1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUẢN LÝ VĂN HÓA TỔ CHỨC TRONG CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÕA

140 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, là người trực tiếp phụ trách khối các trường trung học cơ sở của ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, tôi luôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CAO ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ VĂN HÓA TỔ CHỨC

TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÕA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CAO ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ VĂN HÓA TỔ CHỨC

TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÕA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.140114

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHAN VĂN KHA

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô giáo trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội đã tận tình giảng dạy, quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường

Tôi xin được bày tỏ lời tri ân sâu sắc đối với người thầy hướng dẫn của tôi,

GS.TS Phan Văn Kha, người đã luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ, động viên và chia

sẻ với tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện luận văn

Đồng thời, tôi xin chân thành cám ơn tập thể lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Nha Trang cũng như các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã nhiệt tình hợp tác, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn rằng luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Với hy vọng luận văn này sẽ đóng góp tích cực vào việc quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của Thầy, Cô

và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2019

Tác giả

Cao Đình Trung

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

STT Ký hiệu Nội dung đầy đủ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt trong luận văn ii

Danh mục các bảng vii

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HOÁ TỔ CHỨC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6

1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các nghiên cứu về văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường và xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường 6

1.1.2 Quản lý văn hóa nhà trường 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Quản lý nhà trường 10

1.2.3 Giá trị 12

1.2.4 Văn hóa 13

1.2.5 Văn hóa tổ chức 14

1.2.6 Văn hóa tổ chức nhà trường 17

1.3 Văn hóa tổ chức nhà trường trung học cơ sở 19

1.3.1 Vai trò của văn hóa tổ chức nhà trường 19

1.3.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa tổ chức của trường trung học cơ sở 22

1.3.3 Các căn cứ để xây dựng văn hóa tổ chức trong trường THCS 26

1.4 Nội dung quản lý văn hóa tổ chức trong trường THCS 28

1.4.1 Lập kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường 30

1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường 31

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường 31

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc xây dựng văn hóa nhà trường 31

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa tổ chức nhà trường 32

1.5.1 Văn hóa dân tộc 32

Trang 6

1.5.2 Nhận thức và năng lực của Hiệu trưởng nhà trường 33

1.5.3 Nhận thức và năng lực của đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường 34

1.5.4 Công nghệ thông tin và truyền thông 35

1.5.5 Nền kinh tế thị trường 36

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VĂN HOÁ TỔ CHỨC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 38

2.1 Khái quát đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội thành phố Nha Trang 38

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số và nguồn nhân lực 38

2.1.2 Văn hóa và các vấn đề xã hội 39

2.1.3 Tình hình giáo dục của thành phố Nha Trang 41

2.2 Thực trạng môi trường văn hoá ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 48

2.2.1 Các chuẩn mực về mối quan hệ trong trường trung học cơ sở 48

2.2.2 Môi trường văn hoá ở các trường trung học cơ sở 48

2.3 Thực trạng văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 51

2.3.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 51

2.3.2 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về vai trò của văn hóa tổ chức trong trường trung học cơ sở 52

2.3.3 Thực trạng hành vi văn hóa ở các trường trung học cơ sở 54

2.4 Thực trạng quản lý văn hoá tổ chức trong trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 62

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển văn hóa trường THCS 63

2.4.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo các hoạt động xây dựng văn hóa tổ chức 64

2.4.3 Thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá các hoạt động xây dựng văn hóa nhà trường 70

2.5 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý văn hoá tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 73

Tiểu kết chương 2 76

Trang 7

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VĂN HÓA TỔ CHỨC TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH

KHÁNH HÒA 77

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 77

3.1.1 Nguyên tắc thống nhất, tập trung 77

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu của quá trình giáo dục 77

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, toàn diện 77

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, thiết thực và hiệu quả 78

3.1.5 Nguyên tắc tôn trọng sự đa dạng, tinh thần sáng tạo và dân chủ 79

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 79

3.1.7 Nguyê n tắc đảm bảo phát huy vai trò chủ thể của giáo viên và học sinh 79

3.2 Các biện pháp quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 80

3.2.1 Tổ chức tuyên truyền, tập huấn, quán triệt nâng cao nhận thức của các lực lượng trong nhà trường về tầm quan trọng của văn hóa tổ chức nhà trường 80

3.2.2 Lập kế hoạch xây dựng văn hóa tổ chức đáp ứng mục tiêu phát triển nhà trường trước mắt và lâu dài 82

3.2.3 Tổ chức xây dựng và tuyên bố công khai hệ giá trị cốt lõi, các chuẩn mực, tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu phát triển của nhà trường 84

3.2.4 Huy động sự tham gia và phối hợp đồng bộ tất cả các thành viên nhà trường, tổ chức lực lượng nòng cốt và các lực lượng phối hợp 86

3.2.5 Tổ chức môi trường văn hóa phát triển nhà trường 89

3.2.6 Tổ chức phòng ngừa và giải quyết các mâu thuẫn, xung đột, ngăn chặn bạo lực học đường 92

3.2.7 Thiết lập quy trình kiểm tra, giám sát và đánh giá phù hợp đối với các hoạt động xây dựng văn hóa tổ chức nhà trường 94

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 96

3.4 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường 98

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 98

3.4.2 Đối tượng được khảo nghiệm 98

Trang 8

3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 98

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 99

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng học sinh trung học cơ sở thành phố Nha Trang năm học

2018-2019 42Bảng 2.2 Thống kê số lượng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các

trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang năm học 2018-2019 44Bảng 2.3 Thống kê kết quả xếp loại hạnh kiểm năm học 2018 – 2019 ở các

trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 45Bảng 2.4 Thống kê kết quả xếp loại học lực năm học 2018 – 2019 ở các

trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 46Bảng 2.5 Nhận thức về vai trò của văn hóa tổ chức ở các trường trung học

cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 52Bảng 2.6 Kết quả khảo sát thực trạng các hành vi văn hóa của đội ngũ cán

bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 55Bảng 2.7 Thực trạng văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành

phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 60Bảng 2.8 Thực trạng quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở

thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 62Bảng 2.9 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý văn hoá

tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 74Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp

quản lý văn hóa tổ chức các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 99Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản

lý văn hóa tổ chức các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 100Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

quản lý văn hóa tổ chức các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 101

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Đánh giá mức độ vi phạm các hành vi văn hóa của học sinh các

trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 57Biểu đồ 2.2 Nguyên nhân dẫn đến vi phạm các hành vi văn hóa của học sinh

các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 59Biểu đồ 3.1 So sánh tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý

quản lý văn hóa tổ chức các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 102

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý 10

Trang 11

Văn hóa tổ chức trong nhà trường là là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ; là một hệ thống giá trị (vật chất và tinh thần); biểu hiện ở tầm nhìn, sứ mạng, triết lí, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lí, bầu không khí tâm lí, truyền thống tôn sư trọng đạo, ứng xử văn hóa … những nét văn hóa của trang trí phòng học, hệ thống cấu trúc vật lý nhà trường, những khẩu hiệu, biểu tượng, tiểu cảnh, môi trường sư phạm,… Thiếu văn hoá tổ chức, nhà trường không thể thực hiện tốt chức năng giáo dục Vì vậy xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường là vấn đề mang tính sống còn, cấp bách và thiết thực đối với nhà trường; là vấn đề quan trọng và cần thiết với các cấp lãnh đạo, quản lý và tất cả mọi thành viên trong nhà trường; là con đường đúng đắn và hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng thực sự của mỗi nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Giáo dục trung học cơ sở là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục phổ thông; là cầu nối giữa cấp tiểu học và cấp trung học phổ thông Do vậy, quan tâm, đầu tư, phát triển giáo dục trung học cơ sở chính là đảm bảo sự liên thông giữa các ngành học và tính đồng bộ trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta

Là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội của tỉnh Khánh Hòa; thành phố Nha Trang đã từng bước phát triển về chiều sâu chất lượng, đã đạt được những thành tựu đáng kể về sự nghiệp giáo dục và đào tạo, tương xứng với tầm phát triển

Trang 12

của thành phố Tuy nhiên, vì là thành phố du lịch nên mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập đã tác động lớn đến xã hội nói chung cũng như giáo dục nói riêng, nó làm cho bộ mặt văn hóa của xã hội dần bị biến dạng và đã có nhiều biểu hiện xuống cấp Sự biến dạng ấy đang từng bước xâm nhập vào các trường học trên địa bàn thành phố

Thực tế ở các trường học trên địa bàn thành phố Nha Trang cho thấy: trong môi trường học đường, nơi văn hoá được coi trọng, xây dựng và phát huy lại xảy ra những điều thiếu văn hoá;cơ sở vật chất, công cụ truyền thông, các thiết chế văn hóa ở một số nhà trường chưa đáp ứng nhu cầu dạy học, rèn luyện, vui chơi giải trí của học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục, … Tất cả điều đó đã gây ra những hệ lụy đáng tiếc cho xã hội, làm cho văn hóa nhà trường bị biến dạng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục của thành phố Để khắc phục tình trạng trên, việc xây dựng, duy trì và phát triển văn hóa tổ chức trong nhà trường là vô cùng quan trọng và rất cần thiết

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, là người trực tiếp phụ trách khối các trường trung học cơ sở của ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, tôi luôn trăn trở suy nghĩ đến việc tìm ra giải pháp đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển văn hóa tổ chức, tạo động lực thúc đẩy các hoạt động giáo dục trong các trường trung học cơ sở Do vậy, tôi đã chọn đề tài

“Quản lý văn hóa tổ chức trong các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, đề xuất các biện pháp quản lý văn hóa tổ chức trong nhà trường mang tính khả thi và phù hợp với thực tế của địa phương nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở

trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Trang 13

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Văn hóa tổ chức có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng giáo dục của các trường trung học cơ sở?

