khu vực
Theo nghiên cứu Can devaluation be effective in improving the balance of payments in Vietnam? (Thanh Nguyen Ngoc and Kaliappa Kalirajan, 2006):
Các biến sử dụng trong bài nghiên cứu này bao gồm tỷ giá hối đoái, chỉ số giá(CPI) và cung tiền (M1, M2) Bằng việc sử dụng mô hình VAR và mô hình VEC,kết quả nghiên cứu trong giai đoạn từ quý 4 năm 1992 đến quý 3 năm 1998 cho thấyrằng trong ngắn hạn và dài hạn việc giảm giá đồng nội tệ có thể được thực hiện đểcải thiện xuất khẩu, qua đó cải thiện cán cân vãng lai và cán cân thanh toán, đồngthời cũng làm giảm áp lực tăng tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn
Theo nghiên cứu Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam thời kỳ 1995 – 2004 (Phan Thanh Hoàn và Nguyễn Đăng Hào, 2007):
Bài viết sử dụng mô hình VEC (Vector Error Correction Model) Mô hình
thực đa phương Thời gian nghiên cứu là từ quý 1 năm 1995 đến quý 4 năm 2005.Kết quả nghiên cứu này cho thấy, trong thời kỳ 1995 – 2004, tỷ giá hối đoáidanh nghĩa giữa đồng Việt Nam với những đồng tiền của các bạn hàng chủ yếu thểhiện xu hướng tăng, đồng nghĩa với việc đồng Việt Nam mất giá Tuy nhiên, dựa
Trang 30trên kết quả tính toán được, tỷ giá hối đoái thực tế đã bị giảm tới hơn 20% Tronggiai đoạn 1992 – 1997, việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định trongđiều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước cóđồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giỏ ngoại tệ để xác định tỷ giá ở Việt Nam)
và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng đô la
Mỹ có xu hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho đồng Việt Nam có xu hướngngày càng bị định giá cao hơn so với thực tế Điều này đã tạo ra và tích lũy nhữngnhân tố gây mất ổn định và kìm hãm sự phát triển kinh tế
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định được sự tồn tại của quan hệgiữa hai biến số vĩ mô này trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, tác động của
tỷ giá có tính chất trễ, và trong dài hạn hai biến số này tiến tới một quan hệ cân bằngdài hạn Một phần trăm đồng nội tệ mất giá sẽ làm cho cán cân thương mại gia tăng0.7 phần trăm
Theo nghiên cứu The impact of exchange rate fluctuation on trade balance in short and long run (Phạm Thị Tuyết Trinh, 2012):
Nghiên cứu sử dụng mô hình VEC (Vector Error Correction Model) Mô hình
Trong đó, TB là cán cân thương mại, REER là tỷ giá thực, GDP là tổng sản phẩmquốc nội, GDP* là tổng sản phẩm của nước ngoài Nghiên cứu này cho thấy tácđộng của tỷ giá trong ngắn hạn và dài hạn đến cán cân thương mại Việt Nam tronggiai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2010 Qua đó dẫn đến các kết luận sau:
- Thứ nhất, tỷ giá hối đoái thực có tác động tích cực đến cán cân thươngmại trong dài hạn, điều đó cho thấy đồng nội tệ mất giá có thể làm cho cán cânthương mại được cải thiện và khi đồng nội tệ tăng giá sẽ làm cho cán cân thươngmại trở nên xấu đi Hiện nay, việc phá giá nội tệ để cải thiện cán cân thương mạikhông còn nhiều hiệu quả
- Thứ hai, có một sự tác động của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thươngmại Việt Nam trong ngắn hạn Ngay khi đồng nội tệ giảm giá thì sẽ gây ra tác động tiêu cực lên cán cân thương mại Tuy nhiên, tác động tiêu cực của tỷ giá hối đoái
Trang 31thực lên cán cân thương mại không kéo dài Cán cân thương mại sẽ được cải thiệnsau 5 quý sụt giảm và sẽ được cân bằng, với một mức cân bằng mới cao hơn mứccân bằng cũ và sẽ được thiết lập sau 12 quý.
