1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa trong và ngoài mô hình sản xuất theo phương thức cánh đồng lớn tại huyện long mỹ tỉnh hậu giang

182 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 754,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là lý do tôi chọn và thực hiện đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa trong và ngoài mô hình sản xuất theo phương thức cánh đồng lớn tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang”

Trang 1

TRẦN THỊ MỘNG THÚY

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TRONG VÀ NGOÀI MÔ HÌNH SẢN XUẤT THEO PHƯƠNG THỨC CÁNH ĐỒNG LỚN

TẠI HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

TRẦN THỊ MỘNG THÚY

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TRONG VÀ NGOÀI MÔ HÌNH SẢN XUẤT THEO PHƯƠNG THỨC CÁNH ĐỒNG LỚN TẠI HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN TIẾN KHAI

TP Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 3

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Tiến Khai.

Các số liệu và những kết luận nghiên cứu thực hiện trong luận văn là hoàntoàn trung thực và chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác, nếu saitôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Tác giả

Trần Thị Mộng Thúy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

CHƯƠNG 1 - PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề. 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu. 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu. 3

1.3.1 Mục tiêu tổng quát. 3

1.3.2 Mục tiêu cụ thể. 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu. 3

1.4.1 Phương pháp định tính 3

1.4.2 Phương pháp định lượng 3

1.5 Đối tượng nghiên cứu. 3

1.6 Giới hạn nội dung nghiên cứu. 4

1.7 Giới hạn vùng nghiên cứu. 4

1.8 Giới hạn thời gian nghiên cứu. 4

1.9 Kết cấu dự kiến của luận văn. 4

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Lý thuyết về hộ nông dân và kinh tế học sản xuất. 6

2.1.1 Lý thuyết về hộ nông dân. 6

2.1.1.1 Khái niệm về hộ. 6

2.1.1.2 Khái niệm về hộ nông dân. 6

2.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân. 7

2.1.1.4 Lý thuyết tân cổ điển về sản xuất của nông hộ. 7

Trang 5

2.2.1 Định nghĩa sản xuất theo hợp đồng. 17

2.2.2 Các hình thức của sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng. 17

2.2.2.1 Phân loại theo “độ sâu” của hợp đồng. 17

2.2.2.2 Phân loại theo hình thức tổ chức thực hiện. 18

2.2.3 Thuận lợi và trở ngại của nông dân khi sản xuất theo hợp đồng. 21

2.2.4 Thuận lợi và trở ngại của doanh nghiệp khi sản xuất theo hợp đồng. 22

2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước về hiệu quả sản xuất và sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng. 24

2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. 24

2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước. 26

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Quy trình nghiên cứu. 30

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 31

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu. 31

3.2.2 Nguồn dữ liệu. 32

3.2.2.1 Số liệu thứ cấp. 32

3.2.2.2 Số liệu sơ cấp. 32

3.2 Số mẫu điều tra. 32

3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu. 33

3.3.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu. 33

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu. 34

3.3.2.1 Phân tích thống kê mô tả. 34

3.3.2.2 Phương pháp dữ liệu lọc. 34

3.3.3 Phân tích định lượng. 35

3.3.3.1 Thực hiện các kiểm định so sánh trong và ngoài hợp đồng. 35

Trang 6

4.1 Mô tả địa điểm nghiên cứu. 37

4.1.1 Tỉnh Hậu Giang. 37

4.1.1.1 Địa hình. 37

4.1.1.2 Khí hậu. 37

4.1.1.3 Thủy văn. 38

4.1.1.4 Nông nghiệp. 38

4.1.2 Huyện Long Mỹ. 38

4.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện Long Mỹ giai đoạn 2011-2015. 39

4.3 Kết quả xây dựng mô hình Cánh đồng lớn vụ Đông Xuân 2015-2016 của huyện Long Mỹ. 40

4.3.1 Kết quả xây dựng mô hình Cánh đồng lớn vụ Đông Xuân 2015-2016 40

4.3.2 Về tổ chức điều hành mô hình Cánh đồng lớn. 41

4.3.3 Về hình thức liên kết. 42

4.3.3.1 Giữa Doanh nghiệp và nông dân. 42

4.3.3.2 Hình thức liên kết giữa nông dân với nông dân. 42

4.3.3.3 Hỗ trợ của nhà nước. 42

4.3.3.4 Về kỹ thuật sản xuất. 43

4.3.3.5 Tình hình tiêu thụ. 43

4.3.3.6 Về hiệu quả kinh tế. 44

4.4 Phương liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình cánh đồng lớn. 45

4.4.1 Sơ đồ liên kết. 45

4.4.1.2 Liên kết dọc. 46

4.4.1.3 Liên kết ngang. 47

4.4.2 Phương thức sản xuất tự do. 47

Trang 7

4.4.3.2 Về phía nhà máy. 49

4.4.3.3 Đánh giá mối liên kết trong mô hình Cánh đồng lớn tại tỉnh Bến Tre 51 4.5 Thống kê, mô tả dữ liệu nghiên cứu. 52

4.5.1 Thông tin cơ bản của nông hộ. 52

4.5.1.1 Về trình độ học vấn của chủ hộ. 52

4.5.1.2 Trình độ chuyên môn của chủ hộ. 52

4.5.1.3 Kinh nghiệm trồng lúa. 53

4.5.1.4 Số lao động tham gia trồng lúa của hộ. 54

4.5.2 Về kỹ thuật canh tác của nông hộ. 54

4.5.2.1 Về lượng giống gieo sạ. 54

4.5.2.2 Về lịch thời vụ. 55

4.5.2.3 Về cơ cấu giống. 56

4.5.2.4 Về phẩm cấp giống. 57

4.5.2.5 Về phương pháp gieo sạ. 57

4.5.2.6 Nơi mua lúa giống, phân bón và thuốc BVTV. 58

4.5.2.6 Về kỹ thuật bón phân. 59

4.5.2.7 Phun thuốc bảo vệ thực vật. 61

4.5.2.8 Về kỹ thuật chăm sóc lúa. 62

4.5.2.9 Về phương thức bán lúa của hộ nông dân. 64

4.5.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình cánh đồng lớn. 65

4.5.3.1 Phân tích các khoản mục chi phí của các hộ trong và ngoài mô hình 65

4.6.3.2 So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ trong và ngoài mô hình. 68

4.6 Đánh giá tác động của việc tham gia sản xuất theo hợp đồng đến hiệu quả sản xuất lúa (kết quả mô hình PSM). 70

4.6.1 So sánh về việc sử dụng các yếu tố đầu vào giữa nhóm hộ trong và ngoài mô hình 71

Trang 8

4.7.1 Thuận lợi. 73

4.7.2 Nguyện vọng của người dân. 74

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

5.1 Kết luận. 76

5.2 Kiến nghị. 77

5.2.1 Đối với nông dân. 77

5.2.2 Đối với chính quyền địa phương. 70

5.2.3 Đối với doanh nghiệp. 80

5.3 Hạn chế của đề tài. 80

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo. 81

Trang 9

: Đồng bằng sông Cửu Long

: Hợp tác xã: HéctaGTGT : Giá trị gia tăng

Trang 10

Bảng 4.1: Tình hình sản xuất lúa của huyện giai đoạn 2011-2015

Bảng 4.2 Mô hình Cánh đồng lớn thực hiện trong vụ Đông Xuân 2015-2016

Bảng 4.3 Hiệu quả kinh tế của một số mô hình vụ Đông Xuân 2015-2016

Bảng 4.4 Điểm khác biệt giữa phương thức sản xuất hợp đồng và phương thức sản xuất tự do

Bảng 4.4 Kinh nghiệm trồng lúa của chủ hộ

Bảng 4.6 Số lao động tham gia trồng lúa của hộ

Bảng 4.7 So sánh lượng giống sử dụng của nhóm hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.8 Gieo sạ theo lịch thời vụ của hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.9 Cơ cấu giống của hộ dân trong và ngoài mô hình

Bảng 4.10 So sánh phẩm cấp giống của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.11 Nơi mua lúa giống, phân bón và thuốc BVTV của các hộ trong và ngoài

mô hình

Bảng 4.12 Cách bón phân của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.13 Số lần bón phân của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.14 So sánh lượng phân bón của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.15 Cách phun thuốc BVTV của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.16 Số lần phun thuốc của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.17 So sánh lượng dầu bơm nước của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.18 So sánh số ngày công lao động của nhóm hộ trong và ngoài mô hìnhBảng 4.19 Hỗ trợ kỹ thuật của nhóm hộ trong và ngoài mô hình

Trang 11

Bảng 4.22 So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.23 So sánh về việc sử dụng các yếu tố đầu vào giữa nhóm hộ trong và ngoài mô hình

Bảng 4.24 So sánh chi phí sản xuất lúa của các hộ trong và ngoài mô hìnhBảng 4.25 So sánh hiệu quả sản xuất lúa của các hộ trong và ngoài mô hìnhBảng 4.26 Nguyện vọng của người dân

Trang 12

Hình 4.1 Sơ đồ mối liên kết trong mô hình Cánh đồng lớn

Hình 4.2 Biểu trình độ học vấn của chủ hộ

Hình 4.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ

Trang 13

CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề.

