Do đó, đề án đã gợi ý một số thay đổi vềnghiệp vụ nhằm tạo thuận lợi hóa thương mại như: lộ trình cắt giảm thuế quan từngmặt hàng trọng điểm, nới lỏng các hàng rào kỹ thuật quá cứng nhắc
Trang 1HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGUYÊN VŨ
KIỂM TRA HÀNG HÓA SAU THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGUYÊN VŨ
KIỂM TRA HÀNG HÓA SAU THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn ThịThương Huyền
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đượcđăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu thamkhảo của luận văn Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trongluận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.Tác giả xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Nguyên Vũ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 8
1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm tra hàng hóa sau thông quan 8
1.2 Pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan 15
1.3 Pháp luật và chuẩn mực kiểm tra hàng hóa sau thông quan của một số nước trênthế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23
Chương 2 THỰC TRẠNG KIỂM TRA HÀNG HÓA SAU THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM 32
2.1 Thực trạng quy định pháp Việt Nam về kiểm tra hàng hóa sau thông quan 32
2.2 Thực trạng kiểm tra hàng hóa sau thông quan theo pháp Việt Nam tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam 40
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam 50
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM 57
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra hàng hóa sau thông quan 57
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra hàng hóa sau thông quan theo pháp tại Cục hải quan tỉnh Quảng Nam 63
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT
GATT General Agreement on Tariffs and Trade
Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
GTGT Giá trị gia tăng
GTT Giá tính thuế
KTSTQ Kiểm tra sau thông quan
QLRR Quản lý rủi ro
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
VCIS Vietnam Customs Intelligence Information System - Hệ thống
thông tin phân luồng Hải quan Việt Nam
VNACCS Vietnam Automated Cargo And Port Consolidated System - Hệ
thống thông quan hàng hóa tự động
WCO World Customs Organization - Tổ chức Hải quan thế giớiWTO World Trade Organization - Tổ chức y tế thế giới
TCHQ Tổng cục Hải quan
CBCC Cán bộ công chức
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁCPTPP
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership Agreement - Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộxuyên Thái Bình Dương
FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
CIF Cost, Insurance and Freight - Giá thành, Bảo hiểm và Cước
DN Doanh nghiệp
XNC Xuất nhập cảnh
QLNN Quản lý nhà nước
Trang 6TỪ VIẾT TẮT Ý NGHĨALHQ
Luật QLT Luật Quản lý thuế
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong chínhsách đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước Sau
30 năm đổi mới và hơn 10 năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), quátrình hội nhập của Việt Nam đã diễn ra ngày càng sâu rộng và có tác động tích cựcđến sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập kinh
tế càng trở nên mạnh mẽ hơn với việc ký kết và thực hiện các Hiệp định thương mại(FTA) thế hệ mới, không chỉ nhằm mở cửa thị trường mà còn là bước đi quan trọngkhẳng định cam kết của Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới Tiến trình này
đã tác động đến thể chế hải quan với vai trò là lực lượng quản lý nhà nước đối vớihoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Cơ quan hải quan đứng trước yêu cầu thông quannhanh hàng hóa để tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời vẫn phải đảm bảo quản
lý chặt chẽ chính sách chế độ, chống gian lận thương mại, bảo vệ sản xuất nội địa
và không để thất thu thuế Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đang thểhiện quyết tâm đổi mới, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động phục
vụ người dân và doanh nghiệp
Một trong những biện pháp quan trọng giúp đẩy nhanh quá trình thông quanchính là công tác kiểm tra hàng hóa sau thông quan (KTSTQ) Đặc biệt kiểm trahàng hóa sau thông quan còn có ý nghĩa to lớn như thế nào khi Việt Nam đã thamgia ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).Một trong những thỏa thuận thương mại đa quốc gia lớn nhất từ trước đến nay.KTSTQ là hoạt động kiểm tra của CQHQ đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng
từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm trathực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đãđược thông quan Việc KTSTQ nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dungcác chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hảiquan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luậtliên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu người khai hải quan
Vì vậy, vấn đề KTSTQ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia
Trang 8trong việc giao thương hàng hóa, cũng như quyết định đến kết quả cạnh tranh và sựbảo hộ của một quốc gia.
Theo mục tiêu phát triển Hải quan và lực lượng kiểm tra hàng hóa sau thôngquan trong chiến lược phát triển Hải Quan Việt Nam đến năm 2020, tỷ lệ kiểm trathực tế hàng hóa đến 2015 là dưới 10% và đến 2020 phấn đấu đạt dưới 7%, tức là
có trên 90% hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chưa được kiểm tra khi làm thủ tụcthông quan Hay nói cách khác, đến năm 2020 việc kiểm tra hải quan sẽ căn bản làkiểm tra hàng hóa sau thông quan Do đó việc kiểm tra hàng hóa sau thông quannhằm mục đích ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, gian lậnthuế, vi phạm chính sách quản lý xuất khẩu nhập khẩu, đấu tranh chống gian lậnthương mại
Pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam được hình thành và phát triển kể từ khi
2001 được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2002 Qua 16 năm thực hiện, KTSTQ
đã đem lại hiệu quả tích cực cho hoạt động của Ngành Hải quan, góp phần chốnggian lận thương mại hiệu quả toàn diện hơn mà vẫn giải phóng hàng nhanh; đồngthời, ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách, truy thu hàng ngàn tỷ đồng từ công tácKTSTQ Tuy nhiên, pháp luật về KTSTQ cũng đang thể hiện nhiều hạn chế cầnđược hoàn thiện nhằm đảm bảo môi trường pháp lý cho Hải quan Việt Nam tổ chức
và triển khai hoạt động KTSTQ Một số nội dung quy định của pháp luật vềKTSTQ còn chưa phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế về KTSTQ; thiếu đồng
bộ giữa các văn bản Luật, giữa văn bản Luật và hệ thống văn bản hướng dẫn thihành; còn thiếu vắng những quy định về trách nhiệm của cán bộ công chức hải quan
ở khâu thông quan đối với những sai phạm phát hiện trong quá trình kiểm tra hànghóa sau thông quan; về các ưu đãi hải quan trong trường hợp người khai hải quantuân thủ tốt pháp luật, quy định về KTSTQ đối với một số loại hình liên quan chínhsách thương mại và số thuế khai báo; về KTSTQ trong thực hiện cơ chế một cửaquốc gia và một cửa ASEAN… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu lý luận pháp luật vềKTSTQ còn nhiều hạn chế Ở phạm vi nghiên cứu khoa học luật, khái niệm KTSTQcũng như pháp luật về KTSTQ còn là vấn đề mới, thiếu các nghiên cứu chuyên sâunên chưa hình thành được hệ thống tư duy đầy đủ, vững chắc của pháp luật về
Trang 9KTSTQ Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về cơ sở lý luận
và thực tiễn pháp luật về KTSTQ để từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiệnpháp luật có ý nghĩa cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, việcnghiên cứu pháp luật về kiểm tra hàng hóa sau thông quan trong giai đoạn hiện nay
là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn để KTSTQ thực
sự trở thành một công cụ quản lý hiện đại trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi chọn đề tài: “Kiểm tra hàng hóa sau
thông quan theo pháp luật Hải quan Việt Nam từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề kiểm tra hàng hóa sau thông quan đã được nhiều nhà khoa học quantâm nghiên cứu, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, cụ thể như: Đề án cấpngành Hải quan “Nghiên cứu phương pháp Kiểm tra hàng hóa sau thông quan đốivới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong thông quan điện tử” của nhóm tác giảthuộc Cục Hải quan thành phố Hà Nội, chủ nhiệm đề tài Văn Bá Tín năm 2012 đãtập trung nghiên cứu thực trạng quy điṇh của pháp luâṭ, phương pháp, thưc ̣ trạnghoạt động kiểm tra sau thông quan trong điều kiện thông quan điện tử Đề tài nóitrên sử dụng phương pháp tổng hợp, đánh giá những đăc ̣điểm của thủ tuc ̣hải quanđiện tử có tác động đến kiểm tra sau thông quan thông qua số liệu kết quả thực hiệnthí điểm các Quyết điṇh 149/2005/QĐ-TTg ngày 26/6/2005, Quyết định 103/2009/QĐ-TTg sửa đổi Quyết điṇh 149 nói trên về quy định thực hiện thí điểm thủ tục hảiquan điện tử Tình hình kiểm tra hàng hóa sau thông quan trong một số lĩnh vực cụthể : giá, gia công, sản xuất xuất khẩu, mã số hàng hóa, hàng hóa nhập khẩu đượcmiễn thuế trong lĩnh vưc ̣ đầu tư đươc ̣ thống kê từ năm 2007 đến năm 2012 Sốliệu chưa được cập nhật cho đến năm 2014, đặc biệt là giai đoạn biến động lớn khiHải quan Việt Nam áp dụng cơ chế một cửa quốc gia VNACCS/VCIS từ ngày01/4/2014 Tác giả Thị Mão năm 2013 chủ biên cuốn “Xây dựng phần mềm thuthập và khai thác thông tin phục vụ công tác kiểm tra hàng hóa sau thông quan”.Trên cơ sở học tập kinh nghiệm của Hải quan Nhật Bản – mô hình kiểm tra hànghóa sau thông quan Việt Nam triển khai từ năm 2014,tác giả xây dựng mô hình giả
Trang 10định gắn với bộ tiêu chí quản lý rủi ro để xác định nhóm doanh nghiệp trọng điểmcần kiểm tra hàng hóa sau thông quan, nhóm mặt hàng nhạy cảm yêu cầu kiểm trahàng hóa sau thông quan kịp thời,…Đồng thời hướng dẫn công chức thực hiện kiểmtra hàng hóa sau thông quan các bước tra cứu, tìm dữ liệu phục vụ công tác kiểm trahàng hóa sau thông quan theo hướng áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiệnđại Luận án tiến sĩ “Mô hình kiểm tra hàng hóa sau thông quan ở một số nước trênthế giới và khả năng áp dụng cho Việt Nam” của tác giả Trần Vũ Minh (2007) xuấtphát từ cơ sở lý luận về các mô hình, nghiên cứu mô hình kiểm tra sau thông quantrên thế giới để điṇh hướng xây dưṇg mô hình tại Viêṭ Nam Sử dụng khá thànhcông phương pháp so sánh giữa mô hình của các quốc gia trên thế giới như: NhâṭBản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp,…để thấy được những điểm maṇh, điểm yếucủa các mô hình trên Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để xem xét áp dụngcho mô hình kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam phù hơp ̣ thực tiễn Đề án cấpngành Hải quan của tác giả Lê Như Quỳnh năm 2007 với tiêu đề “Một số vấn đề lýluận và thực tiễn áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng và thực tiễn thủ tục hảiquan điện tử ở Việt Nam” đã hê ̣thống các chuẩn mực quốc tế tác động tới quá trìnhxây dựng và thực hiện thủ tục hải quan điện tử Trong đó, đề cập khá chi tiết vềquan niệm hải quan điện tử phân biêṭ với hải quan truyền thống, các chuẩn mực,khuyến nghi ̣của các tổ chức thương mại thế giới, Liên hợp quốc, Tổ chức hải quanthế giới để xây dựng hê ̣thống nghiệp vu ̣hải quan tự động hóa tại Việt Nam, hướngđến cơ chế một cửa quốc gia Trong cuốn “Một số vấn đề về tái cơ cấu quy trìnhnghiệp vụ hải quan” năm 2012 của nhóm tác giả công tác tại Tổng cục Hải quan đãkhái quát chung về thủ tục hải quan thông qua các nghiệp vu ̣chính: thông quanhàng hóa, chống buôn lậu và gian lận thương mại, kiểm tra sau thông quan Bằngphương pháp liệt kê, tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hảiquan, đề tài đã xây dựng khung pháp lý cơ bản về nghiệp vụ hải quan Mục đích của
đề án là nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước về hải quan thông qua việctái cơ cấu quy trình nghiệp vụ hải quan theo hướng tăng cường vị trí, vai trò nghiệp
vụ quản lý trước và sau thông quan Đề án cấp ngành của tác giả Nguyễn Anh Tàinăm 2012 “Hiệp định tạo thuận lợi thương mại trong khuôn khổ WTO và kế hoạch
Trang 11thực hiện của Hải quan Việt Nam” đặt hải quan Việt Nam trong bối cảnh hội nhậpsâu rộng với các tổ chức, liên minh kinh tế thế giới Việc thực hiện các cam kếtquốc tế nhằm tạo thuận lợi thương mại, mở rộng môi trường đầu tư trong khuôn khổWTO yêu cầu Hải quan Việt Nam phải xây dựng nhiều kế hoạch, kịch bản có địnhhướng rõ ràng, có tính ổn định lâu dài Do đó, đề án đã gợi ý một số thay đổi vềnghiệp vụ nhằm tạo thuận lợi hóa thương mại như: lộ trình cắt giảm thuế quan từngmặt hàng trọng điểm, nới lỏng các hàng rào kỹ thuật quá cứng nhắc hay định hướngquy trình kiểm tra Nhà nước về chất lượng đơn giản, hiệu quả.