Theo nghiên cứu Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán (Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh, 2013):
là tỷ số giữa xuất khẩu và nhập khẩu; REER là tỷ giá thực Diễn biến chung của tỷgiá và cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2009 đi theo
xu hướng giảm trong dài hạn Nghĩa là, VND có xu hướng lên giá so với các đồngtiền khác khiến cho cán cân thương mại có xu hướng xấu đi Tuy nhiên, tác độngcủa tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại không thể hiện ngay mà luôn có độtrễ nhất định Điều này có thể giải thích thông qua hiệu ứng đường cong J (J – curveeffect) về tác động của hiệu ứng giá cả và hiệu ứng khối lượng lên cán cân thươngmại
Tình trạng thâm hụt lớn của cán cân thương mại Việt Nam hiện nay có mộtphần nguyên nhân từ việc định giá cao VND so với các đồng tiền khác
Theo nghiên cứu Vietnam Trade Balance and Exchange Rate: Evidence from Panel Data Analysis (Thanh Hoan Phan and Ji Young Jeong, 2015):
lường bằng tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu; RER là tỷ giá hối đoái thực; Y là
nghiên cứu về tác động của tỷ giá hối đoái thực, cũng như tác động của thu nhậptrong nước và nước ngoài đến cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam với
16 đối tác thương mại trong giai đoạn từ quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2012.Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa cán cân thương mại,
tỷ giá hối đoái thực, cầu nội địa và cầu nước ngoài trong trường hợp của Việt Nam.Ngoài ra, bằng việc xem xét các ước lượng dựa trên dạng phần dư FMOLS (FullyModified OLS) và DOLS (Dynamic OLS), nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái thực
Trang 32và thu nhập nội địa tác động tiêu cực đến cán cân thương mại; trong khi đó, thunhập nước ngoài có tác động tích cực đến cán cân thương mại.
2.3.4.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Theo nghiên cứu Exchange rate and Trade balance relationship: Empirical study in Cambodia, Thailand and Viet Nam (Ping, 2012):
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn và dài hạn của
ba quốc gia là Việt Nam, Lào và Campuchia trong giai đoạn từ quý 4 năm 1994 đếnquý 4 năm 2010 Bằng việc sử dụng mô hình ARDL (Autoregressive DistributedLag) cho thấy mặc dù không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái và cáncân thương mại ở Việt Nam, Lào và Campuchia nhưng tỷ giá hối đoái có tác độngđến cán cân thương mại của ba quốc gia này trong ngắn hạn
Theo nghiên cứu Bilateral Trade Balance between Korea and Her Trading Partners: the J-curve Effect (Sim and Chang, 2006)
Nghiên cứu đã xem xét về mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn giữa cán cânthương mại và tỷ giá hối đoái thực thông qua việc sử dụng dữ liệu thương mại songphương giữa Hàn Quốc và các đối tác chính trong giai đoạn từ quý 1 năm 1990 đến quý
1 năm 2006 Mô hình ARDL (Autoregressive Distributed Lag) được đưa ra trong bàinghiên cứu này như sau: lnTBij,t = β0 + β1lnYit + β2lnYjt + β3REXij,t + εt Trong đó,