Hậu Giang là tỉnh được chia tách từ tỉnh Cần Thơ vào năm 2004, nằm giáp vớicác tỉnh như Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu, giữ vai trò trung tâmgiao lưu kinh tế của Tiểu vùng Tây Nam sông Hậu và tiểu vùng Bắc bán đảo CàMau, với địa hình bằng phẳng khá thuận lợi cho việc giao thương mua bán, sôngngòi rộng khắp thuận lợi cho việc phát triển cây lúa Là vùng sản xuất lúa trọngđiểm của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng diện tích 39.847,71 ha, đấtnông nghiệp 34.927,43 ha chiếm 87,65%, trong đó đất trồng lúa 29.257,43 ha chiếm64,34% và sản lượng chiếm 16,6% trong khi diện tích tự nhiên chỉ chiếm 8,7% sovới toàn vùng (Niên giám Thống kê tỉnh Hậu Giang, 2015)

Long Mỹ là một trong những huyện thuần nông thuộc tỉnh Hậu Giang, hàngnăm sản xuất nhiều sản lượng nông nghiệp như: lúa nước, quýt đường, cam soàn,mía, khóm, v.v…Trong đó, lúa là cây nông nghiệp chủ yếu có sự đóng góp rất lớn

về nguồn lương thực lúa gạo của tỉnh Hậu Giang với sản lượng lúa đạt 276,756

nghìn tấn trong năm 2015, phục vụ cho an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu.Huyện Long Mỹ có điều kiện tự nhiên như đất đai màu mỡ, thời tiết, khí hậu thuậnlợi cho việc sản xuất cây lúa và mang lại năng suất cao

Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khíchtiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng được triển khai thực hiện từ năm 2002 (nayđược thay thế bằng Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg) nhưng đến nay việc thực hiệnsản xuất theo hợp đồng với nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn Thực tế cũng cónhiều doanh nghiệp muốn ký hợp đồng cung ứng vật tư nông nghiệp và bao tiêunông sản hàng hóa cho nông dân đến khi thu hoạch nhưng nhiều hợp đồng vẫn chưathực hiện được (Trần Minh Vĩnh và Phạm Vân Đình, 2014)

Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ về liên kết sản xuất và tiêu thụlúa gạo, huyện Long Mỹ cũng đã có nhiều công ty tham gia thực hiện liên kết sản

Trang 14

xuất và tiêu thụ lúa gạo thông qua hợp đồng Trong đó, Công ty Bảo vệ thực vật AnGiang là một trong những công ty đã và đang hợp đồng bao tiêu sản phẩm với hộnông dân trên địa bàn, hình thức hợp đồng cung ứng vật tư đầu vào và bao tiêu sảnphẩm sau khi thu hoạch từ năm 2013 đến nay Công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp vớitừng hộ nông dân trên địa bàn, cung ứng các vật tư đầu vào như giống, phân, thuốcbảo vệ thực vật (BVTV), hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ sản phẩm sau khi nôngdân thu hoạch.

Tuy nhiên, cho đến nay việc tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo theohợp đồng có mang lại lợi ích gì cho nông dân tham gia hay không, và cụ thể nôngdân trong hợp đồng sản xuất có hiệu quả hơn nông dân sản xuất tự do hay không thìvẫn chưa có đầy đủ thông tin minh chứng

Đó là lý do tôi chọn và thực hiện đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế của nông

hộ trồng lúa trong và ngoài mô hình sản xuất theo phương thức cánh đồng lớn tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang” nhằm tìm hiểu thêm về hiệu quả kinh tế của

nông hộ trồng lúa theo từng mô hình như thế nào; thực trạng, thuận lợi và khó khăntrong quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa theo hợp đồng của nông hộ ở huyện Long

Mỹ, tỉnh Hậu Giang; từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tếtrong sản xuất cho nông hộ trồng lúa

1.2 Câu hỏi nghiên cứu.

- Sản xuất theo phương thức nào sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho nông hộ?

- Các yếu tố nào gây ra sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa hai phương thức sản xuất này?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu.

Trang 15

1.3.2 Mục tiêu cụ thể.

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là:

- Phân tích và so sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa theo phương thứchợp đồng và phương thức sản xuất tự do tại huyện Long Mỹ

- Đề xuất giải pháp giúp nông dân nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuấtlúa

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài được thực hiện theo cả hai phương pháp là nghiên cứu định tính vànghiên cứu định lượng

1.4.1 Phương pháp định tính:

Phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn doanh nghiệp, phỏng vấn cán bộ quản lýnông nghiệp để tìm hiểu cách thức tổ chức liên kết, thuận lợi khó khăn của quá trìnhliên kết

- Kiểm định trung bình mẫu độc lập (T-test): kiểm định hai yếu tố nghiên cứu

1.5 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nông hộ trồng lúa theo phương thức hợp đồng và phương thức sản xuất tự do

Trang 16

1.6 Giới hạn nội dung nghiên cứu.

Đề tài tập trung vào việc so sánh, phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồnglúa theo phương thức hợp đồng và phương thức sản xuất tự do tại huyện Long Mỹ,tỉnh Hậu Giang

Vì thời gian nghiên cứu có giới hạn nên đề tài không nghiên cứu hiệu quả về

kỹ thuật và xã hội của mô hình trồng lúa theo phương thức hợp đồng và phươngthức sản xuất tự do Bên cạnh đó, sẽ không thể phản ánh hết những khó khăn mà các

hộ trồng lúa gặp phải mà chỉ thông qua nông dân để phản ánh phần nào hiệu quảkinh tế của từng mô hình

1.7 Giới hạn vùng nghiên cứu.

Nghiên cứu này được tiến hành ở xã Lương Nghĩa huyện Long Mỹ, tỉnh HậuGiang và thu thập số liệu từ vụ Đông Xuân 2015-2016 Lý do chọn xã Lương Nghĩa

vì xã này có số lượng nông hộ trồng lúa lớn nhất huyện Long Mỹ và đang đượcCông ty Cổ phần Bảo vệ thực vật (CPBVTV) An Giang kinh doanh bao tiêu sảnphẩm lúa gạo trên địa bàn xã

1.8 Giới hạn thời gian nghiên cứu.

+ Số liệu thứ cấp: từ năm 2010 - 2015

+ Số liệu sơ cấp: phỏng vấn các hộ nông dân trồng lúa tại xã Lương Nghĩahuyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang trong vụ Đông Xuân 2015-2016 vừa qua và Công

ty CPBVTV An Giang kinh doanh bao tiêu sản phẩm lúa gạo trên địa bàn huyện

1.9 Kết cấu dự kiến của luận văn.

Chương 1 Phần mở đầu Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêunghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết Trình bày tổng quan các lý thuyết về hộ nông dân

và kinh tế học sản xuất; lý thuyết về sản xuất theo hợp đồng; các nghiên cứu thựcnghiệm trên thế giới và trong nước về hiệu quả sản xuất và sản xuất nông nghiệptheo hợp đồng

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Trình bày nguồn dữ liệu nghiên cứu,phương pháp xử lý dữ liệu

Trang 17

Chương 4 Kết quả và phân tích Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúagiữa nhóm hộ trong và ngoài mô hình cánh đồng lớn bằng phương pháp kiểm địnht-test và phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM).

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Lý thuyết về hộ nông dân và kinh tế học sản xuất.