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo có ý nghĩa khoa học đểtác giả kế thừa trong việc nghiên cứu, nhằm hướng đến mục tiêu chính của luận văn
là nêu được thực trạng và giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật về KTSTQ, đánhgiá đúng thực trạng pháp luật và mức độ hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vựcKTSTQ ở Việt Nam, góp phần hình thành những tri thức lý luận cũng như nhữngluận cứ khoa học để đề xuất quan điểm và giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật
về KTSTQ ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu một cách hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam vềkiểm tra hàng hóa sau thông quan
- Đánh giá việc thực thi pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan của ViệtNam từ năm 2014 đến nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về hoạt động kiểm trahàng hóa sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Cục Hải quanTỉnh Quảng Nam Tìm ra những hạn chế, bất cập cần hoàn thiện và chỉ ra nhữngnguyên nhân của hạn chế đó
-Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về KTSTQ phùhợp với tiến trình cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan, góp phần nâng cao hiệu
Trang 12quả công tác quản lý nhà nước của Hải quan Việt Nam.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của pháp Việt Nam về kiểm tra hànghóa sau thông quan và việc thực hiện kiểm tra hàng hóa sau thông quan theo quyđịnh của pháp trong thực tiễn
* Về phạm vi nghiên cứu
Đề tài này giới hạn phạm vi nghiên cứu về kiểm tra hàng hóa sau thông quantheo pháp Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2018 qua thực tiễn áp dụng tại Cục Hải
quan tỉnh Quảng Nam.
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn dựa trênphương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, sử dụng tổng hợp một số phương phápnhư thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ cáchạn chế, bất cập trong các quy định này
Đồng thời luận văn dựa vào các quan điểm, định hướng của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước về quản lý hoạt động KTSTQ trong tình hình hiện nay Các phươngpháp nghiên cứu khoa học cơ bản được áp dụng trong nghiên cứu đề tài bao gồm:Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp thống kê và so sánh Đồng thời,
sử dụng phương pháp ứng dụng thực tiễn để áp dụng quy định pháp luật về kiểm trahàng hóa sau thông quan bằng cách thu thập số liệu từ thực tế áp dụng tại tỉnhQuảng Nam Cuối cùng, luận văn sẽ tổng hợp lại vấn đề, qua đó xác định những vấn
đề còn chưa được nghiên cứu, đề cập và chỉ rõ nhằm kiến nghị đưa ra một số giảipháp cụ thể cho quá trình ban hành và thực thi pháp luật
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểmtra hàng hóa sau thông quan và pháp luật về kiểm tra hàng hóa sau thông quan.Luận văn đưa ra một số kết luận đánh giá mang tính khoa học, góp phần tạo luận cứ
về lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm tra hàng hóa sau thôngquan cũng như nâng cao hiệu quả kiểm tra hàng hóa sau thông quan tại Cục Hải
Trang 13quan tỉnh Quảng Nam.Các giải pháp của luận văn có ý nghĩa thiết thực đối với CụcHải quan tỉnh Quảng Nam và các Cục hải quan khác trong việc khắc phục nhữngyếu kém, tồn tại trong công tác kiểm tra hàng hóa sau thông quan hiện nay.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa họctrong lĩnh vực hải quan, đồng thời là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhànước về hải quan
7.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luậnvăn được kết cấu gồm 3 chương, như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm tra hàng hóa sau thông quan
và pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Chương 2: Thực trạng kiểm tra hàng hóa sau thông quan theo pháp ViệtNam từ thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
và nâng cao hiệu quả kiểm tra hàng hóa sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnhQuảng Nam
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
VÀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm tra hàng hóa sau thông quan
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của kiểm tra hàng hóa sau thông quan
1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được hình thành và hoàn thiện dần cùngvới việc hình thành và phát triển của khoa học về quản lý rủi ro (QLRR - riskmanagement) trong quá trình hoạt động của hải quan các nước trên thế giới Quản
lý rủi ro nghĩa là không quản lý toàn bộ các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu mà quản
lý dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro của các thông tin về lô hàng, quản lý theomức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, rút ngắn quy trình, thời gian thôngquan, hoặc thông quan trước, sử dụng thông tin đến trước để thông quan và nhậnngay hàng sau khi cập cảng Hoạt động này đã được Hội đồng hợp tác Hải quan,tiền thân của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), triển khai áp dụng từ những năm
1960 Theo công ước Kyoto được sửa đổi, bổ sung 1999 của (WCO), kiểm tra hànghóa sau thông quan (Post-clearance audit) hay còn gọi là “ kiểm tra hải quan trên cơ
sở kiểm toán ” (Audit- based control) Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biệnpháp do cơ quan hải quan tiến hành để kiểm tra sự chuẩn xác và trung thực của các
tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra sổ sách chứng từ, hệ thống kinh doanh hay các
số liệu thương mại do các bên có liên quan đang quản lý
Có thể thấy, KTSTQ là yêu cầu tất yếu của quản lý hải quan hiện đại, nhằmđáp ứng những đòi hỏi khách quan của quá trình hội nhập kinh tế và phát triểnthương mại quốc tế
Nhật Bản là một trong những nước áp dụng hoạt động kiểm tra hàng hóa sauthông quan đầu tiên Hải quan Nhật Bản thí điểm kiểm tra hàng hóa sau thông quan
từ năm 1967 và chính thức áp dụng hệ thống này vào năm 1968 Nhật Bản quyđịnh “Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằmthẩm định tính chính xác và trung thực của khai hải quan thông qua việc kiểm tracác chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quanđược lưu giữ bởi các tổ chức cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương
Trang 15mại quốc tế”.
Ở các nước phát triển như Đức, Mỹ, Ý, Pháp KTSTQ đã được hình thành
từ hàng trăm năm trước với việc thừa nhận quyền hạn của Hải quan trong việc kiểmtra các chứng từ có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu Pháp từ cuối thế kỷ 19 đãghi nhận quyền kiểm tra chứng từ và sổ sách kế toán của hải quan Dưới góc độ làmột nội dung mang tính thỏa thuận quốc tế, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Hộiđồng hợp tác Hải quan thế giới (Tổ chức Hải quan thế giới - WCO ngày nay) đã cónhững nghiên cứu đầu tiên về các biện pháp quản lý hải quan tiên tiến, trong đó cóbiện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan Theo Tổ chứcHải quan thế giới WCO, thì: “Duy trì và phát triển hệ thống KTSTQ là tuyệt đối cầnthiết, vì một hệ thống KTSTQ đủ mạnh có thể phát hiện và ngăn chặn mọi hình thứcgian lận thương mại, đặc biệt là gian lận qua giá, dù cho hệ thống giá tính thuế đóđược xác định theo bất cứ phương pháp nào”
Ở các nước ASEAN, trong Sổ tay hướng dẫn về KTSTQ của Tổ chức Hảiquan ASEAN được công bố tại cuộc họp Tổng cục trưởng ASEAN tại Thái Lantháng 8/2003 đã nêu: “ KTSTQ là một biện pháp hải quan có hệ thống mà cơ quanhải quan tự thỏa mãn về độ chính xác và tính trung thực của việc khai báo hải quanthông báo việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệuthương mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vàothương mại quốc tế” Hiệp định Hải quan ASEAN 2012 nêu: Sau khi giải phónghàng hóa và nhằm đảm bảo độ chính xác của các chi tiết cụ thể trong khai báo hảiquan, cơ quan hải quan của nước thành viên kiểm tra bất cứ chứng từ và dữ liệu nàoliên quan đến các hoạt động đối với hàng hóa nghi vấn
Ở Việt Nam, năm 2014 quy định: KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quanhải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác,tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trườnghợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan Việc KTSTQnhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà ngườikhai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủpháp và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhậpkhẩu người khai hải quan
Từ các khái niệm liên quan, các quan niệm có tính quốc tế và theo quy định
Trang 16của pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể xây dựng một khái niệm chung vềKTSTQ như sau: “KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan được thựchiện đối với hàng hóa sau khi đã thông quan để đảm bảo tính chính xác và trungthực của các nội dung khai báo hải quan trong quá trình xuất khẩu, nhập khẩu đốivới hàng hóa đó”.