- Các giá trị cốt lõi, các chuẩn mực văn hóa của trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay?

- Thực trạng văn hóa tổ chức và công tác quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang hiện nay ra sao?

- Làm thế nào để quản lý văn hóa tổ chức nhà trường trung học cơ sở hiệu quả trong điều kiện hiện nay?

5 Giả thuyết khoa học

Công tác xây dựng văn hóa tổ chức trong các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa hiện nay còn có nhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do công tác quản lý của hiệu trưởng nhà trường chưa phù hợp Văn hoá tổ chức trong các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang sẽ được nâng cao nếu được xây dựng và áp dụng các biện pháp quản lý trên cơ sở luận cứ khoa học phù hợp với thực tiễn, hướng tới hình thành và phát triển bền vững các chuẩn mực văn hóa, các giá trị cốt lõi phù

hợp bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và đổi mới giáo dục hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của văn hóa tổ chức, xây dựng và quản lý văn hóa

tổ chức trong nhà trường

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng môi trường văn hoá và quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Đề xuất các biện pháp quản lý văn hóa tổ chức trong các trường trung học

cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý văn hóa tổ chức trong các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Trang 14

- Phạm vi khảo sát và chọn mẫu, đối tượng quan sát: cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

8 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá các văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, ngành, địa phương và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề văn hóa tổ chức và văn hóa nhà trường để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động nhằm thu thập thông tin, đánh giá thực trạng xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp

+ Điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng các phiếu trưng cầu ý kiến nhằm khảo sát ý kiến của các đối tượng: cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh về nhận thức, thực trạng, nhu cầu xây dựng văn hóa tổ chức trong các trường trung học cơ sở

+ Đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh các nhà trường, hoặc các lực lượng ngoài nhà trường, trên cơ sở đặt câu hỏi hoặc nêu vấn đề và đề nghị đối tác có ý kiến trao đổi Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin mà không cần sử dụng phiếu

+ Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát các hoạt động của giáo viên, học sinh ở lớp, ở trường; các trang thiết bị, cơ sở vật chất, cảnh quan sư phạm…nhằm thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài

+ Lấy ý kiến chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, xin ý kiến trực tiếp từ các chuyên viên, cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở nhằm đánh giá về tình hình xây dựng văn hóa tổ chức tại các nhà trường; xin ý kiến của các chuyên gia thuộc lĩnh vực quản lý giáo dục trong việc triển khai nghiên cứu và đề xuất các biện pháp xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường nhằm khảo nghiệm tính cấp thiết

và khả thi của các biện pháp

+ Tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến xây dựng văn hóa nhà trường, thực tiễn công tác xây dựng văn hóa nhà trường tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để đánh giá

Trang 15

những ưu điểm và tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất một hệ thống các biện pháp giúp các nhà trường quản lý văn hóa tổ chức có hiệu quả hơn

- Thống kê toán học: Sử dụng các hàm số toán học để xử lý kết quả nghiên cứu

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa tổ chức trường trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng quản lý văn hóa tổ chức ở các trường trung học cơ sở

thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Chương 3: Biện pháp quản lý văn hóa tổ chức trong các trường trung học cơ

sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HOÁ TỔ CHỨC

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu về văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường và xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường

- Từ đầu những năm 1930, khoa học quản lý đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ

văn hóa khi đề cập về tác động của các hành vi trong tổ chức (organizational behavior) đến hoạt động và tính hiệu quả của các hoạt động trong một tổ chức

(Tharp, 2009) Năm 1982, ấn phẩm “In Search of Excellence” của Peters và Wasserman

đã lần đầu tiên tạo ra sự quan tâm lớn của công chúng cũng như các nhà chuyên môn với nhận định rằng một tổ chức sẽ hoạt động hiệu quả nếu tổ chức đó có “văn hóa” tốt Kể từ đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu về VHTC ở góc độ hàn lâm cũng như tác động của nó đến hoạt động của các loại hình tổ chức khác nhau

- Vào những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên, thuật ngữ “văn hóa tổ

chức” (organisational culture) xuất hiện trên báo chí Mỹ và trở thành một thuật ngữ

thời thượng vào những năm 80 của thế kỷ trước Danh từ “văn hóa” đi vào kho từ vựng hàng ngày của lãnh vực quản trị được bắt đầu từ một bài báo trên tờ Tuần

Kinh doanh (Business Week, số ngày 27/10/1980) dưới nhan đề Corporate Culture:

the hard to change values that spell success or failure, và kể từ đó thuật ngữ này

đều được nhắc đến trong tất cả các sách vở, tạp chí kinh doanh Thực ra, nếu ta xem

tổ chức là một đoàn thể con người, một đoàn thể xã hội hoặc một định chế của một tập thể con người nhất định nào đó thì văn hóa đã có mặt từ lâu trong tổ chức, nhưng VHTC được chính thức, công khai thừa nhận và thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều người thì chỉ có mới đây, vào khoảng thập niên 1980

- Năm 1982, Purkey và Smith trong nghiên cứu của mình đã xác định VHNT như một kết cấu, một quá trình và một không gian của các giá trị, chuẩn mực có khả năng định hướng các thành viên dạy và học chất lượng

- Nghiên cứu của Edgar Henry Shein(1996) cho rằng VHNT cũng chính là

VHTC; bao gồm: những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values), những quan niệm chung (basic underlying assumption)

Trang 17

Trên cơ sở các tài liệu dẫn chứng về sự phát triển của các trường đại học tại

Mỹ trong 20 năm, nghiên cứu của Rexford Brown đã khẳng định nếu muốn cải thiện chất lượng một trường học phải thay đổi cấu trúc và nền văn hóa của trường

đó Trong trường học có nhiều HS có thể thuộc những dân tộc khác nhau, vùng miền khác nhau; khác nhau về ngôn ngữ địa phương, thói quen và đặc điểm truyền thống văn hóa…, có nhiều văn hóa xung đột vì vậy xây dựng VHNT là một việc làm đặc biệt quan trọng

- Năm 2003, kết quả nghiên cứu của Dewit và nhóm tác giả cũng đã cho thấy VHNT có ảnh hưởng đến kết quả học tập và hành vi của HS

- Trong bài “Văn hóa tổ chức trong việc tạo ra thay đổi cho nhà trường” do Phạm Thị Ly dịch, năm 2012, các tác giả: Keup, Jennifer R - Walker, Arianne A - Astin, Helen S - Lindholm, Jennifer A cho thấy tầm quan trọng nổi bật của VHTC đối với quá trình vận hành các hoạt động của nhà trường nhằm tạo ra sự chuyển biến cho nhà trường

- Một trong những nhà nghiên cứu giáo dục đặt nền móng cho việc nghiên cứu VHNT, người đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao trong lĩnh vực

GD, tác giả Phạm Minh Hạc trong tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa

thế kỷ XXI đã khẳng định GD nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh

hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử giữ vai trò quan trọng Ở một nghiên cứu

khác: Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường, tác giả đã khái quát văn hóa

học đường có 3 nội dung cơ bản:

Thứ nhất, phải bảo đảm về CSVC, TBGD và các phương tiện phục vụ học

tập khác; đội ngũ nhà giáo chuẩn mực

Thứ hai, nhà trường phải đảm bảo an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với

điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội,

Thứ ba, trường học là nơi người học được dạy làm người thông qua dạy chữ;

là nơi GD văn hóa ứng xử, giao tiếp; giúp mọi người sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng

- Các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Huân về văn hóa nhà trường dựa trên cách tiếp cận VHTC; những hình thái và cấp độ và tầm quan trọng của VHNT với chất lượng GD Với những công trình nghiên cứu của mình, ông là

Trang 18

một trong những tác giả đã đóng góp rất nhiều cho cơ sở lý luận về VHNT Ông cho rằng VHTC đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trên cơ sở đó mà dần dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt cho tổ chức trường học; tạo