TBij là tỷ lệ xuất khẩu của Hàn Quốc với các nước đối tác; Yt là GDP thực của HànQuốc; Yj là GDP thực các đối tác thương mại của Hàn Quốc; REXij là tỷ giá hối đoáisong phương giữa đồng Won của Hàn Quốc với các đối tác thương mại Kết quả nghiêncứu cho thấy rằng một sự giảm giá của đồng Won sẽ dẫn đến trong dài hạn cán cânthương mại song phương của Hàn Quốc với các quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Đức, TrungQuốc và Anh sẽ được cải thiện Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, trongngắn hạn, hiệu ứng đường cong J không thể hiện rõ nét trong mối quan hệ thương mạisong phương giữa Hàn Quốc với Anh, Đức và Trung Quốc Tuy nhiên, một sự giảm giácủa đồng Won lại dẫn đến một sự cải thiện đáng kể trong cán cân thương mại songphương giữa Hàn Quốc và các quốc gia khác
Trang 33Theo nghiên cứu An empirical analysis of Korea's trade imbalances with the
US and Japan (Kim, 2009)
Tác giả đã sử dụng dữ liệu trong giai đoạn từ quý 1 năm 1980 đến quý 2 năm
của các nước đối tác, rer là tỷ giá hối đoái thực; mk là cung tiền Kết quả nghiên cứucho thấy trong điều kiện Marshall – Lerner, khi đồng Won của Hàn Quốc giảm giá
so với đồng đô la Mỹ, cán cân thương mại song phương giữa Hàn Quốc và Mỹ sẽđược cải thiện Trong khi đó, hiệu ứng đường cong J tồn tại trong cán cân thươngmại song phương giữa Hàn Quốc và Nhật Bản; sau khi đồng Won giảm giá, cán cânthương mại trở nên xấu đi trong ngắn hạn, sau 2 quý cán cân thương mại sẽ đượccải thiện một chút
Theo nghiên cứu Bilateral J-Curve between India and Her Trading (Dash, 2013)
Xem xét về tác động trong ngắn hạn và dài hạn của sự thay đổi tỷ giá hối đoáithực đối với cán cân thương mại của Ấn Độ so với 4 đối tác chính là Mỹ, Anh, Đức vàNhật Bản trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1991 đến tháng 6 năm 2005 Mô hình VECđược tác giả đưa ra trong bài nghiên cứu này như sau: ln(TB1) = α0 + α1ln(RER) +
α2ln(IIP) + α3ln(IIP*) + εt Trong đó, RER là tỷ giá hối đoái thực; IIP là GDP của ẤnĐộ; IIP* tương ứng với GDP của Mỹ, Anh, Nhật Bản và Đức Kết quả nghiên cứu chothấy có sự tương quan âm giữa tỷ giá hối đoái thực với cán cân thương mại của Ấn Độ
và Mỹ, trong khi đó lại có sự tương quan dương giữa tỷ giá hối đoái thực với cán cânthương mại của Ấn Độ và Anh Trong cả 2 trường hợp, cán cân thương mại không theohiệu ứng đường cong J Tác giả đã tìm thấy hiệu ứng đường cong S trong cán cânthương mại giữa Ấn Độ và Anh Vì vậy, tỷ giá hối đoái tăng cũng sẽ không cải thiệncán cân thương mại của Ấn Độ trong dài hạn Mặt khác, cán cân thương mại của Ấn Độ– Nhật Bản và của Ấn Độ – Đức có mối tương quan dương với tỷ giá hối đoái thực.Tác giả cũng đã tìm thấy hiệu ứng đường cong J trong cán cân thương mại giữa Ấn Độvới Nhật Bản và Đức, khi tỷ giá thực tăng
Trang 34sẽ làm cho cán cân thương mại thâm hụt trong 2 tháng và sau đó sẽ thặng dư Tácgiả cũng kết luận rằng trong ngắn hạn và dài hạn, cán cân thương mại của Ấn Độ –Nhật Bản, Ấn Độ – Đức nhạy cảm đối với việc đồng Rupee bị mất giá Điều kiệnMarshall – Lerner không tồn tại trong cán cân thương mại giữa Ấn Độ và Nhật Bản.Tuy nhiên, hiệu ứng Marshall – Lerner tồn tại trong cán cân thương mại giữa Ấn Độ
và Đức
Theo nghiên cứu Bilateral J-Curve Between Thailand and Her Trading
Partners (Bahmani-Oskooee and Kantipong, 2001)