Như vậy, xét trong tổng thể hệ thống kiểm tra hải quan, KTSTQ là khâunghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lạinhững nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuấtkhẩu, nhập khẩu Đây là một công cụ hữu hiệu đối với công tác kiểm tra hải quan,
vì nó phản ánh rõ ràng và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu được phản ánh trong các sổ sách và ghi chép của doanh nghiệp.KTSTQ cho phép cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm tra hải quan theohướng đơn giản, ưu tiên làm thủ tục hải quan nhanh chóng, thuận tiện đối với doanhnghiệp chấp hành tốt pháp nhưng vẫn đảm bảo việc ngăn chặn và xử lý hành vi viphạm pháp luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý xuất khẩu,nhập khẩu đấu tranh chống gian lận thương mại hữu hiệu nhất
1.1.2.2 Đặc điểm của kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hảiquan nhằm đảm bảo chức năng nhiệm vụ được giao Kiểm tra hàng hóa sau thôngquan là hoạt động kiểm tra do cơ quan Hải quan thực hiện theo trình tự và thủ tục
do pháp luật quy định Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được tiến hành nhằm xácđịnh việc khai hải quan có tuân thủ các yêu cầu của và các qui định liên quan đếnhoạt động xuất khẩu nhập khẩu hay không Kiểm tra hàng hóa sau thông quan đượctiến hành với sự hỗ trợ từ các nguồn thông tin liên quan Kiểm tra hàng hóa sauthông quan không chỉ áp dụng với đối tượng khai hải quan mà còn áp dụng với các
cá nhân, tổ chức tham gia vào thương mại quốc tế
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được tiến hành nhằm đánh giá tính chínhxác trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp,xuất trình với cơ quan hải quan, đánh giá việc tuân thủ pháp và các quy định kháccủa pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan.Đây là đặc điểm quan trọng của KTSTQ, cơ quan Hải quan cần tiến hành các biệnpháp nghiệp vụ một cách toàn diện nhằm khuyến khích các nhà xuất khẩu, nhập
Trang 17khẩu phát huy tính tự giác tuân thủ các quy định của pháp thông qua phần tự khai báo.
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là phương pháp kiểm tra ngược thời gian,diễn ra sau khi hàng hóa đã được thông quan Đây là một nghiệp vụ trong quản lýrủi ro Kiểm tra hàng hóa sau thông quan có hiệu quả đáng kể khi thực hiện kiểm trađối với những cá nhân, tổ chức có tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu liêntục trong một thời gian nhất định và có giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu lớndựa trên cơ sở phân tích trước thông tin về hồ sơ dữ liệu
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan không chỉ áp dụng với đối tượng khai hảiquan mà còn áp dụng với tất cả các cá nhân tổ chức trực tiếp hay gián tiếp tham giavào hoạt động thương mại quốc tế Vì vậy khi thu thập thông tin, công chức Hảiquan cần khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác: như ngân hàng, cơ quan thuế nộiđịa, các hãng bảo hiểm…Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được coi là khâu nghiệp
vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại nhữngnghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là việc kiểm tra tính xác thực của cácthông tin do người hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu (gọi tắt là chủ hàng)
đã khai báo với hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại, ngânhàng, kế toán… có liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Để thực hiện cáccuộc kiểm tra này công chức hải quan phải vận dụng các kiến thức chuyên ngànhnhư: thương mại quốc tế, ngân hàng, kế toán… trên cơ sở tư duy kiểm toán để pháthiện gian lận, sai sót Xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ này mà Tổ chức Hải quan thếgiới (World Customs Organization WCO) và Hải quan các nước gọi nghiệp vụ này
là Kiểm toán sau thông quan (Post Clearance Audit – PCA) hoặc “Kiểm toán Hảiquan” (Customs Audit), Việt Nam gọi là Kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Với những đặc điểm nêu trên, có thể thấy KTSTQ thể hiện rõ mục đích và ýnghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thươngmại của ngành Hải quan
1.1.3 Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra hàng hóa sau thông quan
1.1.3.1 Mục đích của kiểm tra hàng hóa sau thông quan
KTSTQ là kiểm tra việc chấp hành , Luật Quản lý thuế, Luật thuế xuất
Trang 18khẩu,thuế nhập khẩu cũng như các quy định khác có liên quan đến xuất khẩu, nhậpkhẩu; từ đó phát hiện, ngăn chặn tình trạng gian lận trốn thuế hoặc vi phạm , viphạm chính sách mặt hàng, nhằm mục đích:
-Đảm bảo việc kê khai hải quan được thực hiện đúng với các quy định củahải quan thông qua kiểm tra hệ thống, hồ sơ kế toán và tài sản của tổ chức thực hiệnthủ tục hải quan
- Đưa ra những biện pháp cần thiết nhằm điều chỉnh các khoản chênh lệch vềthuế trong quá trình khai báo hải quan, bao gồm cả việc chưa nộp đủ thuế đối vớiđối tượng kiểm tra và các đơn vị Hải quan liên quan
- Khuyến khích đối tượng kiểm tra tuân thủ và chấp hành các luật và quyđịnh về Hải quan
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng: Quá trình thực hiện một cuộc kiểm trahàng hóa sau thông quan thì công chức Hải quan phải kiểm tra xét đoán xem doanhnghiệp có chấp hành nghiêm các văn bản pháp quy, các quy định mà doanh nghiệp
có nghĩa vụ phải chấp hành hay không, xét về góc độ này kiểm tra hàng hóa sauthông quan thuộc loại hình kiểm toán tuân thủ
Cũng cần nói thêm rằng hoạt động kiểm tra hàng hóa sau thông quan phụthuộc rất nhiều vào pháp luật của Nhà nước, trước hết là pháp luật về thuế và các phápluật khác có liên quan như pháp luật thương mại, pháp luật tài chính - ngân hàng, pháp luật
về xử lý vi phạm, pháp luật khiếu nại, pháp luật tố tụng hành chính, pháp luật hình sự và tốtụng hình sự
1.1.3.2 Ý nghĩa của kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Nhằm tăng lợi ích giảm chi phí, so với cách thức kiểm soát hải quan truyềnthống, áp dụng biện pháp kiểm tra hàng hóa sau thông quan giúp giảm thời gianthông quan hàng hóa và doanh nghiệp có thể nhận hàng ngay sau khi hàng cập cảng
Áp dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro và kiểm tra hàng hóa sau thông quan, cơquan Hải quan có thể giải phóng phần lớn các lô hàng (lên tới 80-90% tổng số hànghoá nhập khẩu ở hầu hết các nước) và chỉ giữ lại những lô hàng có độ rủi ro cao.Những hàng hoá không bị lựa chọn được giải phóng ngay lập tức nhưng phải chịukiểm tra sau Nhờ đó mà doanh nghiệp giảm được đáng kể các loại chi phí lưu kholưu bãi và phí bảo hiểm hàng hoá
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan có thể bao quát tất cả các chế độ hải quan,
Trang 19ví dụ như tạm nhập tái xuất, gia công chế biến xuất khẩu, khu vực miễn thuế Vìvậy, cơ quan Hải quan có thể tăng cường công tác kiểm soát đối với những chế độkhông thể kiểm tra tại biên giới.
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan cho phép Hải quan thay đổi cách tiếp cận
từ kiểm tra thuần tuý sang kiểm tra toàn diện và định hướng doanh nghiệp Qua theodõi, kiểm tra, đánh giá các giao dịch của doanh nghiệp trong suốt một thời gian dài,cán bộ Hải quan sẽ đưa ra so sánh, đối chiếu dữ liệu tổng hợp (từ địa phương đếntrung ương, từ sự không nhất quán về số liệu hoặc độ chênh giữa các doanhnghiệp ) từ đó phát hiện sớm và nhận diện đúng những hành vi vi phạm, gian lậnthương mại
Hiện nay,việc kiểm tra thực tế hàng hóa tại cửa khẩu với tỷ lệ thấp, chủ yếutập trung phát hiện hàng hóa cấm xuất khẩu nhập khẩu, hàng hóa bị hạn chế xuấtkhẩu nhập khẩu.Thời gian kiểm tra tối đa của việc kiểm tra thực tế hàng hóa là 8giờ,trong trường hợp đặc biệt gia hạn không quá 2 ngày.Việc kiểm tra bộ chứng từtrong quá trình thông quan cũng đã quy định tối đa 2 giờ làm việc kể từ khi tiếpnhận để giải quyết thủ tục thông quan Do đó, việc tăng cường hoạt động KTSTQthay thế cho phương thức kiểm tra tại cửa khẩu có ý nghĩa rất quan trọng để đảmbảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan
KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu có một số ý nghĩa quan trọngnhư sau:
- Thực hiện việc chống gian lận thương mại có hiệu quả hơn mà vẫn giảiquyết được công việc thông quan hàng hóa nhanh chóng tại các cửa khẩu góp phầntích cực vào việc phát triển thương mại quốc tế
- Giúp cho khâu lưu thông hàng hóa trên thị trường nội địa phát triển thuậnlợi và bảo vệ sản xuất trong nước tích cực hơn
- Nâng cao ý thức chấp hành tốt pháp luật của doanh nghiệp nhờ đó đượcđơn giản hóa thủ tục hải quan, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa nhanhchóng, thuận tiện, từ đó doanh nghiệp giảm được chi phí
- Phát hiện và ngăn ngừa tình trạng gian lận và hoàn thuế giá trị gia tăng(GTGT) đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp
- Ngăn chặn tình trạng gian lận và trốn thuế nhập khẩu hàng hóa thuộc đốitượng chịu thuế, xử lý kịp thời chính xác những hành vi gian lận, đảm bảo nguồn
Trang 20thu cho ngân sách nhà nước.
- Phát hiện và ngăn ngừa việc nhập khẩu các mặt hàng cấm nhập khẩu, các mặt hàng quản lý hạn ngạch nhập khẩu
1.1.4 Nguyên tắc kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Các nguyên tắc KTSTQ là những chuẩn mực để công chức hải quan thực hiệnđúng nội dung KTSTQ dựa trên các phương pháp và kỹ thuật nghiệp vụ trongKTSTQ Nguyên tắc kiểm tra hàng hóa sau thông quan gồm:
Nguyên tắc đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện theo nguyên tắc này, đòi hỏi mọi hoạt động KTSTQ đảm bảo tuânthủ đúng các quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế, các chuẩn mựcquốc tế Các quy định này không chỉ là các quy định trực tiếp về hoạt động KTSTQ
mà còn bao gồm cả các quy định mà KTSTQ có liên quan, ví dụ như: , Công ướcKyoto, Quy tắc xác định xuất xứ, Nguyên tắc xác định trị giá theo GATT/WTO
Nguyên tắc chính trực, khách quan, độc lập, không gây cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị được kiểm tra.