đà cho các bước phát triển tốt hơn và nâng cao uy tín của nhà trường

- Tác giả Phạm Hồng Quang trong “Môi trường giáo dục”, xuất bản năm

2006 đã đề cập những tác động của môi trường văn hóa đến quá trình đào tạo; quá trình hình thành và phát triển nhân cách

- Tác giả Vũ Dũng với các công trình nghiên cứu của mình đã khẳng định VHNT thể hiện qua môi trường sư phạm trong và mối quan hệ ứng xử của các thành viên nhà trường

1.1.2 Quản lý văn hóa nhà trường

- Nghiên cứu của Philips, G &Wagner (2003), đã chỉ ra vai trò của các thành viên, các lực lượng của nhà trường trong việc xây dựng và đánh giá VHNT; sức mạnh của văn hóa lành mạnh, tích cực sẽ đưa nhà trường đi đến thành công; xây

dựng VHNT phải bao gồm các công cụ để đánh giá văn hóa bằng các tiêu chí; nhà

trường cần có một nền văn hóa tích cực, lành mạnh để GD toàn diện học sinh và chịu trách nhiệm về đánh giá chất lượng văn hóa của mình

- Trên báo và tạp chí, có một số bài viết đáng lưu ý Chẳng hạn, bài viết của

tác giả Đỗ Thiết Thạch “Tiến trình đổi mới văn hóa nhà trường theo mô hình các

yếu tố cơ sở của văn hóa tổ chức” đã phân tích các giai đoạn đổi mới văn hóa và các

tiến trình đổi mới VHTC nhà trường phổ thông Tác giả Lê Hữu Ái và Trần Quang Ánh cho rằng giáo dục văn hóa phải đặt trong bối cảnh giáo dục toàn diện, xây dựng đời sống phong phú, lành mạnh cho sinh viên và chỉ ra tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay

- Ở góc độ mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực, tác giả Phạm Văn Khanh và Lê Ngọc Việt lại phân tích mô hình VHNT ở ba yếu tố sau:

+ Xây dựng cảnh quan sư phạm;

+ Xây dựng môi trường sư phạm;

+ Xây dựng văn hóa giao tiếp sư phạm

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây chưa đi sâu về công tác quản lý VHTC

Trang 19

ở các trường THCS Có thể nói rằng, cho đến nay ở nước ta rất hiếm có công trình

đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng, kết quả quản lý VHTC ở các trường THCS nói chung và các trường THCS ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nói riêng

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Hoạt động quản lý xuất hiện từ khi con người biết lao động theo nhóm

Thuật ngữ Quản lý đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước phát triển với

nhiều khái niệm khác nhau, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau

Với quan điểm tiếp cận theo hệ thống, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và

Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích

của chủ thể quản lý (người quản lý) tới đối tượng quản lý – trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [3] Tác giả Lê Văn

Lập cho rằng: Quản lý là ngành khoa học, nghệ thuật và một nghề nhằm huy động

tất cả các nguồn lực (nhất là nguồn nhân lực), thông qua các quy trình, kỹ thuật, tác động có chủ đích, hướng tới việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức [24]

Quan điểm tiếp cận theo các chức năng quản lý cho rằng: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao trong môi trường luôn biến động

Xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý, tác giả người Pháp, Henri Fayol (1841 - 1925), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho

rằng: Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra [18]

Theo tác giả Phan Văn Kha, trong quản lý có hai nhân tố cơ bản, đó là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Các chủ thể quản lý thực hiện quản lý các đối tượng thông qua 4 chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo, lãnh đạo

- Kiểm tra “Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ đề chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định” [18]

Trang 20

Các công trình nghiên cứu về kế hoạch khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về bốn chức năng quản lý có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý; đó là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra Trong một chu trình quản lý, các chức năng kế tiếp và độc lập với nhau chỉ mang tính tương đối Có thể biểu diễn chu trình quản lý với bốn chức năng như sau:

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý

(Nguồn: Phan Văn Kha, Quản lý nhà nước về giáo dục, NXB ĐHQG HN, 2007).

1.2.2 Quản lý nhà trường

Nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội; trường học với tư cách là một tổ chức GD cơ sở vừa mang tính GD, vừa mang tính

xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ

Quản lý nhà trường là cấp độ QLGD vi mô và là một loại hình đặc thù của

QLGD “Quản lý trường học là quản lý giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể

quản lý là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lý trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn- nghiệp vụ, nguồn lực quản lý là con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có”

[14] Trong phạm vi luận văn, định nghĩa này được xem là công cụ nghiên cứu các

Chỉ đạo Kiểm tra

Trang 21

hoạt động quản lý của hiệu trưởng trường THCS theo tiếp cận văn hóa tổ chức dựa trên bốn chức năng hoạt động gồm: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra đánh giá

Để thực hiện mục tiêu đề ra, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nhà trường, quản lý nhà trường phải thực hiện đầy đủ các chức năng:

Chức năng lập kế hoạch: Soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý Chức năng tổ chức: Hoạt động thực hiện kế hoạch

Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng trong nhà trường làm việc theo sự kế hoạch đã định

Chức năng kiểm tra, đánh giá: xem xét tình hình thực hiện công việc, đối chiếu với yêu cầu để đánh giá đúng kết quả hoạt động

Nhà trường là một tổ chức, do vậy, VHNT là một dạng của VHTC Vì vậy VHNT ngoài những đặc trưng cơ bản của văn hóa tổ chức còn có những đặc điểm riêng Trong nhà trường, VHTC luôn được đề cao; cán bộ quản lý và nhân viên biết ứng xử hài hòa với chính mình, với những người xung quanh và với công việc đang đảm trách Họ luôn coi trọng, giữ gìn, vun đắp các giá trị truyền thống tốt đẹp đã tạo lập; luôn biết tu thân (nhìn lại mình), xử thế (sống vì mọi người) và dưỡng sinh (làm mới chính mình) Cán bộ quản lý, GV, NV và HS ý thức sâu sắc mình là thành viên trong đại gia đình.Văn hóa tổ chức nhà trường là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà trường đó Quản lý VHTC trường THCS là một hướng quản lý mới có tác dụng rất tích cực nhằm nâng cao hiệu quả nhà trường Đó chính là việc xây dựng các giá trị để nhà trường trở thành tổ chức văn hóa cao và xem văn hóa là công cụ để quản lý nhà trường Nó bao gồm những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật, mang tính hệ thống nhằm đảm bảo xây dựng môi trường GD lành mạnh, tích cực; nâng cao chất lượng GD toàn diện trong nhà trường

Quản lý VHTC trong các trường THCS được hiểu là cách thức quản lý của các nhà quản lý cấp cơ sở, đứng đầu là hiệu trưởng dựa trên việc tuân thủ theo những giá trị của VHTC nhà trường và xem nó như là mục tiêu để nhà trường hướng tới và trở thành công cụ để quản lý nhà trường từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo giám sát và kiểm tra đánh giá các hoạt động trong nhà trường

Nghiên cứu quản lý VHTC trường THCS của luận văn dựa trên tiếp cận

Trang 22

VHTC kết hợp với tiếp cận chức năng quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý VHTC trường THCS có các nội dung sau: Lập kế hoạch; Tổ chức thực hiện; Chỉ đạo, điều phối thực hiện; Kiểm tra, đánh giá xây dựng văn hóa trường THCS

1.2.3 Giá trị

Giá trị thường được hiểu là những cái cần và có ích cho con người, cho xã hội Nó được coi như là thước đo, xác định những gì nên làm và không nên làm trong cách hành xử chung và riêng của con người trong một tổ chức, một cộng đồng Giá trị nói lên phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của một vật; là cái làm cho vật có ích lợi, đáng quý, có ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách thể đối với một con người, một nhóm hay một xã hội

Nghiên cứu về giá trị đã được nhiều khoa học quan tâm như Triết học, Tâm

lý học, Giáo dục học… Nói đến giá trị là nói đến sự đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đó; nói đến những niềm tin thúc đẩy hành động, thái độ và cách đánh giá của chủ thể, cơ chế trải nghiệm và tính lịch sử của giá trị; đặc biệt là vai trò quan trọng của chủ thể trong việc lựa chọn và tạo lập hệ giá trị

Hệ thống giá trị của một tổ chức là kết quả của một quá trình trải nghiệm, được chắt lọc và lựa chọn qua thời gian Hệ giá trị đó được xây dựng bởi những chủ thể của tổ chức, dựa trên truyền thống của tổ chức, nhu cầu thực tiễn và những mong ước của tổ chức đó về tương lai của mình