Vào năm 1990, Thái Lan đã mất thị phần xuất khẩu một phần vào tay TrungQuốc và dẫn đến thâm hụt thương mại Do đó Thái Lan đã phá giá đồng Baht nhằmcải thiện năng lực cạnh tranh, tăng khả năng xuất khẩu và cải thiện cán cân thươngmại Điều này đã được nghiên cứu trong bài Bilateral J-Curve Between Thailandand Her Trading Partners (Bahmani-Oskooee and Kantipong, 2001) xem xét vềphản ứng của cán cân thương mại Thái Lan khi đồng Baht giảm giá Qua đó, hai tácgiả trong bài nghiên cứu này đã đề nghị phá giá đồng Baht, khuyến khích xuất khẩunhằm cải thiện cán cân thương mại
Nhiều nghiên cứu ở Thái Lan đã xác định hiệu ứng đường cong J xuất hiện trongcác nghiên cứu về cán cân thương mại Tuy nhiên, Bahmani – Oskooee and Kantipong(2001) đã dùng dữ liệu song phương giữa Thái Lan và các nước đối tác thương mại lớn(Đức, Nhật Bản, Singapore, Anh và Mỹ) để xác định hiệu ứng đường cong J Mô hìnhnghiên cứu được đưa ra như sau: lnTBjt = a + blnYTHt + clnYjt + dlnREXjt + åt Trong
đó, TB đo lường cán cân thương mại bằng cách lấy xuất khẩu chia cho nhập khẩu; YTH
là thu nhập thực tế của Thái Lan; Y là thu nhập thực của các đối tác thương mại; REX
là tỷ giá hối đoái thực song phương Kết quả nghiên cứu với dữ liệu trong khoảng thờigian từ quý 1 năm 1973 đến quý 4 năm 1997 cho thấy tồn tại tác động của việc giảmgiá đồng Baht đến cán cân thương mại trong ngắn hạn và trong dài hạn Như vậy,nghiên cứu đã xác định được rằng tồn tại hiệu ứng đường cong J giữa Thái Lan vớiNhật Bản và giữa Thái Lan với Hoa Kỳ
Trang 35Theo nghiên cứu The Effects of Real Exchange Rate on Trade Balance and Domestic Output: A Case of Malaysia (Yusoff, 2010)
Giai đoạn 1997 – 1998, tương tự Thái Lan, Malaysia cũng quản lý tỷ giá theo
cơ chế neo tỷ giá Theo nghiên cứu The Effects of Real Exchange Rate on TradeBalance and Domestic Output: A Case of Malaysia (Yusoff, 2010) trong giai đoạn
từ quý 1 năm 1973 đến quý 4 năm 1997 Mô hình nghiên cứu được tác giả đưa ra
đó, LBM là log cán cân thương mại của Malaysia với phần còn lại của thế giới;LYF là log thu nhập thực của nước ngoài; LYM là log thu nhập thực tế trong nước
và LREER là log tỷ giá hối đoái thực Kết quả nghiên cứu cho thấy khi đồngRinggit giảm giá sẽ làm cho cán cân thương mại được cải thiện ngay lập tức, sau đócán cân thương mại sẽ trở nên xấu đi và cuối cùng là được cải thiện đáng kể, qua đóminh chứng cho sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J Việc giảm giá đồng Ringgit
sẽ dẫn đến một sự suy thoái kinh tế ngay lập tức nhưng trong dài hạn cán cânthương mại cùng với tăng trưởng kinh tế sẽ được cải thiện Trong nghiên cứu này,Yusoff cũng đề nghị là khi đồng Ringgit giảm giá, các nhà làm chính sách cần phảithực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thích hợp để giảm đến mức tốithiểu tác động ngược trở lại của việc giảm giá đồng Ringgit
Theo nghiên cứu New Estimates of the Equilibrium Exchange Rate: The Case for the Chinese Renminbi của Kiyotaka Sato et al (2010)
Trong nghiên cứu này các tác giả đã mở rộng nghiên cứu ở nhiều nước vànhiều ngành bằng việc phát triển mô hình của Yoshikawa (1990) để xác định tácđộng của tỷ giá hối đoái cân bằng (EER - equilibrium exchange rate) tác động lêngiao dịch thương mại của Trung Quốc Bằng việc cấu trúc lại bảng tổng hợp về sảnlượng đầu vào và đầu ra quốc tế giữa Trung Quốc và Mỹ từ 1995 – 2009, các tác giả