Chính trực (hay còn gọi là liêm chính): nguyên tắc này đòi hỏi công chức hảiquan phải là người ngay thẳng, trung thực và có lương tâm nghề nghiệp không đượcphép để cho sự định kiến thiên lệch lấn át tính khách quan Mọi hành vi định kiến,thiên vị thiếu khách quan đều bị coi là vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Khách quan: theo nguyên tắc này, yêu cầu bắt buộc của mọi hoạt động kiểmtra, giám định phải luôn tôn trọng thực tế khách quan Mọi phân tích, nhận xét vàkết luận của công chức hải quan đều phải xuất phát từ thực tế khách quan Côngchức hải quan phải công minh, không định kiến, thiên vị Khi lập báo cáo phải giữthái độ vô tư, tôn trọng kết quả thực tế
Độc lập: nguyên tắc này luôn yêu cầu công chức hải quan chỉ đưa ra những kếtluận mà xét thấy là có căn cứ vững chắc, phù hợp với các chuẩn mực nghiệp vụ vàđạo đức nghề nghiệp Trong quá trình kiểm tra, công chức hải quan có thể thamkhảo hoặc sử dụng tư liệu của người khác (chẳng hạn như trợ lý, chuyên gia, kiểmtoán viên nội bộ, các nhà quản lý doanh nghiệp…) nhưng chỉ được tin vào chínhmình và phải tự chịu trách nhiệm về các kết luận của mình Công chức hải quanphải thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, không để bị vật chất, quyền lực chi phối, luôn tuân
Trang 21thủ pháp luật và qui tắc nghề nghiệp Khái niệm độc lập ở đây được hiểu là độc lập
về quan hệ gia đình và quan hệ kinh tế
Không gây cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị được kiểmtra: nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động kiểm tra trong quá trình KTSTQ tại đơn
vị phải đảm bảo không gây phiền hà, sách nhiễu, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Tuân thủ nguyên tắc này đã giúp cho hoạt độngKTSTQ ngày càng minh bạch và luôn tạo được sự hỗ trợ từ phía doanh nghiệptrong suốt quá trình KTSTQ tại đơn vị được kiểm tra
Nguyên tắc bí mật thông tin.
Khi thực hiện KTSTQ, nguyên tắc bí mật thông tin được thực hiện dựa trên cơ
sở thực hiện nghiêm túc trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm của công dân đối vớicộng đồng và với xã hội Đối với mỗi công chức KTSTQ, các thông tin phải đượcquản lý và sử dụng đúng chế độ bảo mật theo quy định của cơ quan hải quan
Nguyên tắc dẫn chứng bằng tài liệu.
Trong quá trình kiểm tra, công chức hải quan phải thu thập và ghi chép đầy
đủ, khoa học, chính xác mọi tư liệu có liên quan đến cuộc kiểm tra Với những vấn
đề quan trọng cần phải được dẫn chứng bằng tài liệu để chứng minh rằng công việckiểm tra đã được tiến hành phù hợp với những nguyên tắc kiểm tra cơ bản
Trong KTSTQ, chất lượng của bằng chứng kiểm tra được đánh giá cao hơn là
số lượng bằng chứng Các bằng chứng trong KTSTQ thường được thể hiện như:bằng chứng do công chức hải quan tự khai thác, bằng chứng do doanh nghiệp cungcấp, bằng chứng do người thứ ba độc lập cung cấp…
1.2 Pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Việc thực hiện KTSTQ nhằm đáp ứng mục đích vừa tạo thuận lợi cho hoạtđộng xuất khẩu, nhập khẩu, vừa đảm bảo được yêu cầu của công tác quản lý nhànước về hải quan Để mục tiêu này trở thành hiện thực và được thực hiện thốngnhất, các quốc gia đều ban hành các quy phạm pháp luật để KTSTQ trở thành mộthoạt động chính thống, luật định, mang tính bắt buộc và đảm bảo thực hiện bằngcưỡng chế nhà nước
Dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, hệ thống các quy phạmpháp luật điều chỉnh về lĩnh vực nào thì tạo nên pháp luật về lĩnh vực đó Các quy
Trang 22định pháp luật về thực hiện KTSTQ của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu tạo nên pháp luật về KTSTQ Để tạo thuận lợi cho hoạt độngKTSTQ, các quốc gia cần xây dựng các quy định pháp luật làm cơ sở pháp lý để cơquan hải quan tiến hành KTSTQ, làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham giaquan hệ pháp luật về KTSTQ, cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ ấy theotrình tự, thủ tục, thẩm quyền, phạm vi và nội dung luật định Mỗi quốc gia sẽ xâydựng luật và quy định dựa theo yêu cầu của quản lý hải quan ở từng nước hoặc ởcấp độ khu vực trong trường hợp nước đó là thành viên của một liên minh hảiquan.Tổng thể các quy phạm pháp luật đó có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất điềuchỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động KTSTQ đảm bảo sự tuân thủ pháp luậtcủa các đối tượng tham gia vào quá trình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, đảm bảotạo điều kiện thuận lợi thương mại quốc tế và hướng đến lợi ích của nhà nước vàtoàn xã hội.
Theo quan niệm đó, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về KTSTQ như sau:pháp luật về KTSTQ là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hànhhoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiệnKTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan nhằm đánh giá,thẩm định tính tuân thủ pháp luật của đối tượng thực hiện hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu
1.2.2 Đặc điểm,tính chất của pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan là một bộ phận đặc thù của phápluật hải quan Dưới góc độ khoa học pháp lý, pháp luật hải quan là tổng thể các quyphạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước vềhải quan, bao gồm hoạt động của các cơ quan hải quan và của các chủ thể khácđược hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động chấp hành điềuhành của nhà nước trong lĩnh vực hải quan nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trongnước, bảo vệ chủ quyền, lợi ích đất nước về mặt kinh tế; góp phần bảo vệ an ninhkinh tế, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ cộng đồng
Pháp luật hải quan điều chỉnh các quan hệ xã hội theo từng lĩnh vực quản lý
cụ thể, mà tương ứng mỗi lĩnh vực quản lý đó là một chế định pháp luật điều chỉnh
để đảm bảo từng mục tiêu mục đích riêng, từ đó tạo ra mục đích chung của chế địnhpháp Pháp luật điều chỉnh ở từng lĩnh vực quản lý đó sẽ tạo thành các thành phần
Trang 23của pháp luật hải quan Với cách tiếp cận đó, có thể xác định pháp gồm các thànhphần chính sau: Pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; Pháp luật
về KTSTQ; Pháp luật về ưu tiên hải quan; Pháp luật về quản lý rủi ro hải quan;Pháp luật về thu thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Pháp luật về kiểm soát chốngbuôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và xử lý vi phạm trong lĩnhvực hải quan; Pháp luật về tổ chức bộ máy hải quan
Như vậy, pháp luật KTSTQ không phải là một ngành luật độc lập mà là một
bộ phận của pháp luật hải quan Nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa pháp luậtKTSTQ với các bộ phận của pháp để làm rõ tính đặc thù của pháp luật về KTSTQ.Tính đặc thù thể hiện:
Thứ nhất, trong mối quan hệ với pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra
giám sát ở khâu thông quan, pháp luật về KTSTQ điều chỉnh hoạt động hậu kiểmcủa cơ quan hải quan
Pháp luật hải quan quy định hoạt động kiểm tra hải quan được thực hiện vớicác hình thức: Kiểm tra trước khi thông quan, kiểm tra trong quá trình thông quan
và kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan Trong đó, pháp luật về thủ tục hảiquan, kiểm tra giám sát quy định kiểm tra trước thông quan là khâu sử dụng hệthống cơ sở thông tin dữ liệu có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để cơquan hải quan đánh giá và đưa ra hình thức kiểm tra thích hợp như miễn kiểm tra,kiểm tra theo tỷ lệ hoặc kiểm tra toàn bộ Kiểm tra trong quá trình thông quan làviệc kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế đối với hàng hóa tại cửa khẩu để đảm bảo hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu đúng với khai báo hải quan về hình dáng, kiểu cách, tínhchất lý hóa Pháp luật về KTSTQ là biểu hiện của yêu cầu cải cách, hiện đại hóahải quan với việc chuyển quá trình kiểm tra của hải quan từ “tiền kiểm” sang “hậukiểm” Điều này giảm thiểu việc ách tắc hàng hóa, giảm thời gian thông quan, giảmchi phí doanh nghiệp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩyphát triển thương mại quốc tế
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan thay cho việc kiểm tra trước và trongthông quan đáp ứng đòi hỏi của quá trình lưu thông hàng hóa, là yếu tố giảm thiểuchi phí sản xuất, chi phí lưu thông, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trênthị trường trong nước và quốc tế Để đảm bảo được yếu tố này, pháp luật vềKTSTQ sẽ được triển khai thực hiện dựa trên cơ sở đầu vào của pháp luật về quản
Trang 24lý rủi ro để xác định đối tượng, phạm vi KTSTQ, giúp cho cơ quan hải quan tậptrung được nguồn lực chủ yếu vào việc KTSTQ các lĩnh vực, đối tượng có rủi rocao để tạo điều kiện cho thương mại phát triển cũng như hạn chế các khó khăn do tự
do hóa thương mại đem lại Đồng thời, thể hiện yếu tố đầu ra cho pháp luật về ưutiên hải quan, áp dụng đối với doanh nghiệp đảm bảo các tiêu chí luật định của phápluật quốc gia, trong đó có yếu tố được xác định tuân thủ pháp luật sau khi có kết quảKTSTQ, qua đó phát huy tối đa thuận lợi pháp luật dành cho doanh nghiệp, nângcao hiệu quả quản lý của cơ quan hải quan
Thứ hai, pháp luật về KTSTQ song hành cùng pháp luật về thuế và pháp luật
về xử lý vi phạm, đảm bảo chống thất thu ngân sách, chống gian lận thương mại vàthực hiện xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hải quan và trong lĩnh vực thuế.Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của cơ quan Hải quan là thực hiện việc thu thuế đốivới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, mục tiêu của hải quan hiện đại là đảm bảo tạođiều kiện thuận lợi cho thương mại phát triển nhưng cũng phải đảm bảo quản lýchặt chẽ để chống thất thu ngân sách Trong quá trình thực thi pháp luật về KTSTQ,trường hợp xác định việc khai báo hải quan có sai phạm, cơ quan hải quan sẽ tiếnhành truy thu thuế và xử lý vi phạm theo luật định
Thứ ba, pháp luật về KTSTQ trong quan hệ với pháp luật về tổ chức bộ máy
hải quan, thể hiện chiến lược quốc gia và yêu cầu phát triển lực lượng hải quan hiệnđại Nằm trong hệ thống tổ chức bộ máy hải quan, bộ máy tổ chức trong KTSTQthể hiện cơ cấu tổ chức của các bộ phận trong hệ thống KTSTQ Quy mô bộ máy tổchức trong KTSTQ sẽ tùy thuộc vào chiến lược phát triển hệ thống KTSTQ của mỗiquốc gia, tùy thuộc vào nguồn nhân lực KTSTQ và khối lượng công việc mà côngchức hải quan phải thực hiện trong quá trình KTSTQ, thông thường sẽ được thểhiện dưới các hình thức như:
- Không tổ chức đơn vị chuyên trách trong lĩnh vực KTSTQ mà phân côngcác bộ phận đảm nhiệm các công việc của KTSTQ Điển hình là bộ máy tổ chứcKTSTQ của Hải quan Pháp, các bộ phận chuyên trách có chức năng tương tự nhưKTSTQ đó là: Cấp tổng Cục có Cục DED trực thuộc DRNED (Cơ quan quốc gia vềđiều tra và tình báo hải quan), Cục DED là đơn vị điều tra chống gian lận thươngmại, trốn thuế và được quyền kiểm tra tại doanh nghiệp tương tự như bộ phậnKTSTQ ở các nước khác; Cấp Hải quan vùng có 3 bộ phận liên quan đến KTSTQ là
Trang 25phòng POC (định hướng kiểm tra), phòng CROC (thu thập thông tin phục vụKTSTQ), phòng SRE (trực tiếp kiểm tra).