2.1.1 Lý thuyết về hộ nông dân.

2.1.1.1 Khái niệm về hộ.

Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời

kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khácnhau song vẫn có bản chất chung, đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của cácthành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống

và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”

Qua nghiên cứu cho thấy có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:

- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả nhữngngười cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùngchung huyết tộc và những người làm công”

- Theo Liên hợp quốc” Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà,cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”

2.1.1.2 Khái niệm về hộ nông dân.

Về hộ nông dân, Ellis (1988, p.19) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đìnhlàm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủyếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớnhơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xuhướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao"

Nhà nông học Nga - Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổnđịnh" và ông coi "Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nôngnghiệp" (trang 8-12) Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chínhsách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoahọc Lê Đình Thắng (1993, trang 19) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là

Trang 19

hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Đào Thế Tuấn (1997) chorằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng,bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.

Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001, trang 6), trong phân tích điềutra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồngtrọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệthực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

2.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân.

Theo Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình cóquyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sảnxuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độkhông hoàn hảo và hoạt động thị trường

2.1.1.4 Lý thuyết tân cổ điển về sản xuất của nông hộ.

a Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất.

Học thuyết này bắt nguồn từ người nông dân là một cá nhân quyết định cácvấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có nên sử dụng vật tưnông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào v.v…Học thuyết nàynhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể thay đổi mức độ vàchủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp

Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông nghiệp

và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học thuyết về xínghiệp sản xuất nông nghiệp Ba mối quan hệ đó là:

(1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực

sử dụng trong sản xuất Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố - sản phẩm hay là mốiquan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output)

(2) Thay đổi sự kết hợp của hai hay nhiều loại nguồn lực khác nhau để sảnxuất ra một sản lượng nhất định (như sự kết hợp giữa đất đai và lao động theo các cơ cấukhác nhau để tạo ra một sản lượng lúa như nhau)

Trang 20

(3) Sản lượng hoặc sản phẩm khác nhau có thể thu được từ một tập hợp cácnguồn tài nguyên (như các mức sản lượng sắn hoặc đậu khác nhau có thể thu được

trên cùng một đơn vị diện tích) Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản phẩm - sảnphẩm

Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục đích

có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu dùng củagia đình nông dân Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối đa hóa lợinhuận trong thời gian ngắn hạn Chỉ có nông dân là người duy nhất được phép raquyết định trong nền sản xuất của nông dân Những giả định khác bao gồm sự cạnhtranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và vấn đề mua vật tư phục

vụ sản xuất

b Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất.

Hàm sản xuất xác định mối quan hệ vật chất giữa sản lượng Y và bất kỳ nguồnlực nông nghiệp (đầu tư cho sản xuất) (x1, x2,… xn) Hàm sản xuất có dạng tổngquát:

có nghĩa là sự phản ứng của sản lượng đối với các mức độ gia tăng chi phí cácnguồn lực phải được tăng lên, song mức tăng phải giảm dần

c Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí.

Trang 21

Mức độ hiệu quả nhất của một biến chi phí đầu tư phụ thuộc vào mối quan hệgiữa giá cả của các loại nguồn lực đó và giá sản phẩm Mức độ kinh tế tối ưu củaviệc chi phí nguồn lực đạt được khi giá trị sản phẩm biên tế của nguồn lực bằng giácủa nguồn lực đó.

Mức tối ưu của một nguồn lực đơn có thể được biểu thị bằng một vài phươngpháp khác nhau:

PX = giá của từng đơn vị nguồn lực X (tức là MFC)

PY = giá của từng đơn vị sản lượng Y

MVP: giá trị biên tế của sản phẩm

MPP: sản phẩm hiện vật tới hạn

Vậy MVPx = MPPx * PY có nghĩa là giá trị sản phẩm biến tế của nguồn lựcbằng sản phẩm tới hạn nhân với giá sản phẩm Vì vậy, có 3 cách để xác định điểmtối ưu:

- Điểm tối ưu kinh tế sẽ đạt được khi mức tiền lãi tăng thêm bằng chi phí tăngthêm MVPx = Px Nếu MVPx > Px thì nông dân sử dụng quá ít nguồn lực và nếu Nếu MVPx < Px thì lại chứng tỏ nông dân sử dụng quá nhiều nguồn lực

- Điểm tối ưu cũng có thể biểu thị bằng MVPx/Px = 1 là tỷ lệ của giá trị biên tếcủa sản phẩm đối với giá vật tư bằng 1 Các dạng biểu thị điều kiện tối ưu này thườngđược dùng trong các tạp chí liên quan tới nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của người nôngdân và vấn đề nêu lên là tỷ lệ này có thể là một con số khác 1 được không và nếu vậy thìtheo hướng nào Trả lời cho vấn đề này là nếu tỷ lệ đó lớn hơn 1 tức là MVPx/Px > 1 thìkhông đạt tối ưu người nông dân sử dụng quá ít nguồn lực còn nếu MVPx/Px < 1 cũngkhông được vì tỷ lệ này biểu thị người nông dân dùng quá nhiều nguồn lực

- Vì MVPPx = MPx * PY nên điều kiện tối ưu cũng có thể được biểu thị bằngMPPx = Px/PY Sản phẩm tới hạn bằng tỷ lệ nghịch đảo của giá cả (yếu tố - sản phẩm)

Sự kết hợp tối ưu của các nguồn lực trong khía cạnh kinh tế được xác định bởi

tỷ giá của chúng Các mức giá của các nguồn lực khác nhau xác định khối lượng

Trang 22

mỗi loại nguồn lực cần mua với tổng chi phí nhất định cho sản xuất Cách phối hợphiệu quả nhất các nguồn lực là sử dụng nguồn lực ít nhất với các mức giá khác nhaucho một sản phẩm xác định Nói cách khác, ở đây vấn đề tối ưu hóa được xem nhưvấn đề tối thiểu hóa chi phí chứ không phải là tối đa hóa lợi nhuận.

Đối với mỗi sản lượng nhất định, sự kết hợp chi phí ít nhất của các vật tư xảy

ra tại điểm tiếp tuyến giữa đường đồng mức sản lượng và đường đồng mức chi phí

để tạo thành một đường tiếp tuyến Bất kỳ một điểm khác nào nằm ở bên trái hoặcbên phải của điểm đó trên đường đồng mức sản lượng sẽ nằm trên đường đồng mứcchi phí tiếp tuyến với các đường đồng mức sản lượng này Tại bất kỳ điểm nào củađường tiếp tuyến, độ nghiêng của hai đường cong là bằng nhau Tỷ lệ thay thế tớihạn bằng tỷ lệ nghịch của giá các nguồn lực

Như trong trường hợp điểm tối ưu của hàm sản xuất, một số công thức toánhọc đơn giản đã giúp chúng ta tìm hiểu hàm ý của kết luận này Trước hết, ở đâychúng ta xem xét một hàm sản xuất có hai biến nguồn lực có công thức chung:

MPP1/ MPP2 = P1/P2, hoặc bằng cách nhân chéo MPP1/P1 = MPP2/P2

Nói cách khác, tối ưu, chi phí ít nhất, sự kết hợp của các nguồn lực xảy ra khicác tỷ lệ của sản phẩm tới hạn đối với chi phí của từng đơn vị nguồn lực đều giốngnhau đối với tất cả các loại nguồn lực Điều này cũng có nghĩa là khi nói rằng MPPtrên một đô la chi phí bằng tổng tất cả các nguồn lực, và nếu có sự thay đổi trongcông nghệ sản xuất (thay đổi vị trí và hình dạng các đường đồng mức sản lượng)hoặc nếu có sự thay đổi tỷ lệ giá của các yếu tố thì sự kết hợp chi phí ít nhất của cácnguồn lực cũng thay đổi

c Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận.