đã ước tính được tỷ giá hối đoái cân bằng danh nghĩa của đồng nhân dân tệ (RMD –Renminbi) đối với USD và tạo ra các kết quả đầy hứa hẹn Đáng ngạc nhiên là kếtquả trùng khớp với những thay đổi trong tài khoản vãng lai của Trung Quốc Khi
mà tỷ giá hối đoái cân bằng của Trung Quốc có xu hướng tăng mạnh từ
Trang 362005 – 2008 và sau đó lại có xu hướng giảm, các tác giả trong bài nghiên cứu này
đề nghị rằng đồng nhân dân tệ cần phải được định giá lại trong khoảng 59% – 74%
so với giá trị của nó vào năm 2004 nhằm tạo ra giá trị thặng dư trong xuất khẩu sovới Mỹ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi có sự gia tăng đáng kể trong việcước tính tỷ giá hối đoái thực cân bằng thì sẽ tạo ra một sự gia tăng đáng kể tronglĩnh vực xuất khẩu của Trung Quốc, việc định giá lại tỷ giá của đồng nhân dân tệhướng về tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ tạo ra sự mất cân bằng trong tài khoản vãng laigiữa Trung Quốc và Mỹ
Theo nghiên cứu Short-run and Long-run effects of exchange rate change on trade balance: Evidence from China and its trading partners của Chun-Hsuan Wang et al (2010)
Xem xét hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn và dài hạn giữa Trung Quốcđối với 18 đối tác thương mại chính bằng cách sử dụng dữ liệu bảng trong suốt thời
kỳ 8/2005 – 9/2009 Phương trình nghiên cứu được tác giả đưa ra trong bài là ln
mại song phương; YF là thu nhập thực tế của cư dân nước ngoài; YD là thu nhậpthực tế của Trung Quốc; REX là tỷ giá hối đoái thực song phương giữa RMB vàđồng tiền của các nước đối tác Bằng việc sử dụng mô hình VEC cho phương trìnhtrên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm gần như ủng hộ tồn tại hiệu ứng đường cong Jgiữa Trung Quốc và các đối tác thương mại Tuy nhiên, các tác giả thấy rằng đồngnhân dân tệ được định giá cao dẫn đến sự sụt giảm trong dài hạn giữa cán cânthương mại của Trung Quốc với ba đối tác (Mỹ, Anh và Nhật Bản), trong khi lại có
sự gia tăng trong dài hạn đối với một vài quốc gia ở khu vực Châu Âu như là Đức,
Ý và Hà Lan Ảnh hưởng của việc định giá cao đồng nhân dân tệ không tồn tại giữaTrung Quốc với hầu hết các quốc gia đang phát triển ngoại trừ Nga và Brazil Do đóbằng chứng thực nghiệm cho thấy việc định giá cao đồng nhân dân tệ sẽ không hoàntoàn tác động trong dài hạn đối với cán cân thương mại của Trung Quốc
Theo nghiên cứu Is There A J-Curve? A New Estimation for Japan (Anju and Ramakrishnan, 1999)
Trang 37Bằng việc sử dụng dữ liệu từ quý 1 năm 1975 đến quý 4 năm 1996 cho thấytồn tại hiệu ứng đường cong J trong suốt thời kỳ chế độ tỷ giá linh hoạt của NhậtBản Mô hình VEC được tác giả đưa ra trong bài nghiên cứu này như sau: ln(M/X)
thu nhập nước ngoài; NEER là tỷ giá danh nghĩa đa phương
Theo phương pháp đồng liên kết thì có một mối quan hệ cân bằng dài hạntrong cán cân thương mại với tỷ giá của Nhật Bản
Theo nghiên cứu Bilateral J-curve between the UK vis-a`-vis Her major trading partners của Bahmani-Oskooee et al (2006)