- Tổ chức đơn vị chuyên trách thực hiện KTSTQ Trong bộ máy chuyêntrách đó, sẽ gồm các bộ phận được phân cấp Cách thức tổ chức bộ máy này đượcnhiều nước xây dựng và thực hiện Chẳng hạn bộ máy tổ chức KTSTQ của Hảiquan Trung Quốc bao gồm các bộ phận như: Cao ủy Hải quan, Cục Điều tra, Hảiquan vùng và các bộ phận kiểm toán; Bộ máy tổ chức KTSTQ theo mẫu của hảiquan ASEAN: mỗi đơn vị KTSTQ sẽ có hai bộ phận trực thuộc phụ trách công việcthông tin và kiểm tra doanh nghiệp…
Để hệ thống KTSTQ phát triển và có hiệu quả, hải quan các nước cần phảixây dựng bộ máy tổ chức KTSTQ hiện đại, chuyên nghiệp, chuyên sâu phù hợp vớichuẩn mực quốc tế, hoạt động hiệu quả tập trung thống nhất từ trung ương đến địaphương đáp ứng với yêu cầu của quản lý hải quan hiện đại
Thứ tư, pháp luật về KTSTQ có liên quan với nhiều ngành luật khác Với
chức năng thẩm định tính trung thực của quá trình khai báo hải quan đối với hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu, pháp luật về KTSTQ liên quan đến pháp luật thương mạivới các quy định về chính sách thương mại, chính sách mặt hàng, các quy định về
sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa ; việc thực hiện pháp luật về thuế với các sắc thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế bảo vệmôi trường Liên quan đến quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu có yếu tố nước ngoài, pháp luật về KTSTQ có quan hệ với pháp luật về tàichính - ngân hàng với các quy định về thanh toán quốc tế, ngoại hối nhằm xác địnhtính chân thực của giao dịch ngoại thương; đồng thời liên quan đến xử lý các hành
vi gian lận trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan; pháp luật về KTSTQ có mốiquan hệ với pháp luật khiếu nại tố cáo; pháp luật xử lý vi phạm hành chính vàcưỡng chế thi hành quyết định hành chính; pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, tổchức điều tra hình sự
Bên cạnh đó, Pháp luật về KTSTQ có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ vớicác quy định của pháp luật quốc tế do quá trình liên kết hóa, quốc tế hóa quan hệkinh tế giữa các quốc gia trong khu vực và toàn cầu Hoạt động hải quan luôn cóliên quan đến yếu tố nước ngoài với nhiều thỏa thuận, công ước quốc tế đa phương
và song phương được các quốc gia ký kết, tham gia hoặc công nhận với mục đích
Trang 26điều chỉnh quan hệ hải quan giữa các nước nhằm tạo thuận lợi cho hoạt độngthương mại, du lịch như: Công ước thành lập Hội đồng hợp tác hải quan, Côngước Kyoto về đơn giản hóa thủ tục hải quan, Hiệp định chung về thuế quan vàthương mại (GATT) và Công ước thi hành Điều VII Hiệp định này về xác định trịgiá hải quan, Hiệp định Hải quan ASEAN, Hiệp định đối tác xuyên Thái BìnhDương (TPP)
Sự đa dạng trong mối liên hệ giữa pháp luật về KTSTQ với các ngành luậtkhác, làm cho pháp luật về KTSTQ trở thành một bộ phận đặc thù của pháp
1.2.3 Nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan của các nước không giống nhau về têngọi, cơ cấu tổ chức, môi trường pháp lý nhưng lại hoàn toàn giống nhau về chứcnăng cơ bản đó là phát hiện và ngăn chặn gian lận thương mại trong hoạt động xuấtkhẩu, nhập khẩu thông qua việc thực hiện các cuộc KTSTQ Pháp luật về KTSTQ làtổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những nhóm quan hệ sau đây:
Một là, nhóm các quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý của các chủ thể KTSTQ và đối tượng KTSTQ Pháp luật về KTSTQ điều chỉnh quan hệ giữa một
bên là cơ quan hải quan và một bên là tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuấtkhẩu, nhập khẩu nhằm thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tụchải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan Chủ thể vềkiểm tra hàng hóa sau thông quan chính là cơ quan hải quan được giao nhiệm vụkiểm tra hàng hóa sau thông quan các cấp (cấp Tổng cục Hải quan là Cục KTSTQ
và cấp cục Hải quan tỉnh, thành phố là Chi cục KTSTQ) Đây là cơ quan trực tiếptiến hành các hoạt động KTSTQ, chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động nghiệp vụ vàkết quả của hoạt động KTSTQ Đối tượng KTSTQ gồm là người xuất khẩu, nhậpkhẩu (người khai báo hải quan) và các tổ chức cá nhân có liên quan, bao gồm ngườixuất khẩu nhập khẩu ủy thác, chủ sở hữu hàng hóa, người mua hàng nội địa, đại lýhải quan, đại lý kho vận, và các đơn vị khác
Hai là, nhóm các quy phạm pháp luật xác định phạm vi, nội dung tiến hành KTSTQ Xuất phát từ đặc thù của hoạt động KTSTQ là để đánh giá tính tuân thủ
pháp luật đối với hàng hóa đã được thông quan, phạm vi KTSTQ được xác định vớimặt hàng, lĩnh vực, loại hình xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp trong một
Trang 27khoảng thời gian nhất định Tùy vào các quy định pháp luật về thủ tục hải quantrong quá trình thông quan, mà phạm vi KTSTQ sẽ hướng đến kiểm tra chính sáchmặt hàng, chính sách thuế, hay kiểm tra trị giá, mã số, thuế suất, xuất xứ của cácloại hình nhập khẩu, xuất khẩu.
Để đánh giá tính chính xác, trung thực của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đãđược thông quan, nội dung kiểm tra là nhằm tái hiện bức tranh chân thực nhất củaquá trình giao dịch Do vậy, các quy phạm pháp luật quy định nội dung KTSTQ đểđảm bảo kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ sơ hải quan và chứng từ tàiliệu liên quan, tính chính xác của các căn cứ tính thuế liên quan đến hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu và việc kê khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu,được hoàn và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật trong quản lý đốivới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Ba là, nhóm các quy phạm pháp luật xác định trình tự, thủ tục tiến hành KTSTQ Trình tự, thủ tục thực hiện KTSTQ là cách thức, biện pháp cụ thể tiến hành
hoạt động KTSTQ được sắp xếp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo hiệuquả của hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu đã được thông quan Không có một khuôn mẫu trình tự nhất định áp dụng chomọi cuộc kiểm tra, nhưng nói một cách khái quát nhất thì trình tự tiến hành mộtcuộc KTSTQ sẽ được pháp luật các quốc gia quy định có thể có 3 bước cơ bản sau:Chuẩn bị kiểm tra; Thực hành kiểm tra; Kết thúc kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra
Bốn là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định hậu quả pháp lý của hoạt động KTSTQ Với chức năng cơ bản là thẩm định tính trung thực của doanh nghiệp
xuất khẩu, nhập khẩu trong quá trình làm thủ tục hải quan, mục đích của KTSTQ làphát hiện và ngăn chặn gian lận thương mại, các hành vi vi phạm pháp luật quản lýhoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Hậu quả pháp lý sẽ gắn với các kết luận của hoạtđộng KTSTQ Trường hợp doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật sẽ được hưởng các
ưu đãi thực hiện trong quá trình xuất khẩu, nhập khẩu tiếp theo Trường hợp doanhnghiệp có hành vi vi phạm, hậu quả pháp lý của KTSTQ sẽ mang tính quyền lực,cưỡng chế nhà nước với việc xử lý truy thu số thuế còn thiếu trong thông quan, xửphạt vi phạm hành chính, khởi tố vụ án nếu xét thấy có dấu hiệu tội phạm
1.2.4 Các yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
- Tính đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ của pháp luật kiểm tra hàng hóa sau
Trang 28thông quan và hệ thống pháp luật về thuế và các văn bản pháp luật khác có liênquan đến hoạt động KTSTQ Đây là yếu tố chi phối rất lớn tới hiệu quả thực hiệnpháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan Hoạt động KTSTQ thu được kết quảnhư thế nào tùy thuộc vào sự Tính đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ trong quy định củapháp luật về KTSTQ.
- Các quy định pháp lý và việc thực hiện hệ thống kế toán doanh nghiệp Ởnhiều quốc gia, thương mại không chính thức tồn tại phổ biến với hệ thống kế toánnghèo nàn hoặc không tồn tại hệ thống kế toán, thanh toán bằng tiền mặt hoặcdoanh nghiệp không có trụ sở cố định… Khi đó, kiểm tra tại cửa khẩu là cơ hội duynhất để tiến hành kiểm tra thông qua kỹ thuật quản lý rủi ro Trong trường hợp này,WCO khuyến nghị cơ quan hải quan nên tiếp tục khuyến khích tuân thủ và đảm bảocho những doanh nghiệp này được tạo điều kiện để chính thức hóa các quy trình thủtục của họ phù hợp với yêu cầu của cơ quan hải quan Rõ ràng, đây cũng là yếu tốảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về KTSTQ khi đó chế độ kế toán doanhnghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình kiểm tra và hiệu quả kiểm tra của cơquan hải quan trong KTSTQ
- Các quy định pháp lý và việc thực hiện hệ thống kiểm toán cũng ảnh hưởngđến hoạt động KTSTQ, theo kinh nghiệm thực tế của Hải quan các nước và khuyếncáo của Tổ chức Hải quan thế giới WCO thì việc duy trì và phát triển nghiệp vụkiểm toán sẽ giúp cho ngành Hải quan chống gian lận thương mại có hiệu quả toàndiện hơn mà vẫn giải phóng hàng nhanh hơn do đó góp phần tích cực hơn vào pháttriển thương mại quốc tế; Đảm bảo cho việc chấp hành , các qui định về xuất khẩu,nhập khẩu và các hiệp định thương mại quốc tế nghiêm túc hơn; Giúp cho khâu lưuthông hàng hóa trên thị trường nội địa phát triển thuận lợi và bảo vệ sản xuất trongnước tích cực hơn; Ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách
- Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp được KTSTQ Vớitrình độ và ý thức pháp luật cao thì họ luôn có thiện chí hợp tác cùng cơ quanKTSTQ Ngược lại, họ cũng có thể che giấu, giả mạo hoặc tìm cách lẩn tránh, kéodài thời gian làm công tác KTSTQ bị chậm trễ hoặc kết quả KTSTQ không đánhgiá chính xác được sự chấp hành pháp luật của doanh nghiệp hoặc cá nhân đó
- Năng lực quản lý, điều hành của lãnh đạo hải quan và nghiệp vụ của cán bộcông chức trong quá trình thực hiện hoạt động KTSTQ Kiểm tra hải quan được
Trang 29thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc chấp hành pháp luật của chủhàng, mức độ rủi ro vể vi phạm pháp để đảm bảo quản lý Nhà nước về hải quan vàkhông gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp.