Trang 23

Giả thuyết người nông dân hiệu quả thường gắn với với việc nông hộ đẩymạnh tối đa hóa lợi nhuận Hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận là hai mặt của một vấnđề: ở cấp một đơn vị sản xuất cá thể, người ta không thể chí có cái này mà không cócái kia Một định nghĩa chính xác về hiệu quả kinh tế cũng cần phải kể đến một thịtrường cạnh tranh, vì vậy cũng không có một đơn vị (hoặc một ngành sản xuất) cáthể nào có thể đạt được hiệu quả nếu như những người sản xuất phải đương đầu vớicác giá cả khác nhau hoặc nếu một số tác nhân kinh tế này có thể làm ảnh hưởng giá

cả và thu nhập của các tác nhân kinh tế khác

Giả thuyết tối đa hóa lợi nhuận không yêu cầu phải có lợi nhuận bằng mộtkhoản tiền Điều mà giả thuyết yêu cầu là phải điều chỉnh đầu vào hoặc đầu ra củasản xuất sao cho các nông hộ đạt một khoản thu nhập ròng cao hơn dù bằng tiền mặthay bằng hiện vật và điều này được áp dụng như nhau đối với các hộ gia đình nghèocũng như khá giả Đối với việc điều tra thực tế thì nguồn lực và sản phẩm phải được

ấn định theo giá thị trường và các giá ấn định này là đặc trưng cho các điều kiện củathị trường cạnh tranh

Theo quan điểm tân cổ điển đúng đắn, thậm chí nếu bản chất của nền kinh tếnông dân hạn chế việc đạt hiệu quả thì điều đó không có nghĩa là trong điều kiện cónhiều mục tiêu và hạn chế đối với hộ gia đình nông dân lại không có được một tínhtoán kinh tế Thực sự, sự tính toán như vậy thực sự là tiền đề của hầu hết các chínhsách nông nghiệp ở các nước chậm phát triển Vì thế, tối đa hóa lợi nhuận từng phầnhay tối đa hóa có giới hạn vẫn có thể xảy ra cả khi nền kinh tế thực sự không cóhiệu quả

Giả thuyết về người nông dân hiệu quả theo nghĩa tân cổ điển về tối đa hóa lợinhuận không đơn thuần được chứng minh là các giả thuyết chung, cũng không phải

là các giả thuyết sâu sắc về sự khác nhau và các nguyên nhân gây ra trong nền kinh

tế nông dân Cần phải có các giả định đúng đắn về tính đồng nhất của các điều kiệnsản xuất và các nguồn lực mà tất cả mọi nông dân trong mô hình mẫu phải chịu,cũng như về tính cạnh tranh của các thị trường có các nông trại hoạt động Nhưngđiều này dường như ít khi gắn với dân số nông dân trong vùng chọn làm điểm mô

Trang 24

hình mẫu Do có sự khác nhau không rõ ràng về các nguyên nhân giữa các nông trạinên cũng gây khó khăn cho việc phân tích kinh tế người nông dân: nếu người nôngdân trung bình là nông dân hiệu quả thì các vấn đề của các nông hộ xuất phát từmức bình quân đã được xem xét Cuối cùng, sự theo đuổi mục đích người nông dântrung bình đạt hiệu quả là bất hòa với khái niệm về nền kinh tế nông dân liên quanđến các dạng phức tạp của mối quan hệ qua lại giữa các hộ gia đình của các tìnhtrạng kinh tế khác nhau trong các thị trường không hoàn thiện.

2.1.1.5 Hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế.

a Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra

với đầu vào được sử dụng Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gianlao động hao phí, chi phí thường xuyên Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (LêDân, 2007) Hoàng Hùng, 2007, cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệgiữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Nó được tính toán khi kết thúc một quátrình sản xuất kinh doanh

b Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế:

- Doanh thu (DT): là chỉ tiêu cho biết tổng số tiền thu được cùng với mức sản

lượng và mức giá bán một đơn vị sản phẩm

- Năng suất (NS): Là chỉ tiêu cho biết sản lượng thu hoạch được trên một đơn

vị diện tích

Năng suất = Sản lượng thu hoạch/Diện tích trồng (2.2)

- Tổng chi phí: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí đã bỏ ra để sản xuất ra một

sản lượng hàng hóa nhất định Trong sản xuất nông nghiệp, tổng chi phí gồm chi

phí cố định và chi phí biến đổi

TCP = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi + Chi phí cơ hội (2.3)

Chi phí cố định (định phí): là các chi phí gắn liền với yếu tố sản xuất cố định,

không thay đổi trong ngắn hạn và không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất

ra như đất đai, máy móc, công cụ, v.v…

Trang 25

Chi phí biến đổi (biến phí): là các chi phí phát sinh từ việc sử dụng các yếu tố

sản xuất biến đổi như chi phí giống, phân bón, Các chi phí này chỉ phát sinh trong

quá trình sản xuất, khi ngừng sản xuất thì chi phí này bằng không (Nguyễn Thị

Song An, 2001)

Chi phí cơ hội: là thu nhập tối đa có thể được tạo ra bởi các nguồn lực khi

được sử dụng một cách có lựa chọn và điều này có thể bao gồm việc sử dụng các

nguồn lực nông nghiệp và phi nông nghiệp Ví dụ nếu đất nông nghiệp có thể kiếm

được nhiều tiền hơn bằng cách biến đất đó thành nơi nghĩ mát thì chi phí cơ hội của

việc tiếp tục sử dụng đất đó vào việc trồng trọt chính là thu nhập có thể đạt được

bằng cách chuyển đất đó cho một người thuê làm khách sạn (Ellis,1993)

- Lợi nhuận (LN): là phần thu được sau khi trừ đi tất cả các khoản chi phí bao

gồm cả chi phí do gia đình đóng góp

- Thu nhập: là phần thu được sau khi trừ tất cả các khoản chi phí sản xuất

không kể đến chi phí cơ hội

- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí: có ý nghĩa là một đồng chi phí sản xuất bỏ

ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận tương ứng

- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = lợi nhuận/doanh thu Tỷ số này cho

biết trong một đồng doanh thu của nông hộ sẽ có bao nhiêu đồng lợi nhuận

2.1.1.6 Lý thuyết về các yếu tố đầu vào cơ bản trong nông nghiệp.

a Khái niệm nông nghiệp.

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để

trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu

lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công

nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành:

trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp,

thủy sản

Trang 26

b Các yếu tố đầu vào cơ bản trong nông nghiệp.

b1 Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên.

- Đất đai: giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là cơ sở tựnhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất Đất đai tham gia hầu hết vào cácquá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đấtđai có sự khác nhau Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông, đất đai

là cơ sở, nền móng để xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thôngv.v…thì ngược lại trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cựccủa sản xuất và là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được

Điểm cơ bản cần đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là phảigắn với từng loại cây trồng cụ thể Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất đai làkhó khăn cho loại cây trồng này nhưng lại là thuận lợi cho loại cây trồng khác.Đồng thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng củađất đai đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể

- Khí hậu: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất, thấpnhất hàng năm, hàng tháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng, lượng mưa bình quân caonhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độgió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như sương muối, mưa đá, tuyết rơi, sương mùv.v…đều phải được phân tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng của từng loại cây trồng cụthể

- Nguồn nước: trong lĩnh vực nông nghiệp, nước tưới được xem là yếu tố quantrọng Việc tưới đúng phương pháp, kỹ thuật có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng(Lê Ngọc Báu, 1999) Để xây dựng một chế độ nước tưới hợp lý cần tính toán đến yêucầu sinh lý của cây, điều kiện khí hậu thời tiết, lượng mưa từng vùng, đặc điểm của đấtv.v…

b2 Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội.

- Dân cư, lao động ảnh hưởng đến cơ cấu, sự phân bố cây trồng, vật nuôi (là lực lượng lao động, tiêu thụ, quan trọng để phát triển nông nghiệp)

Trang 27

- Sở hữu ruộng đất: Ảnh hưởng đến đường lối phát triển, các hình thức tổ chứclãnh thổ nông nghiệp.

- Tiến bộ khoa học kĩ thuật: Ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, sản lượng

- Thị trường tiêu thụ: Ảnh hưởng đến giá cả, điều tiết sản xuất, hướng chuyênmôn hóa

b3 Những nhân tố thuộc về điều kiện kỹ thuật.

- Giống cây trồng, vật nuôi: Các loại giống cây, con giống có năng suất cao,chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng qui mô sản lượng hàng hoá Các loại giống mới

có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi; ổn định sảnlượng sản phẩm hàng hoá

- Kỹ thuật canh tác: việc ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến cũng góp phầnlàm tăng năng suất cây trồng Hiện nước ta đã và đang đầu tư cho đội ngũ cán bộ khoahọc kỹ thuật, đầu tư các trung tâm nghiên cứu, hệ thống khuyến nông nên đã rút ngắnđược thời gian chuyển tải kỹ thuật mới từ nơi nghiên cứu đến người nông

dân

- Công nghệ: công nghệ sau thu hoạch, bảo quản và chế biến sản phẩm đượcxem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động.Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao quy mô sản lượng, chất lượng sảnphẩm, tiết kiệm lao động, chi phí sản xuất thấp do đó sẽ gia tăng lợi nhuận và hiệu quảsản xuất

- Vốn trong sản xuất nông nghiệp: vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngànhkinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn trong nông ngiệp là biểu hiện bằng tiềncủa tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng đưa vào sản xuất nông nghiệp

Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nhằm bảo đảm an toàn lương thực quốcgia, đa dạng hóa nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính quyết định là vốn Vốn cóvai trò quyết định đến việc hộ gia đình có khả năng tiếp tục đầu tư vào sản xuất cũng nhưcác trang thiết bị phương tiện kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho sản xuất (Randrianarisoa vàMinten, 2005)

Trang 28

Johnston và Mellor (1961) cũng cho rằng vốn là nhu cầu thiết yếu cho một đấtnước kém phát triển, không những phục vụ cho phát triển nông nghiệp mà còn tàitrợ cho việc thành lập và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp chế tạo, khai tháckhoáng sản, đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông, mở rộng các dịch vụ giáo dục vàphát triển.