Nhà trường là một tổ chức, VHNT cũng chính là văn hóa của một tổ chức và

ở đó giá trị luôn tồn tại với tư cách là nền tảng văn hóa của nhà trường Chính vì thế

mà hệ giá trị của văn hóa của nhà trường - chính là hình ảnh tương lai của nhà trường sẽ bao gồm các giá trị làm căn cứ để xây dựng các chuẩn mực hành vi, thói quen và nếp sống của nhà trường đó Giá trị cốt lõi của một nhà trường là cơ sở của VHNT, nó tạo ra bản sắc riêng của nhà trường Giá trị chính là niềm tin cơ bản, lâu dài, để định hướng làm việc, hành vi, các quan hệ và ra quyết định; các nguyên tắc chỉ đạo hành vi của các thành viên trong nhà trường, hướng dẫn các thành viên của nhà trường thực hiện công việc của họ Giá trị là điều mà nhà trường cam kết thực hiện cho các bên có liên quan; là cái mà nhà trường cố gắng theo đuổi, thậm chí ngay cả khi môi trường bên ngoài thay đổi

Trang 23

Hệ giá trị trong trường học bao gồm các giá trị đã hình thành, tồn tại trong quá trình xây dựng, phát triển của nhà trường và những giá trị mới mà nhà trường mong muốn tạo lập nhằm đem đến sự phát triển mới phù hợp với yêu cầu của xã hội Tùy vào triết lý GD của mình, có trường đề cao các giá trị nhân văn, tình yêu thương giữa những thành viên; có nhà trường đề cao tính cộng đồng trách nhiệm và

sự sáng tạo trong công việc; có nhà trường đề cao các giá trị như sự trung thực, tính sáng tạo ; có trường lại đề cao tinh thần dân chủ, khả năng đổi mới thường xuyên

để nâng cao chất lượng các hoạt động dạy học

Để xây dựng một văn hóa tích cực, đổi mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường thì việc lựa chọn giá trị dựa trên truyền thống của nhà trường, các giá trị của thời đại, nhu cầu thực tiễn của GD và những mong ước của nhà trường về tương lai của mình là việc làm rất cần thiết nhằm tạo đà cho VHNT trở thành động lực, thành mục tiêu để nhà trường phát triển

1.2.4 Văn hóa

Văn hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhân loại Văn hoá gắn liền với GD, đào tạo con người với những phẩm chất tốt đẹp cần thiết cho toàn thể cộng đồng Bản thân văn hóa là khái niệm có rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Do đó khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm về thuật ngữ văn hóa; mỗi quan niệm có chính kiến khác nhau từ một góc nhìn Tuy nhiên, điểm chung cốt lõi

và khá nhất quán ở các khái niệm văn hoá, đó là sự nhấn mạnh tới yếu tố con người, thuộc con người và đời sống của con người Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất

và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra

UNESCO cho rằng: Văn hóa (theo nghĩa rộng) là một phức thể, tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm khắc họa lên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, xã hội… Theo nghĩa hẹp, văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng (kí hiệu) chi phối cách ứng xử và sự giao tiếp trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng… Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực…) của cộng đồng ấy

Trang 24

1.2.5 Văn hóa tổ chức

Tổ chức nào cũng tồn tại môi trường văn hóa mà con người sống và làm việc Xét về bản chất, mỗi một tổ chức có một thiết chế văn hóa riêng, thiết chế văn hóa riêng ấy gọi là VHTC (trong thực tiễn thường được gọi tên phù hợp với các loại hình tổ chức khác nhau có tính truyền thống như văn hoá công ty, văn hoá doanh nghiệp, VHNT…) Văn hóa tổ chức được các nhà khoa học phương Tây quan tâm rất sớm bởi văn hóa chính là nền tảng phát triển của cơ quan, tổ chức Nếu cơ quan, tổ chức có văn hóa cao sẽ có thương hiệu tốt và tạo đà cho sự phát triển của cơ quan, tổ chức đó và ngược lại Văn hóa tổ chức được xây dựng dựa trên nền tảng văn hóa của các thành viên trong tổ chức đó; giúp phân biệt được các tổ chức với nhau

Khái niệm "văn hóa tổ chức" có thể hiểu được bằng sự tích hợp từ hai khái

niệm "văn hóa" và "tổ chức" Thuật ngữ “văn hóa tổ chức” (Organizational Culture,

Culture Organizational) xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay, có

nhiều định nghĩa về VHTC được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu

Năm 1974, Eldri và Crombie cho rằng: VHTC là một hệ thống các giá trị, các tiêu chuẩn chi phối cách ứng xử của các thành viên trong một tổ chức liên kết làm việc với nhau [12]

Năm 1991, Greert Hofstede, Cultures & Organisations cho rằng: VHTC là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử của một tổ chức tạo nên sự khác biệt của các thành viên của tổ chức này với các thành viên của tổ chức khác [12]

Năm 1993, Michel Amiel, Prancis Bonnet, Joseph Jacobs cho rằng: VHTC là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành

vi của mỗi thành viên trong tổ chức, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian [12]

Theo Schein (2014), trong mỗi tổ chức đều có những nguyên tắc đã tỏ ra có giá trị và hiệu quả, được các thành viên công nhận để họ nhận thức, suy nghĩ và hành động phù hợp Schein cho rằng: “VHTC là một tập hợp của những nguyên tắc

cơ bản được công nhận là đúng mà một tập thể cùng chia sẻ, những nguyên tắc ấy được vận dụng để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tổ chức khi cần phải thích

Trang 25

nghi với những biến đổi bên ngoài cũng như để tạo ra sự gắn kết và hội nhập trong nội bộ tổ chức ấy” [12]

“Văn hoá tổ chức được quan niệm là hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với các cơ cấu chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động như những giả thiết không bị chất vấn

về truyền thống và cách thức làm việc của tổ chức và mọi người trong đó tuân theo khi làm việc Gọi là “văn hóa” vì nó hướng tổ chức tới nhưng giá trị về tinh thần và ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ, làm việc của các thành viên khi gia nhập vào tổ chức, chấp nhận nó như một truyền thống” [29]

Các định nghĩa trên đều nhấn mạnh đến những chuẩn mực và giá trị chung được biểu hiện thành những nguyên tắc sống, những nguyên tắc ứng xử có tác dụng chỉ dẫn hành vi của cá nhân trong tổ chức; thể hiện trình độ ứng xử của con người trong các hoạt động quản lý Văn hóa tổ chức tạo nên nét riêng biệt của tổ chức; liên quan đến cách nhận thức và lối hành xử của các thành viên đối với bên trong và bên ngoài tổ chức đó Văn hóa của bất kỳ tổ chức chính thức nào cũng đều có một số đặc trưng cơ bản sau: tính giá trị, tính nhân sinh, tính tương đối ổn định trong sự vận động, đổi mới và hoàn thiện Những đặc trưng đó giúp văn hóa của tổ chức hình thành, ổn định và phát triển phù hợp quy chuẩn của tổ chức

Khi đề cập đến các yếu tố cấu thành VHTC, có nhiều quan điểm khác nhau Theo Frank Gonzales (1978), VHTC giống như một tảng băng với phần nổi

và phần chìm (Mô hình văn hóa hai tầng) Phần nổi bao gồm các thành tố dễ nhìn thấy như: tầm nhìn, chính sách, mục tiêu, logo, biểu tượng, nghi lễ,… Phần chìm là các giá trị, các giả định ngầm; nhu cầu, cảm xúc, mong muốn cá nhân; quyền lực và cách thức ảnh hưởng,… là những thành tố khó nhìn thấy, khó thay đối [12]

Theo nhà tâm lý học Edgar H Schein (1985) và một số nhà nghiên cứu khác, VHTC bao gồm ba nhóm thành tố cơ bản sau (Mô hình văn hóa ba tầng) [12]:

Một là, cấu trúc hữu hình và các biểu hiện của chúng: Cơ cấu bộ máy; Cơ chế điều hành; Ngôn ngữ, nghi thức các hoạt động của tổ chức, các hình thức giao tiếp, ứng xử,…

Hai là, hệ thống giá trị được công bố, gồm: chiến lược, mục tiêu, triết lý, bộ

Trang 26

quy tắc ứng xử, các cam kết, qui định, các giá trị cốt lõi… giữ vai trò là nền tảng, là kim chỉ nam cho các hoạt động của tổ chức

Ba là, những quan niệm chung: trình độ nhận thức, nếp suy nghĩ, niềm tin, nếp sống, thói quen, phong cách,… có tính đương nhiên và ngầm định trong các thành viên của tổ chức

Stephen R Covey lại phân chia các thành tố của VHTC thành bốn nhóm (Mô hình văn hóa 4 tầng): Biểu tượng / những hành vi của tổ chức; Các chuẩn mực; Giá trị; Những giả định cốt lõi, niềm tin, triết lý về cuộc sống

Hiện nay, quan điểm của Edgar H Schein về các yếu tố cấu thành nên VHTC được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình và được sử dụng rộng rãi trong việc quản lý VHTC