- Năng lực, phẩm chất của lực lượng KTSTQ: KTSTQ là công việc khó vì nóbao gồm nhiều kỹ thuật của kiểm toán, thanh tra, điều tra…; đồng thời là công việcnhạy cảm do có tác động trực tiếp đến quyền lợi của doanh nghiệp Do vậy, nănglực trình độ, phẩm chất của lực lượng KTSTQ là yếu tố quan trọng để đảm bảo chopháp luật về KTSTQ được thực hiện đúng tinh thần, bản chất của nó, đảm bảo hiệulực và hiệu quả quản lý hải quan
- Phương pháp KTSTQ và các kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng trong
KTSTQ: Phương pháp KTSTQ là cách thức thực hiện các nghiệp vụ KTSTQ của cơquan hải quan trên cơ sở nội dung KTSTQ Phương pháp KTSTQ được áp dụng chủyếu là: phương pháp kiểm toán, phương pháp quản lý rủi ro
- Sự khác nhau về phong tục tập quán, văn hóa - xã hội cũng như sự tác độngcủa yếu tố chính trị, kinh tế từng địa phương cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quảthực hiện pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan
1.3 Pháp luật và chuẩn mực kiểm tra hàng hóa sau thông quan của một
số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Đến nay, kiểm tra hàng hóa sau thông quan đã trở thành thông lệ phổ biếntrên thế giới, được tất cả Hải quan các nước thành viên WCO áp dụng Tuy nhiên,dưới đây chỉ lựa chọn tham khảo pháp luật của các nước Nhật Bản,Trung Quốc,Hàn Quốc, và chuẩn mực về KTSTQ của Asean để đúc kết được những bài họckinh nghiệm quý báu về việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động kiểm tra hànghóa sau thông quan ở Việt Nam
1.3.1 Pháp luật của Nhật Bản về kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Hải quan Nhật Bản là một trong số những cơ quan Hải quan tiên tiến nhấttrên thế giới trong WCO, nổi bật trong các lĩnh vực áp dụng các kỹ thuật quản lýHải quan hiện đại Trên tinh thần hợp tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản, Chínhphủ Nhật Bản đã dành cho Việt Nam gói hỗ trợ toàn diện để phát triển và xây dựng
dự án “Xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửaphục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam” (Hệ thống VNACCS/VCIS) Với việcứng dụng kỹ thuật thông quan điện tử của Nhật Bản tại Việt Nam, việc nghiên cứu
Trang 30tham khảo pháp luật KTSTQ của Nhật Bản có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao trongquá trình thực hiện cải cách, hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam.
Pháp luật kiểm tra hàng hóa sau thông quan được thực hiện tại Nhật Bản từnăm 1968, với các nội dung:
- Quy định về nguyên tắc KTSTQ: Quản lý rủi ro là công cụ hỗ trợ có hiệuquả nhất và đặc trưng nhất của Hải quan Nhật Bản, được thực thi dựa trên một nềntảng công nghệ thông tin hoàn hảo Trong quá trình thông quan, Hải quan Nhật Bản
áp dụng Hệ thống thông quan tự động (NACCS - Nippon Automatic CargoClearance System), tạo nên một cơ sở dữ liệu dùng chung cho các cơ quan Hảiquan, doanh nghiệp và bên thứ ba có liên quan khác, với thẩm quyền truy cập khônghạn chế
- Quy định về thẩm quyền KTSTQ: Thẩm quyền của cơ quan Hải quan khitiến hành KTSTQ được quy định tại điều 105 (khoản 1, tiết 6) 2004 của Nhật Bản.Theo đó, cơ quan Hải quan có quyền tiến hành thẩm tra bất cứ nhà nhập khẩu hayđối tượng có liên quan nào, tuy nhiên không được hiểu là sự phê chuẩn cho phépđiều tra các hành vi vi phạm hình sự
- Quy định về đối tượng KTSTQ: Hải quan Nhật Bản không chỉ quy địnhviệc kiểm tra người khai hải quan, mà còn kiểm tra các bên thứ ba có liên quan nhưNgân hàng, đại lý thủ tục hải quan, người mua hàng nội địa… Cơ sở khoa học củavấn đề này là, trong rất nhiều trường hợp, hàng hóa sau khi nhập khẩu không thuộcquyền sử dụng, sở hữu của người nhập khẩu Khi đó, các thông tin chính xác củahàng hóa không còn được lưu giữ, và có thể không nằm trong sự kiểm soát củangười nhập khẩu Việc cơ quan Hải quan tiến hành tìm hiểu thông tin từ bên thứ ba
có liên quan có thể sẽ cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn, chính xác hơn về giao dịchnhập khẩu cần kiểm tra
- Quy định về xử lý vi phạm: Hải quan Nhật Bản dựa trên nền tảng duy trì sựcông bằng trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, đồng thời khuyến khíchviệc tự tuân thủ, tự tính thuế của doanh nghiệp Khi nhân viên KTSTQ nhận thấydấu hiệu gian lận về giá tính thuế trên bảng tự tính thuế thì tiến hành điều chỉnhthuế chênh lệch Ngoài việc phải nộp bổ sung số thuế chênh lệch, doanh nghiệp sẽphải nộp thêm một khoản tiền thuế (Additional Tax) bằng 10% số thuế tăng thêmsau khi đã điều chỉnh (, Điều 12-2-1) Đồng thời, tại điều 114 cũng quy định rằng,
Trang 31bất cứ đối tượng nào không trả lời hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật đối với cácyêu cầu thẩm tra của cơ quan Hải quan được quy định tại điều 105 (khoản 1, tiết 6),hoặc từ chối, cản trở, không hợp tác với cơ quan Hải quan trong việc xác định nghĩa
vụ đầy đủ về thuế, sẽ bị phạt không vượt quá 500.000 yên
- Quy định về quy trình KTSTQ: được chia thành 3 bước là lựa chọn đốitượng, kiểm tra thực tế, đánh giá kết quả kiểm tra Trong đó lựa chọn đối tượngkiểm tra là bước quan trọng nhất, được thực hiện theo từng công việc như: lập hồ sơ
về các đối tượng kiểm tra tiềm năng, đánh giá rủi ro và xác định đối tượng kiểm tra.Công tác lập hồ sơ về các đối tượng kiểm tra tiềm năng, được thực hiện thông quamột loạt các hoạt động thu thập, phân loại, xử lý và phân tích thông tin nhằm đánhgiá mức độ rủi ro của các đối tượng kiểm tra tiềm năng Kết quả là một hệ thống dữliệu với đầy đủ các tiêu chí thông tin về đối tượng kiểm tra tiềm năng
-Quy định về tiêu chuẩn của cán bộ làm công tác KTSTQ: Để đảm bảo thựchiện tốt chức trách, nhiệm vụ, Hải quan Nhật Bản yêu cầu mọi nhân viên làm côngtác KTSTQ phải có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về 03 lĩnh vực: lĩnh vực chung, cácvấn đề nghiệp vụ hải quan và các vấn đề về doanh nghiệp
1.3.2 Pháp luật của Trung Quốc về kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Hải quan Trung Quốc thực hiện cải cách từ năm 1994 với mục đích xây dựngchế độ quản lý hải quan hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế, hài hòa giữa quản lýchặt chẽ và tạo thuận lợi cho thương mại Song song với tiến trình đó, hệ thốngKTSTQ được thiết lập và thực thi năm 1994 Luật và các quy định trợ giúp công tácKTSTQ của Hải quan Trung Quốc gồm có ; các quy định về xử phạt vi phạm hànhchính; các quy định về kiểm toán độc lập; biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu; Luật Kếtoán và Điều lệ KTSTQ Trên cơ sở đó, pháp luật của Trung Quốc về KTSTQ điềuchỉnh những nội dung sau:
- Quy định về phương thức hoạt động của KTSTQ: Hệ thống KTSTQ củaHải quan Trung Quốc hoạt động theo phương thức kết hợp giữa phân tích rủi ro vàKTSTQ Cơ quan Hải quan lựa chọn các mặt hàng và doanh nghiệp có mức độ rủi
ro cao để kiểm tra thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu rủi ro liên quan đếnhoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp Bằng cách đó, cơ quan Hải quan
có thể nâng cao độ chính xác và hiệu quả kiểm tra Việc kiểm tra của cơ quan Hảiquan có thể giúp cho doanh nghiệp tuân thủ các quy định chung thông qua việc phát
Trang 32hiện và sửa chữa các sai sót trong quá trình hoạt động.