tỷ giá hối đoái thực song phương Bằng việc sử dụng dữ liệu từ quý 1 năm 1973 đếnquý 3 năm 2001 để xem xét cán cân thương mại song phương của Anh với 20 đốitác thương mại lớn, các tác giả đã đi đến kết luận là không tồn tại hiệu ứng đườngcong J trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn chỉ có 6 quốc gia mà tỷ giá ảnh hưởngđến cán cân thương mại song phương (bao gồm Úc, Áo, Hy Lạp, Nam Phi,Singapore và Tây Ban Nha)
Theo nghiên cứu Bilateral J-Curve between U.S and Her Trading Partners của Bahmani-Oskooee and Brooks (1999)
Nghiên cứu này đã xác định xem liệu có tồn tại hiệu ứng đường cong J giữaHoa Kỳ và 6 đối tác thương mại lớn (bao gồm Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản vàAnh) trong giai đoạn từ quý 1 năm 1973 đến quý 2 năm 1996 hay không
Mô hình ARDL được tác giả đưa ra trong bài nghiên cứu như sau:
song phương
Trang 38Tác giả đã sử dụng phương pháp đồng liên kết được đưa ra bởi Pesaran andShin (1995) và Pesaran et al (1996), kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng đườngcong J tồn tại không rõ nét trong ngắn hạn Tuy nhiên trong dài hạn, khi giảm giá trịthực của đồng USD sẽ cải thiện được cán cân thương mại giữa Mỹ và 6 nước đốitác.
Theo nghiên cứu The effect of exchange rate changes on trade balances in the short and long run của Hacker and Hatemi-J (2004)
Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến sau: W = (ln(X/M), ln(RER), lnIP,lnIP*) Trong đó, X/M là tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu; RER là tỷ giá hối đoáithực song phương; IP là thu nhập trong nước; IP* là thu nhập nước ngoài Nghiêncứu này đã cho thấy tồn tại đường cong J trong giao dịch thương mại song phươnggiữa Đức với Séc, Hungary và Ba Lan Nghiên cứu của hai tác giả này cho thấy saumột đợt giảm tỷ giá (cần lưu ý là bài nghiên cứu này tỷ giá được niêm yết theophương pháp gián tiếp) sẽ làm cho cán cân thương mại giảm nhẹ, sau đó sẽ quay lạigiá trị ban đầu của nó trong vài tháng và cuối cùng là sẽ tăng lên đến vị trí cân bằng(vị trí này sẽ cao hơn so với vị trí ban đầu) trong dài hạn Đối với trường hợpHungary và Ba Lan, nghiên cứu cho thấy có một sự gia tăng đáng kể trong cán cânthương mại song phương sau khi tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa giảm Đối vớitrường hợp của Séc thì lại không như vậy, khi tỷ giá giảm làm cho cán cân thươngmại song phương với Séc giảm trong giai đoạn đầu và sau đó tiếp tục sụt giảm mộtcách nhanh chóng
Theo nghiên cứu A study of the J-Curve for seven selected Latin American Countries của Yu Hsing (2008)
Để đo lường độ co giãn của cán cân thương mại đối với tỷ giá hối đoái thực,thu nhập thực trong nước và thu nhập thực ở Mỹ; trong bài nghiên cứu này tác giả
Trang 39Nghiên cứu này cho thấy rằng tồn tại hiệu ứng đường cong J ở Chili, Ecuador
và Uruguay; thế nhưng không tồn tại hiệu ứng đường cong J ở Argentina, Brazil,Colombia và Peru Một sự gia tăng về thu nhập trong nước sẽ giúp cho cán cânthương mại được cải thiện đối với trường hợp của Brazil và Ecuador; thế nhưng sẽlàm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi đối với trường hợp của Argentina, Chili,Colombia, Peru và Uruguay Một sự gia tăng trong thu nhập thực ở Mỹ sẽ giúp chocán cân thương mại được cải thiện đối với trường hợp của Argentina, Chile,Colombia, Peru, và Uruguay và sẽ làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi trongtrường hợp của Brazil và Ecuador Do đó, việc áp dụng phá giá nội tệ để cải thiệncán cân thương mại sẽ không được áp dụng ở một số quốc gia
Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu trước tại Việt Nam
giả (năm)
Can devaluation Thanh Các biến sử dụng trong bài nghiên cứu này bao gồm tỷ giá
be effective in Nguyen hối đoái, chỉ số giá (CPI) và cung tiền (M1, M2) Bằngimproving the Ngoc and việc sử dụng mô hình VAR và mô hình VEC, kết quảbalance of Kaliappa nghiên cứu trong giai đoạn từ quý 4 năm 1992 đến quý 3payments in Kalirajan, năm 1998 cho thấy rằng trong ngắn hạn và dài hạn việcVietnam? 2006 giảm giá đồng nội tệ có thể được thực hiện để cải thiện
xuất khẩu, qua đó cải thiện cán cân vãng lai và cán cânthanh toán, đồng thời cũng làm giảm áp lực của tỷ giá hốiđoái thực tăng trong ngắn hạn
Mối quan hệ Phan Bài viết sử dụng mô hình VEC Thời gian nghiên cứu là từgiữa tỷ giá hối Thanh quý 1 năm 1995 đến quý 4 năm 2005 Mô hình nghiên cứuđoái và cán cân Hoàn và được đưa ra trong bài là ln(Bt) = α0 + α1ln(qt) + ut Trongthương mại Việt Nguyễn đó Bt là tỷ số thương mại giữa kim ngạch xuất khẩu và kimNam thời kỳ Đăng ngạch nhập khẩu; qt là tỷ giá hối đoái thực đa phương
1995 – 2004 Hào, 2007 Kết quả nghiên cứu đã khẳng định được sự tồn tại của
quan hệ giữa hai biến số vĩ mô này trong ngắn hạn và dàihạn
Trang 40Tên nghiên cứu Tên tác Kết quả chính
giả (năm)
The impact of Phạm Thị Nghiên cứu sử dụng mô hình VEC Mô hình nghiên cứuexchange rate Tuyết được đưa ra trong bài là TB = β1 + β2REER + β3GDP +fluctuation on Trinh, β4GDP* + ε Trong đó, TB là cán cân thương mại, REERtrade balance in 2012 là tỷ giá thực, GDP là tổng sản phẩm quốc nội, GDP* làshort and long tổng sản phẩm của nước ngoài Giai đoạn nghiên cứu là từrun quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2010
Nghiên cứu đưa ra hai kết luận sau: thứ nhất, tỷ giá hốiđoái thực có tác động tích cực đến cán cân thương mạitrong dài hạn; thứ hai, có một sự tác động của tỷ giá hốiđoái thực lên cán cân thương mại Việt Nam trong ngắnhạn
Mối quan hệ Hạ Thị Nghiên cứu sử dụng mô hình sau: logX/M = β0 +giữa tỷ giá hối Thiều Dao β1logREER Trong đó X/M là tỷ số giữa xuất khẩu và nhậpđoái và cán cân và Phạm khẩu; REER là tỷ giá thực Nghiên cứu được thực hiệnthanh toán Thị Tuyết trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2009 Tác giả đã cho
Trinh, ta thấy tồn tại hiệu ứng đường cong J giữa tỷ giá và cán
2013 cân thương mại
Vietnam Trade Thanh Phương trình được đưa ra trong bài nghiên cứu này làBalance and Hoan TBit= β0i + β1iRERit + β2iYit + β3iYit* + εit Trong đó, TB làExchange Rate: Phan and cán cân thương mại của Việt Nam được đo lường bằng tỷEvidence from Ji Young lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu; RER là tỷ giá hối đoáiPanel Data Jeong, thực; Y là tổng thu nhập trong nước (Việt Nam); Yit* làAnalysis 2015 tổng thu nhập nước ngoài Giai đoạn nghiên cứu là từ quý
1 năm 1999 đến quý 4 năm 2012
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữacán cân thương mại, tỷ giá hối đoái thực, cầu nội địa vàcầu nước ngoài trong trường hợp của Việt Nam Ngoài ra,bằng việc xem xét các ước lượng dựa trên dạng phần dưFMOLS (Fully Modified OLS) và DOLS (Dynamic OLS),