Theo Kay và Edwards (trích từ Đinh Phi Hổ, 2008): Vốn trong sản xuất nôngnghiệp là toàn bộ số tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuấtnông nghiệp Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủynông, vườn cây lâu năm, máy móc, thiết bị nông cụ và tiền mua vật tư

Vốn trong sản xuất nông nghiệp có đặc điểm là tính thời vụ do đặc điểm củatính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựngnhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Dochu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp có mức lưuchuyển chậm

Vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: vốn tíchlũy từ bản thân khu vực nông nghiệp, vốn đầu tư của ngân sách, vốn từ tín dụngnông thôn và nguồn vốn nước ngoài

- Lao động: nguồn lao động trong nông nghiệp bao gồm toàn bộ những ngườitham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động trong nông nghiệp là yếu tố sản xuấtđặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động

mà còn cả chất lượng nguồn lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao độngnhư kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng đếngia tăng sản lượng Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu

tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này

- Phân bón: Theo Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên

(1999), lượng phân bón và kỹ thuật bón phân đã trở thành một biện pháp quyết địnhđến năng suất cây công nông nghiệp

Bón phân sẽ nâng cao được năng suất, phẩm chất, hiệu quả kinh tế đồng thờigiúp cây lúa khỏe, cứng cây, chống đổ ngã, tạo điều kiện cho máy gặt làm việc

Trang 29

thuận lợi, có năng suất cao, giảm thất thoát trong và sau thu hoạch (Lê Xuân Đính,2008).

2.2 Lý thuyết về sản xuất theo hợp đồng.

2.2.1 Định nghĩa sản xuất theo hợp đồng.

Eaton và Shepherd (2001) định nghĩa hợp đồng trong nông nghiệp có nghĩa là

“sự thỏa thuận giữa những người nông dân và việc gia công và/hay tiếp thị các công

ty cho việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên thỏa thuận đãđược ký kết thường là với giá cả đã được định trước” Tuy nhiên, ý nghĩa chính củaviệc ký kết hợp đồng là “họ thiết lập những quy tắc của cuộc chơi” Cụ thể, theoSykuta và Parcell (2002), một hợp đồng (trong nông nghiệp hay các mặt khác) đưa

ra những luật lệ của việc giao dịch qua việc phân bổ của ba yếu tố chính là giá trị,rủi ro và quyền quyết định Một hợp đồng thành công do đó sẽ phân bổ giá trị, rủi ro

và quyết định theo cách mà hai bên cùng có lợi, lý tưởng là cùng chia sẻ rủi ro vàcải tiến chất lượng và sản xuất

2.2.2 Các hình thức của sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng.

2.2.2.1 Phân loại theo “độ sâu” của hợp đồng.

Theo Minot (1986), Shepherd và Eaton (2001) có thể phân loại hợp đồng theo “độsâu” của các hình thức thỏa thuận Theo hình thức này có ba hình thức cơ bản là

(1) hợp đồng tiếp cận đầu ra về thị trường, (2) hợp đồng quản lý sản xuất và (3) hợpđồng cung cấp dịch vụ đầu vào

- Hợp đồng tiếp cận về đầu ra thị trường: là một hình thức thỏa thuận và camkết trước của các nhà thu mua (doanh nghiệp) về việc đảm bảo thu mua sản phẩm chonhà sản xuất (nông dân) với giá cả, số lượng và chất lượng hàng hóa tại một thời điểmnhất định trước khi thu hoạch Hình thức này chỉ phát huy hiệu quả khi giá cả trên thịtrường ổn định và không có sự biến động lớn Tuy nhiên, hình thức này còn đòi hỏidoanh nghiệp phải có sự dự báo chính xác về giá cả còn về phía người nông dân phải cótrình độ sản xuất cao để có thể đảm bảo được số lượng và chất lượng sản phẩm như đã kýtrong hợp đồng Hình thức này sẽ làm giảm chi phí giao dịch cho hai bên trong việc tìmkiếm thị trường và khách hàng

Trang 30

- Hợp đồng quản lý sản xuất: hình thức này đòi hỏi người nông dân phải thựchiện theo các yêu cầu kỹ thuật, quy trình sản xuất, đầu vào, thời điểm gieo trồng và cácyêu cầu về xử lý sau thu hoạch do các doanh nghiệp thu mua đặt ra Về phía doanhnghiệp, họ sẽ đảm bảo mua hàng hóa của nông dân khi thu hoạch; bên cạnh đó, họ cònchịu trách nhiệm chuyển giao kỹ thuật và giám sát quá trình sản xuất của

nông dân Hình thức này sẽ giúp nông dân giảm chi phí và thời gian rong việc tìmkiếm các thông tin về kỹ thuật sản xuất, còn doanh nghiệp thì giảm chi phí và rủi rotìm kiếm sản phẩm có chất lượng

- Hợp đồng cung cấp dịch vụ đầu vào: hợp đồng theo hình thức này doanhnghiệp sẽ cung cấp trước các đầu vào cho sản xuất của nông dân như giống, phânbón, thức ăn…dưới dạng tín dụng Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn cung cấp kỹthuật sản xuất và giám sát quá trình sản xuất của nông dân Hình thức này sẽ giúpcho doanh nghiệp kiểm soát được toàn bộ quy trình sản xuất của nông dân từ đầuvào cho đến đầu ra Doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được tín dụng đã ứng trước chongười nông dân thông qua mua lại hàng hóa của nông dân Hình thức này xem ra cótính ưu việt hơn so với hai hình thức trước, giúp hai bên giảm được chi phí giaodịch trong việc tìm kiếm thông tin về thị trường, khách hàng và chất lượng sảnphẩm đầu vào

2.2.2.2 Phân loại theo hình thức tổ chức thực hiện.

Các mô hình sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp rất đa dạng và việcphân loại chúng dựa trên đặc điểm của mùa vụ, mục tiêu và tiềm lực của các doanhnghiệp với kinh nghiệm của người nông dân (Shepherd và Eaton, 2001) Từ đó,(Shepherd và Eaton, 2001); Martin Prove (2012); Pallivi Sharma andDr.S.D.Vashishtha (2012) đã chỉ ra năm mô hình, đó là: mô hình tập trung, mô hìnhtrang trại hạt nhân, mô hình đa thành thành phần, mô hình không chính thức và môhình trung gian

Mô hình tập trung: là mô hình mà trong đó các doanh nghiệp (thường là cácdoanh nghiệp chế biến quy mô lớn) hợp đồng với nhiều người nông dân trong việcmua bán hàng hóa của họ với những tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng nhất định

Trang 31

(Martin Prove, 2012) Doanh nghiệp sẽ hỗ trợ các đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, theodõi quá trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và thu mua lại hàng hóa của nông dânnhư đã thỏa thuận Nông dân sẽ đầu tư về đất đai, công lao động, chuồng trại…vàthực hiện theo đúng qui trình sản xuất do doanh nghiệp đặt ra Như vậy, doanhnghiệp sẽ tốn nhiều chi phí như chi phí đầu tư, chi phí thu gom hàng hóa của nôngdân, chi phí theo dõi và giám sát kỹ thuật của người nông dân nhưng bù lại doanhnghiệp sẽ mua được hàng hóa có chất lượng Mô hình này thích hợp cho những sảnphẩm có mùa vụ như thuốc lá, bông vải, ớt, mía, chuối, cà phê, trà, cô ca và cao su.Mức độ cung cấp đầu vào của các doanh nghiệp có thể biến đổi tùy theo loại câytrồng (Pallivi Sharma and Dr.S.D.Vashishtha, 2012) và Bijman (2008) cho rằng môhình này thường thích hợp cho các nông trại lớn vì doanh nghiệp cần có đủ số lượnglớn hàng hóa để chế biến.

Mô hình trang trại hạt nhân: đây là hình thức biến đổi của mô hình tập trung,doanh nghiệp vẫn là bên mua sản phẩm nhưng lại nắm sở hữu về đất đai, tài sản.Bên bán sản phẩm chỉ thực hiện hình thức sản xuất tạo ra sản phẩm theo yêu cầucủa doanh nghiệp và bán lại hàng hóa cho doanh nghiệp đó Hạn chế của mô hìnhnày đó là do nông dân không nắm quyền sở hữu về đất đai và tài sản nên họ không

có động lực mạnh mẽ trong sản xuất; trong khi đó, doanh nghiệp sẽ dựa vào việc sởhữu đất đai và tài sản để chèn ép giá thu mua Shepherd và Eaton (2001) đề xuất môhình này nên sử dụng cho các loại cây lâu năm và thích hợp với những loại cây có

sự chuyển giao và có chu kỳ (như cây cọ ở Indonesia)

Mô hình đa thành phần: ở đó là một sự liên kết mạo hiểm giữa một tổ chứccông cộng và một doanh nghiệp tư nhân liên kết với nông dân Shepherd và Eaton(2001) cho rằng mô hình này có thể bao gồm cả một quốc gia và/hoặc một địaphương và Bijman (2008) cũng xác nhận rằng mô hình này được áp dụng phổ biến

ở Trung Quốc Hợp đồng theo mô hình dựa trên chính phủ là nền tảng này thích hợpđối với các nước theo đuổi mục tiêu chính trị Khâu tổ chức tốn kém, mất nhiều thờigian; tuy nhiên, mức độ rủi ro sẽ được chia đều cho các bên

Trang 32

Mô hình phi chính thức: thường được áp dụng bởi các doanh nghiệp cá thể haycác công ty có quy mô nhỏ, là sự thỏa thuận miệng (phi chính thức) giữa các bên đểđáp ứng cho việc sản xuất theo mùa vụ, như việc sản xuất trái cây hoặc rau và đòihỏi công nghệ chế biến không nhiều Do quy mô của doanh nghiệp là nhỏ, vì vậy

mô hình này được hình thành một phần còn do sự mở rộng của các nhà cung cấpkhác (như tổ chức chính phủ và/hoặc phi chính phủ) có thể cung cấp các đầu vàocho sản xuất như là sự mở rộng và cung cấp vốn (Shepherd và Eaton, 2001) Hạnchế của mô hình này là chỉ áp dụng trong cùng cộng đồng, qui mô sản xuất nhỏ nênkhó mở rộng phạm vi hoạt động, doanh nghiệp dễ gặp rủi ro và sẽ không đảm bảođược khả năng tái hoạt động

Mô hình trung gian: trong đó các doanh nghiệp ký hợp đồng với người nôngdân thông qua người trung gian, thường là các hợp tác xã, thương lái hay chínhquyền địa phương Nông dân sản xuất qui mô nhỏ sẽ dễ dàng tham gia, doanhnghiệp có thể giảm được chi phí theo dõi, giám sát quá trình sản xuất của nông dân

vì “nhà trung gian” thường là người ở địa phương nên nông dân dễ tin hơn các cán

bộ của doanh nghiệp những người mà họ chưa bao giờ biết Tuy nhiên, mức độ ràngbuộc giữa nông dân và doanh nghiệp không cao nên cũng dễ dàng phá vỡ hợp đồng.Theo Shepherd và Eaton (2001), mô hình này phổ biến ở Thái Lan và Indonesia, và

mô hình này sẽ làm gia tăng khoảng cách giữa người nông dân với các doanhnghiệp sản xuất và làm giảm sự kiểm soát của doanh nghiệp này

Sản xuất theo hợp đồng trở nên quan trọng hơn đặc biệt là ở những nước cónền nông nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, có sự sản xuất nhưng không đượcmua bởi các công ty đa quốc gia mà là những công ty nhỏ, công ty đại diện, hợp tác

xã hoặc những người buôn bán riêng lẻ Hình thức này còn quan trọng hơn đối vớinhững nước có tiềm năng sản xuất nông nghiệp nhưng quy mô nhỏ, họ không thểcạnh tranh, không có khả năng tiếp cận các dịch vụ của sản xuất theo hợp đồng docác công ty mang lại Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, yếu tố quyết định môhình sản xuất theo hợp đồng là do hình thức mua bán Sự phát triển của hình thứcsản xuất theo hợp đồng không chỉ tạo sự phát triển cho khu vực nông thôn mà còn

Trang 33

là sự hỗ trợ của các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ (NGOs) cho khu vực nàykhi các sự tiếp cận khác bị thất bại Hình thức này nếu chỉ hướng về mục đích nhằmthúc đẩy quyền lực chính trị hơn là mục tiêu cho kinh tế và cải tiến kỹ thuật thì chắcchắn sẽ thất bại (Shepherd và Eaton, 2001).

2.2.3 Thuận lợi và trở ngại của nông dân khi sản xuất theo hợp đồng.

Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng đã được ứng dụng rộng rãi khắp nơi trênthế giới và đã mang lại nhiều thuận lợi và khó khăn cho người nông dân Về thuậnlợi, nông dân sẽ được cung cấp đầu vào và đầu ra ổn định góp phần nâng cao thunhập

Đầu vào: giúp nông dân tiếp cận dễ hơn với nguồn tín dụng, thông tin về kỹthuật Nông dân có thể dùng hợp đồng sản xuất thế chấp vay vốn ngân hàng, các tổchức tín dụng hay từ chính các công ty chế biến để mua các vật tư nông nghiệp nhưphân bón, thuốc trừ sâu và trang trải các chi phí khác (Minot, 1986; Rehber, 1998;Arumugam etal, 2010; Đặng Kim Sơn, 2001) Trong nhiều trường hợp, công ty còncho nông dân vay chi phí ngoài sản xuất như học phí, tiền cưới hay các chi phí xãhội khác (David Glover, 1990)

Đầu ra: giúp nông dân giảm được rủi ro về giá cả vì giá cả đã được định trước.Ngoài việc nông dân được cung cấp đầu vào, các dịch vụ sản xuất, vốn tín dụng từdoanh nghiệp và được chuyển giao các kỹ thuật mới thì nông dân còn có thị trườngmới để bán sản phẩm cho mình (Shepherd và Eaton, 2001)

Thu nhập: nông dân tham gia vào hợp đồng sản xuất nông nghiệp thường cóthu nhập cao hơn so với nông dân sản xuất tự do, mặc dù có cùng diện tích sản xuất

và một loại cây trồng giống nhau (Jagdish và Praksah, 2008; Miyata etal, 2009).Theo kết quả nghiên cứu của Minot (1986), hầu hết các trường hợp nông dân thamgia thực hiện sản xuất theo hợp đồng đều nâng cao thu nhập một cách đáng kể.Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp dựa theo hợp đồng cũng tồn tại một số khókhăn trong quá trình thực hiện hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp Nông dân

sẽ gặp rủi ro trong sản xuất khi bắt đầu áp dụng những kỹ thuật mới được chuyển

Trang 34

giao từ doanh nghiệp trong khi nông dân đã quen với cách làm truyền thống và đôikhi họ không đủ khả năng để áp dụng những kỹ thuật mới đó (Rehber, 1998).

Ngoài ra, nông dân còn đối mặt với những rủi ro về thị trường và năng suất khi

họ sản xuất những giống mới do doanh nghiệp cung cấp Doanh nghiệp có thểkhông mua hết sản phẩm như đã ký trong hợp đồng với nông dân vì việc kinh doanhkém hiệu quả hay những khó khăn về thị trường mà doanh nghiệp đó gặp phải.Doanh nghiệp cũng sẽ lợi dụng vị trí độc quyền của mình để chèn ép nông dân,nông dân sẽ có nguy cơ gánh nặng nợ nần vì rủi ro trong sản xuất do đã nhận rấtnhiều vật tư ứng trước từ doanh nghiệp (Shepherd và Eaton, 2001)

Theo Glover và Kusterer (1990) cũng chỉ ra rằng hợp đồng thường được kývào đầu mùa vụ và định rõ số lượng sản phẩm và giá cả doanh nghiệp mua vào kể

cả tín dụng, đầu vào, cho thuê máy móc, tư vấn kỹ thuật cho nông dân Tuy nhiên,doanh nghiệp luôn nắm giữ quyền từ chối những sản phẩm không đạt tiêu chuẩnquy định

Một trở ngại lớn nhất với nông dân là khả năng đàm phán và thương lượng vớidoanh nghiệp, do doanh nghiệp thường chiếm ưu thế về thông tin thị trường nên khithương lượng và đàm phán về giá cả trong hợp đồng người nông dân sẽ bị “ép giá”bởi doanh nghiệp (Rehber, 1998), chính điều này có thể chưa tạo ra được tính hấpdẫn về kinh tế đối với người nông dân

Nông dân thường không muốn bị ràng buộc khi sản xuất, thích tự do thỏathuận với các thủ tục đơn giản khi mua bán nên thương lái vẫn thích hợp để giaodịch với họ mặc dù đôi khi họ cho rằng thương lái “ép giá” Nông hộ có quy mô nhỏcũng kêu ca về các thủ tục thanh toán quá phức tạp làm cho họ không muốn tiếp tụctôn trọng các điều khoản trong hợp đồng nữa (MP4, 2005)

2.2.4 Thuận lợi và trở ngại của doanh nghiệp khi sản xuất theo hợp đồng.

Theo Shepherd và Eaton (2001), khi tham gia sản xuất theo hợp đồng, cácdoanh nghiệp sẽ có được những thuận lợi như (1) tăng uy tín của các doanh nghiệptrong việc cung cấp hàng hóa cả về số lượng và chất lượng (giảm chi phí sàng lọc

và chọn lựa hàng hóa); (2) trong nhiều trường hợp sẽ không còn rủi ro cho sản xuất

Trang 35

của doanh nghiệp lẫn người nông dân; (3) xây dựng được các tiêu chuẩn và nhân tốniềm tin dựa trên các đặc điểm về cách thức sản xuất và đặc điểm mùa vụ; (4) giảmchi phí sản xuất như các chi phí thường xuyên và chi phí cố định từ đó doanhnghiệp có cơ hội mở rộng sản xuất; (5) giúp các doanh nghiệp có thể chủ động trongviệc tăng hoặc giảm bớt sản xuất (từ đó các doanh nghiệp có thể ngừng sản xuất,đặc biệt là xác định được đã đạt ở đỉnh cao chưa); (6) chủ động được đầu vào do đócác doanh nghiệp có thể dự trữ cho sản xuất, từ đó sẽ mang đến lợi thế kinh tế theoquy mô cho các doanh nghiệp Do đó làm giảm tỷ lệ vay nợ và các doanh nghiệp cóthể vận dụng sự hiểu biết để nghiên cứu cho sản xuất tốt hơn, ví dụ như tìm ra cácmầm bệnh và giảm sự tương đồng huyết thống trong các loại cây trồng (MartinProve, 2012).

Tuy nhiên bên cạnh đó là những trở ngại mà doanh nghiệp phải đối mặt:

- Do nông dân đã quen với phương thức sản xuất truyền thống nên các doanhnghiệp sẽ gặp khó khi muốn nông dân thay đổi tập quán sản xuất và ứng dụng các kỹthuật mới vào sản xuất

- Nông dân có thể phá vỡ hợp đồng với doanh nghiệp và bán sản phẩm của họ

Tóm lại, khi sản xuất theo hợp đồng thì nông dân và doanh nghiệp vừa có lợi

và cũng có những khó khăn cần giải quyết Vì thế, cần phải thắt chặt mối liên kếtgiữa nông dân và doanh nghiệp để sản xuất có hiệu quả và mang lại lợi ích cho cảhai bên Ở nước ta, có nhiều mô hình mà doanh nghiệp liên kết hợp đồng tiêu thụsản phẩm với nông dân, trong đó nổi bật là mô hình cánh đồng lớn (CĐL) về hợp

Trang 36

đồng sản xuất và tiêu thụ lúa Không ngoài xu hướng trên, nông dân khi thực hiện

mô hình CĐL vừa có nhiều lợi ích vừa gặp khó khăn trong quá trình hợp đồng vớidoanh nghiệp

2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước về hiệu quả sản xuất và sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng.

2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới.

Nghiên cứu sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp ở Lào: Di chuyển từ tựcung tự cấp sang nông nghiệp thương mại (Rice Contract Farming in Lao PDR:Moving from Subsistence to Commercial Agriculture) của các tác giả SununtarSetboonsarng, PingSun Leung và Adam Stefan (2008) Sử dụng dữ liệu từ một cuộckhảo sát hộ gia đình của 332 nông dân hợp đồng và 253 nông dân không có hợpđồng Sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng và phân tích mô hình hồi quy

để đánh giá hiệu quả của sản xuất lúa có hợp đồng hợp đồng ở Lào, các nhà nghiêncứu đã cho thấy rằng khi tham gia sản xuất theo hợp đồng, nông dân sẽ có được lợinhuận cao hơn đáng kể so với người nông dân không có hợp đồng Bên cạnh đó,hợp đồng nông nghiệp có xu hướng cung cấp sự gia tăng lớn trong thu nhập chonông dân với hiệu suất dưới mức trung bình Nghiên cứu này là một cơ chế dẫn đầuhiệu quả để tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi sang nền nông nghiệp hàng hóa.Ngoài việc đưa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực nông thôn, sảnxuất theo hợp đồng trong nông nghiệp có thể là một công cụ hiệu quả để cải thiệnlợi nhuận và nâng cao thu nhập của hộ nông dân có quy mô nhỏ và làm giảm đóinghèo ở khu vực nông thôn của Lào Cai và các cộng sự (2008) thực hiện mộtnghiên cứu về sản xuất lúa gạo theo hợp đồng ở Campuchia Nghiên cứu dựa trênviệc sản xuất lúa gạo theo hợp đồng xuất khẩu ở Campuchia, sử dụng phương pháp

so sánh trung bình hai mẫu độc lập, phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) và

mô hình hồi quy Kết quả cho thấy khi tham gia sản xuất theo hợp đồng, nông dân

sẽ có được nhiều lợi ích so với sản xuất tự do như được đảm bảo đầu ra cho lúa gạo,được vay vốn cho sản xuất, được cung cấp các dịch vụ cho sản xuất lúa, được bảohiểm cho sản xuất và nhiều lợi ích khác Và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sản xuất

Trang 37

theo hợp đồng thì nông dân sẽ có lợi nhuận cao hơn sản xuất tự do Và nhóm nôngdân có diện tích đất canh tác lớn, ở gần trung tâm, tuổi của chủ hộ trẻ hơn và cótrình độ học vấn cao sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ mô hình này.

Trường hợp nghiên cứu về sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan: Bài học kinhnghiệm do Setboonsarng và các cộng sự thực hiện vào năm 2008 Nghiên cứu đượcthực hiện dựa trên nguồn số liệu khảo sát vào năm 2007 với phương pháp so sánhđiểm xu hướng và mô hình hồi quy để so sánh sự khác biệt giữa sản xuất theo hợpđồng và sản xuất tự do Kết quả cho thấy khi tham gia sản xuất theo hợp đồng,người nông dân sẽ được đảm bảo đầu ra và giá bán cho hàng hóa của mình, và được

hỗ trợ kỹ thuật sản xuất Đối với những nông dân nghèo, họ còn được cung cấp đầuvào và hỗ trợ vốn sản xuất từ các doanh nghiệp Và hình thức sản xuất theo hợpđồng ở Thái Lan đã làm tăng thu nhập và lợi nhuận cho người nông dân, chuyểngiao kỹ thuật và thúc đẩy nông nghiệp của nước này phát triển Bên cạnh đó, nghiêncứu cũng cho thấy rằng vai trò của chính phủ là rất lớn để phát triển và duy trì hìnhthức này

Một nghiên cứu khác về sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan do Sriboonchitta

và Wiboonpoongse (2008) đã đánh giá bài học kinh nghiệm từ sản xuất theo hợpđồng trên nhiều địa điểm và loại hình sản xuất khác nhau từ đó lý giải cho sự thànhcông của mô hình sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan Trong đó nguyên nhân đểngười nông dân nước này tham gia vào sản xuất theo hợp đồng là do họ có được lợinhuận cao hơn Bên cạnh đó họ còn được cung ứng vốn thông qua tín dụng và được

hỗ trợ kỹ thuật sản xuất Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra những bài học kinhnghiệm, nhưng đáng chú ý là: 1) sự minh bạch trong hợp đồng; 2) tính ha bằngtrong hợp đồng; 3) rủi ro phải được chia sẻ hợp lý; 4) có sự tham gia tích cực củachính quyền địa phương; 5) có sự hỗ trợ của các cơ quan cung cấp dịch vụ công vềkhoa học công nghệ; 6) phù hợp với các sản phẩm nông nghiệp cần chế biến

Từ các nghiên cứu của các nước trên thế giới về sản xuất theo hợp đồng chothấy, sản xuất theo hợp đồng có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp,đặc biệt là sản xuất lúa Sản xuất theo hợp đồng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nông

Trang 38

dân đặc biệt là nông dân nghèo, có diện tích đất ích như được hỗ trợ đầu vào chosản xuất, được vay vốn, được đảm bảo đầu ra với giá bán hợp lý Với phương pháp

so sánh điểm xu hướng và phân tích mô hình hồi quy đã cho thấy nông dân tronghợp đồng sẽ có thu nhập và lợi nhuận cao hơn so với sản xuất tự do Bên cạnh đó,sản xuất theo hợp đồng còn nhấn mạnh vai trò của chính phủ mỗi nước, là cầu nốiquan trọng để duy trì hình thức này và thúc đẩy nền nông nghiệp của nước mìnhphát triển thông qua kêu gọi đầu tư của khu vực tư nhân vào nông nghiệp

2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước.