- Quy định về đối tượng KTSTQ: Hải quan Trung Quốc thực hiện KTSTQđối với những doanh nghiệp, tổ chức liên quan trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu sau đây: Các doanh nghiệp, tổ chức tham gia vào hoạt động ngoạithương; hoạt động gia công quốc tế; hoạt động trong lĩnh vực kho ngoại quan; hoặc
có liên quan đến hàng hóa thuộc diện ưu đãi miễn thuế, giảm thuế; hoạt động đại lýthủ tục hải quan và các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu do Tổng cục Hải quan quy định
- Quy định về nội dung KTSTQ: Nội dung KTSTQ gồm Giấy phép xuấtkhẩu, nhập khẩu; Thu thuế và lệ phí khác; Hàng hóa đang chịu sự quản lý hải quangồm hàng nhập khẩu, hàng hư hỏng, trong kho ngoại quan, vận chuyển, gia công,bán, triển lãm và tái xuất; Sử dụng và quản lý hàng miễn thuế, giảm thuế; Tình hìnhhoạt động của đại lý thủ tục hải quan; Các hoạt động khác liên quan đến xuất khẩu,nhập khẩu
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của Hải quan Trung Quốc trong KTSTQ:
Để thực thi hoạt động KTSTQ, Hải quan Trung Quốc được đảm bảo các quyền đểthực hiện kiểm tra, sao chụp và yêu cầu cung cấp hồ sơ tài liệu; kiểm tra hoạt độngsản xuất và kinh doanh cũng như hàng hóa liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu; thẩm vấn đại diện đối tượng kiểm tra Tương ứng là nghĩa vụ tuân thủ các quyđịnh của pháp luật, chuẩn mực nghề nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đốitượng kiểm tra, không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanhcủa đối tượng kiểm tra
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng kiểm tra: Đối tượng kiểm tra
có quyền được thông báo; quyền khiếu nại và giải trình; quyền yêu cầu bồi thường;quyền yêu cầu cơ quan Hải quan chứng minh thẩm quyền theo quy định của phápluật Các nghĩa vụ luật định là lưu giữ sổ sách kế toán, tài liệu chứng từ khác có liênquan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật; tuân thủ việckiểm tra và xuất trình, cung cấp hồ sơ tài liệu theo yêu cầu kiểm tra
1.3.3 Pháp luật của Hàn Quốc về kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Pháp luật KTSTQ là đặc trưng của Hải quan Hàn Quốc - một hệ thống hảiquan hiện đại, vừa đảm bảo thông quan nhanh, đồng thời đảm bảo thu thuế chínhxác Pháp luật KTSTQ được thực hiện trên các quy định về kiểm toán hải quan
Trang 33nhằm kiểm tra tính chính xác của trị giá khai báo và khai báo thuế do người nộpthuế tự tính và khai báo với cơ quan hải quan, với những nội dung cụ thể sau:
- Quy định về thời điểm kiểm toán: Việc kiểm toán hải quan có thể đượctiến hành trước khi hàng hóa được thông quan (kiểm toán trước - preaudit) hoặc saukhi hàng hóa được thông quan (kiểm toán sau - post-audit hoặc KTSTQ - post-clearance audit)
Kiểm toán trước được thực hiện vào thời điểm khai báo, nhằm xác định tínhchính xác của trị giá có thể được tính thuế và khai báo thuế do người nộp thuế tựtính Các vấn đề cần được kiểm tra trong khâu kiểm toán trước này là phân loạihàng hóa, thuế suất, trị giá tính thuế, thuế nội địa, hoàn thuế Hàng hóa thuộc đốitượng kiểm toán trước được xác định là hàng được miễn thuế hoặc được thanh toántừng phần theo quy định của pháp Hàn Quốc, hoặc hàng hóa có độ rủi ro cao nhưhàng hóa chậm nộp thuế, hàng hóa của chủ hàng có mức độ tuân thủ pháp luật kém,hàng hóa có bằng chứng nghi ngờ và xác định rằng việc kiểm toán sau có thể không
đủ hữu hiệu có nguyên nhân từ ảnh hưởng của biến động giá cả quốc tế được thảnổi
Kiểm toán sau được Hải quan Hàn Quốc áp dụng từ tháng 7 năm 1996, nhằmđối phó với tình trạng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu gia tăng vô cùng nhanhchóng, đồng thời nhằm tăng cường hiệu quả của hệ thống thông quan Theo môhình nghiệp vụ mới này, hàng hóa được thông quan ngay sau khi nhân viên hải quankiểm tra những chi tiết khai báo cơ bản thuộc hồ sơ hải quan, bao gồm hóa đơn, vậntải đơn và chứng từ khác, đồng thời thực hiện thu thuế và các loại lệ phí phải nộp
Độ chính xác và tuân thủ sẽ được kiểm tra sau khi hàng hóa được thông quan
- Quy định về các trường hợp KTSTQ: Trên cơ sở quy định về thời điểm tiếnhành kiểm toán trước và kiểm toán sau nêu trên, pháp luật KTSTQ của Hải quanHàn Quốc quy định 3 trường hợp KTSTQ, gồm:
+ Kiểm tra ngay cùng thời điểm thông quan (hay còn gọi là kiểm tra theotừng trường hợp cụ thể - audit by case) Trong trường hợp này, KTSTQ được tiếnhành ngay lập tức hoặc sau từ 1 đến 2 ngày làm việc, nếu cơ quan Hải quan có cơ sởnghi ngờ và thấy cần thiết phải tiến hành kiểm toán về thuế Thời hạn hiệu lực củakiểm tra theo trường hợp cụ thể là 90 ngày kể từ khi chấp nhận khai báo Việc lựachọn đối tượng được thực hiện tự động thông qua hệ thống quản lý rủi ro của cơ
Trang 34quan Hải quan Nhân viên kiểm toán cũng có trách nhiệm rà soát kết quả và cậpnhật kết quả kiểm tra vào hệ thống cơ sở dữ liệu Loại kiểm toán này chủ yếu thựchiện trên giấy tờ, chứng từ có sẵn, và thực hiện tại cơ quan Hải quan cũng như điểmlàm thủ tục hải quan (kiểm tra tại bàn - paper-based audit).
+ Kiểm tra theo kế hoạch (Planned audit) Được Hải quan Hàn Quốc áp dụng
từ năm 2000 Mục đích là kiểm tra các giao dịch về các hàng hóa đặc biệt, ví dụ nhưhàng hóa có độ rủi ro cao, hoặc các sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp, nhằmngăn chặn thất thoát về thuế Để phân tích và xử lý thông tin có hiệu quả, cơ quanHải quan Hàn Quốc đã thiết lập Cơ sở dữ liệu Hải quan (Customs Data Warehouse)
và Quy trình phân tích xử lý trực tuyến (On Line Analytical Processing), cho phépphân tích tích hợp dữ liệu thông quan Hải quan với các dữ liệu bên ngoài khác.Thông qua quá trình phân tích và xử lý thông tin này để lựa chọn đối tượng có khảnăng rủi ro về trốn thuế cao Trường hợp phát hiện lỗi nghiêm trọng trong quá trìnhkiểm toán, vụ việc sẽ được chuyển sang cơ quan điều tra có thẩm quyền
+ Kiểm tra tổng thể (Comprehensive audit) Theo hai hình thức KTSTQ trên,mức độ hiệu quả còn thấp và mức độ tuân thủ của các đơn vị kinh doanh cũng chưacao, đồng thời trách nhiệm chứng minh và chi phí có liên quan cho việc kiểm toáncủa đối tượng kiểm tra hàng hóa sau thông quan là rất lớn Vì vậy, hệ thống kiểmtra tổng thể được thiết lập nhằm giảm trách nhiệm chứng minh và tăng cường tínhhiệu quả của toàn hệ thống KTSTQ
Với việc thực hiện kiểm toán trước và kiểm toán sau, những quy định củapháp luật về KTSTQ của Hàn Quốc đã thể hiện những ưu việt khi đạt được mứcgiảm nhanh về thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp cũng như chochính phủ Gần 90% trong tổng số tờ khai nhập khẩu hàng năm đều trải qua côngđoạn KTSTQ Tuy nhiên, tỉ lệ kiểm tra cao có đòi hỏi chi phí và nhân lực lớn tươngứng, thể hiện việc ứng dụng quản lý rủi ro chưa xứng tầm, nhưng cũng làm cho hệthống thông quan trở nên an toàn hơn và đạt mức độ chặt chẽ cao hơn, đồng thờiphát huy tác dụng ngăn ngừa khả năng gian lận, giúp người nhập khẩu tiến hànhkhai báo chính xác, cẩn thận hơn
1.3.4 Chuẩn mực của Asean về kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Chuẩn mực về KTSTQ của Hải quan ASEAN thể hiện trong Hiệp định Hảiquan ASEAN 1997, sửa đổi 2012 và Hướng dẫn thực hiện kiểm tra hàng hóa sau
Trang 35thông quan (ASEAN PCA Manual) 2006, gồm những nội dung:
- Chuẩn mực về nguyên tắc KTSTQ: Quản lý rủi ro là quy định chuẩn mựccủa pháp luật KTSTQ theo chuẩn mực ASEAN Do yếu tố đầu ra của KTSTQ, haykết quả của KTSTQ được thể hiện qua 2 yếu tố là số thuế truy và mức độ tuân thủcủa đối tượng kiểm tra, nên mức rủi ro có thể có sẽ được xác định cụ thể thông quamột số tiêu chuẩn cụ thể là: Nhân thân đối tượng; Kim ngạch nhập khẩu, mặt hàngnhập khẩu; Kết quả kiểm tra và xử lý vi phạm trước đó; Các thông tin tình báo khác.Thêm vào đó, xuất phát từ mục đích truy thu thuế, hai yếu tố được xem xét tùy theomức độ ưu tiên là số thuế dự tính truy thu hoặc tính chính xác của trị giá hải quankhai báo Tùy hệ thống quản lý rủi ro của mỗi quốc gia, nhóm các đối tượng kiểmtra tiềm năng sẽ được lựa chọn từ dữ liệu thống kê khai báo hải quan
- Chuẩn mực về đối tượng KTSTQ: Đối tượng kiểm tra bao gồm các tổ chức
cá nhân liên quan đến giao dịch thương mại cần kiểm tra và hồ sơ, sổ sách, chứng từthương mại có liên quan Cho dù KTSTQ có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực, cộngđồng Hải quan ASEAN khuyến nghị nên tập trung vào việc thẩm định tính chínhxác và trung thực của khai báo hải quan được thực hiện trước đó Với mục tiêuchính như vậy, KTSTQ sẽ hướng vào hai loại đối tượng như sau: Thứ nhất là ngườinhập khẩu (người khai báo hải quan) và các tổ chức cá nhân có liên quan, bao gồmngười nhập khẩu ủy thác, chủ sở hữu hàng hóa, người mua hàng nội địa, đại lý hảiquan, đại lý kho vận, và các đơn vị khác Trong các đối tượng trên, KTSTQ tậptrung vào người khai hải quan với tư cách là người khai hàng hóa nhập khẩu với cơquan Hải quan Trong trường hợp cần thiết, KTSTQ sẽ được thực hiện với các đốitượng khác có liên quan nhằm xác minh nội dung nhập khẩu; Thứ hai là các hồ sơchứng từ có liên quan đến giao dịch nhập khẩu cần kiểm tra, bao gồm 3 loại: hồ sơhải quan, chứng từ thương mại và chứng từ kế toán
- Chuẩn mực về tổ chức bộ máy KTSTQ: Cộng đồng Hải quan ASEANkhuyến nghị các nước thành viên nên thành lập một đơn vị chuyên trách về KTSTQtại cơ quan cấp Trung ương hay các đơn vị trực thuộc Tùy thuộc vào các nguồn lựchiện có, bao gồm số lượng cán bộ đã được đào tạo nghiệp vụ KTSTQ, sự phân bổngân sách, điều kiện hoàn cảnh, đơn vị KTSTQ sẽ được mở rộng xuống các đơn vịHải quan địa phương, hoặc Hải quan vùng
Chức năng của đơn vị KTSTQ nên được chia thành hai nhóm chức năng nhỏ
Trang 36Một là hoạt động về thông tin, bao gồm các công việc như thu thập, phân loại, xử lý
và tập hợp thông tin cơ bản về đối tượng kiểm tra hàng hóa sau thông quan Hai làcác hoạt động kiểm tra tại doanh nghiệp do nhân viên KTSTQ thực hiện thông quaviệc kiểm tra hồ sơ, sổ sách và các chứng từ liên quan của đối tượng KTSTQ và cácđơn vị Hải quan liên quan Mỗi đơn vị KTSTQ sẽ có ít nhất 02 bộ phận trực thuộcđộc lập với nhau phụ trách công việc thông tin và kiểm tra tại doanh nghiệp Tại cơquan cấp Trung ương nên có một bộ phận phối hợp chịu trách nhiệm phối hợp, đánhgiá hoạt động KTSTQ trên toàn quốc; liên hệ trao đổi thông tin với các đơn vị,chuyên gia có liên quan trong các lĩnh vực trị giá hải quan, phân loại hàng hóa và viphạm hải quan
- Chuẩn mực về tiêu chuẩn cán bộ KTSTQ: Để đảm bảo thực hiện tốt chứctrách, nhiệm vụ của mình, cơ quan Hải quan cần phải có tiêu chuẩn nhất định đốivới mọi nhân viên làm công tác KTSTQ Nhân viên làm công tác kiểm tra hàng hóasau thông quan phải có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về 03 lĩnh vực: lĩnh vực chung,các vấn đề nghiệp vụ hải quan và các vấn đề về doanh nghiệp Đáp ứng nhu cầutrên, các kỹ năng và yêu cầu sau đây là rất quan trọng đối với một nhân viênKTSTQ: , các quy định và thủ tục có liên quan; Thực tiễn thương mại quốc tế;Nguyên tắc và kỹ thuật kế toán; Thủ tục và các chuẩn mực kiểm toán; Hệ thốngmáy tính; Ngoại ngữ; Mức độ nhiệt tình với công việc
- Chuẩn mực về quy trình thủ tục KTSTQ: Quy trình KTSTQ theo khuyếnnghị của cộng đồng Hải quan ASEAN gồm 3 bước: lựa chọn đối tượng kiểm tra,kiểm tra thực tế và xử lý kết quả kiểm tra Quá trình thực hiện KTSTQ cần duy trì
sự hợp tác và liên lạc thường xuyên với đối tượng kiểm tra Thêm vào đó, sự hợptác với các đơn vị chức năng khác cũng cần được duy trì để thực hiện KTSTQ cóhiệu quả Bên cạnh đó, KTSTQ cần có một số công cụ hỗ trợ cụ thể, đặc biệt làquản lý rủi ro và quản lý thông tin, được coi là đặc điểm nổi bật của KTSTQ theochuẩn mực ASEAN so với các mô hình khác
Trang 37Pháp luật về KTSTQ là lĩnh vực pháp luật mới, không chỉ với Việt Nam màcòn với cả pháp luật của các nước trong khu vực và quốc tế Pháp luật về KTSTQ làmột bộ phận của pháp và có mối quan hệ với nhiều ngành luật kinh tế, tài chính,hành chính, hình sự Dưới những tác động của hội nhập và yêu cầu phát triểnthương mại quốc tế, pháp luật về KTSTQ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảocho các nhà xuất khẩu, nhập khẩu tuân thủ pháp luật, phát hiện và ngăn chặn gianlận thương mại, ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách, nâng cao hiệu lực quản lýnhà nước của cơ quan hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.