Văn hóa tổ chức có các đặc tính cơ bản sau: Thứ nhất, VHTC chứa đựng các giá trị chính thống; đó là các giá trị mà tổ chức mong đợi ở các thành viên, được thông báo công khai bằng những nguyên tắc, bao gồm cả những giá trị mà tổ chức và các thành viên đang cố gắng đạt tới Thứ hai, VHTC bao gồm: những triết

lý chỉ dẫn hoạt động của tổ chức và các thành viên trong tổ chức; những nguyên tắc chặt chẽ liên quan đến việc chấp nhận một cá nhân là thành viên của tổ chức; tổng thể những cảm giác được tạo ra từ những điều kiện làm việc, những cách cư

xử và hợp tác (thường gọi là bầu không khí của tổ chức) Thứ ba, VHTC mang tính hợp thức của hành vi (các thành viên trong tổ chức sử dụng cùng một ngôn ngữ, khái niệm khi tương tác với nhau) Một đặc tính nữa của VHTC là tính chuẩn mực của hành vi; đặc tính này không biểu hiện rõ ràng nhưng nó tạo ra sự ràng buộc đối với mỗi thành viên; đặc biệt đối với những nhân viên mới, cần phải tuân thủ để có thể được chấp nhận

Với những đặc tính đó, VHTC tạo nên sự ổn định bằng cách khẳng định mục tiêu của tổ chức; đưa ra những chuẩn mực để hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác, tự nguyện; có vai trò gắn kết các thành viên thành một khối thống nhất Các yếu tố văn hóa được tổ chức chọn lọc và xây dựng có vai trò như là một cơ chế hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức và giữa tổ chức này với tổ chức khác

Trang 27

1.2.6 Văn hóa tổ chức nhà trường

Nhà trường là một thiết chế xã hội, là một tổ chức độc đáo với những đặc trưng riêng gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng được xây dựng và duy trì trong quá trình hình thành và phát triển nhà trường Ở góc độ VHTC, nhà trường là một tổ chức đặc biệt vì sản phẩm là nhân cách của con người; trong nhà trường, văn hóa bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực hoạt động: quản lý, giảng dạy và học tập Cũng như mọi tổ chức khác, nhà trường có VHTC nhà trường Nhưng với tư cách một đơn

vị đặc thù trong hệ thống xã hội, nhà trường mang tính mô phạm, chuẩn mực cao Vì thế, bên cạnh những điểm chung về VHTC đối với các thể chế xã hội thì VHTC nhà trường có những sắc thái riêng, mang tính đặc thù của một thiết chế GD Do vậy, VHTC nhà trường là văn hoá của một tổ chức hành chính - sư phạm

Văn hoá tổ chức của một nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm[13]

Từ khái niệm trên có thể hiểu một số nét cơ bản về VHTC nhà trường như sau:

* Hệ thống niềm tin

Niềm tin bao gồm nhận thức, cảm xúc, ý chí,… nó có sức mạnh như một sự tất yếu bên trong quy định hành vi cá nhân Có thể nói bản chất của xây dựng văn hóa là định hướng tư duy Tiến trình xây dựng và thay đổi văn hóa trong tổ chức là quá trình để người ta tin rằng nên tư duy như thế nào là đúng, là tốt, trên cơ sở niềm tin đó người ta có hành động tương ứng

* Hệ thống giá trị

Trong nhà trường, giá trị được xem như là một công cụ xác định những gì nên làm và không nên làm trong cách hành xử của các thành viên Có nhà trường đề cao các giá trị như sự trung thực hoặc khả năng đổi mới thường xuyên để nâng cao chất lượng các hoạt động GD; có nhà trường lại đề cao các giá trị nhân văn, tình yêu thương giữa các thành viên trong tập thể Tuy nhiên đều bao gồm các giá trị mà nhà trường đã hình thành và duy trì trong cả quá trình xây dựng, phát triển và những giá

Trang 28

trị mới mà nhà trường mong muốn tạo lập nhằm đem đến sự phát triển mới phù hợp với yêu cầu của xã hội

Hệ thống các giá trị cốt lõi của nhà trường phổ thông hiện nay đều liên quan đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc: “tôn sư trọng đạo”, “tiên học lễ, hậu học văn”

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, giá trị cốt lõi của VHNT nói chung, văn hóa quản lý vận dụng trong nhà trường nói riêng là coi trọng con người, kết hợp đức trị với pháp trị để duy trì sự ổn định, hướng tới sự hài hòa và phát triển bền vững

* Các chuẩn mực

Chuẩn mực là sự cụ thể hóa các giá trị, niềm tin là cách thức ứng xử của của các thành viên trong tổ chức, của con người trong một xã hội nhất định Tuy nhiên, cần nhấn mạnh là chuẩn mực không mang tính tuyệt đối Các chuẩn mực có thể liên quan đến mọi khía cạnh đời sống làm việc, từ cách tư duy, nhìn nhận vấn

đề (ở tổ chức này người ta đi thẳng vào vấn đề, tổ chức khác tư duy kiểu vòng vo,

né tránh nói thẳng vấn đề), cách gắn sự kiện với công việc, với các mục tiêu lâu dài, cách cụ thể hóa mục tiêu, đến lòng tự trọng, quan hệ liên cá nhân, quan hệ với cộng đồng và XH và các biểu tượng như logo, phù hiệu Có thể phân chia các chuẩn mực thành hai nhóm:

- Các chuẩn mực về hình thức: Logo, biểu tượng, khẩu hiệu, phương châm làm việc; trang phục; kiến trúc và cách bài trí nơi làm việc…

- Chuẩn mực về nội dung:

+ Sứ mệnh, mục tiêu của nhà trường; quy trình, thủ tục, nề nếp, phong cách làm việc: các quy trình, thủ tục, nghi thức; quan hệ giao tiếp ứng xử

+ Cách thức tổ chức cơ cấu và phân công nhiệm vụ

+ Thái độ đối với việc thực thi nhiệm vụ, thái độ đối với cái mới, đối với sự thay đổi

+ Phong cách lãnh đạo: trong các phong cách lãnh đạo thì phong cách lãnh đạo dân chủ có nhiều ưu điểm trong việc phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của các thành viên

+ Mức độ chuyên nghiệp trong thực thi công việc: Đây là chỉ số nổi bật phản ánh văn hóa của một nhà trường

+ Phương pháp truyền thông: Cách thức truyền thông cũng là nét văn hóa bởi

Trang 29

đó là cách thức giao tiếp người - người: ý kiến được truyền đạt trực tiếp hay gián tiếp, theo hướng một chiều độc đoán “truyền lệnh” hay hai chiều dân chủ đối thoại, thông qua phương tiện truyền thống hay hiện đại

Tóm lại, VHTC nhà trường là một hệ thống giá trị chuẩn mực tạo thành niềm tin, thói quen, truyền thống trong nhà trường được các thành viên nhà trường thừa nhận và làm theo, thể hiện trong tổ chức bộ máy nhà trường, các hoạt động và quan

hệ giao tiếp, ứng xử tạo thành bản sắc riêng cho văn hóa mỗi trường, thông qua đó

mà các thành viên của nhà trường được kết nối với nhau để phấn đấu cho mục tiêu chung, trách nhiệm chung Trong nhà trường, VHTC luôn được đề cao Nhờ đó mà các thành viên trong nhà trường biết ứng xử hài hòa với chính mình, với những người xung quanh và với công việc đang đảm trách; có trách nhiệm coi trọng, giữ gìn, vun đắp các giá trị truyền thống tốt đẹp đã tạo lập; luôn biết tu thân (nhìn lại mình), xử thế (sống vì mọi người) và dưỡng sinh (làm mới chính mình) Văn hóa tổ chức nhà trường được biểu hiện thông qua nhận thức, hành vi và thái độ của các thành viên trong nhà trường; sự ứng xử với môi trường tự nhiên, xã hội Hình ảnh biểu lộ ra bên ngoài của mỗi nhà trường được tạo nên bởi các thành viên nhà trường, được chuyển tải và phản ánh bởi cộng đồng xã hội xung quanh, cơ quan quản lý và người sử dụng sản phẩm GD

1.3 Văn hóa tổ chức nhà trường trung học cơ sở

1.3.1 Vai trò của văn hóa tổ chức nhà trường

Thứ nhất, VHTC là tài sản lớn của bất kỳ một nhà trường nào Nhà trường là nơi bảo tồn và lưu truyền các giá trị văn hoá nhân loại; là nơi đào tạo những lớp người mới, chủ nhân gìn giữ và sáng tạo văn hoá cho tương lai; là nơi con người với con người (người dạy với người học) cùng hoạt động để chiếm lĩnh các mục tiêu văn hoá, theo những cách thức văn hoá, dựa trên những phương tiện văn hoá, trong môi trường văn hoá đại diện cho mỗi vùng, miền, địa phương… Văn hoá là tính chất đặc thù của nhà trường, quyết định sự trường tồn của nhà trường

Thứ hai, VHTC tạo nên bản sắc của nhà trường Văn hóa tổ chức nhà trường bao gồm các giá trị, tập tục, lễ nghi, truyền thống, chuẩn mực, thói quen… Đó là những yếu tố tạo nên bản sắc của một nhà trường, phân biệt với các trường khác

Trang 30

Văn hóa tổ chức bảo tồn bản sắc của nhà trường qua nhiều thế hệ góp phần cho sự bền vững của nhà trường đó Trong nhà trường, bản sắc văn hóa không chỉ giúp nhận diện mà còn tạo ra phương thức hoạt động của nhà trường Đó là bầu không khí, là tình cảm, mối quan hệ, sự giao lưu, tinh thần hợp tác và ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của các thành viên nhà trường

Thứ ba, VHTC nhà trường tạo động lực làm việc; văn hoá là một động lực

vô hình nhưng có sức mạnh hiệu quả.Văn hoá tổ chức giúp các thành viên của nhà trường thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm; VHTC phù hợp, tích cực sẽ tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các các thành viên nhà trường, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc lành mạnh, thân thiện làm nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo; giúp cho mỗi cá nhân có cảm giác tự hào, hãnh diện vì được là thành viên, được làm việc vì những mục tiêu cao cả của nhà trường Muốn tạo động lực làm việc cần khơi dậy nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chính đáng của các cá nhân trong tập thể sư phạm nhà trường Khi nhu cầu còn ở mức độ thấp, động lực với người lao động sư phạm bó gọn trong những giá trị vật chất Nhưng khi nhu cầu vật chất thoả mãn một mức độ cao hơn, họ sẵn sàng làm việc ở một môi trường hoà đồng, thân thiện, thoải mái, được cống hiến, sáng tạo, được thừa nhận, tôn trọng và phát triển cho dù mức thu nhập thấp hơn

Thứ tư, VHTC nhà trường với các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và

dư luận…có vai trò hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân Khi nhà trường phải đối mặt với một vấn đề phức tạp, chính VHTC là điểm tựa tinh thần, giúp CBQL và đội ngũ GV, NV nhà trường hợp tác, phát huy sức mạnh tập thể để

có những quyết định và sự lựa chọn đúng đắn nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của tổ chức nhà trường

Thứ năm, VHTC hạn chế tiêu cực và xung đột trong nhà trường Văn hóa tổ chức nhà trường giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề, cách đánh giá, lựa chọn, định hướng và hành động; là chất keo gắn kết các thành viên lại thành một khối, tạo ra những dư luận tích cực hạn chế những biểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thông thường của tổ chức Văn hóa tổ chức hạn chế những nguy cơ mâu thuẫn và xung đột trong nhà trường; hoặc khi xung đột là không thể tránh khỏi thì VHTC tạo ra hành lang pháp lý - đạo lý phù hợp để góp

Trang 31

phần khắc phục, giải quyết xung đột trên nguyên tắc không để phá vỡ tính chỉnh thể của tổ chức nhà trường

Thứ sáu, VHTC có vai trò trong việc thu hút nhân tài Theo A.Maslow, có thể biểu diễn nhu cầu của con người theo một hình tam giác gồm năm bậc xếp thứ

tự từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh lý; Nhu cầu an ninh; Nhu cầu xã hội – giao tiếp; Nhu cầu được kính trọng và Nhu cầu tự khẳng định mình để tiến bộ Từ mô hình của A.Maslow, có thể thấy bên cạnh việc trả lương cao thì con người còn cảm nhận được bầu không khí thân thuộc, cần tự khẳng định mình để thăng tiến Nền văn hóa mạnh sẽ tạo ra giá trị, hiệu quả hoạt động làm tăng thu nhập của cá nhân Mặt khác, các cá nhân sẽ có cơ hội sáng tạo, khẳng định mình Môi trường văn hóa giúp củng

cố lòng trung thành của các thành viên, tạo sự đồng tâm hiệp lực thông qua hệ thống giá trị chuẩn mực chung Với tư cách là thành viên của tổ chức, các cá nhân tin rằng

sự thành công của tổ chức đều gắn liền với quyền lợi và sự tự hào của cá nhân

Văn hóa tổ chức có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường; ảnh hưởng và định hình đến cách mà các thành viên nhà trường suy nghĩ, cảm nhận và hành động Văn hóa tổ chức nhà trường là một mạng lưới mạnh mẽ của nghi lễ và truyền thống, chuẩn mực và giá trị có ảnh hưởng đến tất cả mọi góc cạnh của đời sống nhà trường; quyết định đến việc các thành viên trong nhà trường tập trung chú ý vào cái gì, họ cam kết như thế nào với nhà trường, họ nỗ lực làm việc đến đâu và mức độ họ đạt được mục tiêu đề ra Văn hóa tổ chức giúp xác định

và xây dựng cam kết của nhà trường đối với các giá trị cốt lõi; góp phần quan trọng cải thiện hiệu quả và năng suất làm việc trong nhà trường Văn hóa tổ chức có tác động rất lớn đến chất lượng GD trong nhà trường Hoạt động GD sẽ thành công hơn trong một môi trường văn hóa mà ở đó sự nỗ lực làm việc được nuôi dưỡng, cam kết với những giá trị đến cuối cùng, các vấn đề được quan tâm giải quyết kịp thời và dứt điểm Mặt khác, bản thân VHTC cũng là một phần của chương trình đào tạo trong nhà trường (chương trình đào tạo ẩn) Giữa chương trình đào tạo ẩn và VHNT

có sự liên quan chặt chẽ với nhau

Tổng hợp tất cả các yếu tố trên, từ sự gắn kết, tạo động lực, điều phối kiểm soát và hạn chế những nguy cơ làm giảm sức mạnh của tổ chức, có thể thấy rằng, VHTC đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, nâng cao chất lượng

Trang 32

các hoạt động GD của nhà trường Trên cơ sở đó mà dần dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng riêng, khác biệt cho tổ chức nhà trường

Tóm lại, VHTC là động lực cho sự phát triển của mỗi nhà trường; chi phối trực tiếp đến sự phát triển, tiến bộ của nhà trường Văn hóa tổ chức tạo ra một môi trường học tập thân thiện và có lợi nhất cho HS; khuyến khích mối quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa các GV; tạo bầu không khí tin cậy thúc đẩy GV quan tâm đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập Đối với lãnh đạo nhà trường, VHTC tạo bầu không khí dân chủ, thu hút được sự ủng hộ của mọi thành viên để hoạch định sự phát triển nhà trường đúng hướng; tin tưởng ở đồng nghiệp, thực hiện chia sẻ quyền lãnh đạo, phát huy tính tự chủ của GV, NV, HS trong mọi hoạt động, cùng nhau đưa nhà trường phát triển Bên cạnh đó, VHTC còn

có vai trò hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dư luận, truyền thống do những thế hệ con người trong tổ chức nhà trường xây dựng lên; VHTC giúp hạn chế tiêu cực và xung đột trong quá trình quản lý

1.3.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa tổ chức của trường trung học cơ sở

1.3.2.1 Mô hình văn hóa tổ chức nhà trường theo Edgar Henry Schein

Theo Edgar H.Schein, VHTC nhà trường có ba tầng giá trị, tương ứng với nhiều thành phần của một thể thống nhất, đó là: các giá trị hữu hình, các giá trị được chấp nhận (giá trị tuyên bố) và các giá trị (quan niệm) nền tảng

Đi từ ngoài vào, yếu tố đầu tiên đập vào mắt chúng ta là những cấu trúc, những giá trị hữu hình (phần nổi) của một nhà trường Đó là những gì một người từ bên ngoài nhà trường có thể cảm nhận, nghe thấy, nhìn thấy được khi tiếp xúc với nhà trường Các yếu tố hữu hình này có thể là khung cảnh chung của nhà trường, ngôn từ, biểu trưng, khẩu hiệu, đồng phục, những câu chuyện truyền miệng, các hình thức lễ nghi, sinh hoạt… của nhà trường các giá trị này chi phối hoạt động và quan

hệ của các cá nhân khi gia nhập vào cộng đồng nhà trường Đồng thời những biểu hiện bề nổi cũng tạo nên những khác biệt giữa các trường với nhau Tuy nhiên, những biểu hiện này chưa phải là những giá trị cốt lõi của VHTC nhà trường Các giá trị hữu hình này chỉ là biểu hiện bên ngoài của hệ thống VHTC nhà trường chứ không có tác động nhiều đến hành vi của các thành viên và hiệu quả hoạt động của nhà trường

Trang 33

Tầng thứ hai của VHTC nhà trường là những giá trị được chấp nhận (giá trị tuyên bố), mang tính ổn định tương đối; bao gồm những chiến lược, những mục tiêu

và sứ mạng của nhà trường… Ban đầu, các giá trị này đơn giản chỉ là những tư tưởng, những cách giải quyết vấn đề liên quan đến công việc quản lý hay hoạt động của ban lãnh đạo nhà trường, trải qua quá trình thực hiện, chúng dần được các thành viên khác trong nhà trường chấp nhận, phổ biến và áp dụng, trở thành những chỉ dẫn và phương pháp hành động của họ

Tầng thứ ba và là tầng sâu nhất của VHTC nhà trường là những giá trị nền tảng Khi những giá trị được thừa nhận và phổ biến đến mức gần như không có thay đổi theo thời gian, chúng sẽ trở thành những giá trị nền tảng

Vì vậy, bản chất của VHTC nhà trường là nằm ở những quan niệm chung của chúng Nếu nhận biết VHTC của một nhà trường ở tầng thứ nhất và thứ hai thì mới tiếp cận nó ở bề nổi Tầng văn hóa thứ ba mới cho chúng ta biết nhà trường vận dụng những giá trị này vào thực tiễn như thế nào

Mô hình tảng băng của Edgar Henry Schein đã giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể một cách sâu sắc về VHTC của một nhà trường với các thành tố của nó Tuy nhiên mô hình nói trên chưa đề cập đến yếu tố con người một cách cụ thể; đặc biệt là các yếu tố về CSVC, truyền thống văn hóa trong nhà trường

Trên cơ sở mối quan hệ là sự tương tác giữa các thành viên trong một tổ chức, VHTC của trường THCS bao gồm những thành tố sau đây: Sự tương tác giữa CBQL, GV và NV trong trường; sự tương tác giữa các HS; sự tương tác giữa CBQL, GV, NV và HS trong nhà trường; sự tương tác giữa CBQL, GV, NV của trường với phụ huynh HS; sự tương tác giữa CBQL, GV, NV của nhà trường với xã hội bên ngoài; sự tương tác giữa HS của nhà trường và xã hội bên ngoài…

Ở nước ta hiện nay, VHTC trường THCS được cấu thành bởi các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trường Đây là những giá trị tạo nên bản sắc của nhà trường

1.3.2.2 Các giá trị vật chất của nhà trường

Thứ nhất, mỗi trường THCS đều có biểu tượng, logo phản ánh được tầm nhìn và sứ mệnh của nhà trường Logo được in trên trang phục của HS, các văn bản, tài liệu, quảng cáo về nhà trường… Ngoài ra còn có thể có tượng đài hoặc điểm

Trang 34

nhấn kiến trúc tạo nên một nét riêng của nhà trường Biểu tượng của nhà trường chỉ

ra bản sắc của một trường, chỉ ra sự khác biệt của một trường này với trường khác

Thứ hai, các trường THCS đều có những khẩu hiệu, phương châm làm việc có tính thuyết phục cao, dễ hiểu và dễ nhớ, phản ánh triết lý giáo dục; phù hợp với quan điểm giáo dục của Đảng, Nhà nước và với văn hóa truyền thống của dân tộc Phổ biến là: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”,

“Tiên học lễ, hậu học văn”, "Thi đua dạy thật tốt, học thật tốt", "Học, học nữa, học mãi",… Các khẩu hiệu này cũng phản ánh triết lý giáo dục hiện tại của chúng ta

Thứ ba, là kiến trúc của nhà trường, gồm nhà làm việc, phòng học, phòng chức năng, khu vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, … của nhà trường theo phong cách khác nhau (cổ kính, hiện đại, đơn giản, hoặc kết hợp nhiều kiểu kiến trúc…)

Thứ tư, là không gian, cảnh quan của nhà trường với những biểu hiện: đẹp, rộng rãi, có nhiều cây xanh, được bài trí hợp lý, có tính thẩm mỹ, đảm bảo vệ sinh,… Một không gian đẹp, rộng rãi sẽ làm cho giáo viên và học sinh yêu mến ngôi trường hơn, gắn bó với trường hơn

Thứ năm, là trang phục của các thành viên nhà trường, giúp nhận diện được thành viên của một nhà trường

1.3.2.3 Các giá trị tinh thần của nhà trường

Một là, tầm nhìn, mục tiêu của nhà trường; chính là định hướng phát triển của nhà trường trong hiện tại và tương lai; là bức tranh lý tưởng trong tương lai mà nhà trường sẽ vươn tới Có thể là: xây dựng nhà trường thành trường chuẩn quốc gia; xây dựng nhà trường thành trường có chất lượng cao; xây dựng nhà trường thành trường phát triển toàn diện …

Hai là, hệ thống giá trị của nhà trường, bao gồm các giá trị đơn lẻ hợp thành Các hệ thống giá trị này có thể khác nhau về phạm vi, có thể biến động theo điều kiện xã hội nhưng đều có các giá trị cốt lõi Trong trường THCS, có nhiều giá trị để giáo dục cho HS, chẳng hạn: Tôn sư trọng đạo, Tiên học lễ, hậu học văn…; xây dựng giá trị con người, lấy HS làm trung tâm của hoạt đông GD, dạy học; Chất lượng; Khách quan, công bằng; Thân thiện …

Ba là, phong cách lãnh đạo và phong cách làm việc của nhà trường Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến xây dựng văn hóa nhà trường Bởi lẽ, trước hết nó thể

Trang 35

hiện cách ứng xử, hành động của người lãnh đạo và giáo viên của nhà trường Phong cách lãnh đạo quyết đoán hay dân chủ đều có những mặt tích cực và hạn chế riêng Trong quá trình xây dựng văn hóa nhà trường người lãnh đạo không nên tuyệt đối hóa một phong cách lãnh đạo nào, mà nên kết hợp một cách linh hoạt hai phong cách lãnh đạo trên tùy vào hoàn cảnh và tình huống thực tế Phong cách làm việc của GV, NV thể hiện qua thái độ đối với việc thực thi nhiệm vụ (tích cực hoặc tiêu cực), qua mức độ hoàn thành công việc, qua cách thức giải quyết vấn đề; thái độ đối với cái mới, đối với sự thay đổi (tích cực hoặc tiêu cực) Phong cách làm việc của

GV và NV còn thể hiện qua mức độ chuyên nghiệp trong thực thi công việc (làm việc theo quy định, chuẩn mực, hiệu quả, nhanh chóng…).; quy trình, thủ tục giải quyết vấn đề (có quy trình giải quyết vấn đề nhanh gọn, đơn giản, linh hoạt, lấy hiệu quả làm chính…)

Bốn là, hành vi ứng xử của nhà trường (giữa thầy và trò; nhà trường với GV,

HS và ngược lại; giữa các đồng nghiệp với nhau; giữa cán bộ GV, HS của nhà trường với những người bên ngoài nhà trường (cha mẹ học sinh, khách đến nhà trường…) Xây dựng văn hóa nhà trường là xây dựng các hành vi có văn hóa Văn hóa nhà trường không chỉ thể hiện qua hành vi ứng xử trong nội bộ nhà trường, mà còn thể hiện qua hành vi ứng xử với những người bên ngoài nhà trường Qua hành

vi ứng xử này các tổ chức và cá nhân bên ngoài có thể đánh giá về một khía cạnh văn hóa nhà trường – văn hóa ứng xử Các hành vi ứng xử tích cực: Văn minh, lịch

sự, tôn trọng lẫn nhau; Vị tha, độ lượng, quan tâm, giúp đỡ nhau; khích lệ, động viên HS khi có tiến bộ trong học tập, tu dưỡng Hành vi ứng xử tiêu cực: thiếu sự cởi mở, tin cậy; thiếu sự hợp tác, chia sẻ học hỏi lẫn nhau; ích kỷ, hẹp hòi; đố kỵ, cục bộ; buộc tội, đổ lỗi cho nhau; Trách mắng HS vì các em không có sự tiến bộ

Năm là, phương pháp truyền thông của nhà trường Đây là một biểu hiện của VHNT Việc chia sẻ thông tin trong nhà trường biểu hiện cả ở khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực Biểu hiện tích cực là: Nhà trường thường xuyên chia sẻ thông tin trong nội bộ tổ chức tới mọi thành viên Hoạt động giao tiếp trong nhà trường mang tính đối thoại và hai chiều Biểu hiện tiêu cực trong chia sẻ thông tin là: Hoạt động giao tiếp trong nhà trường mang tính truyền lệnh và một chiều; lãnh đạo nhà trường tự coi thông tin là một thứ “đặc quyền” của mình, quản lý các thông tin rất khắt khe,

Trang 36

không muốn chia sẻ với người khác Các hình thức truyền thông trong nhà trường cũng rất đa dạng: tổ chức tuyên truyền hoạt động GD HS thường xuyên qua buổi chào cờ hàng tuần; qua pano, áp phích, khẩu hiệu; qua GVCN lớp và các GV bộ môn; qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, các hoạt động ngoại khóa của nhà trường,…

1.3.3 Các căn cứ để xây dựng văn hóa tổ chức trong trường THCS

Văn hóa luôn đi đôi với GD và có mối quan hệ biện chứng với nhau Khi văn hóa không theo kịp với nhu cầu phát triển GD của xã hội hiện thời thì nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển

Đảng và Nhà nước ta ngày càng nhận thức sâu vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như GD và đào tạo nói riêng Điều đó thể hiện qua Nghị quyết của các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng: Đại hội VII, Đảng ta khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”; tại Hội nghị Trung ương 5, khóa VII, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa được Đảng ta đặt ra một cách cụ thể

là “… làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao”; Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX cũng nêu ra:

“văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề ra nhiệm vụ: “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước cũng đã chỉ rõ: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng

Trang 37

làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình… Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống” Kế thừa, phát triển quan điểm chỉ đạo, những định hướng lớn của Đảng trong thời gian qua, Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.”

Gần đây nhất, vào ngày 03/10/2018, Thủ tướng Chỉnh phủ đã ban hành Quyết định 1299/QĐ-TTg 2018 phê duyệt Đề án Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025 với mục tiêu là: “Tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán

bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp các bộ, ban ngành, các địa phương ban hành các văn bản chỉ đạo các nhà trường xây dựng môi trường văn hóa trong trường học: Chỉ thị số 40/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào Xây dựng Trường học thân thiên, học sinh tích cực; Chỉ thị số 1537/CT-BGDĐT về tăng cường và nâng cao hiệu quả một số hoạt động giáo dục cho học sinh, sinh viên; tham mưu trình Thủ tướng ban hành Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2015 – 2020”; văn bản số 282 /BGDĐT-CTHSSV ngày 25/01/2017 về việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong trường học… Hiện nay ngành GD đang triển khai, thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; chỉ đạo các trường chú trọng GD nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân; tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định: Xây dựng môi trường văn hóa trong trường học đóng một vai trò đặc biệt quan

Trang 38

trọng trong việc GD nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân cho HS, sinh viên Để xây dựng mỗi trường học trở thành một trung tâm văn hóa, GD rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo: “Mỗi cơ sở giáo dục cần xây dựng hệ giá trị, văn hóa đạo đức cốt lõi làm chuẩn mực, để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu phấn đấu” Trên tinh thần đó, ngày 12/4/2019, Bộ GDĐT ban hành Thông tư 06/2019/TT-BGDĐT Quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ

sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên với mục đích: “Điều chỉnh cách ứng xử của các thành viên trong cơ sở giáo dục theo chuẩn mực đạo đức xã hội

và thuần phong mỹ tục của dân tộc, phù hợp với đặc trưng văn hóa của địa phương

và điều kiện thực tiễn của cơ sở giáo dục; ngăn ngừa, xử lý kịp thời, hiệu quả các hành vi tiêu cực, thiếu tính giáo dục trong cơ sở giáo dục”; “xây dựng văn hóa học đường; đảm bảo môi trường GD an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường”

Văn hóa nói chung và VHTC nhà trường được các nhà nghiên cứu GD coi là một yếu tố hết sức cơ bản của cơ chế phát triển đối với từng nhà trường cũng như của toàn hệ thống các trường học nói chung Nó làm nền tảng và định hướng cho sự phát triển tiến bộ của nhà trường Trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD

và đào tạo hiện nay cần hết sức quan tâm đến VHTC nhà trường

1.4 Nội dung quản lý văn hóa tổ chức trong trường THCS

Trong môi trường hoạt động đa văn hóa và hội nhập toàn cầu như hiện nay, việc quản lý VHTC để tái cấu trúc lại chính mình để thích nghi và phát triển, dựa trên cơ sở phát huy nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh là vấn đề quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức Vấn đề mấu chốt trong quản lý VHTC là loại bỏ, hạn chế các yếu tố tiêu cực đồng thời xây dựng, nuôi dưỡng những yêu tố tích cực để phục vụ các hoạt động của nhà trường đạt hiệu quả cao Quản lý VHTC chính là định hình, xây dựng và nuôi dưỡng để có được văn hóa tích cực, lành mạnh, có tính thích nghi để phát triển Đây là một nội dung quan trọng mà mỗi CBQL phải thực hiện gắn với mục đích đạt được hiệu quả trong quản

lý nhà trường Quá trình định hình VHTC diễn ra liên tục trong suốt quá trình phát triển của nhà trường Nhìn một cách biện chứng thì công việc định hình, xây dựng,

Trang 39

nuôi dưỡng VHTC đều có trong tất cả các hoạt động quản lý nhà trường Vì vậy, quản lý VHTC ở nhà trường vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của mỗi nhà trường

Nội dung quản lý VHTC trong trường THCS bao gồm việc quản lý các giá trị hữu hình, quản lý các giá trị tuyên bố và quản lý các giá trị nền tảng Quản lý VHTC trong trường THCS gắn với điều kiện cụ thể của mỗi một nhà trường nhưng nhìn chung nó bao gồm các vấn đề lớn cần tập trung đó là: xây dựng nền văn hóa tích cực trong trường học; xây dựng môi trường giảng dạy và học tập an toàn, thân thiện, cảnh quan hiện đại, mối quan hệ tốt đẹp, thương hiệu và giá trị đạo đức của nhà trường Nhà trường cần thực hiện các nội dung quản lý sau: bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về VHTC nhà trường; xây dựng, củng cố

cơ cấu bộ máy tổ chức nhà trường theo hướng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng

và đồng bộ về cơ cấu; quản lý các hoạt động dạy – học, GD, trải nghiệm…; quản lý văn hóa ứng xử, giao tiếp; quản lý các thiết chế VHTC, CSVC, trang thiết bị, môi trường, cảnh quan văn hóa …; quản lý việc kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm đổi

mới hoàn thiện VHTC nhà trường

Quản lý VHTC trong trường THCS là quá trình tác động có ý thức, có định hướng lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý theo hướng tiếp cận VHTC, nhằm đưa ra các hoạt động cụ thể để đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng GD

và đào tạo của nhà trường Xét về nội dung, quản lý VHTC trong nhà trường là xây dựng và đạt được sự đồng thuận về một hệ thống các giá trị, triết lý hành động và phương pháp ra quyết định đặc trưng cho phong cách của nhà trường và cần được tuân thủ nghiêm túc Xét về mục đích thì quản lý VHTC nhà trường là để tạo nên bản sắc của nhà trường và mang lại hiệu quả cho các hoạt động của nhà trường đó; thực chất, đó là việc thiết kế và triển khai các chương trình hành động nhằm đưa hệ thống các giá trị và phương pháp hành động vào trong nhận thức và phát triển thành năng lực hành động của các thành viên trong nhà trường Xét về tác động mong muốn, quản lý VHTC nhằm hỗ trợ cho các thành viên của nhà trường nhằm chuyển hóa hệ thống các giá trị và triết lý hành động đã nhận thức được; chuyển hóa các năng lực đã được hình thành trở thành động lực và hành động thực tiễn

Theo cách tiếp cận chức năng quản lý thì quản lý VHTC nhà trường là một

Trang 40

quá trình bao gồm các hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá

và đảm bảo các điều kiện cần thiết để xây dựng VHTC nhà trường đạt hiệu quả

1.4.1 Lập kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường

Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, có ý nghĩa quyết định tới sự thành công các hoạt động xây dựng VHNT; là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó

Kế hoạch được xác lập trên cơ sở phân tích chu đáo các nhiệm vụ cụ thể, quỹ thời gian cho phép và trình tự thực hiện hợp lý các nhiệm vụ (công việc) Khi lập kế hoạch tránh tình trạng dồn hết công việc vào cùng một thời gian, đồng thời đảm bảo trình tự hợp lý các công việc thực hiện Kế hoạch không chỉ chú ý đến phân bố thời gian mà còn cần phải tính đến các điều kiện đảm bảo, như: nguồn phân bố tài chính, CSVC và nhân

để triển khai từng hoạt động Đồng thời, trong văn bản kế hoạch cần có sự phân công cụ thể cho các tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Tất cả những điều đó nhằm đảm bảo tính hiệu quả và khả thi của kế hoạch

Trước hết, phải đưa những nội dung của VHNT vẫn còn phù hợp với tình hình hiện tại của nhà trường; với văn hóa dân tộc và với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay để tiếp tục phát huy

Bên cạnh đó, nhà trường cần đưa vào kế hoạch những nội dung mới của VHNT cần phải xây dựng, hình thành để thực hiện mục tiêu của hoạt động đào tạo, mục tiêu xây dựng VHTC của nhà trường…

Kế hoạch xây dựng VHNT phải được tích hợp vào kế hoạch chung của nhà trường; phải bao gồm các nội dung cũ phù hợp, cần phát huy và những nội dung mới cần xây dựng, hình thành; phải định rõ thời gian và các điều kiện đảm bảo thực hiện Trong kế hoạch phải đề cập những nội dung, thời gian và cách thức tuyên truyền, tập huấn cho CBQL, GV, NV và HS nhà trường; biện pháp phối hợp cũng

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w