Đinh Phi Hổ và Đoàn Ngọc Phả (2011), sử dụng phương pháp kiểm địnhTrung bình mẫu độc lập (T-test) và kiểm định Chi bình phương (Chi-square) đểđánh giá sự khác biệt về sản xuất lúa của 309 hộ nông dân áp dụng công nghệ mới

và nông dân canh tác theo tập quán tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Kết quả cho thấy: Nông dân được tập huấn công nghệ mới với các cải tiến cơ bảnnhư sau: sử dụng giống được xác nhận; giảm lượng giống, lượng phân bón hóa học;giảm phun xịt thuốc bảo vệ thực vật và hạn chế phun thuốc trong vòng 40 ngày saukhi sạ mà vẫn giữ được năng suất Từ đó, họ giảm được chi phí phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật; chi phí sản xuất giảm, giá bán lúa cao hơn, giảm giá thành, tăng lợinhuận và tỷ suất lợi nhuận

“Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất tiêu thụ lúa gạo - Trường hợpcánh đồng mẫu lớn tỉnh An Giang” do Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nguyễn NgọcVàng thực hiện vào năm 2012 Tác giả đã tiến hành nghiên cứu 120 hộ (60 hộ trong

mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML) và 60 hộ ngoài mô hình CĐML Bằng phươngpháp phân tích lợi ích chi phí (CBA) để phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế và tàichính giữa hai nhóm hộ Kết quả:

- Về hiệu quả sử dụng vốn: khi các hộ đầu tư 1 đồng chi phí thì các hộ trong

mô hình CĐML thu được 0,75 đồng lợi nhuận trong khi đó các hộ ngoài mô hình chỉ thuđược 0,39 đồng lợi nhuận

Trang 39

- Về hiệu quả sử dụng tiền mặt: Khi đầu tư 1 đồng tiền mặt thì các hộ trong môhình CĐML thu được 1,14 đồng trong khi đó các hộ ngoài mô hình chỉ thu được 0,6đồng.

Bên cạnh đó, các tác giả sử dụng hàm tuyến tính để phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến lợi nhuận của nông hộ Với biến phụ thuộc là lợi nhuận, các biến độc lậpgồm diện tích đất canh tác, trình độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm trồng lúa, chiphí giống, chi phí phân, chi phí thuốc, chi phí thuê lao động, giá bán lúa Kết quảcho thấy các biến như diện tích đất canh tác, trình độ học vấn của chủ hộ, kinhnghiệm trồng lúa, chi phí phân, chi phí thuốc, giá bán lúa có ảnh hưởng đến lợinhuận của nông hộ Cụ thể, khi đầu tư cùng một đơn vị diện tích thì lợi nhuận củanông hộ trong CĐML sẽ cao hơn nông hộ ngoài mô hình CĐML Khi trình độ họcvấn tăng lên 1 đơn vị thì lợi nhuận của nông hộ trong CĐML sẽ cao hơn nông hộngoài mô hình CĐML Khi giá bán tăng lên 1 đồng thì lợi nhuận của nông hộ trongCĐML sẽ cao hơn nông hộ ngoài mô hình CĐML Về chi phí phân bón: có tác độngnghịch với lợi nhuận của 2 mô hình, khi chi phí phân bón tăng 1.000 đồng sẽ làmcho lợi nhuận của hộ ngoài mô hình giảm nhiều hơn so với lợi nhuận của nhóm hộtrong mô hình

Theo Cục Trồng trọt, 2012, trong quá trình thực hiện xây dựng mô hình Cánhđồng mẫu lớn các bên tham gia đều thụ hưởng các lợi ích một cách cao nhất, trong

đó nông dân được hưởng lợi từ các dịch vụ phục vụ sản xuất, chất lượng vật tư nôngnghiệp và các giá trị tăng thêm cho lúa từ các hoạt động dịch vụ nhiều nhất Môhình cánh đồng mẫu lớn sẽ được áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến trong sản xuất,từng bước được dịch vụ hóa tất cả các khâu trong sản xuất từ giống, làm đất, chămsóc, quản lý nước đến thu hoạch, bảo quản, chế biến, tồn trữ,… các hoạt động dịch

vụ này sẽ góp phần gia tăng năng suất, chất lượng và giá

trị hạt gạo, tăng tính cạnh tranh và lợi nhuận Về hiệu quả kinh tế trong mô hìnhcánh đồng mẫu lớn tại 5 tỉnh: Đồng Tháp, Long An, Bạc Liêu, Tây Ninh, Trà Vinhcho thấy lợi nhuận thu được từ mô hình cao hơn so với ngoài mô hình từ 2,2 - 7,5triệu đồng/ha, giá thành lúa từ 2.300-3.100 đồng/kg (giảm từ 120-600

Trang 40

đồng/kg so với ngoài mô hình), số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 1,2 – 4,0lần/vụ) Nguyên nhân do việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật đã làm tăngnăng suất, đồng thời giảm chi phí sản xuất như lượng giống xạ, số lần phun thuốctrừ sâu bệnh.

Nghiên cứu “Phân tích hiệu quả tài chính của hộ sản xuất lúa theo mô hìnhliên kết với doanh nghiệp ở tỉnh An Giang” do La Nguyễn Thùy Dung và Mai VănNam thực hiện vào năm 2015 thông qua phỏng vấn 338 hộ trực tiếp sản xuất lúathuộc 4 huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành và Tịnh Biên của tỉnh An Giangtrong đó có 126 hộ tham gia liên kết với doanh nghiệp Các tác giả đã sử dụngphương pháp kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập để kiểm tra sự khác biệt

về hiệu quả tài chính giữa nhóm nông hộ tham gia và không tham gia theo mô hìnhliên kết với doanh nghiệp Kết quả cho thấy có sự khác biệt về năng suất, doanh thu

và lợi nhuận giữa nhóm nông hộ tham gia và không tham gia theo mô hình liên kếtvới doanh nghiệp như sau:

- Về năng suất: nhóm hộ có liên kết năng suất là 8,34 tấn/ha, cao hơn nhóm hộ không liên kết 0,61 tấn/ha

- Về doanh thu: trung bình nhóm nông hộ tham gia liên kết có doanh thu caohơn nhóm hộ không có liên kết với mức dao động từ 2,109 triệu đồng/ha đến 6,550 triệuđồng/ha Nguyên nhân là do nhóm hộ liên kết có giá bán và năng suất cao hơn nhóm hộkhông có liên kết

- Lợi nhuận: lợi nhuận trung bình nhóm nông hộ tham gia liên kết (dao động từ9,879 triệu đồng/ha đến 19,983 triệu đồng/ha) cao hơn nhóm hộ không có liên kết(dao động từ 7,756 triệu đồng/ha đến 13,294 triệu đồng/ha)

Qua các nghiên cứu trước cho thấy, các tác giả đã sử dụng phương pháp sosánh lợi ích chi phí kết hợp với hàm tuyến tính (hàm lợi nhuận) để phân tích, sosánh hiệu quả sản xuất lúa theo hợp đồng so với sản xuất tự do Kết quả cho thấy có

sự khác biệt đáng kể về hiệu quả sản xuất lúa giữa nhóm hộ xuất lúa theo hợp đồng

so với sản xuất tự do Hiệu quả sản xuất lúa bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chi phíphân bón, chi phí thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), diện tích đất canh tác, kinh

Ngày đăng: 26/09/2020, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w