Các yếu tố chi phối ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra hàng hóa sau thôngquan gồm: Trình độ và ý thức pháp luật của doanh nghiệp, cá nhân được KTSTQ,
Hệ thống pháp về kiểm tra hàng hóa sau thông quan, Năng lực quản lý, điều hànhcủa lãnh đạo hải quan và nghiệp vụ của cán bộ công chức trong quá trình thực hiệnhoạt động KTSTQ, Các quy định pháp lý và việc thực hiện hệ thống kế toán doanhnghiệp, Các quy định pháp lý và việc thực hiện hệ thống kiểm toán cũng ảnh hưởngđến hoạt động KTSTQ
Nghiên cứu pháp luật về KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế qua các quy địnhcủa WCO và Hải quan ASEAN, cũng như kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật vềKTSTQ của các quốc gia Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc có hệ thống hải quanhiện đại và tiên tiến, có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng Việt Nam là những bàihọc kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong tiến trình nội luật hóa các cam kếtquốc tế trong lĩnh vực hải quan, tiếp cận kinh nghiệm thực hiện công tác cải cáchhiện đại hóa hải quan đáp ứng với yêu cầu hội nhập và phát triển, rất có ý nghĩatrong việc hoàn thiện pháp luật KTSTQ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG KIỂM TRA HÀNG HÓA SAU THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CỤC HẢI QUAN TỈNH
QUẢNG NAM
quan
2.1 Thực trạng quy định pháp Việt Nam về kiểm tra hàng hóa sau thông
2.1.1 Quy định về đối tượng, phạm vi kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Theo quy định tại Điều 79 , tiết b Khoản 2 Điều 78 Luật quản lý thuế và quy
định cụ thể tại Điều 142 Thông tư 38/2015/TT-BTC thì “đối tượng KTSTQ” gồm
hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, hợp đồng mua bán hàng hóa, chứng từ chứngnhận xuất xứ hàng hóa, chứng từ thanh toán, hồ sơ, tài liệu kỹ thuật của hàng hóaliên quan đến hồ sơ đang được kiểm tra và giải trình những nội dung liên quanPhạm vi về nội dung kiểm tra: Theo quy định tại điều 141 Thông tư 38 thìphạm vi KTSTQ chia làm nhiều mức độ (tùy thuộc vào kết quả phân tích thông tin,phân tích rủi ro) như sau: Kiểm tra tất cả hoạt động XNK của một DN, trong mộtgiai đoạn; kiểm tra việc XNK một mặt hàng của một hoặc nhiều DN trong một giaiđoạn; kiểm tra một hoặc nhiều nội dung (ví dụ kiểm tra trị giá) của một hoặc nhiềumặt hàng XK, NK của một DN trong một giai đoạn; kiểm tra một hoặc nhiều loạihình XK, NK của một DN trong một giai đoạn
Việc quy định như trên là phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro và thông lệquốc tế
2.1.2 Quy định về nội dung kiểm tra hàng hóa sau thông quan
Theo quy định tại Điều 142 Thông tư 38 thì: (1) Người khai hải quan có nghĩa
vụ cung cấp xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc các hình thức có giá trịtương đương hợp đồng, hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm,chứng nhận xuất xứ hàng hoá, chứng từ thanh toán, hồ sơ, tài liệu kỹ thuật của hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến hồ sơ đang được kiểm tra và có trách nhiệmgiải trình những nội dung liên quan; cử đại diện có thẩm quyền đến làm việc với cơquan hải quan theo Quyết định kiểm tra; (2) Trong quá trình kiểm tra, nội dungkiểm tra được ghi nhận tại các biên bản kiểm tra, kèm các hồ sơ, chứng từ ngườikhai hải quan giải trình, chứng minh Đối với đối tượng chính của KTSTQ (DN và
Trang 39hoạt động XNK) thì quy định trên cơ bản phù hợp.
2.1.3 Quy định về các hình thức và phương pháp KTSTQ.
Hình thức KTSTQ được quy định tại Điều 77, Điều 78 Luật QLT; Điều 142,Điều 143 Thông tư 38, theo đó, KTSTQ được thực hiện dưới 02 hình thức: (1) kiểmtra tại trụ sở cơ quan HQ và (2) kiểm tra tại trụ sở DN Tuy nhiên, sự khác biệt ởđây là, trong khi WCO và các nước quy định rõ tình huống, mục đích áp dụng từnghình thức thì Việt Nam quy định chung cho mọi tình huống, không phân biệt mụcđích Khi áp dụng hình thức (2) thì hình thức (1) chính là giai đoạn thu thập, phântích thông tin, xác minh trước khi ra quyết định KTSTQ tại trụ sở DN
Luật QLT quy định tại các điều 77, 78 với nội dung: Cơ quan HQ thu thậpphân tích thông tin, xác minh tính chính xác, trung thực của các chứng từ thuộc hồ
sơ hải quan tại các cơ quan, tổ chức có liên quan; yêu cầu DN giải trình những vấn
đề chưa rõ hoặc có dấu hiệu sai sót; kiểm tra hồ sơ, sổ sách, chứng từ kế toán và cácchứng từ khác có liên quan đến hàng hoá XK, NK đã được thông quan lưu tại DN;trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện thì kiểm tra thực tế hàng hóa
2.1.4 Quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan và người khai hải quan trong kiểm tra hàng hóa sau thông quan
2.1.4.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan
Quy định cụ thể tại điều 81 của LHQ, nội dung: (1) Tổng cục trưởng Tổng cụcHải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra hàng hóa sau thông quan, Cục trưởng Cục Hảiquan có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Ban hành quyết định kiểm tra, thành lập Đoànkiểm tra; Gia hạn thời gian kiểm tra trong trường hợp cần thiết; Ban hành kết luậnkiểm tra; xử lý kết quả kiểm tra; quyết định xử lý theo quy định của pháp luật vềthuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người
có thẩm quyền quyết định xử lý theo quy định của pháp luật; Giải quyết khiếu nại,
tố cáo theo quy định của pháp luật; (2) Trưởng đoàn kiểm tra có nhiệm vụ, quyềnhạn sau: Tổ chức, chỉ đạo thành viên đoàn kiểm tra thực hiện đúng nội dung, đốitượng, thời hạn kiểm tra ghi trong quyết định kiểm tra; Yêu cầu người khai hải quancung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản giải trình về những vấn đề liênquan đến nội dung kiểm tra, xuất trình hàng hóa để kiểm tra trong trường hợp cầnthiết và còn điều kiện; Tạm giữ, niêm phong tài liệu, tang vật trong trường hợp
Trang 40người khai hải quan có biểu hiện tẩu tán, tiêu hủy tài liệu, tang vật liên quan đếnhành vi vi phạm pháp luật; Lập, ký biên bản kiểm tra; Báo cáo kết quả kiểm tra vớingười ban hành quyết định kiểm tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trungthực, khách quan của báo cáo đó; (3) Thành viên đoàn kiểm tra có nhiệm vụ, quyềnhạn sau: Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn kiểm tra; Báo cáokết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Trưởng đoàn kiểm tra; chịu trách nhiệmtrước pháp luật và Trưởng đoàn kiểm tra về tính chính xác, trung thực, khách quancủa báo cáo.
2.1.4.2 Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan trong KTSTQ
Quy định cụ thể tại điều 82 của LHQ, nội dung :
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 18 của Luật này;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác hồ sơ, chứng từ theo yêu cầu và chịutrách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ, chứng từ đó;
- Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra,thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
-Nhận bản kết luận kiểm tra và yêu cầu giải thích nội dung bản kết luận kiểmtra; bảo lưu ý kiến trong bản kết luận kiểm tra;
- Yêu cầu Trưởng đoàn kiểm tra xuất trình quyết định kiểm tra, giấy chứngminh hải quan trong trường hợp kiểm tra hàng hóa sau thông quan tại trụ sở ngườikhai hải quan;
- Chấp hành yêu cầu kiểm tra hàng hóa sau thông quan, cử người có thẩmquyền làm việc với cơ quan hải quan;
- Giải trình những vấn đề liên quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan; (8) Kýbiên bản kiểm tra;
- Chấp hành quyết định xử lý của cơ quan hải quan và các cơ quan có thẩmquyền
So với thông lệ quốc tế và thực tế thì quy định như vậy cơ bản là phù hợp,riêng quy định về thời hạn lưu trữ hồ sơ 05 năm là không phù hợp luật Kế toán vàquy định về thời hạn truy thu thuế tại luật QLT
2.1.5 Quy định về hoạt động thu thập, xử lý thông tin trước khi KTSTQ
Theo quy định tại Điều 141 Thông tư 38, Thu thập thông tin và xác minh phục
vụ kiểm tra hàng hóa sau thông quan: